1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Phân tích sự khác nhau giữa các test đánh giá nhân cách

9 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 100,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA TÂM LÝ HỌC BÀI DỊCH GIỮA KỲ MÔN HỌC ĐÁNH GIÁ NHÂN CÁCH Học viên Nguyễn Thị Thảo Chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng Giảng viên PGS.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA TÂM LÝ HỌC

BÀI DỊCH GIỮA KỲ MÔN HỌC: ĐÁNH GIÁ NHÂN CÁCH

Học viên: Nguyễn Thị Thảo

Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng

Giảng viên: PGS TS Nguyễn Sinh Phúc

Trang 2

Đánh giá nhân cách đã dần phát triển thành lĩnh vực được nghiên cứu và thực hành như ngày nay Con người có nhận thức về tính khác biệt cá nhân và được thế hiện qua nhiều khía cạnh như nền văn minh nhân loại, trong văn học, lịch sử đều chứa đựng

mô tả sinh động về sự khác nhau của con người dưới sự mô tả về hình dáng kèm với đặc điểm nhân cách khách nhau

Từ thời cổ đại, đánh giá nhân cách được các nhà bác học, thầy thuốc phân tách qua một số cách như cách phân loại nhân cách của thầy thuốc Hyppocrate, theo ông con người có 4 kiểu nhân cách: hăng hái, bình thản, nóng nảy, ưu tư Cơ sợ việc chia này chính là sự phối hợp các chất dịch trong cơ thể người Theo ông, cơ thể con người chia 4 loại dịch chính: máu, mật đen, mật vàng vàn ước nhờ Tùy theo chất dịch nào chiếm ưu thế thì con người có kiểu nhân cách/khí chất đó Theo tác giả Krétchmẻ lại đưa ra phân tích kiểu nhân cách dựa trên cấu trúc thể tạng như Mảnh khảnh (Leptosom) xu hướng là người Hướng nội, nhạy cảm, kín đáo; Béo mập (Picnic) xu hướng là người Hướng ngoại, vui vẻ, hào phóng, thích kết bạn; Lực lưỡng (Athletic) xu hướng là người Chậm chạp, tập trung, chung thủy, dễ nổi giận, cứng nhắc

Đến thời hiện đại, với sự phát triển của nhiều học thuyết lý về tâm lý học như tâm

lý học nhân văn, tâm lý học phân tâm học,… kèm đó là những phương pháp đánh giá nhân cách được phát triển dựa trên các cơ sở lý thuyết đó như: phương pháp phóng chiếu, trắc nghiệm Vết mực loang-Rorschach, trắc nghiệm nhân cách Eysenck, trắc nghiệm cattell, trắc nghiệm tính cách NEO, trắc nghiệm tổng giác theo chủ đề - Thematic

Apperception Test (TAT), trắc nghiệm MMPTI (thường dùng trong việc đánh giá lâm sàng) …

Trắc nghiệm nhân cách NEO- PI-R:

Trắc nghiêm tính cách NEO- PI-R Là bộ trắc nghiệm đánh giá nhân cách một cách toàn diện dành cho thanh niên và người trưởng thành, cụ thể là từ 17 tuổi đến 89 tuổi, được phát triển bởi Paul Costa và Robert McCrae Cơ sở của bộ trắc nghiệm NEO-PI-R

là Mô hình 5 nhân tố nhân cách (Big Five), đúng như tên gọi, là mô hình chỉ ra 5 nét nhân cách cơ bản, được sử dụng để mô tả nhân cách con người

Bộ trắc nghiệm NEO-PI-R được xây dựng dựa trên 5 nhân tố lớn và 6 tiểu thang đo cho mỗi nhân tố, mỗi tiểu thang đo có 8 items, tổng cộng là 240 items trong cả bộ trắc nghiệm; sử dụng thang đo trả lời gồm 5 khoảng (Hoàn toàn không đồng ý, không đồng ý, trung lập, đồng ý, hoàn toàn đồng ý) Thời gian để hoàn thành trắc nghiệm là khoảng

30-40 phút

Trang 3

Trắc nghiệm NEO-PI-R có thể thực hiện trên máy tính hoặc trên giấy Các nhà phát triển bộ trắc nghiệm cung cấp hai phiên bản S và R, bản S dành cho người tự trả lời trắc nhiệm và bản R dành cho người quan sát một đối tượng

Bên cạnh đó Costa và McCrae cũng cung cấp phiên bản thu gọn của bộ trắc nghiệm, gồm 60 câu, có tên gọi là NEO-FFI

NEO-PI-R là công cụ để đánh giá tâm lý hoặc dùng trong phỏng vấn Không thể chỉ dùng bộ trắc nghiệm này để chẩn đoán bệnh, tuy nhiên nó có công dụng nhất định trong chẩn đoán Những người có T-score ở thang đo N > 70 nên được xem xét là có chỉ báo về tâm bệnh

Nhìn chung, bộ trắc nghiệm NEO- PI-R có thể dễ dàng đo lường, phân tích được,

bộ trắc nghiệm phân chia các nhân tố chi tiết rõ ràng, thực hiện được trên nhiều nhóm tuổi và thực hiện với nhiều người cùng lúc, thuận tiện sử dụng để đánh giá từng nhân tố riêng lẻ Tuy nhiên, để thực hiện bộ trắc nghiệm này cần tốn khá nhiều thời gian để trả lời Vì là bộ trắc nghiệm được làm do các nhà khoa học nước ngoài, vì vậy khi sử dụng, nhà tâm lý dễ gặp rào cản về sự khác biệt ngôn gữa, văn hóa dẫn đến việc khó chuyển ngữ bộ trắc nghiệm khi sử dụng Ngoài ra, giống như những bộ trắc nghiệm phỏng vấn khác, khách hàng dễ trả lời không đồng nhất với thực tế để định hướng tính cách mình mong muốn Vì vậy, để đảm bảo đánh giá được cách toàn diện thân chủ, trong quá trình làm trắc nghiệm nhà tâm lý phải kết hợp giữa phỏng vấn và quan sát để đưa ra nhận định tổng quát, chính xác nhất về thân chủ của mình

Trắc nghiệm nhân cách Eysenck (EPI)

Cũng giống trắc nghiệm NEO- PI-R, Trắc nghiệm Eysenck được dùng để đánh giá/ khảo sát kiểu loại nhân cách hướng nội hay hướng ngoại, ổn định hay không ổn định, tìm hiểu đặc điểm khí chất của từng cá nhân Bộ trắc nghiệm gồm 57 câu hỏi trong đó 24 câu về tính hướng nội – hướng ngoại; 24 câu khảo sát tính ổn định của thần kinh và 9 câu dành để kiểm tra độ tin cậy của các câu trả lời Sau này, Eysenck có bổ sung thêm yếu tố thứ 3, yếu tố tính tâm thần và cũng soạn thảo, chỉnh lí lại Bảng kiểm Tuy nhiên phiên bản đầu (đo 2 yếu tố) được sử dụng rộng rãi hơn Đối tượng có thể sử dụng bản trắc nghiệm này là người từ 15 tuổi trở lên, Không dành cho những bệnh nhân mất trí, không còn khả năng nhận thức đúng ý nghĩa của các câu hỏi Những bệnh nhân chống đối, không hợp tác hay những người bệnh đang trong giai đoạn kích động, cấp tính Các đội tượng chị được phép trả lời 2-3 câu/phút để đảm bảo tính chân thực trong câu trả lời cảu mình

Trang 4

Ưu điểm: bộ câu hỏi hiện được dịch khá sát nghĩa, dễ áp dụng, nội dung câu hỏi gần gũi, tuy nhiên cũng như bộ trắc nghiệm NEO-PI-R, người trả lời câu hỏi dễ định hướng câu trả lời, chưa có thể đưa ra được nhân xét chung tổng quát nhất về người trả lời

Ngoài ra, kể từ khi đánh giá lại công trình của Eysenck trong thế kỷ 21, giữa những tiết lộ về việc ngụy tạo hoặc gian lận dữ liệu do Eysenck thực hiện, Bản câu hỏi về tính cách của Eysenck đã bị giám sát chặt chẽ vì có khả năng thiên vị, thiếu sót hoặc dựa trên dữ liệu bị lỗi

Bảng hỏi 16PF của Cattell

Bảng câu hỏi 16PF là một bài kiểm tra tính cách tự báo cáo được phát triển trong nhiều thập kỷ nghiên cứu thực nghiệm bởi Raymond B Cattell, Maurice Tatsuoka và Herbert Eber 16PF cung cấp một thước đo tính cách bình thường và cũng có thể được sử dụng bởi các nhà tâm lý học và các chuyên gia sức khỏe tâm thần khác, như một công cụ lâm sàng để giúp chẩn đoán các rối loạn tâm thần, đồng thời giúp tiên lượng và lập kế hoạch trị liệu 16PF cũng có thể cung cấp thông tin liên quan đến quá trình tư vấn và khám bệnh, chẳng hạn như năng lực của một cá nhân về sự hiểu biết sâu sắc, lòng tự trọng, phong cách nhận thức, nội dung của các tiêu chuẩn, cởi mở để thay đổi, khả năng đồng cảm, mức độ tin cậy giữa các cá nhân, chất lượng của các tệp đính kèm, nhu cầu giữa các cá nhân, thái độ đối với quyền lực, phản ứng đối với động lực của quyền lực, khả năng chịu đựng sự thất vọng và phong cách đối phó Do đó, công cụ 16PF cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng một phép đo trong phạm vi bình thường về mức độ lo lắng, điều chỉnh, ổn định cảm xúc và các vấn đề về hành vi Các bác sĩ lâm sàng có thể sử dụng kết quả 16PF để xác định các chiến lược hiệu quả để thiết lập một liên minh làm việc, để phát triển một kế hoạch điều trị và lựa chọn các phương thức hoặc can thiệp điều trị hiệu quả

Nó cũng có thể được sử dụng trong các lĩnh vực tâm lý học khác, chẳng hạn như lựa chọn nghề nghiệp và nghề nghiệp

Đánh giá 16PF rất dễ thực hiện, chỉ cần 35 đến 50 phút để hoàn thành

Bởi vì mối quan hệ giữa các item thử nghiệm và các đặc điểm được đo bằng công

cụ 16PF là không rõ ràng, người trả lời khó có thể cố ý điều chỉnh các phản ứng để đạt được kết quả mong muốn

Bộ bảng hỏi MBTI

MBTI là một bảng câu hỏi tự báo cáo nội tâm chỉ ra những sở thích tâm lý khác nhau về cách mọi người nhìn nhận thế giới và đưa ra quyết định Bài kiểm tra cố gắng chỉ định bốn loại: hướng nội hoặc hướng ngoại, cảm nhận hoặc trực giác, suy nghĩ hoặc cảm giác, đánh giá hoặc nhận thức Bảng trắc nghiệm chia ra làm 16 nhóm với Một chữ cái từ

Trang 5

mỗi danh mục được lấy để tạo ra kết quả kiểm tra bốn chữ cái, chẳng hạn như "INTJ" hoặc "ESFP" Hầu hết các nghiên cứu ủng hộ tính hợp lệ của MBTI đã được thực hiện bởi Trung tâm Ứng dụng Loại Tâm lý, một tổ chức do Myers-Briggs Foundation điều hành, và được xuất bản trên tạp chí riêng của trung tâm, Tạp chí Loại Tâm lý (JPT), đặt

ra câu hỏi về độc lập, thiên vị và xung đột lợi ích

Mặc dù MBTI giống với một số lý thuyết tâm lý, nó đã bị chỉ trích là khoa học giả

và không được các nhà nghiên cứu hàn lâm trong lĩnh vực này tán thành rộng rãi Chỉ số này cho thấy những khiếm khuyết đáng kể về mặt khoa học (đo lường tâm lý), bao gồm:

- Tính hợp lệ kém (nghĩa là không đo lường những gì nó muốn đo lường, không có khả năng dự đoán hoặc không có các mục có thể được khái quát hóa)

- độ tin cậy kém (đưa ra các kết quả khác nhau cho cùng một người vào những dịp khác nhau)

- Đo lường các chủng loại không độc lập (một số nét nhân cách phân đôi đã được ghi nhận có mối tương quan với nhau);

- Không toàn diện (do thiếu sự bất ổn thần kinh – Neuroticism)

Bốn thang đo được sử dụng trong MBTI có một số mối tương quan với bốn trong

số Năm đặc điểm tính cách của Big Five, đây là một khung thường được chấp nhận hơn

Hiện tại ở Việt Nam chưa có bảng chuẩn về bộ trắc nghiệm MBTI, các bảng trên mạng đều là bảng chưa được kiểm duyệt với độ tin cậy không cao

Trên đây là các phương pháp đo lường nhân cách bằng phương pháp trắc nghiệm Ngoài ra, để đánh giá nhân cách, các nhà tâm lý học, khoa học còn đưa ra các phương pháp dựa trên yếu tố vô thức của con người để xác định được nhân cách của họ, nổi trội khía cạnh này là các phương pháp như: trắc nghiệm hình ảnh TAT, phương pháp vết mực đen của Rorschach…

Trắc nghiệm hình ảnh TAT

AT (Thematic Apperception Test) là trắc nghiệm phóng chiếu được sử dụng rộng rãi trong đánh giá nhân cách vị thành niên và người lớn có trị tuệ trung bình, cụ thể là tìm hiểu cấu trúc nhân cách và sự vận hành tâm trí của cá nhân Dưới dạng những tấm hình (ảnh chụp

Trang 6

hoặc tranh vẽ) đen trắng, TAT cho phép khách thể nhìn hình và kể lại một câu chuyện theo ý mình

Trắc nghiệm TAT bao gồm 31 thẻ tranh có kích thước 91/4 × 11 inch Mười bốn thẻ hiển thị hình ảnh của một người, 11 thẻ mô tả hai hoặc nhiều người đang ở trong một mối quan hệ nào đó, ba thẻ là ảnh nhóm của ba hoặc bốn người, hai thẻ miêu tả cảnh thiên nhiên

và một thẻ hoàn toàn trống Các thẻ được đánh số từ 1 đến 20 và chín thẻ được chỉ định thêm bằng các chữ cái nhằm biểu thị sự phù hợp của chúng đối với trẻ em trai (B) và trẻ em gái (G)

từ 4 đến 14 tuổi, nam (M) và nữ (F) từ 15 tuổi trở lên, hoặc một số kết hợp của các đặc điểm này (như trong 3BM, 6GF, 12BG và 13MF) 20 thẻ được chỉ định cho từng nhóm tuổi và giới tính

TAT cung cấp dữ liệu liên quan đến từng chủ đề và hành vi Về từng chủ để, nội dung của các câu chuyện TAT cung cấp thông tin về nhu cầu, thái độ, xung đột và mối quan tâm cơ bản của một người Bởi vì chúng mô tả các cảnh thực, thẻ TAT cung cấp nhiều cơ hội hơn và trực tiếp hơn so với thẻ vết mực Rorschach Do đó, các câu chuyện TAT điển hình rất phong phú với thông tin về nguyện vọng, ý định và kỳ vọng của cá nhân, nó tiết lộ cách nhìn của họ về bản thân, về người khác và về triển vọng tương lai của họ

Thông qua câu chuyện mà khách thể kể, nhà tâm lý có thể xác định xung đột vô thức của khách thể và nguyên nhân của chúng Thông thường, ở TAT, xung đột được bộc

lộ thông qua cuộc chạm trán giữa những nhu cầu của nhân vật chính và áp lực đến từ những người xung quanh

Đặc điểm đặc trưng của phương pháp này là việc sử dụng những kích thích (chất liệu) không mang tính xác định cao, có cấu trúc linh hoạt, không gò bó Nhiệm thể cần phải cấu trúc lại, phát triển thêm, bổ sung hoặc giải thích chúng Vì vậy, ‘Cái Tôi” của nghiệm thể có không gian tâm lý rất rộng để được bộc lộ Cùng với đó, tính không xác định này cũng góp phần hạn chế các cơ chế phòng vệ của chủ thể, làm cho chủ thể bộc lộ tối đa nội tâm của mình (đặc biệt là những cấu trúc vô thức) Các lý thuyết phóng chiếu cho rằng tất cả mọi biểu hiện xúc cảm của cá nhân, sự tri giác, tình cảm, lời nói và cả động tác của nghiệm thể đều mang dấu ấn cá nhân và có ý nghĩa thông tin rất lớn Phóng chiếu không phải được thực hiện trên cơ sở của chức năng tâm lý nào đó mà dựa vào đặc điểm mối quan hệ qua lại của chủ thể với môi trường xung quanh Những thông tin thu được mang tính khách quan và phản ánh được dấu ấn cá nhân (các cảm xúc, kinh nghiệm, trải nghiệm, sở thích, ham muốn, khát vọng…) Một lợi thế nữa của các phương pháp

Trang 7

phóng chiếu là chúng tránh được sự phiền phức của các câu trả lời “đúng/sai” Mọi câu trả lời đều được chấp nhận nên nghiệm thể có rất nhiều lựa chọn khác nhau

Trong môi trường lâm sàng, TAT liên tục nằm trong số bốn hoặc năm bài kiểm tra được sử dụng thường xuyên nhất và nó là phương pháp đánh giá tính cách được sử dụng thường xuyên thứ ba, sau MMPI và RIM, trước các bài kiểm tra hoàn thành câu đối với thanh thiếu niên (Archer & Newsom, 2000; Camara, Nathan, & Puente, 2000; Hogan, 2005; Moretti & Rossini, 2004)

Ưu điểm của phương pháp: loại bỏ được cơ chế phòng vệ của người trả lời, người hỏi có thẻ tự do trả lời theo cách hiểu của mình mà không bị rào cản về ngôn ngữ

Nhược điểm: Những bức tranh TAT đều mang một gam màu sắc tối tăm, u ám, có thể những đặc điểm này của thẻ khiến mọi người khó nhận biết được các nhân vật trong

đó hoặc kể những câu chuyện sinh động về chúng Các bức tranh hầu hết là người da trắng, dễ bị coi là phân biệt chủng tộc, chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa

Phương pháp vết mực đen của Rorschach

Nhà tâm thần học người Thụу Sĩ Hermann Rorѕchach đã mô tả chúng lần đầu tiên ᴠào năm 1921 ᴠà kể từ đó chúng đã lan rộng trong cộng đồng phân tâm học ᴠà хã hội nói chung

Test Rorschach là một trắc nghiệm tâm lý trong đó đối tượng nhận thức của vết mực được ghi lại và sau đó, sử dụng phân tích tâm lý giải thích, sử dụng thuật toán phức tạp, hoặc cả hai Rorschach được coi là một phương pháp đánh giá , chứ không chỉ là một trắc nghiệm tâm lý đơn thuần Rorschach được coi là phương pháp phóng chiếu và là phương pháp nghiên cứu nhân cách Phương pháp được sử dụng khá phổ biến và được các nhà tâm lý học ưa chuộng dùng để bước đầu đánh giá thân chủ Trắc nghiệm Rorschach có tổng thời gian thực hiện là 5-6 tiếng cho một thân chủ Áp dụng cho các đối tượng từ 7 tuổi trở lên Test Rorschach bao gồm 10 bức hình, còn gọi là 10 vết mực, đối xứng qua trục thẳng đứng Trắc nghiệm Rorschach bao gồm 10 bức tranh giống như những vết mực loang đều sang hai bên của một trục đối xứng (inkblots) Bức số II và số III có hai màu đen và đỏ; bức VIII, IX, X có nhiều màu sắc; các bức còn lại có màu đen xám

Phương pháp vết mực đen của Rorschach còn được áp dụng trong việc đánh giá trường hợp bệnh nhân rối loạn tâm thần Nghiên cứu sử dụng test Rorschach trên nhóm

32 bệnh nhân tâm thần phân liệt, có so sánh với kết quả của nhóm 35 người khỏe mạnh

Trang 8

Kết quả của nhóm TTPL cho thấy: Số lượng câu trả lời trung bình thấp (14,44 ± 5,76); chỉ số câu trả lời tổng thể là thấp (W= 46,97%); câu trả lời chi tiết nhỏ lại cao (18,33%) Nội dung động vật chiếm hơn một nửa số trường hợp (51,74%) Đặc biệt ở nhóm TTPL

có những câu trả lời mang tính độc đáo/kì dị

Giống như trắc nhiệm TAT, phương pháp vết mực loang Rorschach đều vượt qua

cơ chế phòng vệ của thân chủ Nhược điểm: một số lý giải trong phương pháp chưa đủ thuyết phục, phụ thuộc ngành nghề người trả lời, chịu ảnh hưởng yếu tố văn hóa

Phương pháp vẽ tranh

Năm 1949, Karen Machover đã phát triển test vẽ người thành test vẽ nhân vật .Test này nhằm thăm dò, tìm hiểu về những đặc điểm nhân cách Cách thực hiện rất đơn giản, nhà nghiên cứu đưa cho nghiệm thể một tờ giấy trắng và đề nghị vẽ một hình người Khách thể cũng được khuyến khích miêu tả lại những tâm trạng, sở thích hoặc những điều làm họ phiền lòng, buồn chán hay tức giận Machover cũng quan tâm đến kích thước hình vẽ, theo bà nó liên quan đến tự đánh giá nhân cách; vị trí của bức tranh

có liên quan trạng thái cảm xúc cũng như định hướng xã hội của cá nhân Các biến thể khác của phương pháp vẽ phóng chiếu đó là test vẽ Nhà – Cây – Người(House-Tree-Person) được phát triển cùng một thời gian với John Buck (1948)

Nhìn chung, các phương pháp đánh giá nhân cách bằng câu hỏi hay phòng chiếu đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Các phương pháp đánh giá bằng câu hỏi giúp nhà tâm lý dễ dàng định lượng, nhưng dễ định hướng câu trả lời của người hỏi; phương pháp phóng chiếu vượt qua được cơ chế phòng vệ, tuy nhiên đòi hỏi khả năng quan sát, phân tích của nhà tâm lý, bác sĩ nhiều và có sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa Trong việc đánh giá nhân cách, theo quan điểm riêng của em có thể kết hợp các phương pháp để đưa ra được kết quả chính xác nhất

Ngày đăng: 04/09/2022, 12:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w