TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDIĐẾN SỰ GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM Tóm tắt: Thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thường được coi là chất xúc tác tạo thuận lợi ch
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
KHOA KINH TẾ
BÁO CÁO CUỐI KỲ HỌC PHẦN DỰ BÁO KINH TẾ VÀ PHÂN TÍCH
DỮ LIỆU
LỚP: IEC03
MÃ HỌC PHẦN: 22D1ECO50112003
THÀNH VIÊN NHÓM:
- Trần Lê Trâm_Mssv: 31201024461
- Lâm Anh Thư_Mssv: 31201020564
- Trịnh Thị Trà My_Mssv: 31201022530
- Phạm Tiến Thành_Mssv: 31201020533
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: GV_Nguyễn Hoàng Bảo
Trang 2TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
ĐẾN SỰ GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM
Tóm tắt:
Thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường được coi là chất xúc tác tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và hội nhập của các quốc gia đối với nền kinh tế thế giới Bài nghiên cứu xem xét tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 1990-2017 Dựa vào kiểm định đồng liên kết Johansen và mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) cho thấy có mối quan hệ lâu dài giữa các biến
số này Các biến số đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động đáng kể đến tốc độ tăng trưởng GDP ở Việt Nam Kết quả cho thấy FDI thực sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Trang 3Phần mở đầu:
Thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang là một trong những hoạt động kinh tế phát triển nhanh nhất trên toàn cầu Trong những năm gần đây, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên quan đến phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, nhiều dự án FDI đã có tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, tác động lan tỏa tích cực của FDI cũng bị hạn chế Thông qua số liệu thống kê mô tả dựa trên dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ một số tác động tích cực và hạn chế của Việt Nam trong thu hút FDI giai đoạn qua, từ đó đề xuất các giải pháp, tận dụng các tác động tích cực và các biện pháp hạn chế rủi ro kinh tế tiềm ẩn trong thu hút FDI và đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế Trên cơ sở đó giúp Việt Nam nhận diện được mức
độ và chiều hướng tác động của các biến số nhằm đưa ra các chính sách phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Danh sách các từ viết tắt:
- ADF: Augmented Dickey - Fuller
- PP: Phillips-Perron
- AIC: Akaike Information Criterion
- FDI: Foreign Direct Investment
- GCF: General Collateral Financing
- GDP: Gross Domestic Product
- WTO: World Trade Organization
Trang 4Mục lục:
I GIỚI THIỆU 4
1. Các nghiên cứu trước đây 4
2. Lý thuyết 4
II TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 6
III DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1. Dữ liệu và mô hình : 8
2. Phương pháp nghiên cứu : 10
IV KẾT QUẢ MÔ HÌNH VÀ PHÂN TÍCH, THẢO LUẬN 10
1. Kiểm định tính dừng : 10
2. Độ trễ tối ưu : 11
3. Kiểm định vecto đồng kết hợp : 11
4. Mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) 12
5. Kiểm định chẩn đoán : 13
V. KẾT LUẬN VÀ ĐƯA RA CHÍNH SÁCH THÍCH HỢP 14
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 5I Giới thiệu
FDI là một trong những chủ đề nghiên cứu được nhiều chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm FDI không chỉ là nguồn lực để tăng trưởng kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội Vì vậy, ở Việt Nam và cả trên thế giới, các nghiên cứu liên quan đến FDI luôn chiếm tỷ trọng lớn Việc nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài không còn giới hạn ở chính sách tăng, giảm vốn, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài như một số nước đang phát triển mà Việt Nam còn nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu Các công trình nghiên cứu về FDI rất
đa dạng, từ các nguồn vốn FDI, các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI, tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI đến nền kinh tế xã hội cho đến hiệu quả thu hút FDI của một
số nước, sự liên kết giữa doanh nghiệp nước nhận đầu tư với doanh nghiệp đầu tư cũng như FDI trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tự do hóa thương mại Ở Việt Nam hiện nay ta quan tâm nhiều đến những tác động lan tỏa của FDI đến kinh tế xã hội của đất nước, tuy nhiên những nghiên cứu về vấn để này chưa nhiều Trên thế giới, các tác động lan tỏa của FDI đã được nghiên cứu khá nhiều, đặc biệt ở một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia Những nghiên cứu về FDI hay thu hút FDI đến hiện nay có thể kể ra một vài nghiên cứu tiêu biểu:
Vai trò của FDI, các nhân tố ảnh hưởng đến FDI và chính sách thu hút FDI
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Ví dụ, Nguyễn Phi Lan (2006) cho rằng FDI và tăng trưởng kinh tế là những yếu
tố quan trọng quyết định ảnh hưởng lẫn nhau ở Việt Nam Nghiên cứu này cũng kết luận rằng mối quan hệ giữa FDI và đầu tư trong nước tại Việt Nam là bổ sung cho nhau Nghiên cứu của Lê Việt Anh (2007) cho thấy tầm quan trọng của FDI đối với tăng trưởng kinh tế và năng suất Tác giả cho rằng cần có các biện pháp để thu hút nhiều vốn FDI hơn
Một nghiên cứu khác cũng tập trung vào tác động của FDI, Phạm Xuân Kiên (2008),
cho thấy tác động lan tỏa của FDI đến năng suất lao động ở Việt Nam là tích cực và rất
rõ rệt Tác giả cũng nêu rõ vai trò quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam
Gần đây, nghiên cứu của Hoàng Chí Cường và cộng sự (2013) củng cố kết quả của
Phạm Xuân Kiên (2011) về tác động của WTO đối với dòng vốn FDI vào Việt Nam.
Các tác giả sử dụng Gravity Model, sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 1995-2011 từ 18 đối tác đầu tư nước ngoài quan trọng của Việt Nam và phương pháp ước lượng Hausman-Taylor (1981) Kết quả ước lượng cho thấy, như dự đoán, WTO có tác động lớn đến dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam Trong khi đó, không có bằng chứng thuyết phục rằng các hiệp định thương mại song/đa phương mà Việt Nam đã gia nhập hoặc ký kết gần đây thúc đẩy dòng vốn này vào Việt Nam
Trang 6Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản
lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, chuyển giao công nghệ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác diễn ra giữa các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ
Ảnh hưởng của FDI
Sự tồn tại của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hơn 30 năm qua đã giúp “thay đổi” nền kinh tế Việt Nam Các tác động trực tiếp có thể có là:
Bổ sung các nguồn chủ yếu đầu tư phát triển: Cơ cấu vốn đầu tư gần đây đã chuyển sang tăng tỷ trọng khu vực tư nhân (ưu tiên) và giảm tỷ trọng đầu tư khu vực tư nhân (khu vực đầu tư chủ yếu)
- Đóng góp vào tăng trưởng GDP và doanh thu của Chính phủ: FDI đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Tỷ trọng đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào tổng sản phẩm quốc nội tăng từ 9,3% năm
1995 lên 16,9% năm 2008 và 19,6% năm 2017 Tỷ trọng thu ngân sách của Chính phủ
từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng lên đáng kể từ 1,8 tỷ USD năm 1994-2000, 23,7 tỷ USD từ năm 2011 đến 2015 Nó chiếm gần 14% tổng thu ngân sách nhà nước Riêng năm 2017, khu vực đầu tư nước ngoài đã đóng góp hơn 8
tỷ USD vào ngân sách nhà nước, chiếm 17,1% tổng thu ngân sách của Chính phủ Tăng tỷ trọng xuất khẩu: Kết quả xuất khẩu đáng chú ý của Việt Nam trong những năm gần đây đã hình thành dấu ấn đậm nét của các công ty FDI Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này đã tăng từ dưới 50% tổng doanh thu trước năm 2003 lên hơn 60% vào năm 2012 và vẫn vượt quá 70% vào năm 2015
- Sự hiện diện của các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tạo ra áp lực, buộc các công ty trong nước phải đổi mới công nghệ, cải tiến sản xuất, nâng cao hiểu biết về thị trường xuất khẩu, củng cố quan hệ thương mại và nâng cao sản xuất Lợi thế vượt trội về vốn và công nghệ của các tập đoàn đa quốc gia gây áp lực lớn lên thị phần xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các tập đoàn trong nước Hơn nữa, vị thế của các công ty FDI trong xuất khẩu của Việt Nam là rất lớn theo quan điểm kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, tình trạng này cũng tạo ra sự bất ổn
Trang 7về xuất khẩu, do sản xuất và xuất khẩu của khu vực FDI phụ thuộc nhiều vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu
Đóng góp vào năng suất lao động: Về lý thuyết, dòng vốn FDI tỷ lệ nghịch với năng suất lao động của nước sở tại, nhưng nó có tác động tích cực đến năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp trong nước Nó có tiềm năng tích hợp các công nghệ mới để cung cấp kiến thức và đầu vào cho khu vực FDI Ngược lại, năng suất lao động cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tạo ra sự lan tỏa về công nghệ: FDI đã tạo ra sự lan tỏa về công nghệ Điều này sẽ giúp nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản
lý cho người dân Việt Nam, tạo áp lực cạnh tranh và đổi mới cho các công ty trong nước
II Tình hình kinh tế và vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam
Năm 2017, nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP là 6,7% (mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm), Kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng của châu Á Kết quả cho thấy một bước chuyển động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam từ dựa vào khai thác tài nguyên sang dựa vào sự cải cách, tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, từ tăng trưởng nóng sang tăng trưởng xanh, bền vững Một trong những yếu tố tác động và góp phần giúp kinh tế tăng trưởng mạnh, ổn định, bền vững không thể không kể đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dòng vốn đặc biệt quan trọng cho tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần bổ sung vốn, công nghệ, năng lực quản lý, khả năng kinh doanh, khả năng tổ chức và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu
2017 – năm của những kỷ lục mới về FDI
Trong năm 2017, đã có 115 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Năm 2017, FDI vào Việt Nam đạt gần 36 tỷ USD - mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tính đến ngày 20/12/2017, tổng vốn FDI vào Việt Nam, bao gồm vốn đăng
ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 35,88 tỷ USD, tăng 44,4% so với cùng kỳ năm 2016
Trong khu vực ASEAN, từ năm 2015, Việt Nam đã vượt qua Malaysia để trở thành nước có nguồn vốn FDI lớn thứ 3 trong khu vực, chỉ sau Singapore và Indonesia Việt Nam cũng là số ít nước ASEAN vẫn duy trì mức tăng trưởng dòng vốn FDI ổn định qua nhiều năm Điều này cho thấy Việt Nam vẫn có sức hút đáng kể đối với các dòng vốn FDI nước ngoài trước những biến động của tình hình đầu tư thế giới
Các số liệu trên cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đã coi Việt Nam là điểm đến đầu
tư an toàn, thể hiện niềm tin về môi trường đầu tư kinh doanh
Vai trò của FDI đối với sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trang 8Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gắn với phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam những năm gần đây Trong quá trình hội nhập và phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, bổ sung vào nguồn vốn đầu tư phát triển, tăng thu ngân sách, thúc đẩy xuất khẩu và nhiều lĩnh vực quan trọng khác
kinh tế, quản trị doanh nghiệp
chủ lực
tỷ trọng hàng chế tạo có giá trị tăng cao
Tác động tiêu cực của FDI
Những đóng góp của khu vực FDI đối với kinh tế - xã hội Việt Nam là không thể phủ nhận, tuy nhiên, bên cạnh đó, dòng vốn này cũng đang đặt ra một số vấn đề tồn tại cần phải nghiêm túc nhìn nhận, cụ thể:
có thể bị thay đổi do khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư thường có các biện pháp vận động quan chức địa phương theo hướng có lợi cho mình
đi đầu tư những công nghệ thiết bị lạc hậu không phù hợp với nền kinh tế gây ô nhiễm môi trường
ngoài mà không theo ý muốn của nước tiếp nhận Do vậy việc bổ trí cơ cấu đầu tư sẽ gặp khó khăn sẽ tạo ra sự phát triển mất cân đối giữa các vùng
doanh nghiệp trong nước bị phá sản hay ảnh hưởng tới cán cân thanh toán quốc tế do
sự di chuyển của các luồng vốn cũng như luồng hàng hoá ra vào trong nước
nhận thường bị thua thiệt, thất thu thuế hay các liên doanh sẽ phải chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do các vấn đề chuyển nhượng giá nội bộ của các công ty này
Trang 9Chính vì vậy, nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, FDI có thể dẫn đến đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên có thể bị khai thác bừa bãi và sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
III Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
1 Dữ liệu và mô hình:
Dữ liệu được sử dụng trong bài là những số liệu hàng năm bao trùm trong giai đoạn 1990-2017 mục đích kiểm tra mối quan hệ đồng thời liên kết giữa GDP, FDI và thương mại quốc tế xen kẽ trong dài hạn đối với trường hợp của Việt Nam Biến phụ thuộc của nghiên cứu là Tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP thực tế (G) và các biến độc lập
là đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), là tổng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được đo bằng tỷ trọng của sản phẩm quốc nội, Trade (TR) là tổng của xuất khẩu
và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ được đo bằng một phần của tổng sản phẩm quốc nội
và tích lũy tài sản cố định gộp (GCF) Ngoài ra, dữ liệu được lấy từ báo cáo của Ngân hàng Thế giới Bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, đầu
tư trực tiếp nước ngoài và thương mại quốc tế theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế, đầu
tư trực tiếp nước ngoài và thương mại quốc tế theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh và
nó cũng tuân theo nghiên cứu của Athukorala (2003) dựa trên phương trình sau:
� = �(���,��,���)
Mô hình nghiên cứu:
Phương trình trên có thể được chuyển đổi thành một hàm tuyến tính:
Trong đó:
- �� là sai số ngẫu nhiên, được giả định là phân phối độc lập và có phân phối chuẩn
- G: tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP (%)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tốc độ tăng trưởng bình quân
Tổng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Tích lũy tài sản
cố định gộp
Trang 10- FDI: là tỷ lệ phần trăm của tổng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài so với tổng sản
phẩm quốc nội
- TR: là tổng của xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ được đo bằng một phần
của tổng sản phẩm quốc nội (%)
- GCF: tích lũy tài sản cố định gộp (% GDP)
Để thực hiện thiết kế theo thực nghiệm, bản chất của phân phối dữ liệu được kiểm tra bằng cách sử dụng các thống kê mô tả (trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, độ lệch -skewness và độ nhọn - kurtosis) trong khi tính chuẩn của phân phối dữ liệu được xác định bằng kiểm định Jarque Bera Thuộc tính chuỗi thời gian của từng biến được nghiên cứu thông qua kiểm định Augmented Dickey - Fuller (ADF) cho nghiệm đơn vị theo Dickey và Fuller (1981) Kiểm định Phillips - Perron (PP) cũng được sử dụng để xác nhận kiểm định ADF Đẳng thức chung của kiểm định ADF và PP được ước tính theo công thức sau:
Trong đó:
- Y: chuỗi thời gian
- t: xu hướng thời gian tuyến tính
- ∆: toán tử sai phân bậc 1
- �0: hằng số
- n: số độ trễ tối ưu trong biến phụ thuộc
- ��: thuật ngữ lỗi ngẫu nhiên
Để giải quyết vấn đề hồi quy giả mạo và vi phạm các giả định của mô hình hồi quy cổ điển, phân tích đồng liên kết được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ lâu dài giữa lnG, lnFDI, và lnTR Johansen - Juselius (1988, 1992) đã đề xuất một phương pháp để kiểm tra đồng kết hợp bằng cách xem xét p biến số trong mô hình vecto tự điều chỉnh biến như sau:
các sai số mất cân bằng trong phương trình (4) tạo thành chuỗi thời gian dừng và có
Trạng thái cân bằng dài hạn có thể hiếm khi được quan sát nhưng có xu hướng di chuyển về trạng thái cân bằng Do đó, mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) được
sử dụng để thể hiện mối quan hệ lâu dài (tĩnh) và ngắn hạn (động) giữa FDI và các biến khác Theo đó, mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) phù hợp để ước tính tác động của FDI đối với các biến khác, đặc biệt lầ tác động của GDP đối với FDI Do đó, phương trình đại diện cho mô hình tự điều chỉnh như sau:
Trong đó: