1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

AnhChị về các trường hợp hoãn phiên toà tại điều 162 luật tố tụng hành chính 2015 anhchị có kiến nghị, đề xuất gì về vấn đề hoãn phiên toà và tạm ngừng phiên toà không

12 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 179,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các trường hợp phải hoãn phiên tòa: a Trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 155, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 161 của Luật này; b Thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

BÀI KIỂM TRA BỘ PHẬN GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S DŨNG THỊ MỸ THẨM

Họ và tên: Trần Thị Thiên Trúc Lớp: 117-HS45.3

MSSV: 2053801013184

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- Luật TTHC 2015: Luật tố tụng hành chính năm 2015

- HĐXX: Hội đồng xét xử

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017, Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb

Công an nhân dân

2 Nguyễn Thanh Quyên (2018), Phiên toà sơ thẩm vụ án hành chính, Luận văn Thạc sĩ, Đại

học Luật TP Hồ Chí Minh

3 Luật tố tụng hành chính nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015

4 Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015

Trang 4

Đề bài: Hãy trình bày hiểu biết của Anh/Chị về các trường hợp hoãn phiên toà tại Điều 162 Luật Tố tụng hành chính 2015 Anh/Chị có kiến nghị, đề xuất gì về vấn đề hoãn phiên toà

và tạm ngừng phiên toà không.

A HOÃN PHIÊN TOÀ

1 Các trường hợp hoãn phiên toà tại Điều 162 Luật TTHC 2015:

Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính nói riêng, hoạt động xét xử vụ án hành chính nói chung là trọng tâm của hoạt động tố tụng hành chính Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là việc toà

án đưa vụ án thuộc thẩm quyền ra xét xử công khai tại phiên toà khi có đủ căn cứ do pháp luật tố tụng quy định Mục đích của xét xử sơ thẩm là xác định rõ bản chất vụ án trên cơ sở các chứng cứ

để từ đó ra bản án, quyết định đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, không phải lúc nào phiên toà cũng được diễn ra một cách thuận tiện, trong một vài trường hợp vì những lý do khách quan hoặc chủ quan, dẫn đến sự thay đổi, vắng mặt của các thành phần tham gia phiên toà khiến cho phiên toà bị trì hoãn

Hiện tại, theo Luật TTHC 2015, các trường hợp hoãn phiên toà được quy định như sau:

“1 Các trường hợp phải hoãn phiên tòa:

a) Trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 155, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 161 của Luật này;

b) Thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay;

c) Trường hợp phải tiến hành giám định lại theo quy định tại Điều 170 của Luật này.

2 Trường hợp hoãn phiên tòa được quy định tại khoản 2 Điều 159 và khoản 2 Điều 160 của Luật này.”

Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử (khoản 3 Điều 155 Luật TTHC)

Theo khoản 3 Điều 155 Luật TTHC quy định, đối với trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án thì phiên toà sẽ được tạm hoãn Theo đó thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm bao gồm thẩm phán và hội thẩm nhân dân, số lượng thẩm phán và hội thẩm nhân dân khác nhau tuỳ vào từng trường hợp Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm

vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của toà án Thẩm phán là người có quyền xem xét một cách toàn diện vụ án hành chính để có thể ra những quyết định cần thiết, phù hợp với yêu cầu giải quyết vụ án hành chính ở các giai đoạn xét xử vụ án hành chính Chính vì thẩm phán giữ vai trò quan trọng như vậy nên việc tạm hoãn phiên toà trong trường hợp thẩm phán vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử mà không có thẩm phán dự khuyết thay thế là hoàn toàn phù hợp

Hội thẩm nhân dân là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án Mục đích tham gia xét xử của hội thẩm nhân dân là đại diện cho các tầng lớp nhân dân tham gia vào quá trình xét xử của Toà án, góp phần bảo đảm việc xét xử khách quan, vô tư, đúng pháp luật Giống với thẩm phán, hội thẩm nhân dân cũng giữ vai trò

Trang 5

quan trọng trong việc xét xử vụ án, vì vậy việc vắng mặt hội thẩm nhân dân sẽ khiến cho phiên toà không được đảm bảo, thiếu sự công bằng cũng như tính nghiêm minh của pháp luật

Có thể thấy, HĐXX chính là chủ thể giữ vai trò quan trọng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hành chính HĐXX chịu trách nhiệm điều khiển phiên toà, có thẩm quyền quyết định các vấn đề của vụ

án tại phiên toà Đồng thời dựa vào các tình tiết, diễn biến của vụ án trong suốt phiên toà, HĐXX là

cơ quan ban hành các quyết định, bản án sơ thẩm giải quyết vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng Để phiên toà được diễn ra theo đúng trình tự, quy định của pháp luật, vụ

án được giải quyết chính xác, công bằng thì sự có mặt đầy đủ của HĐXX là rất quan trọng Với tư cách là tập thể có thẩm quyền chủ trì phiên toà, quyết định cách thức giải quyết vụ án, các thành viên của HĐXX phải có mặt đầy đủ, để thực hiện đúng nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số Bất kỳ thành viên nào vắng mặt đều sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động giải quyết vụ

án cũng như thủ tục tố tụng và kết quả cuối cùng của vụ án

Vì phiên toà hành chính phải được tiến hành liên tục với sự tham gia liên tục của các thành viên HĐXX, vì vậy khi một trong các thành viên vắng mặt mà không có thành viên dự khuyết tham gia phiên toà ngay từ đầu thay thế thì phiên toà sẽ bị hoãn Trong trường hợp có thành viên dự khuyết nhưng không tham gia phiên toà từ đầu thì thành viên đó cũng không được thay thế và sẽ hoãn phiên toà Để đảm bảo cho kết quả xét xử cuối cùng được chính xác và khách quan nhất việc thay thế thành viên vắng mặt bằng thành viên không tham gia phiên toà từ đầu là không khả quan Vì họ không nắm bắt được diễn biến, tình tiết vụ án ngay từ đầu cho nên sẽ gây khó khăn, thiếu sự thống nhất, khách quan trong quá trình xét xử

Trường hợp Thư ký phiên tòa vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên tòa (khoản 4 Điều 155)

Ngoài HĐXX, thư ký phiên toà cũng giữ vai trò quan trọng, là người tiến hành tố tụng được Chánh án Toà án phân công tham gia hoạt động tố tụng, giúp việc cho Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án Tại phiên toà, thư ký có nhiệm vụ giúp HĐXX thực hiện các hoạt động liên quan đến quá trình xét xử như chuẩn bị công tác nghiệp vụ, phổ biến nội quy phiên toà, kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa, ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, Đây là những công việc buộc phải thực hiện trong phiên toà sơ thẩm hành chính, vì vậy sự có mặt của thư ký trong phiên toà cũng là điều bắt buộc Vì lẽ đó, trong trường hợp thư ký phiên toà vắng mặt hoặc không thể tham gia phiên toà mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên toà Nếu như có người thay thế cho thư ký thì phiên toà sẽ được tiếp tục tiến hành

Tuy nhiên, khác với HĐXX, việc thay thế thư ký phiên toà không bắt buộc thư ký phải tham gia phiên toà từ đầu Vì tính chất công việc của thư ký là thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho HĐXX, đảm bảo cho hoạt động tố tụng tuân thủ theo quy định của pháp luật nên việc thay thế thư ký

không đòi hỏi người thay thế phải tham gia phiên toà từ đầu Đồng thời việc thay thế thư ký cũng không gây ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng cũng như kết quả xét xử

Trường hợp vắng mặt đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (khoản 1 Điều 157)

Trang 6

Theo khoản 7 Điều 3 Luật TTHC 2015, đương sự là cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng

hành chính bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trong phiên toà, sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là rất cần thiết, vì đây là các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án hành chính Vì vậy trong khi Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa Nếu như các chủ thể này vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì HĐXX

ra quyết định hoãn phiên toà

Việc toà án yêu cầu khi vắng mặt phải có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhằm mục đích chứng minh việc đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đồng ý với việc Toà tiến hành xét xử vụ án mà không có sự tham gia của họ Đồng thời việc xét xử khi vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Ngoài ra, nếu đương sự muốn vắng mặt thì họ hoàn toàn có thể nhờ người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích của họ tham gia phiên toà, luật không bắt buộc đương sự phải tham gia Việc này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật trong việc quy định chủ thể tham gia phiên toà, đồng thời đương sự cũng

có thể tuỳ vào hoàn cảnh, điều kiện để có thể tự mình tham gia hoặc nhờ người đại diện

Trường hợp thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay (điểm b, khoản 1 Điều 162)

Như đã phân tích ở trên, HĐXX và thư ký phiên toà là những chủ thể có vai trò quan trọng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, vì vậy các chủ thể trên bắt buộc phải có mặt trong phiên toà Vì vậy, trong trường hợp thành viên HĐXX, thư ký phiên toà bị thay đổi mà không có người thay thế ngay thì sẽ không thể tiến hành phiên toà dẫn đến việc phiên toà bị hoãn

Người phiên dịch được hiểu là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch

Các trường hợp xét xử cần phải có người phiên dịch như người tham gia tố tụng không sử dụng được Tiếng Việt, người câm, người điếc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu thì trong phiên toà cần phải có người phiên dịch để dịch các ngôn ngữ, kí hiệu mà người tham gia tố tụng đó thể hiện thành

Tiếng Việt Trong trường hợp này, người phiên dịch có vai trò cực kỳ quan trọng, họ chính là cầu nối để kết nối giữa người tham gia tố tụng với các thành viên khác tại phiên toà, hỗ trợ hoạt động xét xử được tiến hành và đảm bảo tính chính xác

Trong quá trình phiên dịch, người phiên dịch phải phiên dịch trung thực, khách quan, đúng nghĩa bởi lúc này người phiên dịch đang thay mặt cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Sự vắng mặt của người phiên dịch sẽ gây ra nhiều cản trở cho quá trình xét xử, dẫn đến việc HĐXX không có cơ sở để xác định lời khai, yêu cầu của người tham gia tố tụng (người không sử dụng được

Trang 7

Tiếng Việt, bị câm, bị điếc…), cũng như không thể giao tiếp với nhau Vì vậy trong trường

hợp người phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay thì phải hoãn phiên toà

Trường hợp phải tiến hành giám định lại theo quy định tại Điều 170 của Luật TTHC (điểm c, khoản 1 Điều 162)

Người giám định là người tham gia vào phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, thực hiện việc cung cấp các nhận xét, chứng cứ bằng văn bản về đối tượng giám định, qua đó làm rõ những vấn đề liên quan đến giám định và kết luận giám định Tuy nhiên, trong một số trường hợp nếu có ý kiến

về người giám định vi phạm một trong các quy định ở khoản 3 Điều 63 của Luật TTHC, thì HĐXX phải xem xét, nếu có căn cứ thì phải tiến hành giám định lại, cụ thể:

“ Người giám định phải từ chối hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

a) Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;

b) Đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

c) Đã thực hiện việc giám định đối với cùng một đối tượng cần giám định trong cùng vụ án đó; d) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;

đ) Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.”

Người giám định có vai trò quan trọng trong việc xác định tính chính xác, đảm bảo các giá trị chứng minh của chứng cứ, các vấn đề liên quan đến đối tượng giám định Để đảm bảo cho kết quả giám định được chính xác, công bằng người giám định phải không thuộc các trường hợp đã nêu ở khoản 3 Điều 63 Luật TTHC Bởi vì các yếu tố ấy phần nào cũng sẽ tác động không nhỏ đến

người giám định và có thể làm cho kết quả giám định thiếu tính khách quan, đúng đắn Vì vậy, khi

có các yếu tố khác tác động vào, làm cho quá trình cũng như kết quả giám định bị ảnh hưởng thì cần phải tiến hành giám định lại, đồng nghĩa với việc hoãn phiên toà

Trường hợp người làm chứng vắng mặt (khoản 2 Điều 159)

Người làm chứng là người tham gia phiên toà theo sự triệu tập của Toà án, là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án và trình bày các tình tiết đó tại phiên toà Người làm chứng có thể trực tiếp nhìn thấy, trực tiếp nghe thấy, hoặc có thể nghe người khác kể lại những tình tiết liên quan đến vụ án Vì là người nhìn thấy hoặc nghe thấy, tức là có khả năng nhận thức và khả năng khai báo cho nên nếu người làm chứng có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mà không có khả năng khai báo đúng đắn thì không thể trở thành người làm chứng

Trong trường hợp có sự nghi ngờ người biết được các tình tiết có liên quan đến vụ án là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần, thì cần thiết phải tiến hành giám định Người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể là người làm chứng Người làm chứng là người không thể thay thế trong tố tụng, bởi lẽ họ tham gia tố tụng không phụ thuộc vào ý chí của họ hay ý chí của những người tiến hành tố tụng, mà do chính họ biết được những tình tiết của vụ án bằng việc nhìn thấy hay nghe được

Trang 8

Tuỳ vào từng trường hợp mà vai trò của người làm chứng có ý nghĩa và mức độ quan trọng khác nhau Nếu trong trường hợp các tình tiết có liên quan đến vụ án ít quan trọng, việc vắng mặt

người làm chứng không ảnh hưởng nhiều đến việc xét xử thì phiên toà vẫn được tiến hành xét xử Tuy nhiên, trong trường hợp người làm chứng biết được các tình tiết quan trọng, là các điểm mấu chốt của vụ án thì phiên toà sẽ bị hoãn nếu vắng mặt người làm chứng

Trường hợp vắng mặt người giám định (khoản 2 Điều 160)

Giống với người làm chứng, người giám định cũng là người người tham gia vào phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án Họ sẽ thực hiện việc cung cấp các nhận xét, chứng cứ bằng văn bản về đối tượng giám định, qua đó làm rõ những vấn đề liên quan đến giám định và kết luận giám định Tuỳ vào trường hợp mà sự có mặt của người giám định có tầm quan trọng khác nhau Nếu các nhận xét, chứng cứ hoặc các vấn đề liên quan đến giám định là các nội dung quan trọng, thật sự cần thiết cho quá trình xét xử vụ án, nếu người giám định vắng mặt thì phiên toà sẽ bị hoãn Còn nếu các nhận xét, chứng cứ đó không quan trọng, việc vắng mặt của người giám định không gây ảnh hưởng nhiều đến việc xét xử thì phiên toà sẽ được tiếp tục tiến hành Việc quyết định tiếp tục hoặc hoãn phiên toà khi người làm chứng vắng mặt thuộc thẩm quyền của HĐXX

Đối với trường hợp người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử, thì họ có thể bị dẫn giải đến phiên tòa theo quyết định của Hội đồng xét xử

2 Thủ tục hoãn phiên toà:

Theo Điều 163 Luật TTHC 2015, thủ tục hoãn phiên toà được quy định cụ thể như sau:

“1 Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày kể từ ngày Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa, trừ phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn thì thời hạn hoãn là 15 ngày.

2 Quyết định hoãn phiên tòa phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án và họ, tên những người tiến hành tố

tụng; c) Vụ án được đưa ra xét xử;

d) Lý do của việc hoãn phiên tòa;

đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

3 Quyết định hoãn phiên tòa phải được Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên Trường hợp Chủ tọa phiên tòa vắng mặt thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa Quyết định hoãn phiên tòa được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

4 Trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.”

B TẠM NGỪNG PHIÊN TOÀ:

1 Các trường hợp tạm ngừng phiên toà theo Điều 187 Luật TTHC

Trang 9

“Tạm ngừng” có thể hiểu là sự tạm nghỉ, sự tạm ngừng, ngưng lại một hành động hay một việc gì

đấy mang tính chất tạm thời dừng lại chứ không dừng hẳn Từ đó có thể rút ra, tạm ngừng phiên toà việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà đã định sang thời điểm khác muộn hơn và chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật quy định, sau thời hạn đó, vụ án sẽ được tiến hành xét xử Theo Luật TTHC 2015 HĐXX có quyền tạm ngừng phiên toà khi có một trong các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 187 như sau:

“a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành

tố tụng;

b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt;

c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;

d) Cần phải báo cáo với Chánh án Tòa án có thẩm quyền để đề nghị, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 111 của Luật này;

đ) Các bên đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên đương sự tự đối thoại;

e) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại quy định tại khoản 4 Điều 185 của Luật này.”

Tạm ngừng phiên toà vì tình trạng sức khoẻ, sự kiện bất khả kháng:

Theo khoản 1 Điều 156 BLDS 2015 quy định sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Sự kiện bất khả kháng có thể là sự kiện tự nhiên là thiên tai lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh; sự kiện do con người gây ra: chiến tranh, đảo chính, đình công; hoặc các

sự kiện khác như mất điện, lỗi mạng, Đây là các sự kiện nằm ngoài ý chí chủ quan của con người

và không thể nhận thấy trước

Và cũng theo khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, trở ngại khách quan được hiểu là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình Một số ví dụ về trở ngại khách quan như người khởi kiện đang mắc kẹt ở đảo hoang nên không thể tham gia được phiên toà hoặc đương sự bị tai nạn đến mất khả năng nhận thức,

Có thể thấy, các trường hợp nêu trên đều là những sự kiện bất khả kháng, những trở ngại mang tính khách quan, là các yếu tố bất ngờ mà chúng ta không thể lường trước được cũng như không khắc phục được hậu quả dù đã cố gắng Trong trường hợp vì những lý do khách quan như về sức khoẻ,

sự kiện bất khả kháng hoặc các trở ngại khách quan khiến cho người tham gia tố tụng hoặc người

Trang 10

Việc tạm ngừng phiên toà trong trường hợp này là hoàn toàn phù hợp, giúp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi họ vắng mặt vì các lý do, sự kiện khách quan hoặc nếu sức khoẻ không đảm bảo Tuy nhiên, luật pháp cũng đã có sự điều chỉnh pháp luật sao cho linh hoạt, mềm dẻo khi cho phép phiên toà được tiếp tục mặc dù người tham gia hoặc người tiến hành tố tụng vắng mặt

Cụ thể, đối với trường hợp người tham gia tố tụng có giấy yêu cầu vắng mặt hoặc nếu người tiến hành tố tụng vắng mặt mà có người thay thế thì phiên toà không bị tạm ngừng mà vẫn tiếp tục xét

xử Đây là quy định khá phù hợp, nếu chỉ vì sự vắng mặt của các bên mà tạm ngừng phiên toà thì

sẽ ảnh hưởng không ít đến lợi ích, quyền lợi của những người liên quan đồng thời cũng làm cho thời gian xét xử trở nên dài hơn, gây tốn kém về cả thời gian và tiền bạc Vì vậy việc đồng ý cho phép người tham gia hoặc người tiến hành tố tụng có quyền vắng mặt (khi đáp ứng được điều kiện

có người thay thế hoặc có giấy yêu cầu vắng) mà không làm phiên toà bị tạm ngừng, trì hoãn

Tạm ngừng phiên toà vì cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ:

Theo Điều 80 Luật TTHC 2015, chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp

Đối với các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án mang tính chất quan trọng, có ảnh hưởng nhiều đến quá trình cũng như kết quả xét xử, thì việc cần phải xác minh tính đúng đắn hoặc thu thập các tài liệu, chứng cứ ấy là rất cần thiết Để việc xét xử có thể đảm bảo sự công bằng, vụ án được sáng tỏ các tài liệu, chứng cứ có vai trò vô cùng quan trọng, là manh mối để có thể giải quyết được

vụ án Vì vậy đối với các chứng cứ thật sự cần thiết để giải quyết vụ án cần được xác minh, thu thập, bổ sung và không thể thực hiện tại phiên toà thì phiên toà sẽ được tạm ngừng

Trường hợp cần phải báo cáo với Chánh án Tòa án có thẩm quyền để đề nghị, kiến nghị

sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 111

Theo Điều 111 Luật TTHC trong trường hợp phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi

bỏ văn bản quy phạm pháp luật thì phải tiến hành như sau:

“Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực hiện như sau:

a) Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án

đó thực hiện việc kiến nghị theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền quy định tại Điều

112 của Luật này thực hiện việc kiến nghị;

b) Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền quy định tại Điều 112 của Luật này thực hiện việc kiến nghị.”

Ngày đăng: 04/09/2022, 17:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w