Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm, có thể thỏa mãn nhu cầu nhất định của con người về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu phục vụ tiêu dung cá nhân hoặ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MARX – LENIN
Đề 2: Lý luận về kinh tế hàng hoá và phát triển kinh tế
hàng hoá ở Việt Nam hiện nay
(221)_26
GIẢNG VIÊN HƯỚNG
DẪN
Trang 2Hà Nội, tháng 5 năm 2022
Trang 3Mục lục
Lời
mở đầu 3
Nội dung 3
A Lý luận về kinh tế hàng hoá 3
I Các quan điểm triết học về vật chất 3
II.Phương thức tồn tại của vật chất 5
B Phân tích về ý thức . 7
I.Nguồn gốc của ý thức 7
II.Bản chất của ý thức 9
III cấuKết của ý thức 10
C Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 11
I.Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm 11
II.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình 11
III.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 12
D Vận dụng của Trần Lê Đức Anh . 18
Trang 4A LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÀNG HOÁ
1 Khái niệm hàng hoá
Hàng hóa là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua quá trình trao đổi, mua bán Hàng hoá có thể tồn tại ở dạng vật thể hoặc phi vật thể
2 Thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá có 2 thuộc tính quan trọng đó là giá trị sử dụng và giá trị
a Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm, có thể thỏa mãn nhu cầu nhất định của con người về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu phục vụ tiêu dung cá nhân hoặc sản xuất Giá trị sử dụng chỉ được thể hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng
b Giá trị
Giá trị là lượng lao động xã hội của người sản xuất được kết tinh trong hàng hóa Giá trị của hàng hóa thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử
Giá trị hàng hoá là biểu hiện bên ngoài của giá trị và gắn liền với việc sản xuất
và trao đổi hàng hoá, có thể coi giá trị là cơ sở của trao đổi Khi trao đổi, lao động hao phí được ẩn giấu trong sản phẩm là yếu tố được đem ra ngầm so sánh
3 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Karl Marx cho rằng hai thuộc tính của hàng hoá xuất phát từ 2 mặt cụ thể và trừu tượng của lao động
a Lao động cụ thể
Trang 5Lao động cụ thể là lao động có ích mang hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng lao động, công cụ, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng
b Lao động trừu tượng
Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá khi loại bỏ hình thức cụ thể của nó, là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hoá Lao động trừu tượng là yếu tố tạo ra giá trị của hàng hoá và là cơ
sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau
4 Lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng
a Lượng giá trị hàng hoá
Lượng giá trị của hàng hoá là lượng lao động đã hao phí nhằm tạo ra hàng hoá Lượng lao động hao phí được đo lường bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, không phải thời gian lao động của từng đơn vị sản xuất cá biệt và đặt trong điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo và cường độ lao động trung bình
b Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá bao gồm năng suất lao động
và độ phức tạp của lao động
- Năng suất lao động là là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
- Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất
Trang 61 Khái niệm sản xuất hàng hoá
Theo Karl Marx, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà trong
đó sản phẩm được sản xuất ra không nhắm đến việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra mà hướng đến đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác bằng việc trao đổi và mua bán
2 Điều kiện ra đời
Nền kinh tế sản xuất hàng hóa chỉ hình thành và phát triển khi xã hội loài người tồn tại cả hai yếu tố sự phân công lao động và các chủ thể sản xuất có sự khác nhau về mặt kinh tế
a Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong toàn xã hội thành các ngành, lĩnh vực sản xuất riêng biệt qua đó tạo nên sự chuyên môn hóa lao động Mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nhất định, tuy nhiên nhu cầu của họ trong cuộc sống lại bao gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau Chính
vì thế, họ buộc phải thực hiện việc trao đổi sản phẩm để thoả mãn nhu cầu bản thân
b Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất tạo ra sự tạch biệt về lợi ích giữa các người sản xuất độc lập dựa trên sự tách biệt về sở hữu Mỗi người chỉ có thể sử dụng sản phẩm của người khác khi thực hiện quá trình trao đổi, mua bán Chính vì thế, xã hội loài người càng phát triển, hàng hoá được sản xuất ra càng phong phú thì sự tách biệt về sở hữu hàng hoá càng sâu sắc
1 Bản chất của tiền tệ
Trang 7Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt, kết quả của quá trình phát triển của sản
xuất và trao đổi hàng hóa Tiền là yếu tố ngang giá chung cho quá trình trao đổi
hàng hóa và là yếu tố biểu hiện giá trị của hàng hóa Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
2 Chức năng của tiền tệ
Tiền có 5 chức năng chính đó là thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và có vai trò là tiền tệ thế giới
1 Khái niệm
Kinh tế hàng hoá là nền kinh tế có sự phân công lao động và trao đổi hàng hoá , dịch vụ giữa người với người.Trong nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ kinh tế được thực hiện trên thị trường đều mang hình thái hàng hoá và dịch vụ, việc sản xuất phục vụ cho quá trình mua bán, trao đổi trên thị trường
2 Đặc trưng
Trong suốt chiều dài lịch sử, kinh tế hàng hoá luôn mang các đặc trưng sau
a Sự tồn tại hình thái giá trị và thị trường
trong đó giá trị của hàng hoá - lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó, được đo bằng tiền tệ và mang hình thái giá cả
b Tuân theo các quy luật nhất định
Các quy luật đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá là quy luật giá trị, quy luật cung-cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh
3 Nền kinh tế thị trường
Trang 8Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường Đó
là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường và chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có sự đa dạng trong các chủ thể kinh tế và phân bổ nguồn lực vào đa dạng các thị trường khác nhau như thị trường hàng hoá, dịch vụ, sức lao động, tài chính, bất động sản,….Việc nền kinh tế thị trườn chịu ảnh hưởng của các nguyên tắc, quy luật cạnh tranh giúp việc điều tiết giá
cả trở nên dễ dàng và thúc đẩy được các hoạt động sản xuất kinh doanh và quản
lý thị trường của các chủ thể Nền kinh tế thị trường cũng là một nền kinh tế mở, cho phép thị trường trong nước và quốc tế hợp tác và phát triển
B Thực trạng nền kinh tế hàng hoá tại Việt Nam hiện nay
1 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, Việt Nam vẫn giữ vững được vị thế của mình với vai trò là một nước đang phát triển Mặc dù những ảnh hưởng sâu rộng của đại dịch Covid-19 đã làm chậm đi quá trình phát triển này nhưng với
sự chỉ đạo và những quyết sách đúng đắn của những người lãnh đạo, Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức tốt so với mặt bằng chung toàn cầu Năm 2020, với con số tăng trưởng GDP ở mức 2,91%, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng cao nhất thế giới Sang đến năm 2021, tuy con số này giảm xuống chỉ còn 2,58% nhưng đây vẫn là tín hiệu tích cực với nền kinh tế hàng hoá của nước ta
Vào năm 2021, khu vực Dịch vụ chiếm 40,95% cơ cấu nền kinh tế, tiếp theo đó
là khu vực Công nghiệp và Xây dựng với 37,86%, khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản với 12,36% và Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,83% Cơ
Trang 9cấu này tiếp tục tuân theo xu hướng của những năm trước đó với việc tỷ trọng ngày càng nghiêng về nhóm ngành Dịch vụ và Công nghiệp, xây dụng, sự phụ thuộc vào nhóm ngành Nông nghiệp giảm dần
2 Kim ngạch xuất nhập khẩu
Giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 10 năm trở lại đây đều chứng kiến sự tăng trưởng, trong đó cán cân thương mại 5 năm trở lại đây đều dương
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2021 của cả nước đạt 668,55 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm
2020 Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 336,31 tỷ USD, tăng 19%, nhập khẩu đạt 332,23 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm 2020 Các mặt hàng đạt trị giá xuất khẩu cao có thể kể đến Điện thoại và linh kiện, Máy vi tính và sản phẩm, linh kiện điện tử hay Hàng dệt may Ở chiều ngược lại, Máy vi tính và sản phẩm, linh kiện điện tử, Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, Điện thoại và linh kiện nhập khẩu và Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày nhập khẩu là những mặt hàng có giá trị nhập khẩu lớn nhất
3 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Sau cuộc khủng hoảng lạm phát vào năm 2011, khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) nhảy vọt lên mức 18,6% thì trong 1 thập kỉ trở lại đây, chỉ số này đã được kiểm soát và ổn định ở mức dưới 4%, bất chấp bối cảnh khó lường và những khó khăn chưa có tiền lệ trong những năm trở lại đây Năm 2021, chỉ số CPI có mức tăng 1,84% và là con số thấp nhất kể từ năm 2016 Trong khi đó, lạm phát cơ bản bình quân cũng tăng 0,81% so với năm 2020
4 Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trang 10- Cả nước có 116,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.611,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần
854 nghìn lao động, giảm 13,4% về số doanh nghiệp, giảm 27,9% về vốn đăng ký và giảm 18,1% về số lao động so với năm trước
- Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2021 đạt 13,8 tỷ đồng, giảm 16,8% so với năm trước Nếu tính cả 2.524,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 43,5 nghìn doanh nghiệp tăng vốn, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm nay là 4.136 nghìn tỷ đồng, giảm 25,8% so với năm trước
- Bên cạnh đó, còn có 43,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 2,2% so với năm 2020), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới
và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2021 lên gần 160 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm trước Bình quân một tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động
- Năm 2021, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn gần 55 nghìn doanh nghiệp, tăng 18% so với năm trước 48,1 nghìn doanh
nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 27,8% và 16,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 4,1%, trong đó có 14,8 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 4%; 211 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 20,7% Bình quân một tháng có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường
1 Ưu điểm
- Nền kinh tế thị trường từ năm 1986 đã có những phát triển tích cực và vượt bậc nhờ vào những chủ trương, sáng kiến không ngừng thay đổi để hoàn thiện của Đảng và Nhà nước Mô hình này đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, thoát khỏi tình trạng đói nghèo do tàn dư của hai cuộc chiến tranh để
Trang 11lại, kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật được cải thiện, đời sống của nhân dân không ngừng nâng cao
- Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp có sự “thay da đổi thịt”, chuyển từ độc canh lúa, năng suất thấp, thiếu hụt lớn sang đủ dùng trong nước, thậm chí xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, góp phần tăng cường an ninh lương thực thế giới Xuất khẩu cao su, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, thuỷ sản nhờ vào giao thương toàn cầu ngày càng có vị thế cao trên trường quốc tế Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh, thu hút khách du lịch nước ngoài cao đặc biệt
là Hàn Quốc trong những năm gần đây, các ngành dịch vụ tài chính, ngân
hàng càng được pháp lý hoá, kiểm soát chặt chẽ rủi ro
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Khu vực kinh tế tư nhân với bộ phận doanh nghiệp tư nhân ngày càng đông, đóng góp phần lớn GDP cả nước càng chứng minh cho sự hợp lý trong bước tiến đến nền kinh tế hàng hoá thị trường của Việt Nam
2 Hạn chế
- Tuy là nước nông nghiệp nhưng bình quân ruộng đất canh tác theo đầu người thấp
- Kết cấu hạ tầng cơ sở còn chưa đồng bộ, ứng dụng khoa học kỹ thuật về mặt bằng chung là chưa cao, nhất là trong nông nghiệp,
- Hệ thống pháp lý còn nhiều bất cập Hệ thống thuế chưa thực hiện tốt chức năng điều tiết và đảm bảo công bằng xã hội, vẫn còn những doanh nghiệp làm
ăn không minh bạch
Downloaded by Heo Út (quangutbin@gmail.com)
Trang 12- Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, bất cập, hiệu lực và hiệu quả quản lý còn thấp, quá nhiều thủ tục giấy tờ tốn thời gian
- Tệ nạn tham nhũng, quan liêu vẫn chưa được xử lý triệt để và toàn diện
- Nhiều vấn đề về sinh hoạt như nguồn nước, nguồn điện, ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước chưa được giải quyết tốt
- Chất lượng sản phẩm hàng hoá vẫn còn ở mức thấp, chỉ một số mặt hàng được doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo an toàn thực phẩm mới “bước chân” vào các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản,
C Các giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế hàng hoá tại Việt Nam
1 Đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá các chế độ sở hữu, tạo điều kiện phát triển mạnh nền kinh tế hàng hoá ở nước ta
Cơ sở tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế do các chế
độ sở hữu khác nhau nên phát triển kinh tế thị trường phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong nền kinh tế Đó là phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác xã, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Khu vực kinh tế Nhà nước cần có sự sắp xếp lại, đổi mới trong công nghệ và hình thức quản lý Đối với những cơ sở không cần giữ hình thức kinh tế Nhà nước thì nên chuyển sang hình thức sở hữu khác hoặc giải thể, ví dụ như các công ty thoái vốn nhà nước như Vinaconex, Petrolimex, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, trong năm 2018 đã tạo ra sự cạnh tranh và tăng trưởng ấn tượng Tối giản hoá bộ máy quản lý hành chính vốn vẫn đang quá cồng kềnh, qua đó tránh quan liêu, tham nhũng qua nhiều lớp quản lý
Chủ trong khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nội địa, Nhà nước không nên bất chấp thu hút FDI mà tạo điều kiện quá thuận lợi cho khu vực này khiến cho doanh nghiệp trong nước quy mô đã nhỏ hay lại càng bị chèn
Downloaded by Heo Út (quangutbin@gmail.com)