Dịch COVID-19 bùng phát vào cuối tháng 12 năm 2019 đến nay đã tạo ra một bước ngoặt và sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong đó, ngành giáo dục được xem là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất. Chúng tôi sử dụng các thang đo Fear of Scale COVID-19, PHQ-9, GAD-7, SDQ-25 và thang đo Ứng phó với 260 sinh viên tại trường nhằm tìm hiểu về nỗi sợ COVID cũng như các biểu hiện lo âu, trầm cảm và các cách ứng phó với đại dịch COVID-19. Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của khó khăn tâm lý đến người học trong bối cảnh COVID-19.
Trang 1KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRONG BỐI CẢNH DỊCH COVID-19
Hoàng Mai Anh – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Tóm tắt: Dịch COVID-19 bùng phát vào cuối tháng 12 năm 2019 đến nay đã tạo ra
một bước ngoặt và sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Trong đó, ngành giáo dục được xem là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất Chúng tôi sử dụng các thang đo Fear of Scale COVID-19, PHQ-9, GAD-7, SDQ-25 và thang đo Ứng phó với 260 sinh viên tại trường nhằm tìm hiểu về nỗi sợ COVID cũng như các biểu hiện lo âu, trầm cảm và các cách ứng phó với đại dịch COVID-19 Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của khó khăn tâm lý đến người học trong bối cảnh COVID-19
1 Đặt vấn đề
Giống như các quốc gia khác, đại dịch
COVID-19 không chỉ tác động mạnh mẽ
đến các hoạt động kinh tế - xã hội, mà còn
ảnh hưởng lớn đến hoạt động giáo dục của
Việt Nam Tính đến ngày 8 tháng 4 năm
2020, trên thế giới có gần 1.6 tỷ học sinh và
sinh viên bị ảnh hưởng; 188 quốc gia buộc
phải đóng cửa các trường học trên toàn
quốc, gây tác động đến 91.3% tổng số học
sinh, sinh viên trên toàn thế giới (UNESCO,
2020) Việc đóng cửa đột ngột các trường
học, cao đẳng, và đại học đã làm gián đoạn
các hoạt động giảng dạy và học tập Cụ thể
gần 2 năm qua, ở Việt Nam, giáo dục và đào
tạo là lĩnh vực chịu ảnh hưởng rất nặng nề bởi dịch Covid-19, nhất là việc bảo đảm chất lượng dạy và học, cũng như việc thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29 của Đảng (Nguyễn
Kim Sơn, 2021)
Do diễn biến phức tạp của dịch bệnh, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần thực hiện các đợt giãn cách xã hội trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố hoặc thậm chí trên quy mô toàn quốc Trong bối cảnh đó, nhằm phòng ngừa sự lây lan của dịch bệnh COVID-19 vừa duy trì chất lượng dạy học và hoàn thành chương trình đúng tiến độ, đảm bảo việc học tập
Trang 2của học sinh, sinh viên nhiều trường học đã
áp dụng việc dạy học bằng hình thức trực
tuyến đối với các cấp học Hầu hết các
trường phổ thông, đại học ở các nước đã tổ
chức cho học sinh, sinh viên học trực tuyến
theo chủ trương “tạm dừng đến trường
nhưng không dừng học” Thực tế, việc
chuyển đổi hình thức học tập truyền thống
sang học tập trực tuyến đã tạo ra những
thách thức đối với học sinh, sinh viên (Bùi
Quang Dũng và cs, 2021)
Nhìn chung, các công trình nghiên
cứu về khó khăn tâm lý của học sinh, sinh
viên khá phổ biến, nhưng đặt trong bối
cảnh dịch bệnh COVID-19 thì vẫn chưa có
nhiều đề tài được triển khai thực hiện
Trong khi đó, dịch bệnh COVID-19 đang ở
giai đoạn bùng phát mạnh mẽ Sự khó
khăn tâm lý ở các lĩnh vực như học tập,
lao động, giao tiếp vẫn sẽ tiếp tục và có
khả năng ảnh hưởng nhiều hơn đến đời
sống tâm lý của học sinh, sinh viên Việc
học trực tuyến có thể sẽ phải tiếp tục duy
trì nhằm đảm bảo phòng chống dịch và
duy trì việc dạy học, do vậy cần thiết phải
có thêm các nghiên cứu liên quan nhằm
làm rõ những thuận lợi và khó khăn tâm lý
của học sinh, sinh viên trong bối cảnh dịch
COVID-19 và đề xuất các giải pháp nhằm
giảm thiểu khó khăn tâm lý để đảm bảo hiệu quả cho việc học tập, đời sống sinh hoạt - tâm lý của học sinh, sinh viên trong bối cảnh dịch COVID-19 một cách đúng đắn, phù hợp
Xuất phát từ những lí do trên, chúng
tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Khó
khăn tâm lý của sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên trong bối cảnh dịch COVID-19” nhằm
góp phần làm rõ những khó khăn tâm lý của sinh viên, đề xuất một số khuyến nghị thiết thực nhằm giảm thiểu khó khăn tâm lý trong bối cảnh dịch COVID-19 một cách đúng đắn, phù hợp
2 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến khó khăn tâm lý của sinh viên trong bối cảnh COVID-19 để xây dựng cơ sở lý luận cho
đề tài
Đề tài còn sử dụng hệ thống câu hỏi để tìm hiểu về mức độ khó khăn tâm
lý của sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên trong bối cảnh COVID-19 bao gồm các nội dung:
Trang 3- Bảng Nỗi sợ COVID-19 của sinh
viên (Fear of Scale COVID-19)
- Bảng đánh giá điểm mạnh và yếu
vấn đề sức khỏe tinh thần SDQ-25
- Bảng Đánh giá mức độ trầm cảm
PHQ-9 và Thang đánh giá lo âu GAD-7
để đo mức độ biểu hiện lo âu, căng
thẳng ở sinh viên trong bối cảnh
COVID-19: Bảng đánh giá mức độ trầm
cảm PHQ-9 gồm 9 tiểu mục; Thang
đánh giá lo âu GAD-7 gồm 7 tiểu mục
- Bảng hỏi về Cách ứng phó của sinh
viên với căng thẳng gồm: ứng phó tích
cực, ứng phó tiêu cực, ứng phó lảng tránh
- Thông tin nhân khẩu – xã hội: giới
tính, năm học, khoa, khu vực sinh sống
Ngoài ra, chúng tôi lựa chọn và đàm
thoại với một số sinh viên nhằm thu thập
và khai thác sâu hơn thông tin về vấn đề
khó khăn tâm lý của sinh viên Trường
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
trong bối cảnh COVID-19; sử dụng toán
thống kê (tính phần trăm, điểm trung
bình) xử lý kết quả nghiên cứu
3 Một số khái niệm cơ bản
3.1 Sinh viên
Sinh viên là người học tập tại các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở
đó, họ được truyền đạt tri thức về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ; được xã hội công nhận qua bằng cấp trong quá trình học, họ mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời trẻ, thường từ 18 đến 25 tuổi, dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn
Sinh viên là lứa tuổi đang chuyển từ
sự chín muồi về thể lực sang sự trưởng thành về xã hội Trong thời kỳ chuyển tiếp này, sinh viên gia nhập vào một xã hội rộng lớn và hình thành nhiều mối quan hệ hơn Trong quá trình này, bên cạnh những điều kiện thuận lợi về học tập
và môi trường mới để hoàn thiện bản thân thì sinh viên cũng gặp không ít những khó khăn, nhất là khó khăn về tâm lý
3.2 Khó khăn tâm lý
Khó khăn tâm lý là một khái niệm khá phức tạp Cùng nói về khó khăn tâm lý nhưng các tác giả đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: “trở ngại tâm lý”, “rào cản tâm lý”, “hàng rào tâm lý”, “thiếu hụt tâm lý”, “khó khăn nhận thức”,…
Chúng tôi cho rằng: Khó khăn tâm lý
là các yếu tố tâm lý của con người nảy sinh
Trang 4bởi các yếu tố khách quan hoặc chủ quan
trong các lĩnh vực học tập, giao tiếp ứng xử
hay biến động của đời sống xã hội,… gây
nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình và
kết quả thực hiện các hoạt động nào đó.
3.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên
Sự phát triển về thể chất của sinh
viên trong thời kỳ này đã hoàn thành và
ổn định sau những biến động sâu sắc của
tuổi dậy thì Đến tuổi 25 thì sự phát triển
về thể chất của con người đã đạt đến mức
hoàn thiện (Dương Thị Kim Oanh, 2014)
Về quá trình nhận thức, là quá trình
tâm lý cao cấp diễn ra trong hoạt động
học tập của sinh viên Hoạt động nhận
thức trong học tập của sinh viên diễn ra ở
cường độ cao Các quá trình nhận thức
như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng
tượng… đều được huy động tối đa để đáp
ứng yêu cầu học tập theo phương thức tự
nghiên cứu
Về hoạt động học tập, sinh viên phải
thích nghi với hoạt động học tập, xã hội
và môi trường sống mới Ngoài học tập,
sinh viên còn tham gia tích cực vào các
hoạt động chính trị - xã hội, văn hóa,
thể thao,… Chúng làm thỏa mãn nhu cầu
giao tiếp của sinh viên, giúp sinh viên có
đời sống tinh thần thoải mái, sôi nổi, góp
phần phát triển và hoàn thiện nhân cách (Trương Thị Khánh Hà, 2013)
Về đời sống tình cảm, sinh viên đã trưởng thành về tâm sinh lý nên đời sống tình cảm rất phong phú, sâu sắc và bền vững Tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức
và tình cảm thẩm mỹ, tình bạn tình yêu Tình bạn của sinh viên có chiều sâu, tình yêu nam nữ cũng rất phát triển, thường là những mối tình đẹp, nhưng vẫn còn tồn tại một số lệch lạc trong quan hệ tình bạn khác giới và tình yêu (Trương Thị Khánh Hà, 2013)
Về sự tự ý thức, do sự trưởng thành về lứa tuổi và thay đổi vị thế xã hội, sinh viên
có khả năng đánh giá khách quan về bản thân; có khả năng tự điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi để thích ứng được với hoạt động học tập, rèn luyện, hoạt động tập thể
Về định hướng giá trị của sinh viên, những sinh viên có định hướng giá trị đúng đắn thường có kế hoạch phát triển phù hợp,
có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, có phẩm chất đạo đức tốt (Trương Thị Khánh Hà, 2013)
3.4 Khó khăn tâm lý của sinh viên
Trang 5Một số khó khăn tâm lý của sinh
viên hiện nay có thể là những vấn đề
vượt qua biến đổi tâm sinh lý; Khó khăn
trong quan hệ, ứng xử với bạn bè; Khó
khăn trong học tập và hoạt động; Khó
khăn do tác động từ yếu tố khách quan,…
Các khó khăn tâm lý của lứa tuổi sinh
viên nảy sinh chủ yếu trên ba mặt của đời
sống tâm lý là nhận thức, tình cảm và
hành động
Như vậy, qua nghiên cứu các khái
niệm cơ bản có liên quan, có thể hiểu,
Khó khăn tâm lý của sinh viên là các yếu
tố tâm lý nảy sinh bởi các yếu tố khách
quan hoặc chủ quan trong các lĩnh vực
học tập, giao tiếp ứng xử hay biến động
của đời sống xã hội,… gây nhiều ảnh
hưởng tiêu cực tới quá trình và kết quả
thực hiện các hoạt động của sinh viên.
3.5 Khó khăn tâm lý của sinh viên
trong bối cảnh dịch COVID-19
Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra, khó
khăn tâm lý là một hiện tượng tinh thần
phức tạp với nhiều mức độ khác nhau, có những triệu chứng tương tự nhau và chồng chéo lên nhau, vì vậy rất khó để chẩn đoán tùy thuộc vào cá nhân khác nhau thì mức độ khó khăn tâm lý diễn ra khác nhau
Dựa trên các khái niệm đã bàn ở
trên, chúng tôi đưa ra khái niệm khó khăn tâm lý của sinh viên trong bối cảnh dịch COVID-19 là các yếu tố tâm lý nảy sinh bởi các yếu tố khách quan hoặc chủ quan
do dịch COVID-19 gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình và kết quả thực hiện các hoạt động của sinh viên.
Có nhiều cách phân loại khó khăn tâm lý của sinh viên, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu một số biểu hiện khó khăn tâm lý dựa trên thang đo về nỗi sợ COVID-19, bảng đánh giá mức độ trầm cảm PHQ-9
và Thang đánh giá lo âu GAD-7 của sinh viên trong bối cảnh COVID-19
4 Kết quả nghiên cứu
Để tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lý sinh viên trong bối cảnh dịch COVID-19 tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 260 sinh viên Khách thể sẽ tham gia nghiên cứu bằng cách trả lời bảng hỏi nghiên cứu
Trang 6thông qua thư điện tử và bảng hỏi được phát trực tiếp Sinh viên tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện và không được trả phí
4.1 Trạng thái sức khỏe tâm thần của sinh viên
Chúng tôi sử dụng thang đo SDQ-25 và thu thập được kết quả mức độ sức khỏe tâm thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên:
Chúng tôi khảo sát về Vấn đề sức khỏe tinh thần của sinh viên bằng thang đo SDQ Thang đo này dựa trên quan điểm của Ryff (1989) về chấp nhận bản thân, mối quan hệ tích cực và tiêu cực với người khác, tự chủ, làm chủ, mục đích cuộc sống, phát triển cá nhân,… Chúng tôi nhận được kết quả như sau:
Bảng 4.1.a Thang đo điểm mạnh của sinh viên
Nội dung
Không đúng Đôi khi đúng Hoàn toàn
đúng
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%) Tôi luôn cố gắng đối xử tốt với người
khác Tôi quan tâm đến cảm xúc của họ 7 2,7 121 46,5 132 50,8 Tôi thường chia sẻ với các bạn khác
những thứ của mình (Ví dụ: chơi trò chơi,
chia sẻ đồ ăn và sách)
Khi ai đó bị tổn thương, buồn bực hoặc
Các bạn bằng tuổi tôi thường yêu mến tôi 12 4,6 152 58,5 96 36,9 Tôi đối xử tốt với những em nhỏ tuổi hơn tôi 13 5 80 30,8 167 64,2 Tôi thường tự nguyện giúp người khác
(cha mẹ, thầy cô giáo và các bạn) 9 3,5 109 41,9 142 54,6 Tôi luôn suy nghĩ trước khi làm việc gì đó 11 4,2 114 43,9 135 51,9 Tôi thường chú tâm vào công việc để hoàn
Qua bảng 4.1.a trên, 64,6% sinh viên có một hoặc nhiều bạn tốt; 64,2% sinh viên đối xử tốt với những em nhỏ tuổi hơn; 54,6% thường tự nguyện giúp người; Khi ai đó
bị tổn thương, buồn bực hoặc ốm thì 54,2% sinh viên thường hay giúp đỡ họ; 51,9%
Trang 7sinh viên luôn suy nghĩ trước khi làm việc gì đó Có thể thấy, tính tích cực trong hành vi
và sức khỏe tinh thần của sinh viên tương đối tốt, tuy nhiên cũng còn xảy ra các vấn đề tiêu cực khác như bảng 4.1.b dưới đây
Bảng 4.1.b Thang đo điểm yếu của sinh viên
Nội dung
Không đúng Đôi khi đúng Hoàn toàn
đúng
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%) Tôi bồn chồn, không thể ngồi yên lâu 85 32,7 140 53,8 35 13,5 Tôi hay bị đau đầu, đau bụng và ốm 83 31,9 130 50 47 18,1 Tôi thường tức giận và luôn mất bình tĩnh 103 39,6 119 45,8 38 14,6 Tôi muốn ở một mình hơn là ở với các
Tôi thường làm theo yêu cầu của người lớn 51 19,6 159 61,2 50 19,2
Tôi thường xuyên cảm thấy bồn chồn, bứt rứt 103 39,6 121 46,5 36 13,9 Tôi thường hay đánh nhau với những bạn
khác hoặc ép buộc người khác làm theo ý
muốn của mình
Tôi thường không vui, hay buồn rầu hoặc
Tôi dễ bị xao nhãng, khó tập trung 46 17,7 135 51,9 79 30,4 Tôi hay bị lo lắng khi ở trong các tình
Người ta thường cho rằng tôi hay nói dối
Tôi dễ bị những bạn khác dọa nạt hoặc chế
Ở nhà, ở trường và nơi khác, tôi thường
lấy những thứ không phải là của mình 192 73,8 49 18,9 19 7,3 Tôi hòa hợp với người lớn hơn là với trẻ em 69 26,5 133 51,2 58 22,3
Từ kết quả bảng 4.2.b đã phản ánh được thực trạng vấn đề tinh thần và hành vi ứng xử của sinh viên Các vấn đề về sức khỏe của sinh viên không đến mức cảnh báo,
Trang 8nhưng cũng đáng chú ý Nhà trường, gia đình và xã hội cần quan tâm sinh viên nhiều hơn
và sinh viên cũng nên tự lực vượt qua, tìm cách ứng phó và giải quyết vấn đề Cùng với
đó, sinh viên cũng đã tự chủ là sống hòa nhập với cộng đồng như giúp đỡ mọi người, thân thiện với bạn bè, các em nhỏ, chú tâm vào các vấn đề quan trọng
4.2 Biểu hiện lo âu của sinh viên trong bối cảnh dịch COVID-19
Trong thời điểm dịch COVID-19 diễn ra phức tạp, sinh viên dường như rất quan ngại và luôn lo lắng về dịch bệnh Để biết được mức độ quan tâm đến vấn đề dịch bệnh của sinh viên, chúng tôi đưa thang đo nỗi sợ COVID-19 (Fear of COVID-19 Scale) cho sinh viên và yêu cầu điền những nội dung dưới đây trong khoảng thời gian
2 tuần qua (dịch bệnh đã thuyên giảm)
Bảng 4.2.a Nỗi sợ COVID-19 của sinh viên
Nội dung
Rất không đồng ý
Không đồng ý Trung lập Đồng ý Rất đồng ý
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
Tôi cảm thấy không
thoải mái khi nghĩ về
COVID-19
Tay tôi lạnh đi khi tôi
Tôi sợ chết vì nhiễm
Tôi trở nên lo lắng khi
xem tin tức về
COVID-19 trên mạng xã hội
Tôi không ngủ được vì
Tim tôi đập nhanh khi
tôi nghĩ về việc bị
nhiễm COVID-19
Trang 9Kết quả thể hiện ở bảng 4.2.a cho thấy: sinh viên đa số Cảm thấy sợ nhất
COVID-19 (88%), Cảm thấy không thoải mái khi nghĩ về COVID-COVID-19 (83,4%) Ở thời điểm năm
2022, đa số sinh viên Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung đều đã được tiêm phòng dịch COVID-19 từ 2-3 mũi tiêm, nhưng họ vẫn có thể bị mắc và trở thành F0 Đồng thời sinh viên học online tương đương với việc sẽ sử dụng mạng xã hội nhiều hơn Các tin tức về COVID-19 được lan truyền, chia sẻ liên tục và không rõ đúng sai Mạng xã hội chỉ ra rất nhiều cách phòng tránh COVID-19, ngoài thông điệp 5K, mạng xã hội còn có những cách thức phòng và chữa khi trở thành F0 như ăn trứng lúc nửa đêm, xông nhiều sả, tỏi, lá chanh, thiền, điều này dẫn tới có 81,6% sinh viên
trở nên lo lắng khi xem tin tức về COVID-19 trên mạng xã hội Chính vì nghĩ về
COVID-19 quá nhiều như vậy nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của sinh viên
trong quá trình sống, hoạt động và học tập: thường xuyên không ngủ được vì lo bị nhiễm (53,8%), tim họ thường đập rất nhanh (56,9%), bị lạnh tay (51,2%),
Để hiểu rõ hơn về các biểu hiện của lo âu của sinh viên trường Đại học Sư phạm
- Đại học Thái Nguyên, chúng tôi sử dụng bảng 4.2.b như sau:
Bảng 4.2.b Biểu hiện lo âu của sinh viên trong bối cảnh dịch COVID-19
Nội dung
Không ngày nào
Vài ngày (từ 1-7 ngày)
Hơn một nửa số ngày (từ
8-11 ngày)
Gần như tất cả các ngày (từ 12-14 ngày)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%) Cảm giác bối rối, lo lắng và
26,1
56,1
Không thể ngừng lo lắng hoặc
không kiểm soát được sự lo
lắng
Lo lắng quá mức về nhiều
Trang 10Khó thư giãn 104 40 106 40,8 37 14,2 13 5 Thấy bồn chồn bứt rứt đến
mức không thể ngồi yên
được
Dễ trở nên cáu kỉnh và bực
Cảm thấy sợ hãi như thể có
điều gì đó khủng khiếp sắp xảy
ra
Số liệu ở bảng 4.2.b cho biết, ó tới 192 sinh viên cho rằng Cảm giác bối rối, lo lắng và bực mình trong hai tuần qua (73,85%); 156 sinh viên thấy Khó thư giãn (60%);
154 sinh viên Dễ trở nên cáu kỉnh và bực bội (59,2%); 148 sinh viên thấy Lo lắng quá mức về nhiều điều khác nhau (56,9%) Đây là những mệnh đề có tỉ lệ khá cao ở sinh
viên
Một số sinh viên cho rằng:“Khi học qua zoom, nhiều lúc mất mạng nên thường xuyền phải thoát ra vào lại một vài lần không sao nhưng nhiều lần thì rất bực mình” (B.T.H, nữ, khoa Giáo dục Tiểu học); “Học trên trường sẽ được giải lao 5-10 phút giữa các tiết, nhưng học online thì phải vào Meeting trước giờ học, tiết này nối tiếp tiết sau, thành ra không có thời gian thư giãn giải lao” (T.T.M.N, nữ, khoa Ngữ văn);
có sinh viên sợ nhiều điều như “Sợ dịch bệnh, sợ nhiễm bệnh không được học, không tiếp thu được bài, giảng viên không điểm danh, hay bỏ lỡ bất kỳ điều gì liên quan đến hoạt động, học tập” (N.T.A, nam, khoa Thể dục thể thao) Có thể thấy, sự thay đổi về
mặt tâm sinh lý của các bạn sinh viên cũng như ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đã khiến tâm trạng, cảm xúc của các bạn sinh viên dần đi đến hướng tiêu cực
4.3 Biểu hiện trầm cảm của sinh viên trong bối cảnh dịch COVID-19
Mức độ trầm cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên được xác định thông qua thang đo PHQ-9 với các biểu hiện về cảm xúc hay hành vi như buồn
bã, giảm hứng thú, không muốn tham gia các hoạt động, mệt mỏi, không ngủ được hoặc ngủ quá nhiều, chán ăn hoặc ăn quá nhiều, Để hiểu rõ hơn về các trầm cảm của sinh viên, bảng 4.3 dưới đây sẽ cho chúng ta biết một số biểu hiện: