1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở liên xô và đông âu diễn biến và hậu quả

26 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu diễn biến và hậu quả
Tác giả Lạc Thị Thu Hoài
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử về chủ nghĩa xã hội
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu kết : Như vậy, mùa thu năm 1991 là thời điểm sai lầm của lịch sử với đổ vỡ của một tường thành chủ nghĩa xã hội, một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô Viết, một quốc gia thống n

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Họ và tên : Lạc Thị Thu Hoài Lớp :

MSSV : 462017

Trang 2

xã hội và ngóng đợi về thời khắc “vàng” - “chiến thắng không cần chiến tranh”.Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác-Lênin bị thách thức nghiêm trọng từ cả hai phíabên ngoài và bên trong Đó chính là sự tấn công dồn dập của các học thuyết tư sảnnhư chủ nghĩa tự do mới, quan điểm tân bảo thủ, cũng như sự thâm nhập gây xói mòn

từ các quan điểm cực đoan, theo đó sự sụp đổ của Liên Xô và phe Xã hội Chủ NghĩaĐông Âu được coi vừa là kết quả vừa là cáo chung của chủ nghĩa Mác-Lênin Cho dùlịch sử có biến động như thế nào, dù ai đó cố tình xuyên tạc lịch sử cũng không thểphủ nhận được sự thật là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có một thờiphát triển rực rỡ và đạt được những thành tựu to lớn Từ những thành tựu của chủnghĩa xã hội, nhóm em xin phép được phản bác những quan điểm sai trái về “Sựkhủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu bắt nguồn từ những sai lầm của chủ

Trang 3

nghĩa Mác – Lênin, đồng thời nó cũng đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

NỘI DUNG

I Sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên

Xô và Đông Âu: Diễn biến và hậu quả

1. Sơ lược về diễn biến của sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô-Viết

Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô - Viết là mô hình chủ nghĩa xã hội hiệnthực đầu tiên trên thế giới Sau Cách mạng tháng Mười 1917, nước Nga Xô Viết rađời Sau khi chiến thắng thù trong giặc ngoài, năm 1921, nước Nga Xô viết bước vàothời kỳ hoà bình, xây dựng đất nước trong hoàn cảnh hết sức khó khăn Cuối năm

1922, sau khi lãnh thổ Xô Viết được hoàn toàn giải phóng, công cuộc xây dựng vàbảo vệ đất nước đòi hỏi các dân tộc phải liên minh chặt chẽ với nhau hơn nhằm tăngcường sức mạnh về mọi mặt Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của V I Lenin, Đại hội lầnthứ nhất các Xô viết toàn Liên bang, diễn ra cuối tháng 12 - 1922 đã tuyên bố thànhlập Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) Từ 1940 –

1945, với sự tham gia của Liên Xô vào cuộc Thế chiến II hàng loạt các nước Đông

Âu được giải phóng khỏi phe phát xít, thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân, đilên con đường xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô Viết bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa

xã hội trong điều kiện vô cùng khó khăn Từ cuối những năm 20 đầu những năm 30của thế kỉ XX, Liên Xô áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội nhà nước với cơ chế kếhoạch hóa cao độ Nhờ mô hình này, Liên Xô đã đạt được những thành công rực rỡtrong sự nghiệp công nghiệp hóa với thời gian chưa đầy 20 năm

Đến 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ, với những thiếu sót, sai lầm vốnđược tích tụ từ lâu, Xã hội Xô viết lâm vào tình trạng thiếu dân chủ và công bằng, kỉcương và pháp chế xã hội chủ nghĩa bị vi phạm nghiêm trọng, tệ nạn xã hội gia tăng,sản xuất tăng trưởng chậm, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém vàngày càng thua kém về khoa học - kỹ thuật Nền kinh tế Liên Xô và Đông Âu ngàycàng mất cân đối nghiêm trọng, nợ nước ngoài và lạm phát không ngừng tăng lên.Đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Bắt đầu từ cuối những năm 80của thế kỉ XX, mô hình Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô bước vào thời kỳ khủng hoảngtriền miên, buộc Liên Xô phải có những thay đổi phù hợp và nhanh chóng để sửa đổi

Tháng 3/1985, Gorbachev lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô,

đã đưa ra đường lối cải tổ Tuy nhiên qua 6 năm thực hiện, tình hình lại chuyển biếntheo chiều hướng xấu Do những tác động tiêu cực của những sai lầm trước kia, do

Trang 4

chưa chuẩn bị đầy đủ, lại mắc phải nhiều sai lầm mới trầm trọng hơn, nên công cuộccải tổ ngày càng bế tắc và rời xa những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội.

Đến tháng 12/1990, sự cải tổ về chính trị đã thiết lập quyền lực Tổng thống vàchuyển sang chế độ đa đảng Xã hội lâm vào rối với những xung đột gay gắt giữa cácdân tộc và các phe phái trên toàn Liên bang

Quá trình trì trệ, khủng hoảng kéo dài của đất nước Xô Viết đã lên tới đỉnhđiểm khi nổ ra cuộc đảo chính ngày 19/8/1991 do một số người lãnh đạo Đảng vàNhà nước Liên Xô tiến hành Cuộc đảo chính nhanh chóng bị thất bại (21/8/1991).Sau khi trở lại nắm quyền, M gorbachev tuyên bố từ chức Tổng Bí thư Đảng Cộngsản Liên xô, yêu cầu giải tán UỶ ban Trung ương Đảng (24/8/1991), đình chỉ hoạtđộng của Đảng Cộng sản Liên Xô (29/8/1991) Chính quyền Xô Viết trong toàn Liênbang bị tê liệt Chỉ trong vài tuần lễ sau cuộc đảo chính, tất cả các nước cộng hoà, trừNga và Kazakhstan, đều tách khỏi Liên bang, tuyên bố độc lập Ngày 6/9/1991, Quốchội bãi bỏ Hiệp ước Liên bang 1922 Ngày 21/12/1991, tại thủ đô Anma Ata(Kazakhstan), 11 nước Cộng hoà ký Hiệp ước về giải tán Liên bang Xô Viết và chínhthức thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (thường gọi tắt là SNG) Ngày25/12/1991, sau lời tuyên bố từ chức Tổng thống của M Gorbachev, lá cờ đỏ búaliềm trên nóc điện Cremli bị hạ xuống, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ xã hội chủnghĩa ở Liên Xô sau 74 năm tồn tại

Cùng với sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước Đông Âu ngày càngsuy thoái trầm trọng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năng lượng 1973 và cácchiến lược phát triển không mấy hiệu quả Cuối 1989, nền kinh tế Đông Âu chìm sâutrong khủng hoảng, thu nhập quốc dân chỉ tăng 0.5% Nhân dân các nước Đông Âugiảm sút lòng tin vào Đảng và Nhà nước Sự bất bình của họ ngày càng tăng lên Cuốithập kỷ 70, ở nhiều nước xảy ra các cuộc đấu tranh, đình công của công nhân và cáctầng lớp nhân dân, làm cho tình hình đất nước không ổn định

Cuối 1988, cuộc khủng hoảng nổ ra sớm nhất ở Ba Lan, sau đó nhanh chóngdiễn ra ở Hungari Tiệp Khắc, CHDC Đức,… Mít tinh, biểu tình, tuần hành, bãi côngdiễn ra dồn dập, đòi cải cách, thực hiện đa nguyên chính trị, tổng tuyển cử tự do màmũi nhọn tấn công của các nhóm phái nhằm vào Đảng Cộng sản cầm quyền Nhữnghoạt động trên đã làm tê liệt mọi sinh hoạt của đất nước, đẩy chế độ xã hội chủ nghĩalâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện Những người lãnh đạo các nước Đông Âu đềulần lượt tuyên bố từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chấp nhận chế độ đanguyên về chính trị và tiến hành tổng tuyển cử

Ở các nước Bungari, Nam Tư, Rumani, Anbani, tình hình đất nước tiếp tụckhủng hoảng sâu sắc Ngày 9/11/1989, nhà cầm quyền CHDC Đức tuyên bố bỏ ngỏ

Trang 5

“bức tường Berlin” đến 3/10/1990, việc thống nhất nước Đức đã được thực hiện với

sự sáp nhật CHDC Đức vào CHLB Đức Ngày 28/6/1991, Hội đồng tương trợ kinh tế(SEV) tuyên bố giải thể, ngày 1/7/1991, Tổ chức Hiệp ước Warszawa

Tiểu kết : Như vậy, mùa thu năm 1991 là thời điểm sai lầm của lịch sử với

đổ vỡ của một tường thành chủ nghĩa xã hội, một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô Viết, một quốc gia thống nhất và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã từng tồn tại, phát triển hùng mạnh trong suốt ba phần tư thế kỉ, nhưng đồng thời

là thời khắc nhân loại chứng thực sự đứt gãy của hiệu ứng Domino, trái với mong muốn của chủ nghĩa tư bản về chuỗi sụp đổ tất yếu của dây chuyền của hệ thống

xã hội chủ nghĩa thế giới.

2. Hậu quả của sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô-Viết

Năm 1991 khi Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã gây

ra hậu quả nghiêm trọng, hệ thống Xã hội chủ nghĩa trên thế giới không còn tồn tại

Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô Viết đã làm thay đổi cănbản trật tự thế giới, là một tổn thất hết sức to lớn và nặng nề của những người cộngsản trong quá trình hiện thực hóa học thuyết Marx – Lenin vào con đường phát triểncủa đất nước Một tấn bi kịch lớn nhất thế kỷ XX: Chủ nghĩa xã hội thất bại trênchính ngay quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại Sự sụp đổ của mộtphần hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã khiến giới chính trị tư sản và chủ nghĩa đếquốc tin chờ vào hiệu ứng “đô-mi-nô” về cái gọi là “sự sụp đổ định mệnh” toàn hệthống của chủ nghĩa xã hội và ngóng đợi về thời khắc “vàng”: đó là “chiến thắngkhông cần chiến tranh” của thế giới tư sản

Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước ở Đông Âucho thấy, đây là sụp đổ của một mô hình cụ thể chứ không phải sự sụp đổ của một lýtưởng trên nền móng hệ thống lý luận Hơn nữa, mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên

Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là những mô hình đồng dạng phối cảnh,tới mức khó phân biệt bản sắc của các mô hình trong sự phát triển đa dạng của chủnghĩa xã hội một cách tự nhiên Vấn đề này hoàn toàn trái với sự chỉ dẫn của cả C.Marx và V I Lenin về tính thống nhất và đa dạng của chủ nghĩa xã hội Nó vô hìnhchặt cụt mọi sự sáng tạo một cách độc lập trong việc hiện thực hóa chủ nghĩa Marx –Lenin ở các quốc gia khác nhau Đó là sự thất bại to lớn về phương pháp luận và nặng

nề về tổ chức trên thực tiễn Lịch sử càng về cuối thế kỷ XX càng nghiêm khắc cảnhcáo sự vi phạm chết người này

Tiểu kết: Như vậy, sự tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm 1989 – 1991 đã gây ra nên những hậu quả hết

Trang 6

sức nặng nề không chỉ đối với bản thân Liên Xô và các nước Đông Âu mà cả đối với thế giới Đặc biệt Đó là một tổn thất lớn trong lịch sử phong trào cộng sản - công nhân quốc tế Đến đây, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới không còn tồn tại Trật tự thế giới hai cực đã kết thúc Tuy nhiên, đây chỉ là sự sụp đổ của 1 mô hình hết sức lỗi thời, lạc hậu, thiếu tôn trọng quy luật khách quan của sự phát triển thế giới chứ không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

II Phản bác quan điểm sai trái về nguyên nhân, bản chất của sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu

1 Nguyên nhân của sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu a

Nguyên nhân sâu xa

Sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là sự kiện chính trị phức tạp

do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên Tuy nhiên, chủ yếu chi phối bởi nguyên

nhân sâu xa đó là: Sai lầm trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội của Chủ nghĩa

Marx – Lenin dẫn tới việc sai lầm trong áp dụng thực tiễn; thiếu tôn trọng đầy đủ cácquy luật phát triển khách quan về kinh tế - xã hội, chủ quan, duy ý chí, thực hiện cơchế tập trung quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường Điều đó làm cho đất nướcthiếu tính năng động, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân không được cải thiện Về xãhội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế XHCN

Đầu tiên, nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự khủng hoảng triền miên, sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sai lầm trong nhận thức lý luận về Chủ nghĩa xã hội của Chủ nghĩa Marx – Lenin, chủ quan, duy ý chí Từ sau

khi Lenin mất, Stalin và những người tập hợp xung quanh ông đã bỏ qua những tưtưởng của Marx - Engels và những chỉ dẫn của V I Lenin, đưa ra những tư tưởng xa

lạ về xây dựng CNXH từ thời kỳ quá độ Ngay cả khi Liên Xô tuyên bố hoàn thànhviệc xây dựng CNXH, chuyển sang giai đoạn xây dựng CNXH phát triển, thì sai lầmnày cũng ngày càng bộc lộ rõ nét hơn, chứ không có sự thay đổi, nhận thức lại chophù hợp, chủ quan, duy ý chí, luôn cho rằng Liên Xô đi trước một bước, không ảnhhưởng bởi bên ngoài

Thứ hai, sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là do những hạn chế, thiếu sót trong bản thân nền kinh tế - xã hội tồn tại lâu dài: đó chính là khủng hoảng

của mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp mà cốt lõi là việc không giảiquyết được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong bối cảnhmới theo nguyên lý của Marx, quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan

hệ giữa sản xuất và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xâydựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu

Trang 7

kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượngsản xuất phát triển mạnh mẽ.

Sau khi V.I.Lenin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếptục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ Mô hình kế hoạch hóatập trung, quan liêu, bao cấp đã có những phù hợp nhất định trong thời kỳ đặc biệttrước đây Không thể phủ nhận rằng, trong nhiều thập kỷ kể từ Cách mạng thángMười năm 1917, mô hình này đã thể hiện được sức sống bền bỉ và sức sáng tạo lớn,tạo được những thành quả phát triển vĩ đại, đưa Liên Xô từ một nước nông nghiệp lạchậu trở thành siêu cường thế giới về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự với mức sống,phúc lợi, công bằng và bình đẳng xã hội được đảm bảo ở mức độ tương đối cao Tuynhiên, trong bối cảnh từ thập niên 1970, lực lượng sản xuất thế giới bước vào giaiđoạn phát triển tăng tốc mới với 2 động lực chính là cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ 3 hay còn gọi là cuộc cách mạng tin học, và quá trình toàn cầu hóa Mô hình nàykhông còn phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa, không sáng tạo và không năng động,ngày càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy luật phát triển khách quan về kinh tế - xãhội, chủ quan, duy ý chí, làm nảy sinh tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ vàcông bằng Liên Xô và các nước XHCN theo mô hình Xô Viết lại trở nên xơ cứng, trìtrệ, không bắt kịp với những thay đổi của thời đại, ngày càng chệch hướng khỏi cácnguyên lý Marxit-Leninit Đảng Cộng sản cầm quyền ngày càng xa rời thực tiễn, rơivào tình trạng giáo điều về tư tưởng, sa sút về tinh thần, suy thoái về tổ chức, tha hóa

về đạo đức, đánh mất lòng tin của quần chúng nhân dân Nền dân chủ XHCN bị xóimòn bởi tình trạng tập trung quyền lực và tệ sùng bái cá nhân ngày càng trở nênchuyên chế, quan liêu, độc đoán, duy ý chí, khiến cho các mâu thuẫn xã hội tích tụkhông được giải quyết, bức xúc xã hội gia tăng Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trungmất dần tính hiệu quả và động lực phát triển do các quan hệ sản xuất trở nên xơ cứng,coi nhẹ lợi ích cá nhân, khuyến khích vật chế, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo củacon người, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, khiến cho tăng trưởng kinh tếmất đà, hiệu quả kinh tế-xã hội ngày càng giảm sút Mô hình này tồn tại lâu dài khôngchỉ ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị và còn ảnh hưởng đến cả văn hóa – xã hội ở LiênXô

Thứ ba, do thiếu tôn trọng đầy đủ các quy luật phát triển khách quan về kinh tế

- xã hội Trong một thời gian dài, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu

trượt dài trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường; khônghội nhập nền kinh tế thế giới làm cho nền kinh tế ngày càng xơ cứng, thiếu tính năngđộng, sản xuất trì trệ

Trang 8

Thứ tư, là do sự bất mãn trong lòng quần chúng ngày càng tăng lên với chế độ.

Xã hội trong mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô Viết ngày càng xa rời quầnchúng, bộ máy nhà nước thì ngày càng trầm kha vào những căn bệnh mãn tính Xãhội thì thiếu dân chủ, công bằng, vi phạm nghiêm trọng pháp chế XHCN, đi ngược lạivới mong mỏi của quần chúng về một chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp

Tiểu kết: Có thể thấy, chính từ những sai lầm về nhận thực để đi đến thực tiễn kéo dài hàng thập kỷ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô Viết chính là con sâu mọt ăn mòn giá trị, sự tồn tại của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu Đó là sự rời xa Chủ nghĩa Marx – Lenin về con đường chủ nghĩa xã hội

để đi đến những nhận thức vô cùng chủ quan, duy ý chí, thiếu tôn trọng quy luật phát triển khách quan của thế giới, trở thành một nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khủng hoảng triền miên, kéo dài, tất yếu sụp đổ.

b Nguyên nhân trực tiếp:

Thứ nhất, đó là khi Liên Xô tiến hành cải tổ phạm sai lầm trên nhiều mặt, làm cho khủng hoảng ngày càng thêm nặng nề về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, văn

hoá, tư tưởng Những sai lầm nghiêm trọng trong quá trình cải tổ của ban lãnh đạoLiên Xô đứng đầu là Gorbachev - Đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụpđổ

Sai lầm ấy trước hết được thể hiện trong chính sách hợp tác hóa nông nghiệp bằngmọi giá, bất chấp điều kiện thực tế và lợi ích của người nông dân Đó là một trongnhững nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nạn đói xảy ra vào những năm 1930 - 1932 Sailầm còn thể hiện ở chính sách cưỡng đoạt ruộng đất của địa chủ (cu-lắc) ở nông thôn

và nhà máy của các chủ tư sản ở thành thị Kết quả là lực lượng sản xuất (nhất là kỹnăng, kinh nghiệm quản lý kinh tế) bị tiêu hao, xã hội bị chia rẽ nặng nề Thậm chí,vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, những nhà lãnh đạo Xô-viết đã nóng vộituyên bố xây dựng xong CNXH, bắt tay vào xây dựng CNXH phát triển Đó thực chất

là tư tưởng chủ quan, duy ý chí Đành rằng, cuối những năm 60, Liên Xô và các nướctrong hệ thống XHCN ở Đông Âu cũng thu được những thành tựu quan trọng về kinh

tế - xã hội, tuy nhiên sự bảo thủ trong chính sách kinh tế cùng bộ máy quan liêu, thamnhũng đã làm cho những thành tựu đó không được phát huy, thậm chí nền kinh tếngày càng trì trệ, xã hội ngày càng mất ổn định…

Về chính trị, họ đã thủ tiêu nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện đa nguyên hóachính trị, ngày 14/3/1990 điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị sửa đổi, chính thức bãi bỏquyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, quy định đa nguyên chính trị và hệthống đa đảng…

Trang 9

Những bước đi nguy hiểm này đã hủy hoại uy tín của Đảng Cộng sản, làm mấtphương hướng dự luận xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trịXHCN tốt đẹp, thổi bùng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa ly khaitại các nước cộng hòa tự trị và các nước XHCN anh em, tạo điều kiện cho các phần tửbất đồng chính kiến, những kẻ cơ hội chính trị đủ mọi phe phái trỗi dậy, tập hợp thànhcác phong trào chống đối.

Ngoài những sai lầm trong chính sách đối nội, ban lãnh đạo do Gorbachev cầm đầucòn thi hành chính sách đối ngoại phản động theo hướng từng bước nhượng bộ, thỏahiệp với phương Tây Điều này đã tiếp tay cho các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụngnhững khó khăn trong nước, đẩy mạnh “diễn biến hoà bình”…

Thứ hai, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước có tác động không nhỏ làm cho tình hình càng thêm rối loạn Đó là sự chống phá của các

nước TBCN, sự chống phá của các thế lực phản động trong nước, thậm chí còn là sựchống phá trong tư tưởng của chính những người “Cộng sản” nắm quyền trong Bộmáy nhà nước,…

Thứ ba, không bắt kịp sự phát triẻn của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuậthiện đại, đưa tới sự trì trệ, khủng hoảng về kinh tế - xã hội Khiến cho khoa học – kỹthuật ở Liên Xô và Đông Âu ngày càng lạc hậu, khó bắt kịp sự phát triển của cácnước TBCN và yêu cầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho con đường phát triểnchủ nghĩa xã hội

Tiểu kết: Không còn nghi ngờ gì nữa, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu bắt nguồn từ việc xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, bắt đầu từ việc giáo điều, xơ cứng hóa học thuyết này, và kết thúc bằng việc xuyên tạc, phá bỏ các nguyên lý Marxit Leninit cơ bản Đặc biệt, nguyên cớ trực tiếp dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đó chính

là chính sách cải tổ bất hợp lý, đi ngược lại nguyên lý xã hội chủ nghĩa, tự diễn biến, tự chuyển hoá.

2 Bản chất của sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu: Sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không đồng nghĩa với sự cáo chung của Chủ nghĩa xã hội

Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và cácnước Đông Âu không phải là "sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội" mà đó chỉ là sự khủng hoảng và sụp đổ của một mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội trên tiến trình phát triển

Trang 10

lịch sử của nó Bởi vì, không thể có sự đồng nhất giữa một hình thức cụ thể của quátrình phát triển với bản thân quá trình ấy Quan điểm quy kết sự sụp đổ của Liên xô vàchủ nghĩa xã hội ở Đông Âu đồng nghĩa với “chủ nghĩa xã hội đã cáo chung”, “lịch sử

đã kết thúc” và sự chấm dứt của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội, rõ ràng là không có cơ sở khoa học, mang nặng tính chất thù địch, áp đặt Bởi:

Thứ nhất, nhìn lại tiến trình lịch sử của CNXH hiện thực mô hình Xô Viết có

thể nhận thấy sai lầm đầu tiên chính là sai lầm trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa

xã hội của Chủ nghĩa Marx – Lenin - lý luận về cách mạng vô sản, lý luận về chủ nghĩa cộng sản và lý luận về thời kỳ quá độ.

Trong học thuyết của mình, Marx và Engels phát hiện ra sự vận động có tínhquy luật của lịch sử loài người thông qua sự thay thế tất yếu hình thái kinh tế - xã hộinày bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn Theo sự vận động ấy, loài ngoài tấtyếu sẽ đi đến CNCS Cuộc cách mạng sẽ nổ ra khi quan hệ sản xuất TBCN dựa trên

sự chiếm hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất trở thành sự trói buộc, kìm hãm lựclượng sản xuất đã phát triển đạt tới trình độ xã hội hoá cao Giữa xã hội TBCN và xã

hội CSCN là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Đây là thời

kỳ quá độ, một quá trình phức tạp, khó khăn Lý luận về thời kỳ quá độ ở nước Ngađược V I Lenin hiện thực hóa bằng Chính sách Kinh tế mới (NEP) và đưa vào thựchiện từ năm 1921 Thực chất của NEP là một bước tiến trong nhận thức lý luận vềthời kỳ quá độ với nội dung là áp dụng kinh tế thị trường hạn chế, sản xuất hàng hóađược thừa nhận ở mức độ nhất định, quan hệ hàng - tiền với tính cách là đòn bẩy thúcđẩy phát triển kinh tế được khôi phục

Tiếc rằng, sau khi Lenin mất đi, Stalin và những người tập hợp xung quanh ông đã bỏqua những tư tưởng của Marx - Engels và những chỉ dẫn của V I Lenin, đưa ranhững tư tưởng xa lạ về xây dựng CNXH ở thời kỳ quá độ trong một nước và sự giatăng đấu tranh giai cấp, trấn áp trong xã hội; chủ trương kế hoạch hóa tập trung, cônghữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, phân phối trực tiếp bằng hiệnvật, Từ sai lầm trong nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ dẫn đến những sai lầmtrong tổ chức thực tiễn; chủ quan, nóng vội, bỏ qua tính quy luật trong giải quyết cácvấn đề đặt ra về kinh tế, xã hội, con người; không lường hết những khó khăn, phứctạp và nguy hiểm sự chống phá của kẻ thù từ bên ngoài

Sai lầm trong nhận thức lý luận về kinh tế, về bản chất của xã hội mới, cũng bắtđầu từ nhận thức sai lầm lý luận về thời kỳ quá độ Theo dự báo của C Mác và Ph.Ăng-ghen, nhân loại tất yếu đi tới xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa (CSCN),trong đó lực lượng sản xuất phát triển và đạt trình độ xã hội hóa cao; mọi tư liệu sảnxuất thuộc về sở hữu xã hội; nền sản xuất được kế hoạch hóa trên phạm vi toàn xã hội

Trang 11

và đáp ứng nhu cầu lao động và sinh hoạt của mọi thành viên trong xã hội Để đi tớichế độ đó cần phải có thời kỳ quá độ, tức là thời kỳ “cải biến cách mạng” từ CNTBđến CNCS, thời kỳ cải tạo xã hội dần dần “là vấn đề khó khăn nhất trong tất cả cácvấn đề”, vì thế phải có thái độ rất thận trọng Trong thời kỳ quá độ, những tàn dư củaCNTB chưa thể mất đi hoàn toàn và những yếu tố của CNXH tuy đã xuất hiện nhưngcòn mới mẻ, bước đầu.

Kế thừa tư tưởng của Marx và Engels, V I Lenin phân tích tình hình thực tế nướcNga và cho rằng, trong thời kỳ quá độ, ở nước Nga tồn tại nhiều thành phần kinh tế,chỉ ra sự cần thiết của việc trao đổi hàng hóa, việc duy trì quan hệ hàng - tiền và một

số hình thức của kinh tế thị trường để thúc đẩy sự phát triển các thành phần kinh tế

V I Lenin khẳng định, sự thắng lợi của CNXH phải thể hiện bằng năng suất lao độngcao, nhưng đây là công việc rất khó khăn, cần có thời gian, nguồn lực và trí tuệ Dochủ quan, nóng vội, Đảng Cộng sản Liên xô và Nhà nước Xô-viết sau đó đã áp dụngnhững biện pháp hành chính, áp đặt để giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế.Toàn bộ tư liệu sản xuất được công hữu hóa hay tập thể hóa Sở hữu tư nhân bị thủtiêu bằng vũ lực và tước đoạt Tất cả các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tậpthể đều bị xóa bỏ Thị trường không phát triển do sản xuất hàng hóa bị coi là xa lạ vớiCNXH, Trong nông nghiệp, chính sách hợp tác hóa đã làm suy yếu lực lượng sảnxuất ở nông thôn, tước bỏ động lực cần thiết, làm cho nền nông nghiệp phát triểnchậm, năng suất lao động thấp Nền công nghiệp Liên Xô có khả dĩ hơn, nhưng chỉphát triển tốt ở một số ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, công nghiệp quốcphòng Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với xã hộilại là khu vực yếu kém nhất Người dân có rất ít cơ hội để lựa chọn những hàng hóa,nhu yếu phẩm cho cá nhân và gia đình Nhiều thời kỳ, hàng hóa khan hiếm gây bứcxúc trong xã hội

Ngay cả khi Liên Xô tuyên bố hoàn thành việc xây dựng CNXH, chuyển sanggiai đoạn xây dựng CNXH phát triển, cơ chế quản lý vận hành nền kinh tế cũngkhông có bất cứ sự thay đổi nào Hơn thế nữa, cơ chế đó còn tỏ ra ngày càng kémhiệu quả hơn do hệ thống công quyền ngày càng quan liêu hóa Những thành tựu củacuộc cách mạng khoa học, công nghệ của nhân loại không được áp dụng kịp thời vàosản xuất Năng suất lao động xã hội ngày càng giảm Tăng trưởng kinh tế nhằm mụctiêu giành thắng lợi trong cuộc chạy đua “ai thắng ai” với các nước TBCN không đạtđược như mong muốn Không những thế, nền kinh tế còn sa vào tình trạng trì trệ.Chất lượng các loại hàng hóa tiêu dùng thấp, không được đổi mới về hình thức, mẫu

mã, hàng hóa ngày càng khan hiếm, không đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng của nhân

Trang 12

dân Sự thất bại trong phát triển kinh tế đã góp phần đẩy xã hội Xô-viết đến bờ vựckhủng hoảng.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Liên Xô ngày càng vướng mắc, xa rời Chủ nghĩa

Marx - Lenin về xây dựng Đảng Cộng sản.

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của C Mác, Ph Ăng-ghen trong điều kiện mới, V

I Lê-nin, đã đưa ra các nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới, trong đó có nguyên tắc

tập trung dân chủ Người cho rằng, tập trung dân chủ là nguyên tắc sống còn của một

đảng cách mạng chân chính Bởi vì, nếu không có tập trung, đảng sẽ trở thành một

“câu lạc bộ” lộn xộn, bị chia rẽ; nhưng nếu xa rời dân chủ, đảng sẽ trở thành một tổchức quan liêu, độc đoán, chuyên quyền Tất cả những vấn đề lý luận về xây dựngđảng của Marx, Engels và Lenin đều bị Stalin bỏ qua, hoặc giải thích theo quan niệmriêng của mình Stalin đã xây dựng nên một đảng theo xu hướng độc đoán, chuyênquyền, ngày càng quan liêu, xa rời nhân dân Đảng Cộng sản Liên Xô càng ngày cànglún sâu vào vũng bùn của những căn bệnh đã được báo trước mà tự nó không có bất

cứ cơ chế nào để cứu vãn Môi trường thiếu dân chủ, cơ chế tổ chức yếu kém, kỷ luậtđảng lỏng lẻo Trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong hệ thống tổ chức củaĐảng không rõ ràng Công tác kiểm tra, giám sát không chặt chẽ Tình trạng đặcquyền, đặc lợi và quan liêu, nhũng nhiễu, “mua quan, bán chức” trong Đảng ngàycàng nặng nề…

Mặt khác, sai lầm trong nhận thức lý luận về Đảng, bỏ qua những vấn đề cótính nguyên tắc về tổ chức đảng, về công tác cán bộ của Đảng là sự phá hoại Đảng từbên trong Đảng nắm quyền quyết định công tác cán bộ nhưng cơ chế lựa chọn, sửdụng cán bộ không chặt chẽ, không hợp lý dẫn đến việc biến nó thành siêu quyền lựccủa một số người Tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của Đảng, Nhà nước Xô-viếtcàng độc đoán, mất dân chủ thì Đảng, Nhà nước càng xa dân, càng mất đi cơ sở chínhtrị, nguồn sống của nó

Thứ ba, sự khủng hoảng và tan rã của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở

Liên Xô là do sai lầm trong phương pháp khi tiếp cận với chủ nghĩa Marx - Lenin, sự bảo thủ, hẹp hòi trong thái độ ứng xử với những giá trị của văn minh nhân loại, nhất

là những gì liên quan đến CNTB Đặc biệt, sự độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ

và chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân cản trở, không cho phép phát triển hệ thống lýluận khoa học, khách quan, đúng đắn trong điều kiện CNXH hiện thực mô hình Xô-viết

Khi nói về học thuyết của mình, C Marx nhiều lần nhấn mạnh rằng, học thuyết đó khôngphải là những giáo điều khô cứng mà là một học thuyết mở mang bản chất sáng tạo vàphải được phát triển không ngừng cùng sự phát triển của thực tiễn xã hội Sau

Trang 13

này, V I Lenin nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Marx như là một cái

gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặtnền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triểnhơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”

Trong lịch sử tồn tại của CNXH mô hình Xô-viết thời kỳ sau V.I Lenin, hầu nhưnhững vấn đề có tính nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Marx - Lenin đều bịxem nhẹ hoặc bỏ qua Việc tiếp nhận lý luận chủ nghĩa Marx - Lenin được thực hiện theo

hai hướng Hướng thứ nhất là biến một số luận điểm, dự báo khoa học trong học thuyết

đó thành những giáo điều khô cứng, không quan tâm đến sự vận động không ngừng của

các điều kiện xã hội Hướng thứ hai là giải thích theo những quan điểm chủ quan, sùng

bái ý kiến của cá nhân hoặc của ban lãnh đạo tối cao Đảng và Nhà nước Hai xu hướng

ấy dẫn tới việc hình thành một hệ thống lý luận xa rời thực tiễn, duy ý chí, chủ yếu làminh họa các ý kiến của lãnh tụ, ít có sáng tạo, phát triển

Đây cũng là thời kỳ mà Liên Xô và các nước theo mô hình CNXH hiện thực kiểu viết duy trì một chính sách bảo thủ, đóng cửa đối với phần lớn những thành tựu khoahọc, kỹ thuật, nhất là những giá trị văn hóa tinh thần của con người có liên quan đếncác nước TBCN Bản thân Liên Xô và các nước XHCN không tận dụng được nhữngthành tựu khoa học của nhân loại để phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển toàndiện của mình

Xô-Tiểu kết: Ba điều trên đã phản bác chính quan điểm: sự khủng hoảng, sụp

đổ của Liên Xô và Đông Âu bắt nguồn từ những sai lầm của Chủ nghĩa Marx – Lenin Chủ nghĩa xã hội dưới quan điểm của Chủ nghĩa Marx – Lenin không hề sai lầm, mà chính những người trong bộ máy nhà nước trong mô hình Xô Viết đã

áp dụng sai lầm, biến tướng, tự diễn biến, tự chuyển hoá Sự sai lầm trong nhận thức lý luận của chính người Cộng sản tại quê hương của Chủ nghĩa xã hội đã làm mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô Viết ngày càng méo mó, trầm kha trong sự khủng hoàng, triền miên trong sự sai lầm để dẫn tới sự sụp đổ tất yếu.

Việc Liên Xô và các nước theo con đường XHCN tan rã là do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên nguyên nhân chính vẫn là các vấn đề nội tại; chính đảng viên của họ đã tiêu diệt đảng của họ Đúng như lãnh tụ V.I.Lenin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”.

Thứ tư, cần khẳng định, dù chế độ xã hội chủ nghĩa trên quê hương cách mạng

tháng mười Nga chỉ tồn tại hơn 70 năm, nhưng Cách mạng tháng Mười Nga và mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết đã có ý nghĩa hết sức to lớn đối với thế giới và làm thay đổi căn bản thế giới ở thế kỷ XX Nó giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức bóc

Ngày đăng: 04/09/2022, 18:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w