Khái niệm quốc gia và các yếu tố cấu thành quốc gia Quốc gia là khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chín
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT LUẬT TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG – CHỨNG KHOÁN
***
ĐỀ TÀI :
“KẾ THỪA QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ KẾ THỪA QUỐC GIA Ở VIỆT
NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NAY”
Giảng viên: Ths.Nguyễn Thị Thu Trang
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 6
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta cũng đã biết khi cái cũ mất đi, cái mới sẽ xuất hiện Tuy nhiên, sự xuấthiện của cái mới đó sẽ không thể xóa bỏ hoàn toàn cái cũ được mà những cái hay, cái tiến
bộ của cái cũ sẽ là tiền đề, cơ sở để làm nấc thang bước lên hình thành nên cái mới hoànthiện hơn, phù hợp hơn với sự vận động không ngừng của thế giới Hoạt động này cũng
có thể được hiểu là “sự kế thừa” Trong hệ thống pháp luật cũng vậy, các quốc gia luôn
có sự kế thừa pháp luật quốc tế và vì thế luật quốc tế cũng có một chế định quy định về
“sự kế thừa”
Cụ thể tại kỳ họp XVI của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết vềviệc đưa vấn đề kế thừa vào danh mục những vấn đề trước mắt cần pháp điển hóa vàngày 22/8/1978 Công ước Viên về kế thừa, ngày 1/4/1978 Công ước Viên về kế thừa tàisản, hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia được thông qua Sở dĩ như vậy vì vấn đề kế thừa
có vai trò ngày càng quan trọng trong sinh hoạt quốc tế, khi mà ngày càng có nhiều quốcgia giành lại được độc lập hay có thêm một số quốc gia được chia, tách, sáp nhập Việcxác nhận một quốc gia có phải là quốc gia kế thừa của quốc gia trước đó hay khôngchẳng những ảnh hưởng đến riêng quốc gia mới đó mà còn có ý nghĩa quan trọng vớinhiều quốc gia khác trên thế giới trong bối cảnh thế giới được coi là “phẳng” như hiệnnay Vấn đề kế thừa quốc gia không chỉ được quan tâm bởi những nước lớn trên thế giới
mà đã được rất nhiều quốc gia quan tâm và sử dụng nó để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình Tuy nhiên, thực tế vấn đề này cũng gây ra rất nhiều tranh cãi, xung đột,mâu thuẫn và để tìm ra một cách giải quyết tốt nhất lại là một vấn đề vô cùng nan giải
Với lý do trên, nhóm sinh viên chúng em chọn đề tài “Kế thừa quốc gia và vấn đề
kế thừa quốc gia của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay” để nghiên cứu.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận chung về kế thừa quốc gia trên thế giới
Trang 3- Nghiên cứu lý luận về kế thừa quốc gia ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay và nhữngthành quả đạt được sau kế thừa.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về kế thừa quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam từ thế kỷ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu về những vấn đề lý luận kế thừa quốc gia trong luật cũng như trongthực tiễn pháp lý quốc tế, các trường hợp đặt ra vấn đề kế thừa quốc gia, kế thừa quốc giatrong từng giai đoạn lịch sử nói chung và đồng thời đề cập cụ thể về kế thừa quốc gia tạiViệt Nam từ thế kỷ XX đến nay
Với đề tài này, nhóm tập trung nghiên cứu kế thừa quốc gia trong phạm vi luật quốc
tế sau cách mạng xã hội chủ nghĩa, sau cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong cáctrường hợp tách, hợp nhất, sáp nhập, tan rã quốc gia và kế thừa quốc gia ở Việt Nam từthế kỷ XX đến này
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sử dụngcác phương pháp nghiên cứu của kinh tế - chính trị làm cơ sở, kết hợp sử dụng cácphương pháp hệ thống, tiếp cận lịch sử, thống kê, phân tích, so sánh, minh họa để thựchiện đề tài
5 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, bài còn có hai phần chính là:
Trang 4 / 46
Trang 4- Phần 1: Những vấn đề chung về kế thừa quốc gia trong luật quốc tế
- Phần 2: Thực tiễn kế thừa quốc gia ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay
Trang 5B NỘI DUNG
LUẬT QUỐC TẾ
1 Khái quát chung về kế thừa quốc gia
1.1 Khái niệm quốc gia và kế thừa quốc gia
1.1.1 Khái niệm quốc gia và các yếu tố cấu thành quốc gia
Quốc gia là khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp
lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người củacác dân tộc có trên lãnh thổ đó, họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, vănhóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc và những con ngườichấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc đó cũng chịu sự chi phối củachính quyền, cùng nhau chia sẻ quá khứ, hiện tại và cùng nhau xây dựng một tươnglai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quốc gia làchủ thể cơ bản và chủ yếu tham gia tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư phápquốc tế
Như vậy, quốc gia là một thực thể được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và xãhội, đó là lãnh thổ, dân cư, chính phủ và chủ quyền quốc gia
1.1.2 Khái niệm kế thừa quốc gia
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1978:
“Sự kế thừa của quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ sự thay thế của một quốc gia này cho một quốc gia khác trong việc gánh chịu trách nhiệm về quan hệ quốc tế đối với lãnh thổ nào đó”
Theo Từ điển luật quốc tế xuất bản tại Mátxcơva năm 1982 thì “kế thừa quốc gia là việc dịch chuyển các quyền và nghĩa vụ của một quốc gia này cho một quốc gia khác”.
Trang 6 / 46
Trang 61.2 Các điều ước quốc tế điều chỉnh về kế thừa quốc gia:
Ủy ban luật quốc tế (ILC) đã xem xét vấn đề một cách bao quát và hai Công ướcquốc tế về kế thừa quốc gia được thừa nhận Ủy ban luật quốc tế thỏa thuận về kế thừaquốc gia theo bốn nhóm rõ ràng:
- Hiệp ước: Công ước Viên về kế thừa (Viên I)
- Công ước Viên về kế thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia (Viên II)
- Thành viên tổ chức quốc tế: Báo cáo viên của Ủy ban luật quốc tế kết luận rằng vấn đềnày không thích hợp cho việc xây dựng luật Các báo cáo viên đề nghị một bản báo cáocung cấp những minh họa về việc giải quyết các loại khác nhau của vấn đề
- Kế thừa quốc gia và ảnh hưởng của nó vế quốc tịch tự nhiên: các báo cáo viên cũngkhông tìm thấy bất cứ triển vọng nào về việc soạn thảo và đề nghị bản báo cáo hoặc dựthảo luật Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tuyên bố thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu
1.3 Các trường hợp dẫn đến kế thừa quốc gia
So sánh với chế định thừa kế trong luật dân sự và kế thừa trong luật quốc tế chúng ta
có thể thấy được sự khác biệt cơ bản Đó là trong luật dân sự, thừa kế là một chế định cơbản được đặt ra trong trường hợp một cá nhân chết để lại di sản cho những người thừa kếtheo di chúc hoặc theo pháp luật còn vấn đề kế thừa quốc gia trong luật quốc tế được đặt
ra trong các trường hợp sau:
- Sự kế thừa của quốc gia mới do kết quả của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
- Sự kế thừa của quốc gia mới do kết quả của cuộc cách mạng xã hội
- Sự kế thừa của quốc gia mới trong trường hợp các quốc gia hợp nhất hay sáp nhập
- Sự kế thừa của quốc gia mới khi có sự chia, tách của một quốc gia
Kế thừa trong luật quốc tế không phải trong mọi trường hợp đều gắn liền với sựchấm dứt và tồn tại của chủ thể để lại kế thừa
Bên cạnh những trường hợp trên vấn đề kế thừa quốc gia có thể phát sinh trong một
số trường hợp được xác định, khi mà phản ánh những cách thức trong đặc quyền chính trị
có thể đạt được Ví dụ như sự trao trả thuộc địa một phần hay toàn bộ lãnh thổ hiện tại,phân chia một nước hiện hữu, ly khai, sát nhập và hợp nhất Trong mỗi trường hợp, vấn
đề kế thừa quyền và nghĩa vụ lại được đặt ra Tuy nhiên, câu hỏi về kế thừa quốc giakhông xâm phạm quyền và nghĩa vụ thông thường nếu các quốc gia tuân theo luật quốc
tế Vấn đề kế thừa quốc gia thường được đặt ra khi có sự thay đổi triệt để về chủ quyềncủa một quốc gia tại một lãnh thổ nhất định Sự thay đổi triệt để về chủ quyền đó có thể
Trang 7là kết quả của việc xuất hiện hoặc chấm dứt sự tồn tại của một quốc gia Kế thừa quốc gia
là sự chuyển dịch quyền và nghĩa vụ quốc tế từ quốc gia này sang quốc gia khác có liênquan đến vùng lãnh thổ nhất định
1.4 Mục đích của kế thừa quốc gia
Khi có sự thay đổi triệt để về chủ quyền của một quốc gia tại một lãnh thổ nhất định
và sự thay đổi triệt để về chủ quyền này có thể là kết quả của việc xuất hiện hoặc chấmdứt sự tồn tại của một quốc gia thì vấn đề kế thừa quốc gia sẽ thường được đặt ra Đó là
sự chuyển dịch quyền và nghĩa vụ quốc tế từ quốc gia này sang quốc gia khác có liênquan đến vùng lãnh thổ nhất định bao gồm:
- Xác nhận một quốc gia có phải là quốc gia kế thừa của quốc gia trước đó hay không
- Xác định quốc gia để lại quyền thừa kế và quốc gia có quyền kế thừa
- Xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của quốc gia mới thành lập
Từ sự chuyển dịch quyền và nghĩa vụ pháp lý trên, kế thừa quốc gia giúp các quốcgia kế thừa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp đối với lãnh thổ của mình
1.5 Ý nghĩa của kế thừa quốc gia
Sự kế thừa quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ pháp luật quốc tếcũng như quan hệ giữa các quốc gia hiện nay bởi quốc gia là chủ thể cơ bản, chủ yếu củaluật quốc tế, đóng vai trò là linh hồn trong luật quốc tế tham gia tất cả các lĩnh vực lậppháp, hành pháp và tư pháp quốc tế
Kế thừa có vai trò ngày càng quan trọng trong sinh hoạt quốc tế, khi mà ngày càng
có nhiều quốc gia giành lại được độc lập hay có thêm một số quốc gia được chia, tách,sáp nhập
Kế thừa quốc gia đã trở nên ngày càng quan trọng vì hơn bao giờ hết nó ảnh hưởngđến nhiều nước và các quan hệ pháp lý
2 Kế thừa quốc gia sau cách mạng xã hội
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ cũ, nhất
là chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội chủ nghĩa Trong cuộc Cách mạng đó giaicấp công nhân là người lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động khác xâydựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 8 / 46
Trang 8• Theo nghĩa hẹp: cách mạng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cuộc cách mạng chính trịđược kết thúc bằng việc giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chínhquyền, thiết lập nên nhà nước chuyên chính vô sản – nhà nước của giai cấp công nhân vànhân dân lao động.
• Theo nghĩa rộng: cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến một cách toàn diệntrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng… đểxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản Như vậy, theonghĩa rộng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc giành chính quyền về taygiai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả quá trình giai cấp công nhân cùng với quầnchúng nhân dân lao động tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả cáclĩnh vực đời sống xã hội, tới khi xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì cuộc cáchmạng này mới kết thúc
Cách mạng xã hội cũng được hiểu là cuộc cách mạng nổ ra có sự thay đổi từ hìnhthái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác
Các quốc gia sau cách mạng xã hội làm xuất hiện chế độ xã hội mới với sự lãnh đạocủa giai cấp cách mạng.Về nguyên tắc quốc gia kế thừa vẫn là thành viên của các tổ chứcquốc tế, tài sản quốc gia mới kế thừa toàn bộ của quốc gia cũ, quốc tịch công dân vẫnkhông thay đổi Vẫn áp dụng những điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Nhưng đối với những điều ước quốc tế dô chế độ nhà nước trước cách mạng xã hội
ký mà có bất lợi với quốc gia, chính quyền hiện tại thì theo nguyên tắc stantibus thì các đều ước được ký kết trước đây thì không nhất thiết phải thực hiện nữa.Các điều ước khác thì quốc gia kế thừa có thể thỏa thuận áp dụng
Rebus-sic-Ví dụ:
• Việt Nam thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảngtrường Ba Đình ngày 2.9.1945: “Chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới,đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn khỏi quan hệ thực dân với Pháp,xóa bỏ hết những Hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền củaPháp trên đất nước Việt Nam”
Mặc dù vậy, vẫn có một nguyên tắc được áp dụng chung cho tất cả mọi trườnghợp thừa kế quốc gia - đó là khi thừa kế quốc gia liên quan đến biên giới và lãnh thổ
Trang 9Điều 11 và 12 của Công ước 1978 về thừa kế quốc gia quy định: thừa kế quốc gia khônglàm ảnh hưởng đến đường biên giới, chế độ biên giới hoặc quy chế các vùng lãnh thổđược quy đinh trong các điều ước quốc tế Nói cách khác tức là các quốc gia thừa kế(ngay cả trường hợp quốc gia mới độc lập), đều không thể đơn phương hủy bỏ, thay đổicác điều ước về biên giới, về chế độ biên giới hoặc về quy chế một vùng lãnh thổ nào đó.Nếu điều ước đó là bất hợp lý thì quốc gia mới được thành lập (quốc gia thừa kế), trongbất kỳ trường hợp nào, cũng phải đàm phán với các quốc gia liên quan để sửa đổi.
Điều 11 và 12 làm rõ thêm quy định của luật pháp quốc tế: tranh chấp về biên giớilãnh thổ không thể giải quyết bằng các hành động đơn phương, đặc biệt là bằng vũ lực.Điều này vi phạm những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: nguyên tắc cấm sửdụng vũ lưc và đe dọa sử dụng vũ lưc, nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng cácbiện pháp hòa bình…
• Nước Nga sau cách mạng tháng 10 vào đêm 26/10( tức 8/11) Đại hội Xô viết toàn Nga đãthông qua hai văn kiện đầu tiên của Chính quyền Xô viết: Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnhruộng đất Sắc lệnh ruộng đất tuyên bố thủ tiêu không bồi thường ruộng đất của giai cấpđịa chủ quý tộc và của các sở hữu lớn khác, quốc hữu hóa toàn bộ ruộng đất Sắc lệnhruộng đất đã thể hiện quyền sở hữu của quốc gia mới đối với tài sản lớn nhất của quốcgia-ruộng đất
• Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, tháng 8 năm 1919, Chính phủ Xô viết đã gửicho nhân dân Mông Cổ và Chính phủ Ngoại Mông một bức công hàm với nội dung:
"Chính phủ Xô viết một lần nữa trịnh trọng tuyên bố rằng: nhân dân Nga từ bỏ mọi hiệpước mà Nga hoàng trước đây đã ký kết với chính phủ Nhật và Trung Hoa về Mông Cổ.Mông Cổ ngày nay là một nước độc lập Đối với bọn cố vấn, bọn lãnh sự của Nga hoàng,bọn tài phiệt Nga, phải đuổi cổ chúng ra khỏi đất Mông Cổ Mọi quyền binh ở Mông Cổđều phải thuộc về tay nhân dân Mông Cổ Không một nước ngoài nào được can thiệp vàonội trị của Mông Cổ Hiệp ước Nga - Mông năm 1913 đã bị thủ tiêu Mông Cổ, một quốcgia độc lập, có quyền ngoại giao trực tiếp với tất cả các nước khác, không cần có sự đỡđầu hay trung gian nào của Bắc Kinh hay Pêtơrơgrát”
Trang 10 / 46
Trang 103 Kế thừa quốc gia đối với các quốc gia sau đấu tranh giải phóng dân tộc
3.1 Vấn đề kế thừa quốc gia sau giải phóng dân tộc:
Kế thừa quốc gia được đặt ra thông qua cuộc cách mạng xã hội, cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc ở những nước vốn là thuộc địa của quốc gia khác làm xuất hiện quốc giamới trên trường quốc tế
Đặc điểm:
Quốc gia mới thành lập, trước đây là thuộc địa hoặc lãnh thổ lệ thuộc vào nước khác
Quốc gia để lại kế thừa vẫn tồn tại và nó vẫn là chủ thể của luật quốc tế Các quyền vànghĩa vụ quốc tế của quốc gia để lại kế thừa vẫn duy trì ở quốc gia kế thừa nếu không ảnhhưởng đến quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mới kế thừa Ví dụ: Cộng hòa Pháp làquốc gia để lại kế thừa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia nhận kế thừa nhưng sauCách mạng tháng Tám 1945, nước Pháp vẫn tồn tại và vẫn là một chủ thể của Luật quốctế
Quốc gia để lại kế thừa đã bóc lột và đàn áp nhân dân ở nước kế thừa trong nhiều nămnhưng cuối cùng nhân dân ở nước thuộc địa này đã giành được độc lập và thành lập mộtquốc gia độc lập, có chủ quyền và có địa vị pháp lý bình đẳng với quốc gia để lại kế thừa
Quốc gia mới thành lập có quyền không nhất thiết tôn trọng các điều ước quốc tế mànước để lại kế thừa đã kí trừ các điều ước kí kết về biên giới, lãnh thổ Ví dụ: Cộng hòaTrung Phi khi giành được độc lập đã tuyên bố: “Các hiệp ước do cường quốc thuộc địatrước đây đã kí kết nhân danh các lãnh thổ hải ngoại của mình có thể được coi như chỉcòn giữ được hiệu lực đối với những điều khoản không mâu thuẫn với nền độc lập củacác quốc gia mới có chủ quyền.”…
Các đối tượng kế thừa quốc gia trong luật quốc tế bao gồm lãnh thổ, biên giới quốcgia, quốc tịch của công dân, tài sản, công nợ quốc gia, hồ sơ tài liệu quốc gia, điều ướcquốc tế, quy chế thành viên
Về kế thừa lãnh thổ: các quốc gia kế thừa có quyền kế thừa toàn bộ lãnh thổ.
Về quốc tịch: công dân của quốc gia kế thừa sẽ mang quốc tịch của quốc gia mình Về kế thừa tài sản:
- Quốc gia mới thành lập có quyền kế thừa chính đáng tất cả những tài sản quốc gia có tại lãnh thổ mới giành được.
- Có quyền đòi lại tài sản có nguồn gốc từ quốc gia để lại kế thừa ở các quốc gia khác.
Trang 11- Không có quyền đòi tài sản ở quốc gia mà mình từng bị lệ thuộc, tức tài sản đã bị vơ vét bóc lột trong quá trình bị xâm lược.
Về điều ước quốc tế: Kế thừa quốc gia về điều ước quốc tế sẽ được áp dụng theo
nguyên tắc Rebus-sic-stantibus.
Theo luật quốc tế, quốc gia mới thành lập không nhất thiết phải tôn trọng các điều ước quốc tế đang có hiệu lực vào thời điểm kế thừa tại lãnh thổ quốc gia mới, trừ trường hợp thừa kế lãnh thổ và biên giới, vì quốc gia độc lập không tham gia vào việc ký kết điều ước quốc tế, quốc gia để lại kế thừa mới là chủ thể phải thực hiện điều ước đó.Vấn
đề này được quy định ở phần III điều 15,16, 30, trong Công ước Viên 1978 Đối với điều ước quốc tế chưa có hiệu lực thì không nhất thiết phải thực hiện nếu cảm thấy bất lợi cho quốc gia mình.
Nếu quốc gia kế thừa muốn tham gia vào điều ước quốc tế nhiều bên không hạn chế
số lượng thành viên thì có thể thiết lập quy chế quốc gia để tham gia vào điều ước đó Đối với điều ước quốc tế nhiều bên có hạn chế số lượng thành viên thì quốc gia kế thừa được tham gia khi tất cả các quốc gia thành viên của điều ước đó đồng ý.
Đối với điều ước song phương đang có hiệu lực tại thời điểm kế thừa có thể có hiệu lực với quốc gia mới nếu các bên có thỏa thuận với nhau về điều ước đó một cách cụ thể
Trong một số trường hợp, quốc gia kế thừa đã ký kết những điều ước đặc biệt với quốc gia để lại kế thừa để giải quyết vấn đề cụ thể về kế thừa giữa hai quốc gia.Trong nhiều điều ước loại này có ghi nhận việc quốc gia mới thành lập sẽ kế thừa tất cả những điều ước còn hiệu lực thi hành do quốc gia để lại quyền kế thừa đã ký kết với nước khác
về lãnh thổ vốn là thuộc địa hoặc lệ thuộc đó
Về quy chế thành viên: Hiện nay chưa có điều ước nào quy định cụ thể vấn đề này
và thông thường sẽ xác lập tư cách chủ thể để kết nạp thành viên mới Thực tế hiện nay LHQ đã chấp nhận kết nạp các quốc gia mới giành được độc lập làm thành viên như Zimbabue (25-08-1980), Đông Timor (2002), Serbia (2000), Montenegro (2006), Lithuania (1991)…
Kế thừa quốc gia sau cách mạng giải phóng dân tộc có ý nghĩa rất lớn đối với mỗiquốc gia, tạo điều kiện tốt về chính trị, ngoại giao, kinh tế cho quốc gia kế thừa Tạo ra sựcông bằng, bình đẳng giữa các quốc gia Đây là bước đệm quan trọng để quốc gia mới
Trang 12 / 46
Trang 12thành lập được gia nhập các tổ chức quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển saunày của quốc gia đó.
3.2 Ví dụ điển hình của Xri Lanca và Iran:
3.2.1 Kế thừa về lãnh thổ và quốc tịch:
Sau hơn một ngàn năm dưới quyền cai trị của những quốc gia độc lập đến ngày4/2/1948 Xri Lanca đã được trao trả độc lập.Sau khi giành được độc lập họ đã kế thừatoàn bộ lãnh thổ và kế thừa về quốc tịch
3.2.2 Kế thừa về điều ước quốc tế:
Về điều ước quốc tế thì hiệp đinh ngày 11/11/1947 giữa Anh và Xri Lanca có viết:
“Tất cả những nghĩa vụ trách nhiệm từ trước đến nay nằm ở chính phủ Vương quốc liênhiệp, phát sinh từ bất kỳ điều ước quốc tế hiện hành nào, từ nay trở đi sẽ chuyển chochính phủ Xri Lanca.Những quyền và ưu đãi tương trợ nhau từ trước tới nay đã đượcchính phủ Vương quốc liên hiệp sử dụng được chính phủ Xri Lanca sử dụng từ nay trở đinhờ có sự áp dụng bất cứ điều ước quốc tế nào nói trên”
Quốc gia Xri Lanca đã ký kết điều ước đặc biệt (Devolution treaty, inheritanceagreement) để giải quyết những vấn đề cụ thể về kế thừa
4 Kế thừa quốc gia khi hợp nhất,sáp nhập hoặc chia - tách, giải thể quốc gia
liên bang; khi thay đổi lớn về lãnh thổ quốc gia
4.1 Kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang
Về vấn đề kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang có thể tómtắt theo bảng sau:
Trang 13Hợp nhất Giải thểGiải thích
từ ngữ
Hợp nhất là sự kết hợp giữa haiquốc gia có địa vị pháp lý ngang
nhau dẫn đến hình thành một quốc gia mới.
Giải thể là một bộ phận của quốc gia
tách ra và có chủ quyền riêng.
Lãnh thổ Quốc gia kế thừa kế thừa toàn bộ
lãnh thổ của quốc gia để lại kếthừa
Kế thừa toàn bộ lãnh thổ trước khiquốc gia hợp nhất
Điều ước
quốc tế
Khi hợp nhất hai hay nhiều quốcgia độc lập vào một quốc gia liênbang thì:
Những ĐƯQT do các quốc giađộc lập đã ký kết với nước ngoài
đang có hiệu lực vẫn tiếp tục có hiệu lực tại lãnh thổ liên bang.
Những điều ước mâu thuẫn vớimục đích và nguyên tắc cơ bảncủa quốc gia liên bang hoặc khiđiều kiện để thực hiện ĐƯ đã kýkết thay đổi hoàn toàn do kết quảcủa việc hợp nhất hay kết quả củanhững hoàn cảnh khách quanngoài ý muốn của các bên thì các
ĐƯ nói trên chỉ có hiệu lực trong phạm vi phần lãnh thổ của quốc gia tham gia điều ước
(chủ thể của liên bang), tức quốc
gia để lại quyền kế thừa Nhưng
cũng không loại trừ trường hợp
ĐƯ nói trên được thi hành trêntoàn lãnh thổ liên bang mới nếucác chủ thể của liên bang đồng ýchấp thuận trường hợp đó
Trong trường hợp ĐƯQT nhiềubên chưa có hiệu lực vào thờiđiểm kế thừa thì quốc gia có
quyền kế thừa có thể thiết lập cho mình một quy chế quốc gia
ký kết ĐƯQT nhiều bên nói trên
nếu vào thời điểm kế thừa có ít
Khi một quốc gia liên bang bị giải thể
ra nhiều phần mà mỗi phần đó lại trởthành quốc gia độc lập thì nhữngĐƯQT do quốc gia liên bang ký kếtvới nước ngoài, nếu chúng đang cóhiệu lực và nếu các quốc gia thỏathuận như vậy vẫn tiếp tục có hiệu lựcthi hành đối với các quốc gia cóquyền thừa kế điều ước nói trên.Trong trường hợp thành lập một quốcgia độc lập trên một phần lãnh thổ củaquốc gia có quyền kế thừa trước đâyvốn là chủ thể của quốc gia liên bang
bị giải thể thì các ĐƯQT do quốc gialiên bang cũng như quốc gia có quyền
kế thừa ký kết với nước ngoài chưa hết hiệu lực vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành đối với quốc gia mới thành lập.
Ngoại lệ: Các ĐƯQT mâu thuẫn với
mục đích và nguyên tắc cơ bản củaquốc gia mới thành lập hoặc nhữngđiều kiện, hoàn cảnh cần thiết để cácđiều ước nói trên có hiệu lực đã thayđổi hoàn toàn
Trang 14 / 46
Downloaded by Quang Tran (quangvaytiennhanh1994@gmail.com)
Trang 14nhất một quốc gia để lại quyền kếthừa (chủ thể của liên bang mới)
ký kết ĐƯQT đó
Tài sản Quốc gia mới có quyền kế thừa
tất cả tài sản của quốc gia thànhviên liên bang
Quốc gia mới có quyền kế thừatheo những tỷ lệ thích hợp phần tàisản của quốc gia liên bang
Thông thường, các vấn đề cụ thểtrong giải quyết khối tài sản của quốcgia liên bang phải được đặt ra tại hộinghị các quốc gia thành viên liênbang và phải được ấn định rõ trongvăn kiện chính thức giữa các quốc giathành viên liên bang trên cơ sở có cânnhắc đến tỷ lệ dân cư, hoàn cảnh địa
lý, điều kiện phát triển kinh tế và một
số cơ sở khác
Quốc tịch Công dân có 2 quốc tịch: quốc
tịch liên bang mới và quốc tịchbang
Trở về quốc tịch trước khi hợp nhất
Quy chế
thành viên Đương nhiên được kế thừa tưcách thành viên Tư cách thành
viên trong các tổ chức quốc tế củaquốc gia bị hợp nhất sẽ xóa bỏ
Thay vào đó chỉ có quốc gia mớitiếp tục có tư cách thành viêntrong tổ chức quốc tế
Liên bang tách ra thành mộtquốc gia độc lập thì các quốc giađương nhiên đựợc hưởng quy chếthành viên của một tổ chức quốc tế
VÍ DỤ:
Hợp nhất:
Điển hình cho trường hợp hợp nhất là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - một Cộnghòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang Quốc gia này đượcthành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Vương quốc Anh nằm dọc theo bờ biển Đại TâyDương Sau khi tự tuyên bố trở thành các “tiểu quốc”, cả 13 cựu thuộc địa đã đưa ratuyên ngôn độc lập vào ngày 04/07/1776 và sau đó là sự chấp thuận “Những điều khoảnliên hiệp” với điều khoản đầu tiên được phát biểu “Tên gọi Liên bang này sẽ là Hợpchủng quốc Hoa Kỳ” Hội nghị liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiệntại vào 17/09/1789 Việc thông qua bản Hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộcđịa trở thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất
Về lãnh thổ
Trang 15Lãnh thổ Hoa Kỳ là do kế thừa lại toàn bộ lãnh thổ của 13 cựu thuộc địa trước đây
và các tiểu bang còn lại Đa số các tiểu bang còn lại đã được thành lập từ những lãnh thổchiếm được qua chiến tranh hay được chính phủ Hoa Kỳ mua lại
VD : tiểu bang Alaska được Hoa Kỳ mua lại từ Nga với giá 7.200.000 đô la Mỹ vàongày 09/04/1867, bang Califorina được thành lập từ cuộc Chiến tranh Mỹ-Mexico (1846-1848)…
Về điều ước quốc tế
+ Hiệp ước Oregon với Anh năm 1846 : Điều ước này nói đến việc Hoa Kỳ kiểm
soát vùng mà ngày nay là Tây Bắc Hoa Kỳ Chiến thắng trong cuộc chiến tranh Mexico –Hoa kỳ năm 1848 đưa đến việc Mexico nhượng lại California và phần nhiều vùng đấtngày nay là Tây Nam Hoa kỳ
+ Điều khoản hợp bang 1777: Trước khi chiến tranh kết thúc, các thuộc địa đã phê
chuẩn những điều khoản hợp bang - một khuôn khổ vì nỗ lực chung của họ Mục tiêu củanhững điều khoản này là xây dựng một liên minh – nhưng là một liên minh lỏng, không
có đồng tiền chung, các bang tự phát hành đồng tiền của riêng mình, không có quân độiquốc gia, nhiều bang có quân đội và hải quân riêng, hầu như không có quyền kiểm soáttập trung với chính sách đối ngoại, các bang trực tiếp đàm phán với nước ngoài, không có
hệ thống thuế khóa và thu thuế ở cấp độ quốc gia
Về kế thừa tài sản quốc gia
Tại điều VI Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 có quy định: “ Mọi khoản nợ đã ký kết vànhững cam kết ký trước khi bản hiến pháp này được thông qua vẫn có hiệu lực đối vớihợp chủng quốc được thành lập theo bản hiến pháp này cũng như với liên minh cũ” Vềvấn đề tài sản thì sau khi các quốc gia hợp nhất trở thành một bộ phận của hợp chủngquốc Hoa Kỳ thì mọi tài sản đó trở thành tài sản của Hoa Kỳ cụ thể như đất đai, nhữngthành quả đã xây dựng được, khoáng sản, sinh vật học…
Về quốc tịch
Các chính phủ tiểu bang và chính phủ liên bang Hoa Kỳ chia sẻ chủ quyền: Mộtngười Mỹ vừa là công dân của tiểu bang lại vừa là công dân của liên bang và đặc biệt tưcách công dân rất linh động và không cần xin phép chính phủ khi di chuyển đến tiểu bangkhác (ngoại trừ các tù nhân đang được tại ngoại)
Về quy chế thành viên
Trang 16 / 46
Downloaded by Quang Tran (quangvaytiennhanh1994@gmail.com)
Trang 16Hoa Kỳ nắm vai trò chủ đạo trong việc thành lập Liên Hiệp Quốc, trở thành thànhviên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và là nơi đóng tổng hành dinh củaLiên Hiệp Quốc Có mối quan hệ đặc biệt với nước Anh và liên hệ chặt chẽ với Úc, TâyBan Nha, Nhật, Israel và các thành viên đồng sự NATO….
Tương tự như Hoa kỳ thì Nga là một nhà nước liên bang bao gồm 83 chủ thể liênbang Các chủ thể này có quyền bình đẳng liên bang với ý nghĩa bình đẳng về đại diện(hai đại biểu của mỗi chủ thể) trong Hội đồng Liên bang (Thượng viện của Nga) Tuynhiên, các chủ thể này khác nhau nhiều về mức độ tự trị Các khu tự trị vừa là một chủthể liên bang với các quyền của mình, đồng thời vừa được coi là đơn vị hành chính củachủ thể liên bang khác (khu tự trị Chukotka là ngoại lệ duy nhất)
Giải thể:
Điển hình là Séc và Slovakia kế thừa Tiệp Khắc.
Vào cuối thế kỉ XIX, Séc và Slovakia là 2 quốc gia độc lập nhưng bị đế chế Áo Hung cai trị Ý tưởng về một quốc gia kết hợp giữa Séc và Slovakia được nhen nhóm đểthoát khỏi đế chế Habsburg Do đó hai vùng đất ngày càng tăng cường quan hệ với nhau.Ngày 28/10/1918 Cộng Hòa Tiệp Khắc tuyên bố độc lập (bao gồm Séc và Slovakia).Hiệp ước St Germain được ký kết vào tháng 9 năm 1919 đã chính thức công nhận nềncộng hòa mới của Tiệp Khắc Quốc gia Tiệp Khắc mới thành lập có dân số khoảng 13,5triệu người, thừa hưởng tới 70 - 80% các cơ sở công nghiệp của Áo - Hung Lúc đó TiệpKhắc là một trong mười nước công nghiệp hóa nhất thế giới
Sau khi nắm quyền, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế,xây dựng một nền kinh tế tập trung Kinh tế tăng trưởng nhanh trong thập niên 1950 vàthập niên 1960, sau đó bắt đầu giảm sút từ thập niên 1970 và rơi vào khủng hoảng trầmtrọng Chính quyền ngày càng thiếu dân chủ Tháng 11 năm 1989, cuộc Cách mạngNhung lụa diễn ra trong hòa bình, đưa đất nước Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ Ngày
1 tháng 1 năm 1993, Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong hòa bình" Hai dân tộc Séc vàSlovakia tách ra, thành lập hai quốc gia mới là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia
Kế thừa về lãnh thổ
Ban đầu, Séc và Slovakia là hai quốc gia độc lập, sau đó hợp nhất lại để cùng chốngchế độ Habsburg nên đã trở thành hai bang trong liên bang Tiệp Khắc, sau khi tách ra lạitrở thành hai nước độc lập
Trang 17+ Cộng hòa Slovakia: nằm ở Trung Đông Âu; phía Đông giáp Ukraine (98km), Tây
giáp cộng hòa Czech (265km), Nam giáp Hungary (679km) và Áo (127km), Bắc giáp BaLan (597km) Diện tích: 49.036km2 Hơn 80% lãnh thổ là đồi núi, tập trung ở miền Bắc
và miền Trung, phía Nam là đồng bằng, đất canh tác nông nghiệp chiếm 30,16%
+ Cộng hòa Séc: là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và không giáp biển Cộng
hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giápSlovakia về phía đông Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số Cộng hòa Séc là10.228.744 người, mật độ dân số khoảng 130 người/km²
Kế thừa về điều ước quốc tế
Sau khi tách thành hai quốc gia độc lập Cộng hòa Slovakia và Cộng hòa Séc kế thừacác điều ước quốc tế cũng như các quan hệ của liên bang Tiệp Khắc cũ Mối quan hệngoại giao giữa Cộng hòa Séc và Việt Nam được duy trì và phát triển từ mối quan hệgiữa Tiệp Khắc và Việt Nam Cộng hòa Séc và Việt Nam đã ký hiệp định thư về kế thừacác điều ước quốc tế cũng như các quan hệ của Liên bang Tiệp Khắc cũ
Kế thừa quan hệ hữu nghị vốn có,Việt Nam và Slovakia thỏa thuận tiếp tục thựchiện một số hiệp định ký từ thời Slovakia còn là liên bang Tiệp Khắc
Kế thừa về tài sản
Hầu hết tài sản liên bang chia theo tỉ lệ 2:1(tỉ lệ khoảng giữa dân Séc và Slovakia)bao gồm trang thiết bị quân đội, cơ sở hạ tầng, đường sắt và máy bay chở khách (chiatrên sự cân nhắc đến tỉ lệ dân cư, hoàn cảnh địa lý, điều kiện phát triển kinh tế và một số
cơ sở khác)
Kế thừa về quốc tịch
Đối với công dân của cả hai nước Séc và Slovakia, họ có thể tự động được cấp bất
kì của cả hai quốc tịch theo ý muốn của họ
Về quy chế thành viên
Sau khi lại trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1993,Quốc hội Cộng hòa Sécquyết định giữ lá cờ của Tiệp Khắc làm lá cờ của nước Cộng hòa Séc Cùng năm đó,nước này gia nhập Liên Hợp Quốc, nước này kế thừa Tiệp Khắc về mặt pháp lý nên dĩnhiên được coi là thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 02/02/1950
Trang 18 / 46
Downloaded by Quang Tran (quangvaytiennhanh1994@gmail.com)
Trang 184.2 Kế thừa quốc gia trong trường hợp sáp nhập, chia-tách quốc gia
Ví dụ: điển hình trong trường hợp kế thừa quốc gia khi sáp nhập là Cộng hòa liên
bang Đức(CHLBĐ) Nước Đức ngày nay vốn là sáp nhập của Cộng hòa dân chủ Đức vàCộng hòa liên bang Đức Ngày 23/8/1989, Quốc hội Cộng hòa dân chủ Đức quyết địnhlãnh thổ của quốc gia này sẽ được đặt dưới hệ thống pháp luật của CHLBĐ kể từ ngày3/10/1990 Trước đó, CHLBĐ là thành viên của Hội đồng Châu Âu từ năm 1950, thamgia Hiệp ước Roma năm 1957 và là thành viên của khối NATO từ năm 1955 Như vậy,khi sáp nhập vào CHLBĐ thì Cộng hòa dân chủ Đức mặc nhiên tham gia vào các tổ chứcnày và cũng không có quyền tham gia hay không Biểu hiện của sự kế thừa cụ thể nhưsau:
Về lãnh thổ và quốc tịch: Quốc hội Cộng hòa dân chủ Đức quyết định lãnh thổ của
quốc gia này sẽ được đặt dưới hệ thống pháp luật của CHLBĐ kể từ ngày 3/10/1990 sau
sự sụp đổ của Bức tường Berlin ngày 9/11/1989 đã chấm dứt sự tồn tại của quốc gia này
Kể từ điểm này, nước Đức khôi phục lại được hoàn toàn chủ quyền lãnh thổ và mọi côngdân Đức đều mang quốc tịch nước CHLBĐ
Về tài sản và nợ: dựa theo Công ước viên 1978 kế thừa tài sản và công nợ khi sáp
nhập Hai nhà nước Đức đã thỏa thuận vấn đề kế thừa về tài sản và công nợ quy định
Trang 19trong Hiệp ước Thống nhất Trên cơ sở đó, CHLBĐ thừa kế tất cả tài sản và trách nhiệmpháp lý của Cộng hào dân chủ Đức.
Về điều ước quốc tế: có sự kế thừa về điều ước hạn chế và điều ước đa phương Cụ
thể: về điều ước hạn chế, Hiệp ước giữa Ba Lan và Cộng hòa dân chủ Đức về sông Oderngày 6/2/1952 sẽ tiếp tục được áp dụng khi sáp nhập và để chứng minh có vấn đề này làHiệp ước Warsaw ngày 7/12/1970 được ký kết giữa CHLBĐ với Ba Lan theo đó CHLBĐcông nhận trong Hiệp ước đường Oder- Neisse là đường biên giới phía đông giữa hainước đồng thời khẳng định các bên không thể xâm phạm đến các đường biên giới đangtồn tại trong hiện tại và tương lai Còn về kế thừa điều ước đa phương thể hiện ở việcĐức nhất trí áp dụng nguyên tắc biên giới di chuyển để không gây ra khó khăn trong việccoi Đức là thành viên của Liên minh Châu Âu
4.2.2 Chia, tách một bộ phận lãnh thổ của quốc gia thành quốc gia độc lập
Về kế thừa lãnh thổ: khi chia, tách một bộ phận lãnh thổ của quốc gia thành một
quốc gia độc lập thì vấn đề kế thừa lãnh thổ sẽ thông qua điều ước quốc tế được ký kếtgiữa quốc gia kế thừa và quốc gia nhận kế thừa
Về kế thừa quốc tịch: công dân được lựa chọn quốc tịch cho mình.
Về kế thừa tài sản: theo thỏa thuận thông qua điều ước quốc tế.
Về kế thừa quy chế thành viên: quốc gia được tách ra từ bộ phận lãnh thổ của quốc
gia khác sẽ không đương nhiên trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế mà phải xinkết nạp thành viên của các tổ chức đó
Về kế thừa điều ước quốc tế: điều ước quốc tế mà phù hợp với nguyện vọng của
quốc gia kế thừa và cũng như các bên tham gia điều ước còn lại thì vẫn sẽ có hiệu lực đốivới quốc gia kế thừa, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác khiến quốc gia kếthừa không đáp ứng đủ điều kiện là thành viên của điều ước
Ví dụ: điển hình là quốc gia Đông Timor tách ra khỏi Indonesia vào năm 2002.
Trang 20 / 46
Downloaded by Quang Tran (quangvaytiennhanh1994@gmail.com)
Trang 20Kế thừa lãnh thổ: khi tách khỏi Indonesia, lãnh thổ của Đông Timor gồm phần ĐôngBắc và một vùng nhỏ phía Tây của đảo Timor và hai đảo nhỏ phụ cận là CamBinh vàGiaCô.
Kế thừa về quốc tịch: Sau khi tách, người dân sinh sống trên lãnh thổ Đông Timor
có quyền giữ quốc tịch Indonesia hoặc đổi sang quốc tịch mới nhưng không được cóđồng thời hai quốc tịch Song quy định là vậy nhưng trên thực tế hiện nay phần lớn ngườidân Đông Timor theo đạo Hồi nên đa số là chưa có quốc tịch
Kế thừa về tài sản: Đông Timor và Indonesia thỏa thuận với nhau bằng điều ướcquốc tế về vấn đề tài sản
Kế thừa về điều ước quốc tế: Những ĐƯQT mà Indonesia đã ký kết trước khi ĐôngTimor tách ra thì Indonesia vẫn phải tiếp tục thực hiện nhưng Đông Timor không nhấtthiết phải thực hiện các điều ước quốc tế đó
Kế thừa về quy chế thành viên: Đông Timor phải xin kết nạp thành viên nếu muốn
là thành viên của các tổ chức quốc tế Như Indonesia đã là thành viên của ASEAN nhưngĐông Timor không phải mặc nhiên là thành viên của ASEAN khi tách ra khỏi Indonesiađược Nước Cộng hòa dân chủ Đông Timor chính thức là thành viên thứ 191 của LienHợp Quốc ngày 27/9/2002 sau khi tuyên bố độc lập ngày 20/5/2002, là thành viên thứ 84của IMF và WB, là thành viên thứ 61 của ADB và hiện nay, Đông Timor đang vận độngxin gia nhập ASEAN vào năm 2015
4.2.3 Kế thừa trong trường hợp có thay đổi lớn về lãnh thổ.
Khi có thay đổi lớn về lãnh thổ phù hợp với luật quốc tế hiện đại hoặc khi chuyểnnhượng một phần lãnh thổ hay sáp nhập phần lãnh thổ của một quốc gia này vào lãnh thổcủa quốc gia khác theo các ĐƯQT về chuyển nhượng hay sáp nhập cụ thể, người ta
thường áp dụng nguyên tắc di chuyển đường quốc giới theo thỏa thuận giữa các bên hữu
quan
Nội dung nguyên tắc:
Trang 21- Các ĐƯQT của quốc gia để lại quyền kế thừa sẽ mất hiệu lực thi hành tại lãnh thổ này
từ thời điểm chuyển giao lãnh thổ đó cho quốc gia khác
- Các ĐƯQT của quốc gia có quyền kế thừa sẽ có được hiệu lực thi hành tại lãnh thổ Điều ngoại lệ ở đây có thể là ĐƯQT của quốc gia có quyền thừa kế mâu thuẫn với mục
đích thay đổi lãnh thổ hay trái với chính sách của quốc gia để lại quyền kế thừa hoặc khiphạm vi cam kết theo các ĐƯQT hay các điều kiện cần thiết để thực hiện các diều ước đó
đã thay đổi hoàn toàn
Trang 22 / 46
Downloaded by Quang Tran (quangvaytiennhanh1994@gmail.com)
Trang 22PHẦN 2 THỰC TIỄN KẾ THỪA QUỐC GIA Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU
THẾ KỈ XX ĐẾN NAY
1 Sơ lược về lịch sử và cơ sở kế thừa quốc gia ở Việt Nam
1.1 Sơ lược lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến nay
Từ đầu thế kỉ XX đến nay Việt Nam đã trải qua các phong trào đấu tranh giải phóngdân tộc, bảo vệ đất nước dẫn đến những biến đổi quan trọng trong xã hội Việt Nam, thậmchí là thay đổi tư cách chủ thể của đất nước trên trường quốc tế
Theo các tài liệu lịch sử đã ghi lại, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế
kỷ XIX có nhiều biến động Năm 1858, Pháp đã nổ tiếng súng đầu tiên vào bán đảo SơnTrà – Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc viễn chinh tại các quốc gia vùng Đông Nam Á Do thếlực còn non yếu nên đã thất bại và từ đó dẫn tới việc kí kết hai Hòa ước Nhâm Tuất ngày5/6/1862 và Giáp Tuất ngày 16/3/1874 buộc triều đình nhà Nguyễn cắt 6 tỉnh Nam kỳcho Pháp, bao gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiêncùng đảo Côn Lôn Đến cuối thế kỷ XIX, Pháp đã chiếm được toàn bộ Đông Dương,riêng ở Việt Nam thì Bắc Kỳ, Trung Kỳ về danh nghĩa vẫn duy trì theo các thể chínhchính trị và hành chính của nhà Nguyễn, và được Pháp xem là đất của họ bảo hộ
Vào đầu thế kỷ XX, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ (1914) nhằm lập lại trật
tự thế giới mới Theo Báo dư luận tháng 8/1914 toàn quyền Đông dương đã tuyên bố:
“nhiệm vụ chủ yếu của Đông dương là phải cung cấp cho chính quốc tối đa nhân lực, vật lực, tài lực” đã chứng tỏ ý đồ của Pháp đối với kinh tế đối với Đông Dương nói chung và
Việt Nam nói riêng là: vơ vét của cải để gánh đỡ những tổn thất và thiếu hụt của Pháptrong chiến tranh Và chính sách thống trị của Pháp đã khiến cho dân chúng Đông Dươnghết sức phẫn nộ Mặc dù sự tác động của chiến tranh và những chính sách khai thác, bóclột ráo riết của thực Pháp đã làm cho nền kinh tế, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến,song nó không đủ để tạo ra một bước ngoặt lớn đối với phong trào yêu nước chống Phápcủa nhân dân ta