BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG MÔN HỌC: KỸ NĂNG CHUYÊN SÂU VỀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TOÀ ÁN (chuyên sâu tư vấn 2) Câu 1: Xác định luật áp dụng đối với hợp đồng này trên cơ sở phù hợp với thông lệ thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế giữa các bên là doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài. Giải thích lý do, căn cứ được Anh (Chị) sử dụng trong việc xác định luật áp dụng đối với hợp đồng này
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
MÔN HỌC: KỸ NĂNG CHUYÊN SÂU VỀ
TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TOÀ ÁN
Họ và tên:
Sinh ngày
Trang 2Câu 1 : Xác định luật áp dụng đối với hợp đồng này trên cơ sở phù hợp với thông lệ thực
tiễn hoạt động thương mại quốc tế giữa các bên là doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài Giải thích lý do, căn cứ được Anh (Chị) sử dụng trong việc xác định luật áp dụng đối với hợp đồng này?
Trả lời:
Trong tình huống này có thể thấy 2 đối tượng giao kết hợp đồng với nhau là Công
ty D.A.L (là một doanh nghiệp Việt Nam, địa chỉ trụ sở chính: Tỉnh Q, Việt Nam) và Công ty S.R.L (là một doanh nghiệp nước ngoài, địa chỉ trụ sở chính: Arcole, Verona, Italy), đây là hợp đồng thương mại quốc tế do có 1 trong các bên là doanh nghiệp nước ngoài (Công ty S.R.L) và thực hiện trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua lại giữa các quốc gia (giữa Việt Nam và Italy)
Đầu tiên, chúng ta có thể áp dụng Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế do Công ước Viên 1980 áp dụng cho các hợp đồng mua bán
hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này Đối chiếu với 2 đối tượng giao kết hợp đồng là Công ty D.A.L có trụ sở ở Việt Nam (Việt Nam là thành viên của Công ước từ năm 2013) và Công ty S.R.L có trụ sở ở Italy (Italy là thành viên của Công ước từ năm 1985) hoàn toàn có thể áp dụng Công ước Viên 1980
Bên cạnh đó, đối tượng của hợp đồng này là “màng nhựa polyeste (plastic film) mã
số 1401-01-L được mô tả chung là: Mã HS 3920; Dạng tấm, phiến, màng lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được gắn lớp mặt với các loại vật liệu khác ” loại hàng hóa này không thuộc đối tượng không được áp dụng Công ước Viên 1980 này vào việc mua bán được quy định tại Điều 2 của Công ước này
Ngoài ra, điều 9 trong bản dự thảo các điều khoản của Công ty S.R.L cũng đã đề cập đến việc áp dụng Công ước Viên 1980 để điều chỉnh hợp đồng Chứng tỏ các bên mua và bán đã ngầm chấp nhận việc sử dụng Công ước Viên 1980 vào trong hợp đồng thương mại để điều chỉnh hợp đồng giữa các bên
Thứ hai, có thể lựa chọn áp dụng các tập quán thương mại quốc tế, cụ thể hơn
là INCOTERMS 2020 do việc trong bản dự thảo các điều khoản của Công ty S.R.l đã đề
cập đến tại điều 1 về việc đối chiếu giá cả hàng hòa theo giá CIF cảng Hải Phòng (Việt Nam) theo INCOTERMS 2020
Theo nguyên tắc, bản thân tập quán thương mại quốc tế không có hiệu lực pháp lý như một quy phạm pháp luật, nó chỉ có hiệu lực trong những trường hợp cụ thể do luật
Trang 3định Trong thực tiễn, tập quán thương mại quốc tế có hiệu lực pháp lý khi thỏa mãn cả hai điều kiện thứ nhất là quốc gia của các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế công nhận bằng văn bản hiệu lực của tập quán thương mại quốc tế như là của quy phạm pháp luật và thứ hai là các bên thỏa thuận áp dụng tập quán và đưa chúng vào hợp đồng Điều này có nghĩa là căn cứ của việc sử dụng tập quán thương mại quốc tế là ý chí của các bên Pháp luật của tất cả các quốc gia đều cho phép các bên trong hợp đồng thương mại quốc
tế sử dụng tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của họ phát sinh
từ hợp đồng Đối với Việt Nam, tại Điều 5 Luật thương mại 2005 quy định “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Và đây cũng à một
cách thức để giải quyết xung đột pháp luật – phương pháp thực chất thống nhất, làm cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng trở nên nhanh chóng, đơn giản và hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu linh hoạt của hoạt động thương mại
Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên phải chứng minh nội dung của tập quán đó Do đó, khi tiến hành đàm phán lại hợp đồng với Công ty S.R.L tìm hiểu thông tin về tập quán đó để việc đàm phán trở nên thuận lợi hơn Các thông tin đó các bên
có thể tìm hiểu thông qua sách báo, tài liệu hoặc ở các văn bản của các Phòng Thương mại, ở các Thương vụ của Việt Nam ở nước ngoài… Ngoài ra nên lưu ý, khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, cần phải tiến hành phân loại tập quán quốc tế Nếu có tập quán chung và tập quán riêng thì tập quán riêng có giá trị trội hơn
Thứ ba, có thể lựa chọn đến việc áp dụng Thực tiễn thương mại do thực tiễn
thương mại cũng có thể được coi là cơ sở pháp lý của hợp đồng thương mại, hợp đồng thương mại quốc tế
Thực tiễn trong một lĩnh vực thương mại nhất định, mỗi một lĩnh vực kinh doanh, mỗi một loại hàng hóa, dịch vụ có những đặc trưng riêng của chúng và chỉ có những người tham gia kinh doanh trong lĩnh vực đó mới có thể biết được
Thực tiễn thương mại cũng có thể hiểu là thói quen của các bên Điều 12 Luật thương mại 2005 quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc không thể không biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật
Thứ tư, có thể lựa chọn áp dụng luật quốc gia , luật quốc gia được chọn là luật
áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế khi:
Thứ nhất, trong trường hợp hợp đồng thương mại quốc tế có quy định lựa chọn áp dụng luật quốc gia
Trang 4Trường hợp 1 các bên quy định về luật áp dụng ngay từ giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng, bằng cách chỉ rõ trong hợp đồng rằng luật của một nước nào đó sẽ được áp dụng cho hợp đồng Ví dụ như bên bán và bên mua thống nhất 1 điều khoản trong hợp đồng thương mại của mình như là “Mọi vấn đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng này sẽ được giải quyết theo luật Việt Nam” hoặc “Các vấn
đề phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này được giải quyết theo luật nước người bán” Vậy khi tranh chấp phát sinh, các bên và tòa án có thể dựa vào luật Việt Nam hoặc luật nước người bán để giải quyết
Trường hợp 2 là các bên thoả thuận lựa chọn luật quốc gia là luật áp dụng cho hợp đồng sau khi ký kết hợp đồng, thậm chí khi tranh chấp phát sinh Cách này được các bên
áp dụng khi trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mà các bên đã ký trước đó không
có điều khoản về luật áp dụng Trong thực tế, cách này là rất khó áp dụng vì các bên khó
có thể đạt được một sự nhất trí về việc chọn luật áp dụng khi mà tranh chấp đã phát sinh: người bán thì chỉ muốn áp dụng luật của nước nào bảo vệ được quyền lợi cho mình trong khi đó người mua cũng chỉ muốn áp dụng luật của nước bảo vệ được quyền lợi cho mình
Thứ hai, do lựa chọn áp dụng luật quốc gia của Hội đồng trọng tài
Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 của Việt Nam, tại Khoản 2 Điều 14 có quy định: “Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.” Như vậy, Trọng tài thương mại Việt Nam sẽ có quyền chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế khi phát sinh tranh chấp nếu như các bên không thoả thuận được luật áp dụng
Như vậy, luật quốc gia của một nước có thể tác động đến mối quan hệ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua những cách thức nêu trên
Trên đây là toàn bộ các loại luật pháp có thể áp dụng trong việc đàm phán dự thảo hợp đồng thương mại quốc tế trên cơ sở phù hợp với thông lệ thực tiễn hoạt động thương mại đối với Công ty D.A.L có trụ sở ở Việt Nam và Công ty S.R.L có trụ sở ở Italy, đối với cá nhân đánh giá, các Công ty sẽ lựa chọn Công ước Viên 1980 để đạt được sự trung lập và công bằng nhất định do Công ước Viên 1980 không quá nghiêng về bên bảo vệ quyền lợi cho bên nào trong khi việc áp dụng tập quán thương mại, thực tiễn thương mại hay luật quốc gia sẽ có cán cân nghiêng bảo vệ quyền lợi cho 1 bên nhiều hơn
Câu 2: Trong trường hợp bên bán và bên mua nhất trí áp dụng Công ước của Liên hợp
quốc năm 1980 về mua bán hàng hóa (CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 1980), Anh (Chị) hãy phân tích và nêu ý kiến của luật sư về việc áp dụng quy định của CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 1980
Trang 5về quyền và trách nhiệm pháp lý của mỗi bên trong (1) việc chấp nhận và từ chối hàng hoá và (2) trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong giao dịch mua bán hàng hóa này
Trả lời:
Về Quyền và Nghĩa vụ của bên bán trong hợp đồng thương mại quốc tế:
1 Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hóa
Công ước Viên quy định về giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá từ Điều 31 đến Điều 34 của Công ước Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và các chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua đúng thời gian Thời gian này là thời điểm mà các bên đã thoả thuận, nếu không thoả thuận cụ thể trong hợp đồng thì có thể căn cứ vào hợp đồng để xác định được Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất như mô tả trong hợp đồng
2 Quyền của bên bán
Công ước nêu rõ bên bán có quyền được thanh toán theo những quy định trong hợp đồng Trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ của mình thì bên bán có quyền thực hiện những biện pháp bảo hộ pháp lý cũng theo quy định của Công ước như sau:
- Yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác của người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu đó (Điều 62)
- Có thể chấp nhận cho người mua một thời gian bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của họ (Điều 63 khoản 1)
- Tuyên bố huỷ hợp đồng trong các trường hợp quy định tại Điều 64
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 74
- Ngoài ra, bên bán có thể yêu cầu trả tiền lãi khi bên mua chậm thanh toán, theo quy định Điều 78
Về Quyền và Nghĩa vụ của bên mua trong việc chấp nhận và từ chối hàng hóa trong hợp đồng thương mại quốc tế”
1 Nghĩa vụ nhận hàng hóa của bên mua:
Nghĩa vụ nhận hàng là nghĩa vụ mà người mua phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện đồng thời thực hiện những thủ tục cần thiết để người bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng và bên mua phải tiếp nhận hàng hóa Bên mua phải nhận hàng, việc nhận hàng có quan hệ chặt chẽ với chuyển giao rủi ro Do đó, bên mua nếu cần thiết, phải thông báo cho bên bán địa điểm giao hàng có thể Nếu bên mua không nhận hàng thì được coi là vi phạm hợp đồng
Trang 6Điều này có thể sẽ khiến bên mua phải chịu trách nhiệm về bất kì thiệt hại nào xảy ra đối với hàng hóa Nghĩa vụ nhận hàng được quy định tại Điều 60 Công ước Viên 1980 như sau:
“Ðiều 60:
Nghĩa vụ nhận hàng của người mua gồm:
a Thực hiện mọi hành vi mà người ta có quyền chờ đợi ở họ một cách hợp lý để cho phép người bán thực hiện việc giao hàng và
b Tiếp nhận hàng hóa.”
Về việc thực hiện mọi hành vi mà người ta có quyền chờ đợi một cách hợp lý, thường sẽ được xác định cụ thể trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để tránh yếu tố không rõ ràng khi thực hiện nghĩa vụ nhận hàng Thường những hành vi này được coi là các hoạt động hỗ trợ cho bên bán về thủ tục giao hàng; Hướng dẫn về phương thức vận chuyển; Điều kiện bốc dỡ hàng hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nhận hàng Việc người mua phải thực hiện các hành vi sẵn sàng tiếp nhận không những tạo điều kiện thuận lợi cho người bán thực hiện việc giao hàng của mình mà còn thể hiện
sự tận tâm của người mua đối với nghĩa vụ của mình Và đây cũng là một trong những nội dung của nguyên tắc trung thực và thiện chí trong việc ký kết hợp đồng của hai bên, và khi người bán giao hàng tới địa điểm quy định và đặt hàng dưới sự định đoạt của người mua, thì người mua phải thực hiện nghĩa vụ của mình là tiếp nhận hàng Đồng thời, nghĩa
vụ nhận hàng của người mua phải đúng theo quy định trong hợp đồng, tức là phải thực hiện mọi hành vi để người bán có thể thực hiện giao hàng theo quy định của hợp đồng
Về việc tiếp nhận hàng hóa, đối với nghĩa vụ này, các bên cần chú ý tới một số yếu
tố quan trọng như sau: nơi thực hiện nghĩa vụ nhận hàng, tình trạng hàng hóa khi nhận và việc tiếp nhận các tài liệu đi kèm
(i) Trên thực tế, các bên thường sẽ quy định cụ thể về nơi thực hiện nhận hàng Trong trường hợp ở đây, do không có thỏa thuận cụ thể về nơi nhận hàng (thỏa thuận mới chỉ đề cập về cảng giao hàng quy định), việc xác định nơi nhận hàng có thể áp dụng theo các quy tắc tại khoản b và c Điều 31 Công ước Viên 1980
(ii) Theo quy định tại Điều 66, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa xảy ra sau khi rủi ro chuyển sang cho người mua không miễn trừ cho người này nghĩa vụ phải trả tiền, trừ phi việc mất mát hay hư hỏng ấy là do hành động của người bán gây nên Như vậy, sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao nhận, người bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những khuyết điểm của hàng hóa được giao Nếu các khuyết điểm đó do không thể kiểm tra lúc giao nhận hoặc có những lỗi mà bên bán đã không thông báo cho bên mua biết
Trang 7(iii) Điều 34 của Công ước Viên 1980 cũng quy định về việc chuyển giao các chứng từ liên quan đến hàng hoá thì bên bán cũng phải thi hành nghĩa vụ này đúng thời hạn, đúng địa điểm và đúng hình thức như quy định trong hợp đồng cho bên mua
2 Quyền từ chối nhận hàng hóa của bên mua trong hợp đồng thương mại
Việc từ chối nhận hàng là việc một trong hai bên không thực hiện quyền và nghĩa
vụ của mình trong hợp đồng mà cụ thể là việc nhận hàng do một bên còn lại gây ra trong khi thực hiện hợp đồng khi hàng hóa vượt quá số lượng, hàng hóa đến trước thời hạn quy định và không đúng chất lượng như đã giao kết và dẫn đến hệ quà là hợp đồng không được thực hiện đúng như giao kêt ban đầu gây thiệt hại cho các bên
Còn việc nhận hàng là nghĩa vụ của người mua theo Điều 53 Công ước Viên 1980, đồng thời theo Điều 60 cũng quy định về nghĩa vụ nhận hàng của người mua, tuy nhiên không phải trường hợp nào người mua cũng phải nhận hàng Một trong các căn cứ để người mua có quyền từ chố nhận hàng hóa của bên bán là
a Bên bán giao hàng trước thời hạn quy định
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 Công ước Viên 1980, nếu người bán giao hàng trước thời hạn quy định thì người mua được quyền lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ chối việc nhận hàng đó Trường hợp này, người bán có quyền, cho tới trước khi hết hạn giao hàng, giao một phần hay một số lượng thiếu, hoặc giao hàng mới thay cho hàng đã giao không phù hợp với hợp đồng, hoặc khắc phục mọi sự không phù hợp của hàng hóa đã giao với điều kiện là việc làm đó của người bán không gây cho người mua một trở ngại hay phí tổn vô lý nào Tuy nhiên, người mua có quyền đòi bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này
b Bên bán giao hàng vượt quá số lượng quy định
Việc người mua yêu cầu người bán giao hàng đúng số lượng của hàng hóa là một quyền không thể thiếu của người mua, hàng hóa phải đúng số lượng phải thích hợp thì mới được xem là hàng hóa phù hợp với hợp đồng Việc người bán giao hàng đúng số lượng có ý nghĩa rất lớn đối với các bên Đối với bên mua, nó giúp cho bên mua có số hàng vừa đúng số lượng với nhu cầu bên mua Còn đối với bên bán, nó giúp cho bên bán tạo sự tin cậy hài lòng trước bên mua khi bên bán thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên một vài trường hợp người bán giao một số lượng nhiều hơn số lượng quy định trong hợp đồng, thì theo Khoản 2 Điều 52 Công ước Viên 1980 quy định bên mua có quyền lựa chọn chấp nhận hay từ chối nhận hàng trong trường hợp giao hàng vượt quá số lượng, nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng dư thừa nói trên thì người mua phải thêm trả tiền hàng cho phần hàng hóa dư thừa đó
Trang 8Ngoài ra cần chú ý rằng theo khoản 1 Điều 86 Công ước Viên 1980 ngay cả trong trường hợp người mua từ chối nhận số hàng giao thừa, bên mua cũng có quyền giữ lại số hàng hóa đó cho tới khi bên bán hoàn trả cho bên mua toàn bộ các chi phí hợp lý Cần lưu
ý thêm rằng, trong trường hợp bên mua mong muốn từ chối nhận số hàng hóa dư thừa với
lý do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, bên mua cần phải thông báo cho bên bán trong một thời hạn hợp lý được quy định tại khoản 1 Điều 39 Công ước Viên 1980
c Bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 51 Công ước Viên 1980, thì đối với một phần hàng hóa không phù hợp đã được giao các điều 46 đến 50 của công ước sẽ được áp dụng đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Chính vì vậy, khi xác định được hàng hóa không phù hợp thì bên mua nên tuân theo nguyên tắc thiện chí, đó là cho người bán một khoảng thời gian hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ
Trường hợp người bán giao hàng không đúng chất lượng và người mua buộc người bán phải thực hiện đúng nghĩa vụ tức là phải sửa chữa khuyết tật của hàng hóa hay là thay hàng bị khuyết tật bằng hàng hóa có chất lượng khác Nếu việc sửa chữa khuyết tật hay thay đổi hàng được người bán thực hiện trong thời hạn hợp đồng thì người mua không có quyền áp dụng phạt vi phạm hay bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, còn nếu việc sửa chữa khuyết tật hay đổi hàng kém chất lượng bằng hàng khác được người bán thực hiện khi thời hạn của hợp đồng đã hết thì người mua hoàn toàn có quyền yêu cầu trả tiền phạt hợp đồng hay bồi thường thiệt hại Hậu quả pháp lý cũng tương tự nếu người bán bắt đầu sửa chữa khuyết tật hay thực hiện việc thay hàng hóa kém phẩm chất trong thời hạn hợp đồng nhưng hết thời hạn của hợp đồng mà công việc sữa chữa hay thay thế hàng chưa kết thúc thì người mua có quyền yêu cầu trả tiền phạt vi phạm hay bồi thường thiệt hại
Đánh giá việc áp dụng quy định của Công ước Viên 1980 về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong giao dịch mua bán hàng hóa này
Khái niệm vi phạm hợp đồng được quy định tại Điều 25 Công ước Viên 1980 như
sau: “Vi phạm hợp đồng của một bên được xem là vi phạm cơ bản nếu nó gây thiệt hại cho bên kia đ áng kể đến mức làm cho bên kia không đạt được những gì mà họ có quyền mong
đợi theo hợp đồng , trừ trường hợp bên vi phạm không thể, và một người bình thường trong cùng hoàn cảnh cũng không thể, tiên liệu hậu quả đó.”
Trong thương mại quốc tế, chế tài vi phạm khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là loại trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản, có tác dụng buộc chủ thể có hành vi vi phạm chịu các hậu quả bất lợi về tài sản Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, bên
bị vi phạm có quyền chọn áp dụng các chế tài theo luật áp dụng hay theo điều khoản trong hợp đồng đã ký kết Bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm hợp đồng nếu không có lỗi và
Trang 9không phải bồi thường quá mức thiệt hại hoặc toàn bộ thiệt hại mà bên vi phạm đã thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất trong khả năng của mình
Các hình thức chế tài khi vi phạm hợp đồng thương mại quốc tế theo Công ước Viên 1980 bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt hại và hủy hợp đồng
1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng: Khi một bên có hành vi vi phạm hợp đồng gây
ra thiệt hại về tài sản cho bên kia thì việc áp dụng các hình thức chế tài như phạt hay bồi thường thiệt hại là đương nhiên Tuy nhiên, không phải lúc nào việc phạt hay bồi thường thiệt hại cũng làm thỏa mãn bên bị vi phạm bởi vì có những tổn thất gây ra mà số tiền bồi thường không bù đắp nổi những tổn thất như uy tín kinh doanh, các cam kết với bạn hàng khác,… hay các bên còn muốn giữ thiện chí với nhau Vì thế, trong các trường hợp đó, người ta sử dụng hình thức chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc mà bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
2 Đòi bồi thường thiệt hại: Về phạm vi thiệt hại được đền bù, Công ước Viên
1980 quy định các thiệt hại do một bên gây ra bao gồm tổn thất và các khoản lợi bị bỏ lỡ
mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng (Điều 74) Công ước Viên
1980 không có quy định cụ thể về loại thiệt hại phi tiền tệ bắt nguồn đặc biệt từ nỗi đau thể chất hoặc tinh thần trong đó có thiệt hại do mất uy tín kinh doanh Đồng thời, tại Điều
5 còn quy định loại trừ việc áp dụng Công ước cho những thiệt hại do người chết hoặc bị thương Về mức bồi thường tối đa, Công ước Viên 1980 quy định khoản tiền bồi thường bằng tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng Ngoài ra, nếu một bên chậm thanh toán tiền hàng hay mọi khoản tiền thiếu khác, bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó mà không ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại mà họ có quyền đòi hỏi chiếu theo Điều 74 (Căn cứ theo Điều 78 Công ước Viên 1980)
3 Hủy hợp đồng: Hủy hợp đồng là chế tài được áp dụng khi bên bị vi phạm không còn mong chờ tiếp tục thực hiện hợp đồng
Tổng quan từ các yếu tố phân tích trên, có thể thấy việc áp dụng Công ước Viên
1980 thể hiện sự thống nhất các mâu thuẫn của các hệ thống pháp luật trên thế giới Do
đó, việc tham khảo các quy định của Công ước Viên và tìm hiểu thực tiễn áp dụng của các quy định đó sẽ giúp các nhà làm luật Việt Nam hoàn thiện luật pháp nước nhà, góp phần thống nhất luật pháp với nhiều quốc gia trên thế giới không những trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế mà còn đối với nhiều lĩnh vực liên quan Một khi các quy định của pháp luật trong nước trở nên hài hòa, thống nhất với thế giới, các doanh nghiệp sẽ áp dụng có hiệu quả vào hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp được thuận lợi hơn
Trang 10Câu 3: Trình bày nội dung phương án tư vấn của Anh (Chị) về việc hiệu chỉnh (sửa đổi,
bổ sung) các nội dung điều khoản nêu trên với mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Công ty D.A.L (bên mua Việt Nam) trong giao dịch hợp đồng mua bán hàng hóa này.
Trả lời:
Đối với nội dung của bản dự thảo hợp đồng nêu trên, với tư cách là luật sư đại diện cho Công ty D.A.L, tôi xin trình bày một số ý kiến đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung hợp đồng thương mại với Công ty S.R.L như sau:
1 Bổ sung thêm về vấn đề mua bảo hiểm hàng hóa trong quá trình vận chuyển được đề cập tại điều khoản số 3 (Căn cứ theo Điều 32 Công ước Viên 1980)
Để đảm bảo cho việc an toàn, cũng như giảm thiệt hại trong trường hợp hàng hóa trong quá trình vận chuyển xảy sự cố khiến lượng hàng hóa bị hỏng, thiếu sót so với số lượng hàng hóa quy định trong hợp đồng, khuyến khích việc bên bán tự mua bảo hiểm hàng hóa
Nếu người bán không có nghĩa vụ phải bảo hiểm hàng hoá trong quá trình hàng chuyên chở, thì họ phải cung cấp cho người mua, nếu người này yêu cầu, mọi thông tin cần thiết mà họ có thể giúp người mua ký kết hợp đồng bảo hiểm
2 Đề nghị sửa đổi điều khoản số 5 về việc hoàn trả hàng hóa và thành toán các chi phí vận chuyển và các chi phí liên quan khác liên quan đến việc trả hàng.
Bên mua có quyền từ chối nhận hàng theo các trường hợp quy định tại Điều 52 của Công ước Viên 1980 mà không cần phải thỏa thuận bằng văn bản với bên bán Bên mua chỉ có trách nhiệm thông báo việc từ chối nhận hàng cho bên bán, mọi tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết trong bước thương lượng
Trong trường hợp bên mua từ chối nhận hàng, theo Điều 86 của Công ước Viên
1980 thì bên bán sẽ phải hoàn trả các chi phí liên quan đến bảo quản hàng hóa
Việc bên mua phải thanh toán các chi phí vận chuyển và các chi phí liên quan đến việc trả hàng là không hợp lý Đề nghị đàm phán trực tiếp lại về vấn đề này
3 Bổ sung thêm trong điều khoản số 8 về giải quyết tranh chấp
Về tranh chấp và trọng tài, tất cả các tranh chấp, sự mâu thuẫn bất đồng có thể xảy
ra giữa các bên, có thể nằm ngoài hoặc liên quan trực tiếp đến nội dung hợp đồng hoặc việc vi phạm hợp đồng việc đầu tiên sẽ tiến hành thương lượng hòa giải giữa các bên Thời gian tiến hành thương lượng là trong … ngày, phải lập thành biên bản và có chữ ký xác nhận của đại diện các bên tham gia thương lượng Trong trường hợp không thể thương lượng được sẽ tiến hành giải quyết theo thủ tục trọng tài thương mại quốc tế tại Trung tâm trọng