1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

công nghệ thành lập bản đồ địa chính dành cho lớp cao học và đại học

102 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TS LÊ VĂN THƠ TẬP BÀI GIẢNG BỘ XÂY DỰNG 1 BỘ XÂY DỰNG Số 052011TT BXD CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 2011 THÔNG TTHÁI NGUYÊN, 2015 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG Đ.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-TS LÊ VĂN THƠ

TẬP BÀI GIẢNG CÔNG NGHỆ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH

(Dành cho Cao học ngành Quản lý đất đai)

THÁI NGUYÊN, 2015

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-TS LÊ VĂN THƠ

TẬP BÀI GIẢNG CÔNG NGHỆ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH

(Dành cho Cao học ngành Quản lý đất đai)

THÁI NGUYÊN, 2015

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-TS LÊ VĂN THƠ

TẬP BÀI GIẢNG CÔNG NGHỆ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH

(Dành cho Cao học ngành Quản lý đất đai)

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 2

CHƯƠNG IKHÁI QUÁT VỀ ĐỊA CHÍNH VÀ BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH

1.1 Địa chính

1.1.1 Nguồn gốc phát sinh của địa chính

Từ xa xưa, con người đã biết khai thác sử dụng tài nguyên đất, cùng vớiquá trình phát triển của xã hội, việc sử dụng đất lâu dài đã nảy sinh vấn đềquan hệ giữa con người với con người liên quan đến đất đai, đặc biệt là v ấn đềchiếm hữu và sử dụng đất, vấn đề phân phối và quản lý đất

Để đảm bảo việc thực hiện quyền sở hữu đất, quyền sử dụng đất mà đođạc địa chính, quản lý địa chính và quản lý đất đai ra đời và phát triển khôngngừng trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật.Lịch sử của địa chính trên thực tế trùng hợp với lịch sử và kinh tế của mỗi dântộc và mỗi quốc gia

Ngay từ thuở sơ khai của xã hội loài người, vấn đề sở hữu đất đai đãgiữ một vai trò cốt lõi, nó đã từng là một trong những yếu tố chủ yếu tạo nêncủa cải và sự giàu có của mỗi cá nhân Vì vậy mà các cộng đồng đã sớm nghĩ

ra cách thu lại một phần từ loại của cải dễ đạt được này Đó chính là điểmkhởi đầu của thuế đất Để đảm bảo phân bổ đúng đắn phần thu này, rõ ràngcần biết diện tích và giá trị đất, tức là phải mô tả và đánh giá đất

Việc sở hữu ruộng đất tất yếu còn kéo theo vấn đề chuyển nhượng,thừa kế và phân chia đất Khi đó việc mô tả các khoảnh đất sở hữu của mỗi cáthể cũng như sự hiểu biết chắc chắn diên tích và đường biên của chúng giữmột vai trò đặc biệt quan trọng

Mặt khác, ngoài lí do thuế khoá nói trên, các nhà cầm quyền bao giờcũng muốn biết chính xác khoảng trời đất thuộc quyền cai trị hoặc quản lí củamình, vì vậy tự thấy cần phải đo đạc địa chính Những điều đó là lời giải thích

về mối quan hệ chặt chẽ giữa lịch sử, địa lý và các hệ thống địa chính

Ngày nay, chúng ta đã biết khá rõ lịch sử phát triển của địa chính thôngqua các tư liệu khảo cổ học Người ta đã tìm thấy những khoanh vùng chiếmhữu đất làm nông nghiệp ngay từ cuối thời kỳ đồ đá mới Phương tiên để phânchia đất tương đối cố định đó là các hàng rào, bờ giậu và hào đào

Từ thời xa xưa địa chính đã thực sự được nhiều dâ n tộc sử dụng Ở AiCạp đã từng có loại thuế đất nộp bằng sản phẩm được tính theo diện tích đất

và sản phẩm thu được từ các trang trại Bảng kê này xuất hiên từ khoảng3200-2800 năm trước Công nguyên Nó còn được dùng làm cơ sở tính toán

Trang 3

tái lập các sản nghiệp và công bố quyền sở hữu đất đai các trang trại sau mỗilần lũ lụt của sông Nin.

Như vậy đây là loại địa chính có chức năng kép: Vừa mang tính điền địa vừamang tính phục vụ thuế ruộng đất

Thời kỳ sau đó, người Arập, người Hy Lạp…đã thực hiện việc phâ nchia, chiếm hữu đất đai, đặc biệt là các vùng đất chinh phục được ở TrungĐông, Bắc Phi Đất đai được chia lô, đo đạc chính xác và đánh dấu rõ ràng.Quyền sở hữu đất được xác định đối với các lô đất và tiên hành phân chia củacải và các tài sản thừa kế g iữa các bộ lạc và các gia đình

Nền địa chính với những đường nết hình học nghiêm ngặt và chính xácnày là công cụ tuyệt vời giúp việc quy hoạch lãnh thổ Nó được vận dụng nhưmột công cụ đa năng: Phân chia đất đai thành hạng, loại, xác định khoanh lô,giới hạn khu vực sở hữu, thực hiện việc kiểm kê nguồn lực kinh tế xâm chiếmđược, do đó kiểm tra được cả dân cư sinh sống tại đó Nó còn là khung lýtưởng để theo đó mà thu thuế Các phương pháp đo đạc đất đai ra đời, các loại

sổ sách quản lý đất được xây dựn g để lưu trữ các thông tin như diên tích, loạiđất, chất lượng đất cùng với tên của điền chủ hoặc người định cư trên đó

Ngày nay, người ta vẫn còn chưa thật chắc chắn thuật ngữ địa chính mà

tiếng Anh, tiếng Pháp gọi là cadastra Một số người cho rằng từ n ày có lẽ bắt

nguồn từ chữ La tinh Capitastra mà ở Rôma thời cổ đại dùng đẻ chỉ những sổ

sách, trong đó có những bản kê khai tài sản kèm theo những chỉ dẫn về cácchủ sở hữu của chúng Cũng có những tài liệu cho rằng nó bắt nguồn từ chữ

Latinh Caput hàm nghĩa là đối tượng thuế khoá, hoặc chữ Caputstrum là đối

tượng đăng ký thuế khoá

Trong các tài liệu hiện nay ta còn gặp cụm từ tiếng Anh Landadministration hay Land tenue administration cũng được hiểu là địa chính

1.1.2 Khái niệm địa chính

Theo truyền thống, địa chính được xem như là “trạng thái hộ tịch củaquyền sở hữu đất đai”,nhưng khái niệm này được tiến hành theo thời gian.Ngày nay có thể hiểu địa chính là tổng hợp các tư liệu và văn bản xác định rõ

vị trí, ranh giới, phân loại, số lượng, chất lượng của đất đai, quyền sở hữu, sửdụng đất và những vật kiến trúc phụ thuộc kèm theo

Lúc ban đầu địa chính nhằm mục đích chủ yếu là thu thuế Ngày nay nókhông chỉ là đăng ký các đối tượng thuế khoá mà còn bao gồm cả đăng kýquyền sở hữu quyền sử dụng đất, các số liệu thống kê diện tích các loại đất,phân hạng đất ước tính giá đất Để có cơ sở cho việc điều tra thu thập , tổnghợp các tư liệu trên thì nhất thiết phải tiến hành đo vẽ bản đồ địa chính

Trang 4

Việc quản lý địa chính sẽ bao gồm trách nhiệm thành lập, cập nhật vàbảo quản các tư liệu địa chính Khi công nghệ thông tin phát triển, ngươi ta sửdung máy tính để lập cơ sở dữ liệu địa chính và hệ thống thông tin đất đaihiện đại ra đời, nó trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho quản lý địa chính.

Do có tính không gian và tinh pháp lý cao nên đòi hỏi tư liệu địa chínhphải chính xác, có tính liên tục và quan hệ chặt chẽ với đo đạc địa chính.Người ta khẳng định nếu không có đo vẽ địa chính đẻ làm cơ sở trong yếu thìkhông thể nói đến địa chính, vì vậy địa chính và đo đạc địa chính tuy là hai

vị trí, kích thước, diện tích, chất lượng các thửa đất trong các đơn vị hànhchính và các yếu tố địa lý có liên quan trong một hệ toạ độ thống nhất Bản đồđịa chính được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại.đảm bảo cung cấp các thông tin không gian của đát đai cho công tác quản lý.Bản đồ địa chính thường xuyên được cập nhật các thông tin về sự thay đổihợp pháp của đất đai, việc cập nhật tiến hành và theo định kỳ

b Chức năng tư liệu

Địa chính là nguồn cung cấp tư liệu phong phú đất đai, các công trìnhgắn liền với đất, hạng đất, thuế…Đó là các tư liệu dạng bản đồ, sơ đồ và cácvăn bản.Tư liệu này phục vụ cho các yêu cầu của cơ quan nhà nước và nhândân Các tư liệu này thường thông qua ba quá trình:

- Xây dựng tư liệu ban đầu

- Cập nhật tư liệu khi có biến động

- Cung cấp tư liệu

c Chức năng pháp lý

Đây là chức năng cơ bản của địa chính Sau k hi có đủ tư liệu xác địnhhiện trạng và nguồn gốc đất đai, thông qua việc đăng ký va chứng nhận thì tưliệu địa chính có hiệu lực pháp lý và là cơ sở pháp lý về quyền sở hữu, quyền

sử dụng đất đai và bất động sản Chức năng pháp lý có hai tính chất:

-Tính đối vật: đó là nhận dạng xác định về mặt vật lý của đất và tàisản

Trang 5

-Tính đối nhân:nhận biết quyền sở hữu , quyền sử dụng và các quyềnlợi của chủ đất.

d Chức năng định thuế

Đây là chức năng nguyên thuỷ và cơ bản của địa chính Trước hết lànhận dạng vị trí, ranh giới, sau đó là xác định nội dung, đánh giá, phân hạng,định giá nhà đất, xác định mức thuế, tính toán các khoản thuế

1.1.4 Phân loại địa chính

a Phân loại theo giai đoạn phát triển của địa chính

- Địa chính thu thuế: đó là việc đăng ký địa chính để phục vụ cho tínhthuế mà các nước tư bản lập ra từ thời kỳ đầu

- Địa chính pháp lý: đó là đăng ký địa chính mà các nước dùng để bảo

hộ cho quyền tư hữu đất khích lệ việc giao dịch đất đai, ngăn cản việc đầu cơđất Khi đất đai đã được đăng ký thì qu yền sử dụng đã được pháp luật bảo hộ

- Địa chính đa mục đích hay địa chính hiện đại chỉ là sự phát triển mộtbước của hai loại địa chính nói trên Mục đích không chỉ nhằm phục vụ thuthuế và đăng ký quyền sử dụng mà quan trong hơn là cung cấp những liệu cơbản cho quản lý đất đai toàn diện, cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất, lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, sử dụng đất có hiệu quả và bảo vệmôi trường Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, các máy tính điện tử,các máy đo đạc hiện đại, kỹ thuật đo ảnh hàng không, kỹ thuật viễn thámđược sử dụng rộng rãi đã làm cho phạm vi và nội dung ứng dụng được mởrộng, nó phá vỡ sự hạn chế vốn có từ xưa và nó phát triển theo hướng kết hợp

kỹ thuật- kinh tế - pháp luật

b Phân loại theo đặc điểm và nhiệm vụ của địa chính

- Địa chính ban đầu: ở một thời kì, trong một khu vực, một cơ sở tiếnhành điều tra một cách toàn diện toàn bộ đất đai, thành lập bản đồ địa chính,lập địa bạ Đây có thể không phải là hồ sơ địa chính đầu tiên trong lịch sử củakhu vực, nhưng nó bắt đầu cho một thời kỳ mới

- Địa chính thường xuyên hay địa chính biến động: đó là sự biến độngcác tình trạng số lượng, chất lượng, phân bố không gian, quyền sở hữu, quyền

sử dụng đất Địa chính biến động dựa trên cơ sở địa chính ban đầu để bổ sung

và đổi mới

c Phân chia địa chính theo cấp quản lý hành chính

- Địa chính quốc gia: dùng để chỉ đối tượng địa chính thuộc sở hữutoàn quốc, phục vụ quản lý thống nhất theo phạm vi toàn quốc

- Địa chính địa phương: Đối tượng địa chính th uộc sở hữu quốc gia, sởhữu tập thể hoặc cá nhân trong phạm vi địa phương

Trang 6

d Phân loại theo độ chính xác

- Địa chính đồ giải: là địa chính thiết lập trên cơ sở đo vẽ đồ giải, sửdụng bàn đạc mà sản phẩm đầu tiên là các bình đồ địa chính tỷ lệ lớn Có thểdùng phương pháp đồ giải để tính toạ độ, khoảng cách, góc, diện tích, nhưngchỉ đạt độ chính xác hạn chế

- Địa chính cho toạ độ giải tích: ở thực địa trực tiếp đo được toạ độ củacác điểm bằng các máy toàn đạc điện tử, hoặc đo các yếu tố khác như góc ,cạnh, rồi tính ra toạ độ, diện tích…Độ chính xác của kết quả sẽ tốt hơn so vớiphương pháp đồ giải

1.1.5 Quản lý địa chính

Quản lý địa chính là tên gọi chung cho cả hệ thống công tác địa chinh

Đó là hệ thống các biện pháp giúp cho cơ quan nhà nước nắm chắc các thôngtin đất đai, quản lý được quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền lợihợp pháp cho người sở hữu và sử dụng đất Nội dung của nó bao gồm: điềutra đất đai, đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất, cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, phân loại, phân hạng, định giá đất…Nó có ý nghĩa to lớntrong quản lý đất đai, lập quy hoạch tổng thể, kế hoạch sử dụng đất, địnhchính sách đất đai, thu thuế,…

Nguyên tắc quản lý:

a Quản lý địa chính cần tiến hành theo quy chế thống nhất do nhà nướ cđược cụ thể hoá bằng các văn bản pháp luật như luật, nghị định, thông tư…

b Tư liệu địa chính phải đảm bảo tính nhất quán, liên tục và hệ thống

c Đảm bảo độ chính xác và tin cậy cao

d Đảm bảo tính khái quát và tính hoàn chỉnh

1.2 Đo đạc địa chính

1.2.1 Đo đạc địa chính và quản lý địa chính

Quản lý địa chính là quản lý cơ sở trong quản lý đất đai nói chung, còn

đo đạc địa chính là công tác kỹ thuật cơ sở cực kỳ quan trọng trong quản lýđịa chính, là nội dung trọng tâm của quản lý địa chính Nó đảm bảo độ tin cậy

và tính chính xác các thông tin đất đai, ví dụ như vị trí chính xác các điểmranh giới đất, kích thước, diện tích các thửa đất, vị trí và mối quan hệ vớixung quanh,… Quản lý địa chính mà không có đo đạc địa chính thì không thểthực hiện được nhiệm vụ

Đo đạc địa chính là việc đo đạc với độ chính xác nhất định để xác địnhcác thông tin về đơn vị đất đai như ranh giới, vị trí phân bố đất, ranh giới sửdụng đất, điện tích đất, đồng thời điều tra phản ánh hiện trạng phân loại sửdụng đất, phân hạng chất lượng đất Đo đạc địa chính bao gồm đo đạc ban

Trang 7

đầu để thành lập bản đồ, hồ sơ địa chính ban đầu và đo đạc hiệu chỉnh đượcthực hiện khi thửa đất có thay đổi về hình dạng và kích thước.

Sản phẩm của đo đạc địa chính là bản đồ địa chính và các văn bảnmang tính kỹ thuật và pháp lý cao phục vụ trực tiếp cho quản lý địa chính vàquản lý đất đai Nó khác đo đạc thông thường ở chỗ có tính chuyên môn cao,thể hiện như:

- Đó là hành vi hành chính có tính pháp lý cao

- Có độ chính xác cao thoả mãn yêu cầu quản lý đất

- Có tư liệu đồng bộ gồm bản đồ, sổ sách, bảng biểu, giấy chứngnhận,…

- Cần đảm bảo tính xác thực, tính hiện thời của tư liệu

- Sự đổi mới không nhất thiết phải theo chu kỳ cố định, khi yếu tố địachính thay đổi thì phải kịp thời đo bổ sung và cập nhật hồ sơ địa chính

Thuật ngữ Cadastre trong tiếng Pháp được hiểu là địa chính và bao hàm

cả nghĩa đo đạc địa chính, còn trong tiếng Anh hiện đại người ta dùngCadastrai Survey để chỉ công tác đo đạc địa chính

1.2.2 Nhiệm vụ và tác dụng của đo đạc địa chính

Đo đạc địa chính là công tác đo vẽ và điều tra xác định các thông tin cơbản về vị trí, kích thước đất đai và các vật phụ thuộc trên đó, đồng thời tiếnhành điều tra quyền sở hữu, quyền sử dụng, phân loại sử dụng, phân hạng đấtnhằm cung cấp những thông tin về đất đai kịp thời phục vụ quản lý đất, quản

lý nhà, thu thuế, qui hoạch thành phố, làng mạc, khai thác tài nguyên đất quốcgia một cách có hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môitrường

Đặc điểm kỹ thuật của đo đạc địa chính là: Ngoài việc cần đảm bảothực hiện đúng các tiêu chuẩn nhà nước về đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn, còn phảisong song tiến hành điều tra địa chính để thu thập các thông tin về địa lý, kinh

tế, pháp luật của đất đai và các bất động sản Các thông tin này cần hoànchỉnh, có hệ thống và được biểu thị dưới các hình thức như bản đồ, bảng biểu,văn bản, đồng thời biên tập thành hồ sơ, địa bạ Sổ địa bạ và bản đồ địa chínhgọi chung là tài liệu đo vẽ địa chính là kết quả cuối cùng của đo đạc địa chính,

đó là tài liệu cơ sở cho quản lý địa chính đồng thời là tài liệu quan trọng trong

tư liệu địa chính

Việc quản lý địa chính đòi hỏi có thống tin tin cậy về đất đai, phải đảmbảo độ chính xác nhất định Do đó, đo đạc địa chính đương nhiên cần theonguyên tắc và phương pháp đo đạc hoàn chỉnh, ví dụ từ toàn diện đến cục bộ,

Trang 8

trước tiên phải tiến hành đo khống chế, sau đó mới đo chi tiết Nội dung của

đo đạc địa chính gồm có:

- Đo đạc lưới khống chế toạ độ và độ cao địa chính ;

- Đo vẽ các thửa đất, các loại đất và các công trình trên đất;

- Điều tra thu thập tư liệu về quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, hiện trạng

sử dụng đất, phân hạng, tính thuế…

- Khi có biến động đất đai cần kịp thời đo vẽ, cập nhật hồ sơ địa chính,công việc gồm: đo vẽ hiệu chỉnh bản đồ địa chính, đo vẽ lại và chỉnh sửa hồ

sơ nhằm đảm bảo tính chính xác và hiện thực của tư liệu địa chính ;

- Căn cứ cá yêu cầu về sử dụng đất, khai thác tài nguyên, quy hoạch đất

để tiến hành các công việc đo vẽ có liê n quan;

Đo đạc địa chính thường đòi hỏi xác định c hính xác vị trí mặt bằng củathửa đất và các công trình có độ chính xác cao Còn độ cao của chúng khôngyêu cầu chặt chẽ

Bản đồ địa chính là thành quả chủ yếu của đo đạc địa chính Đó là loạibản đồ chuyên ngành, song nó khác với các bản đồ chuyên ngành t hôngthường ở chỗ cần thành lập ở tỷ lệ và phạm vi đo vẽ rộng khắp trên toàn quốc.Bản đồ địa chính đáp ứng yêu cầu của địa chính đa mục đích, được sử dụngtrong các ngành kinh tế kỹ thuật nên nó còn có tính chất của loại bản đồ cơbản quốc gia

Đo đạc địa chính tuy thuộc phạm trù khoa học kỹ thuật do vẽ nhưng donội dung và sự ứng dụng của nó có liên quan đến pháp luật, kinh tế, xã hội vàquản lý nên nhưng nhân viên làm việc quản lý, đo đạc địa chính cần phải học

và tìm hiểu nhiều kiến thức cơ sở về các lĩ nh vực có liên quan Không nhữngthế, trong quá trình điều tra, đo vẽ cần phối hợp với các ngành liên quan, phải

có quy trình, quy phạm thống nhất và được pháp luật bảo vệ thì mới có thể

thực hiện được nhiệm vụ

1.3 Bản đồ địa chính

a Thửa đất: là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định

trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ Ranh giới thửa đất trên thực địađược xác định bằng các cạnh thửa là tâm của đường ranh giới tự nhiên hoặcđường nối giữa các mốc giới hoặc địa vật cố định (là dấu mốc hoặc cọc mốc)tại các đỉnh liền kề của thửa đất; ranh giới thửa đất mô tả trên hồ sơ địa chínhđược xác định bằng các cạnh thửa là đường ranh giới tự nhiên hoặc đường nốigiữa các mốc giới hoặc địa vật cố định Trên bản đồ địa chính tất cả các thửađất đều được xác định vị trí, ranh giới (hình thể), diện tích, loại đất và đượcđánh số thứ tự Trên bản đồ địa chính ranh giới thửa đất phải thể hiện là

Trang 9

đường bao khép kín của phần diện tích đất thuộc thửa đất đó Trường hợpranh giới thửa đất là cả đường ra nh tự nhiên (như bờ thửa, tường ngăn,…)không thuộc thửa đất mà đường ranh tự nhiên đó thể hiện được bề rộng trênbản đồ địa chính thì ranh giới thửa đất được thể hiện trên bản đồ địa chính làmép của đường ranh tự nhiên giáp với thửa đất Trường hợp ranh giới thửađất là cả đường ranh tự nhiên không thuộc thửa đất mà đường ranh tự nhiên

đó không thể hiện được bề rộng trên bản đồ địa chính thì ranh giới thửa đấtđược thể hiện là đường trung tâm của đường ranh tự nhiên đó và ghi rõ độrộng của đường ranh tự nhiên trên bản đồ địa chính Các trường hợp do thửađất quá nhỏ không đủ chỗ để ghi số thứ tự, diện tích, loại đất thì được lập bảntrích đo địa chính và thể hiện ở bảng ghi chú ngoài khung bản đồ Trường hợpkhu vực có ruộng bậc thang, thửa đất được xác đ ịnh theo mục đích sử dụngđất của cùng một chủ sử dụng đất (không phân biệt theo các bờ chia cắt bêntrong khu đất của một chủ sử dụng)

Trên bản đồ địa chính còn có các đối tượng chiếm đất nhưng không tạothành thửa đất bao gồm đất xây dựng đường giao th ông, đất xây dựng hệthống thuỷ lợi theo tuyến, đất xây dựng các công trình khác theo tuyến, đấtsông, ngòi, kênh, rạch, suối và các đối tượng thuỷ văn khác theo tuyến, đấtchưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín trên tờ bản đồ; ranh giới sửdụng đất xây dựng đường giao thông, xây dựng hệ thống thuỷ lợi theo tuyến,xây dựng các công trình theo tuyến khác được xác định theo chân mái đắphoặc theo đỉnh mái đào của công trình, trường hợp đường giao thông, hệthống thuỷ lợi theo tuyến, các công trình khác theo tuyến không có mái đắphoặc mái đào thì xác định theo chỉ giới xây dựng công trình; ranh giới đất cómặt nước sông, ngòi, kênh, rạch, suối được xác định theo đường mép nướccủa mực nước trung bình; ranh giới đất chưa sử dụng không có ranh giới thửakhép kín trên tờ bản đồ được xác định bằng ranh giới giữa đất chưa sử dụng

và các thửa đất đã xác định mục đích sử dụng

b Loại đất: là tên gọi đặc trưng cho mục đích sử dụng đất Trên bản đồ

địa chính loại đất được thể hiện bằng ký hiệu tương ứng với mục đích sử dụngđất được quy định tại phụ lục 8 Loại đất thể hiện trên bản đồ phải đúng hiệntrạng sử dụng trong khi đo vẽ lập bản đồ địa chính và được chỉnh lại theo kếtquả đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Mộtthửa đất trên bản đồ địa chính chỉ thể hiện loại đất chính của thửa đất

Trường hợp trong quá trình đo vẽ bản đồ, đăng ký quyền sử dụng đấthoặc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong một thửa đất có haihay nhiều mục đích sử dụng chính mà chủ sử dụng đất và cơ quan quản lý đất

Trang 10

đai chưa xác định được ranh giới đất sử dụng theo từng mục đích thì trong hồ

sơ đăng ký quyền sử dụng đất, trên bản đồ địa chính, trong hồ sơ địa chính,trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi rõ diện tích đất cho từngmục đích sử dụng

c Mã thửa đất (MT): được xác định duy nhất đối với mỗi thửa đất, là

một bộ gồm ba (03) số được đặt liên tiếp nhau có dấu chấm (.) ngăn cách(MT=MX.SB.ST); trong đó số thứ nhất là mã số đơn vị hành chính cấp xã(MX) theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng danhmục và mã số các đơn vị h ành chính Việt Nam, số thứ hai (SB) là số hiệu và

số thứ tự tờ bản đồ địa chính (có thửa đất) của đơn vị hành chính cấp xã (sốthứ tự tờ bản đồ địa chính được đánh số liên tiếp từ số 01 trở đi theo nguyêntắc từ tỷ lệ nhỏ đến tỷ lệ lớn và từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và khôngđược trùng nhau trong một đơn vị hành chính; trường hợp trong một đơn vịhành chính việc đo vẽ, thành lập bản đồ địa chính được thực hiện trong cácthời gian khác nhau thì số thứ tự tờ bản đồ địa chính của lần đo vẽ tiếp theo là

số thứ tự tiếp theo của số thứ tự tờ bản đồ địa chính cuối cùng của lần đo vẽtrước đó), số thứ ba (ST) là số thứ tự thửa đất trên tờ bản đồ địa chính theođơn vị hành chính xã, phường, thị trấn được đánh số liên tiếp từ số 01 trở đitheo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và không được trùngnhau trong một tờ bản đồ

Khi có thửa đất mới (do lập thửa từ đất chưa sử dụng, lập thửa từ đất doNhà nước thu hồi, lập thửa từ tách thửa hoặc hợp thửa…) thì số thứ tự thửađất mới (ST) được xác định bằng số tự nhiên tiếp theo số tự nhiên lớn nhấtđang sử dụng làm số thứ tự thửa đất của tờ bản đồ có thửa đất mới lập đó

d Diện tích thửa đất: được thể hiện theo đơn vị mét vuông (m2), đượclàm tròn số đến một (01) chữ số thập phân

e Bản đồ địa chính gốc: là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và

thể hiện trọn và không trọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưngkhông tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa

lý có liên quan; lập theo khu vực trong phạm vi một hoặc một số đơn vị hànhchính cấp xã, trong một phần hay cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một

số huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc Trung ương,được cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận Bản đồđịa chính gốc là cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính

xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) Các nội dung đã được cập nhậttrên bản đồ địa chính cấp xã phải được chuyển lên bản đồ địa chính gốc

f Bản đồ địa chính: là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối

Trang 11

tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đãđược duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập theo đơn vị hành chính xã,phường, thị trấn, được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quanquản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.

Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiệntrên bản đồ địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất Khi đăng kýquyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranh giới, diệntích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản đồ địa chínhthống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sửdụng đất Các yếu tố nội dung khác của bản đồ địa chính thể hiện theo quyđịnh của Quy phạm này

g Trích đo địa chính: là đo vẽ lập bản đồ địa chính của một khu đất

hoặc thửa đất tại các khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địachính nhưng chưa đáp ứng một số yêu cầu trong việc giao đất, cho thuê đất,thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất

h Bản trích đo địa chính, mảnh bản đồ trích đo, bản đồ trích đo (gọi

chung là bản trích đo địa chính): là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặc

trọn một số thửa đất liền kề nhau, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạothành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liênquan trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (trường hợp thửa đất cóliên quan đến hai (02) hay nhiều xã thì trên bản trích đo phải thể hiện đườngđịa giới hành chính xã để làm căn cứ xác định diện tích thửa đất trên từng xã),được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấptỉnh xác nhận

Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiệntrên bản trích đo địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất Khiđăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranhgiới, diện tích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản trích

đo địa chính thống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứngnhận quyền sử dụng đất

i Hồ sơ địa chính: là hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử

dụng đất Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người

sử dụng đất theo từng đơn vị hành chính cấp xã, gồm: bản đ ồ địa chính (hoặcbản trích đo địa chính), sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến độngđất đai và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 12

1.4 Cơ sở toán học của bản đồ địa chính

1.4.1 Lưới khống chế tọa độ, độ cao

Cơ sở khống chế toạ độ, độ cao để đo vẽ thành lập bản đồ địa chínhgồm:

- Lưới khống chế toạ độ và độ cao quốc gia các hạng ( lưới toạ độ địachính cơ sở tương đương điểm toạ độ hạng III quốc gia)

- Lưới toạ độ địa chính cấp I, II, lưới độ cao kỹ thuật

- Lưới khống chế đo vẽ, điểm khống chế ảnh

Trong trường hợp lưới toạ độ quốc gia các hạng hoặc lưới toạ độ địachính cơ sở chưa có hoặc chưa đủ mật độ, cần xây dựng lưới toạ độ địa chínhtrên cơ sở các điểm toạ độ quốc gia cấp “0” hạng I và hạng II

1.4.2 Hệ thống tỷ lệ bản đồ

a Căn cứ để lựa chọn tỷ lệ bản đồ địa chính

Bản đồ địa chinh được thành lập theo các tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000,1:2000, 1:5000, 1:10000 Việc lựa chọn tỷ lệ bản đồ địa chính căn cứ vào cácyếu tố cơ bản như sau:

- Mật độ thửa đất trên một hecta diện tích: mật độ thửa càng lớn thì đo

vẽ ở tỷ lệ lớn

- Loại đất khi đo vẽ bản đồ: đất nông nghiệp – lâm nghiệp diên tichs

thửa lớn thì đo vẽ ở tỷ lệ nhỏ, còn đất ở nông thôn, đất ở đô thị, đất có giá trịkinh tế cao thì đo vẽ ở tỷ lệ lớn hơn

- Khu vực đo vẽ: do điều kiện tự nhiên, tính chất quy hoạch của vùng

đất và tập quán sử dụng đất khác nhau nên diện tích thửa đất cùng loại ở cácvùng khác nhau cũng thay đổi đáng kể Đất nông nghiệp ở đồng bằng Nam

Bộ thường có diện tích thửa lớn hơn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nên đất nôngnghiệp ở phía Nam sẽ đo vẽ bản đồ địa chính ở tỷ lệ nhỏ hơn phía Bắc

- Yêu cầu độ chính xác bản đồ là yếu tố quan trọng để chọn tỷ lệ bản

đồ Muốn thể hiện diện tích đến 0.1m2 thì chọn tỷ lệ 1:200, 1:500 Muốn thểhiện chính xác đến 1m2 thì chọn tỷ lệ 1:1000, 1:2000 Nếu chỉ cần tính diệntích chính xác chục mét vuông thì vẽ bản đồ tỷ lệ 1:5000 và nhỏ hơn

- Khả năng kinh tế, kỹ thuật của đơn vị cần đo vẽ bản đồ là yếu tố cần

tính đến vì đo vẽ tỷ lệ càng lớn thì càng phải chi phí lớn

Như vậy để đảm bảo chức năng mô tả, bản đồ địa chính được thành lập

ở tỷ lệ lớn và khi mật độ các yếu tố nội dung bản đồ cần thể hiện càng dày,quy mô diện tích thửa đất càng nhỏ, giá trị đất và yêu cầu độ chính xác càngcao tỷ lệ bản đồ địa chính càng phải lớn

Trang 13

b Lựa chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ địa chính

Tỷ lệ đo vẽ bản đồ địa chính được xác định trên cơ sở loại đất và mật

độ thửa đất trung bình trên 01 ha Mật độ thửa đất trung bình trên 01 ha gọitắt là Mt, được xác định bằng số lượng thửa đất chia cho tổng diện t ích (ha)của các thửa đất

- Tỷ lệ 1:200 được áp dụng đối với đất thuộc nội thị của đô thị loại đặcbiệt có Mt≥ 60

- Tỷ lệ 1:500 được áp dụng đối với khu vực có Mt ≥ 25 thuộc đất đô thị,đất khu đô thị, đất khu dân cư nông thôn có dạng đô thị; M t ≥ 30 thuộc đất khudân cư còn lại

- Tỷ lệ 1:1000 được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Khu vực có Mt≥ 10 thuộc đất khu dân cư;

b) Khu vực có Mt ≥ 20 thuộc đất nông nghiệp có dạng thửa hẹp, kéodài; đất nông nghiệp trong phường, thị trấn, xã thu ộc các huyện tiếp giáp quận

và các xã thuộc thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;

c) Khu vực đất nông nghiệp tập trung có Mt≥ 40

- Tỷ lệ 1:2000 được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Khu vực có Mt≥ 5 thuộc khu vực đất nông nghiệp;

b) Khu vực có Mt< 10 thuộc đất khu dân cư

- Tỷ lệ 1:5000 được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Khu vực có Mt ≤ 1 thuộc khu vực đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôitrồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác;

b) Khu vực có Mt≥ 0,2 thuộc khu vực đất lâm nghiệp

- Tỷ lệ 1:10000 được áp dụng đối với các trường hợp sau:

Trang 14

3 Đối với bản đồ địa chính dạng giấy, sai số độ dài cạnh khung bản đồkhông vượt quá 0,2 mm, đường chéo bản đồ không vượt quá 0,3 mm, khoảngcách giữa điểm tọa độ và điểm góc khung bản đồ (hoặc giao điểm của lướikm) không vượt quá 0,2 mm so với giá trị lý thuyết.

4 Sai số vị trí của điểm bất kỳ trên ranh giới thửa đất biểu thị trên bản

đồ địa chính dạng số so với vị trí của các điểm khống chế đo vẽ gần nhấtkhông được vượt quá:

a) 5 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200;

b) 7 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500;

c) 15 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000;

d) 30 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000;

đ) 150 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000;

e) 300 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000

g) Đối với đất nông nghiệp đo vẽ bản đồ địa chính ở tỷ lệ 1:1000, 1:2000thì sai số vị trí điểm nêu tại điểm c và d khoản 4 Điều này được phép tăng 1,5 lần

5 Sai số tương hỗ vị trí điểm của 2 điểm bất kỳ trên ranh giới thửa đấtbiểu thị trên bản đồ địa chính dạng số so với khoảng cách trên thực địa được

đo trực tiếp hoặc đo gián tiếp từ cùng một trạm máy không vượt quá 0,2 mmtheo tỷ lệ bản đồ cần lập, nhưng không vượt quá 4 cm trên thực địa đối vớicác cạnh thửa đất có chiều dài dưới 5 m

Đối với đất nông nghiệp đo vẽ bản đồ địa chính ở tỷ lệ 1:1000, 1:2000thì sai số tương hỗ vị trí điểm của 2 điểm bất nêu trên được phép tăng 1,5 lần

6 Vị trí các điểm mốc địa giới hành chính được xác định với độ chínhxác của điểm khống chế đo vẽ

7 Khi kiểm tra sai số phải kiểm tra đồng thời cả sai số vị trí điểm so vớiđiểm khống chế gần nhất và sai số tương hỗ vị trí điểm Trị tuyệt đối sai sốlớn nhất khi kiểm tra không được vượt quá trị tuyệt đối sai số cho phép Sốlượng sai số kiểm tra có giá trị bằng hoặc gần bằng (từ 90% đến 100%) trị tuyệtđối sai số lớn nhất cho phép không quá 10% tổng số các trường hợp kiểm tra.Trong mọi trường hợp các sai số nêu trên không được mang tính hệ thống

1.4.3 Phép chiếu và hệ tọa độ địa chính

Để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai, đặc biệt là khi sử dụng hệ thốngthông tin đất đai, bản đồ địa chính trên toàn bộ lãnh thổ phải là một hệ thốngthống nhất về cơ sở toán học và độ chính xác Muốn vậy phải xây dựng lướitoạ độ thống nhất và cho hệ quy chiếu tối ưu và hợp lý để thể hiện bản đồ.Trong khi lựa chọn hệ quy chiếu cần đặc biệt ưu tiên giảm nhỏ đến mức có

Trang 15

thể ảnh hưởng của biến dạng phép chiếu đến kết quả thể hiện yếu tố bản đồ.

Ta xem xét việc lựa chọn hệ quy chiếu theo các vấn đề sau:

a Ảnh hưởng độ cao khu đo đến chiều dài và diện tích

Bề mặt toán học để xử lý tổng thể mạng lưới trắc địa nhà nước hạng I,hạng II là Ellipxoid thực dụng Kraxovxki được định vị theo lãnh thổ ViệtNam Theo các tài liệu đã công bố thì việc xử lý lưới trắc địa và định vị đã đạtkết quả tối ưu Hệ toạ độ vuông góc phẳng được sử dụng từ trước năm 2000

đã tính toán theo phép chiếu phẳng Gauss-Kruger với múi chiếu 6o.

Khu đo giới hạn bởi các điểm M và N, có độ cao trung bình là Hm

Đo cạnh AB trên mặt đất, tính được c ạnh nằm ngang A1B1 có độ cao

hm so với mặt độ cao trung bình

Nếu chiếu xuống mặt nước biển trung bình ta có A0B0 Trường hợpchiếu cạnh đó xuống mặt độ cao trung bình khu đo ta có A0’B0’

Thông thường khi xử lý số liệu, chiều dài các cạnh đo trên mặt đất phảiđược tính chuyển về mặt Ellipxoid thực dụng Đối với cạnh ngắn ta dùngcông thức gần đúng để tính số hiệu chỉnh chuyển chiều dài cạnh về mặtGeoid:

- R là bán kính trung bình trái đất

- Ho là độ cao trung bình khu đo,

- hm là độ chênh cao trung bình của cạnh D so với mặt độ cao trung bìnhHo

Rõ ràng khi khu đo có độ cao trung bình càng lớn thì số c hỉnh cànglớn, tức chiều dài trên bản đồ càng nhỏ so với chiều dài thực tế trên mặt đất

Chiều dài trên mặt đất chính là đại lượng mang ý nghĩa quản lý và sửdụng đối với đất đai

Nếu ta thay mặt Geoid bằng mặt quy chiếu ở độ cao trung bình khu đo,khi đó hiệu chỉnh chiều dài cạnh về mặt quy chiếu sẽ là:

Ho R

D R

D D

Trang 16

Từ công thức tính diện tích cơ bản

- Sơn La: diện tích P = 14210 km2, Ho = 1000m suy ra P = 446 ha

- Cao Bằng: diện tích P = 8445 Km2, Ho = 800m suy ra P = 212 haHao hụt diện tích đất như trên thật là đáng kể

Xét về độ chính xác đo đạc ta thấy sai số tương đối do cạnh đườngchuyền địa chính cấp 1 khoảng 1:50000 Muốn ảnh hưởng sai số chiếu khôngđáng kể thì ta cần phải chọn ( ct_t20) nhỏ hơn sai số đo khoảng 2,5 lần, tức làsai số tương đối do biến dạng chiều dài qua phép chiếu khoảng 1:125000,tương đương biến dạng chiếu ở độ cao 50m

Kết luận: Khi độ cao khu đo vượt quá 50m so với mực nước biển

trung bình thì không nên tính chuyển kết quả đo đạc địa chính về mặt Geoid

mà nên tính chuyển kết quả đo về mặt độ cao trung binh của khu đo Khi đóbiến dạng diện tích khá nhỏ

b Ảnh hưởng biến dạng phép chiếu toạ độ phẳng đến các yếu tố trên bản đồ

Bản đồ địa chính phải thể hiện trên mặt phẳng qua một phép chiếu xácđịnh Phép chiếu cần được chọn sao cho biến dạng của các yếu tố thể hiệntrên bản đồ là nhỏ nhất, tức là ảnh hưởng biến dạng phép chiếu đến độ chínhxác các yếu tố đo đạc và cần quản lý thể hiện trên bản đồ là không đáng kể

Trong thực tế hiện nay có hai lưới chiếu đẳng góc có khả năng sử dụngcho bản đồ địa chính Việt Nam đó là lưới chiếu Gaus - Kruger và UTM

Trang 17

Biến dạng lớn nhất ở vùng gần kinh tuyến biên của múi chiếu vá gầnxích đạo Ta tính thử cho trường hợp múi chiếu 6o, = 3; múi chiếu 3o,

=1,50; múi chiếu 1,5o; =0,75o; các trị số biến dạng ghi ở bảng 1.2

cos 0001523

Kết luận :số liệu bảng 1.2 cho ta thấy biến dạng dài và diện tích cực

đại của phép chiếu Gauss-Kruger giảm đáng kể khi ta giảm độ rộng múi chiếu từ 6 0 xuống 3 0 hoặc 1.5 0 Khi lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 1:2000

và 1:5000, nên dùng múi chiếu 3 0 còn khi lập bản đồ tỷ lệ 1:500, 1:200 thì phải dùng múi chiếu Gauss-Kruger với múi 1,5 o

Để đảm bảo chắc chắn cho khu vực đo vẽ bản đồ địa chính cấp tỉnhhoặc thành phố không cách xa kinh tuyến trục của múi chiếu quá 80 km,

trong quy phạm quy định cụ thể kinh tuyến trục cho từng tỉnh riêng biệt.

Hiện nay nước ta có 64 tỉnh và thành phố, có nhiều tỉnh nằm trên cùng mộtkinh tuyến, vì vậy mỗi tỉnh được chỉ định chọn một trong 10 kinh tuyến trục

Trang 18

Bản đồ địa chính của Việt Nam được thành lập trước năm 2000 đều sửdụng múi chiếu Gauss.Tháng 7 năm 2000 tổng cục địa chính đã công bố vàđưa vào sử dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ nhà nước VN -2000 nên sau nay sẽchính thức sử dụng múi chiếu UTM trong ngành địa chính.

Từ sau năm 2000 bản đồ địa chính được quy định thành lập trên cơ sở

hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN -2000, có những thông số cơ bản nhưsau:

Elípsoit quy chiếu quốc gia là elipsoit WGS-84 toàn cầu, được định vịphù hợp với lãnh thổ Việt Nam, có kích thước như sau:

+ Bán trục lớn : a= 6 378 137,000m

+ Tốc độ góc quay quanh trục : 7292115,0 x1011rad/s

- Điểm gốc toạ độ quốc gia là điểm N00 đặt tại khuôn viên viện nghiêncứu địa chính, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội

- Phép chiếu UTM được sử dụng để tính hệ toạ độ phẳng, trên múichiếu 30,sai số (hệ số) trên kinh tuyến giữa của của múi là ko =0,9999

Hệ toạ độ vuông góc phẳng có trục Y là xích đạo, trục X là kinh tuyếntrục quy định thống nhất cho từng tỉnh(xem bảng 2.4), lùi về phía Tây 500km

- Cơ sở khống chế toạ độ, độ cao của bản đồ địa chính bao gồm lưới toạ

độ và độ cao Nhà nước, lưới độ cao địa chính, lưới khống chế đo vẽ và cácđiểm khống chế ảnh

1.4.4 Phương pháp chia mảnh bản đồ địa chính

1 Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000

Mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 được xác định như sau:

Chia mặt phẳng chiếu hình thành các ô vuông, mỗi ô vuông có kíchthước thực tế là 6 x 6 ki lô mét (km) tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính

tỷ lệ 1:10000 Kích thước khung trong t iêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ

lệ 1:10000 là 60 x 60 cm, tương ứng với diện tích là 3600 héc ta (ha) ngoàithực địa

Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 gồm 08 chữ số: 02 sốđầu là 10, tiếp sau là dấu gạch nối (-), 03 số tiếp là 03 số c hẵn km của toạ độ

X, 03 chữ số sau là 03 số chẵn km của toạ độ Y của điểm góc trái phía trênkhung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính

2 Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000

Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 thành 04 ô vuông, mỗi ôvuông có kích thước thực tế là 3 x 3 km tương ứng với một mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:5000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa

Trang 19

chính tỷ lệ 1:5000 là 60 x 60 cm, tương ứng với diện tích là 900 ha ngoài thựcđịa.

Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 gồm 06 chữ số: 03 sốđầu là 03 số chẵn km của toạ độ X, 03 chữ số sau là 03 số chẵn km của toạ độ

Y của điểm góc trái phía trên khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địachính

3 Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000

Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 thành 09 ô vuông, mỗi ô vuông

có kích thước thực tế 1 x 1 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ1:2000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ1:2000 là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 100 ha ngoài thực địa

Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 9 theonguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu của mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:2000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000, gạchnối (-) và số thứ tự ô vuông

4 Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000

Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 04 ô vuông, mỗi ôvuông có kích thước thực tế 0,5 x 0,5 km tương ứng với một mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:1000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:1000 là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 25 ha ngoài thực địa

Các ô vuông được đánh thứ tự bằng chữ cái a, b, c, d theo nguyên tắc từtrái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ôvuông

5 Bản đồ tỷ lệ 1:500

Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 16 ô vuông, mỗi ôvuông có kích thước thực tế 0,25 x 0,25 km tương ứng với một mảnh bản đồđịa chính tỷ lệ 1:500 Kích thước khung trong tiêu ch uẩn của mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:500 là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 6,25 ha ngoài thực địa

Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 16 theonguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:500 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạchnối (-) và số thứ tự ô vuông trong ngoặc đơn

6 Bản đồ tỷ lệ 1:200

Chia mảnh bản đồ địa chính 1:2000 thành 100 ô vuông, mỗi ô vuông cókích thước thực tế 0,10 x 0,10 km, tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính

Trang 20

tỷ lệ 1:200 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ

lệ 1:200 là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 1,00 ha ngoài thực địa

Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 100 theonguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địachính tỷ lệ 1:200 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạchnối (-) và số thứ tự ô vuông

* Tên gọi của mảnh bản đồ địa chính

Tên gọi của mảnh bản đồ địa chính gồm tên của đơn vị hành chính cấptỉnh, huyện, xã đo vẽ bản đồ; mã hiệu mảnh bản đồ địa chính và số thứ tự củamảnh bản đồ địa chính trong phạm vi một đơn vị h ành chính cấp xã (sau đâygọi là số thứ tự tờ bản đồ)

Số thứ tự tờ bản đồ được đánh bằng số Ả Rập liên tục từ 01 đến hếttrong phạm vi từng xã, phường, thị trấn; thứ tự đánh số theo nguyên tắc từ tráisang phải, từ trên xuống dưới, các tờ bản đồ tỷ lệ nhỏ đánh số trước, các tờbản đồ tỷ lệ lớn đánh số sau tiếp theo số thứ tự của tờ bản đồ nhỏ

Trường hợp phát sinh các tờ bản đồ mới trong quá trình sử dụng thìđược đánh số tiếp theo số thứ tự tờ bản đồ địa chính có số thứ tự lớn nhấttrong đơn vị hành chính cấp xã đó

* Tên gọi mảnh trích đo địa chính

Tên gọi của mảnh trích đo địa chính bao gồm tên của đơn vị hành chínhcấp tỉnh, huyện, xã thực hiện trích đo địa chính; hệ tọa độ thực hiện trích đo(VN-2000, tự do); khu vực thực hiện trích đo (địa chỉ thửa đất: số nhà, xứđồng, thôn, xóm…) và số hiệu của mảnh trích đo địa chính

Số hiệu của mảnh trích đo địa chính gồm số thứ tự mảnh (được đánhbằng số Ả Rập liên tục từ 01 đến hết trong một năm thuộc phạm vi một đơn vịhành chính cấp xã); năm thực hiện trích đo địa chính thửa đất; ví dụ: TĐ03-2014

1.4.5 Nội dung bản đồ địa chính

1 Các yếu tố nội dung chính thể hiện trên bản đồ địa chính gồm:

- Khung bản đồ;

- Điểm khống chế toạ độ, độ cao Quốc gia các hạng, điểm địa chính, điểmkhống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định;

- Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp;

- Mốc giới quy hoạch; chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông,thuỷ lợi, đê điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng khác có hànhlang bảo vệ an toàn;

- Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất;

Trang 21

- Nhà ở và công trình xây dựng khác: chỉ thể hiện trên bản đồ các côngtrình xây dựng chính phù hợp với mục đích sử dụng của thửa đất, trừ các côngtrình xây dựng tạm thời Các công trình ngầm khi có yêu cầu thể hiện trên bản

đồ địa chính phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình;

- Các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất như đường giaothông, công trình thủy lợi, đê điều, sông, suối, kênh, r ạch và các yếu tố chiếmđất khác theo tuyến;

- Địa vật, công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội và ý nghĩađịnh hướng cao;

- Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao (khi có yêu cầu thể hiện phải đượcnêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình);

- Ghi chú thuyết minh

Khi ghi chú các yếu tố nội dung bản đồ địa chính phải tuân theo các quyđịnh về ký hiệu bản đồ địa chính quy định tại mục II và điểm 12 mục III của Phụlục số 01 kèm theo Thông tư này

2 Thể hiện nội dung bản đồ địa chính

- Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp:

a) Biên giới Quốc gia và cột mốc chủ quyền Quốc gia thể hiện trên bản

đồ địa chính phải phù hợp với Hiệp ước, Hiệp định đã được ký kết giữa Nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước tiếp giáp; ở khu vựcchưa có Hiệp ước, Hiệp định thì thể hiện theo quy định của Bộ Ngoại giao;

b) Địa giới hành chính các cấp biểu thị trên bản đồ địa chính phải phùhợp với hồ sơ địa giới hành chính; các văn bản pháp lý có liên quan đến việcđiều chỉnh địa giới hành chính các cấp;

c) Đối với các đơn vị hành chính tiếp giáp biển thì bản đồ địa chínhđược đo đạc, thể hiện tới đường mép nước biển triều kiệt trung bình tối thiểutrong 05 năm Trường hợp chưa xác định được đường mép nước biển triềukiệt thì trên bản đồ địa chính thể hiện ranh giới sử dụng đất đến tiếp giáp vớimép nước biển ở thời điểm đo vẽ bản đồ địa chính;

d) Khi phát hiện có sự mâu thuẫn giữa địa giới hành chính thể hiện trên

hồ sơ địa giới hành chính và đường địa giới các cấp thực tế đang quản lý hoặc

có tranh chấp về đường địa giới hành chính thì đơn vị thi công phải báo cáobằng văn bản cho cơ quan tài nguyên và môi trường cấp huyện và cấp tỉnh đểtrình cơ quan có thẩm quyền giải quyết Trên bản đồ địa chính thể hiện đườngđịa giới hành chính theo hồ sơ địa giới hành chính (ký hiệu bằng màu đen) vàđường địa giới hành chính thực tế quản lý (ký hiệu bằng màu đỏ) và phần cótranh chấp

Trang 22

Trường hợp đường địa giới hành chính các cấp trùng nhau thì biểu thịđường địa giới hành chính cấp cao nhất ;

đ) Sau khi đo vẽ bản đồ địa chính phải lập Biên bản xác nhận thể hiệnđịa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính có liên quan theo mẫu quyđịnh tại Phụ lục số 09 kèm theo Thông tư này Trường hợp có sự khác biệtgiữa hồ sơ địa giới hành chính và thực tế quản lý thì phải lập biên bản xácnhận giữa các đơn vị hành chính có liên quan

- Mốc giới quy hoạch; chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông,thuỷ lợi, đê điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng khác có hànhlang bảo vệ an toàn: các l oại mốc giới, chỉ giới này chỉ thể hiện trong trườnghợp đã cắm mốc giới trên thực địa hoặc có đầy đủ tài liệu có giá trị pháp lýđảm bảo độ chính xác vị trí điểm chi tiết của bản đồ địa chính

- Đối tượng thửa đất

a) Thửa đất được xác định theo phạm vi quản lý, sử dụng của một người

sử dụng đất hoặc của một nhóm người cùng sử dụng đất hoặc của một ngườiđược nhà nước giao quản lý đất; có cùng mục đích sử dụng theo quy định củapháp luật về đất đai;

b) Đỉnh thửa đất là các điểm gấp khúc trên đường ranh giới thửa đất;đối với các đoạn cong trên đường ranh giới, đỉnh thửa đất trên thực địa đượcxác định đảm bảo khoảng cách từ cạnh nối hai điểm chi tiết liên tiếp đến đỉnhcong tương ứng không lớn hơn 0,2 mm theo tỷ lệ bản đồ cần lập;

c) Cạnh thửa đất trên bản đ ồ được xác định bằng đoạn thẳng nối giữahai đỉnh liên tiếp của thửa đất;

d) Ranh giới thửa đất là đường gấp khúc tạo bởi các cạnh thửa nối liền,bao khép kín phần diện tích thuộc thửa đất đó;

đ) Trường hợp đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở thì ranh giới thửa đấtđược xác định là đường bao của toàn bộ diện tích đất có vườn, ao gắn liền vớinhà ở đó;

e) Đối với ruộng bậc thang thì ranh giới thửa đất được xác định làđường bao ngoài cùng, bao gồm các bậc thang liền kề có cùng mục đích sửdụng đất, thuộc phạm vi sử dụng của một người sử dụng đất hoặc một nhómngười cùng sử dụng đất (không phân biệt theo các đường bờ chia cắt bậcthang bên trong khu đất tại thực địa);

g) Trường hợp ranh giới thửa đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng là bờthửa, đường rãnh nước dùn g chung không thuộc thửa đất có độ rộng dưới0,5m thì ranh giới thửa đất được xác định theo đường tâm của đường bờ thửa,đường rãnh nước Trường hợp độ rộng đường bờ thửa, đường rãnh nước bằng

Trang 23

hoặc lớn hơn 0,5m thì ranh giới thửa đất được xác định theo mép của đường

bờ thửa, đường rãnh nước

- Loại đất

a) Loại đất thể hiện trên bản đồ địa chính bằng ký hiệu

b) Loại đất thể hiện trên bản đồ địa chính phải đúng theo hiện trạng sửdụng đất Trường hợp có quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất vào mục đích khác với hiện trạng mà việc đưa đất vào sử dụngtheo quyết định đó còn trong thời hạn quy định tại điểm h và i khoản 1 Điều

64 của Luật Đất đai thì thể hiện loại đất trên bản đồ địa chính theo quyết địnhgiao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đó

Trường hợp loại đất hiện trạng khác với loại đất ghi trên giấy tờ pháp lý

về quyền sử dụng đất và đã quá thời hạn đưa đất vào sử dụng quy định tạiđiểm h và i khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai thì ngoài việc thể hiện loại đấttheo hiện trạng còn phải thể hiện thêm loại đất theo giấy tờ đó trên một lớp(level) khác; đơn vị đo đạc có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo cơ quan tàinguyên và môi trường cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận về nhữngtrường hợp thửa đất có loại đất theo hiện trạng khác với loại đất trên giấy tờtại thời điểm đo đạc

Trường hợp thửa đất sử dụng vào nhiều mục đích thì phải thể hiện cácmục đích sử dụng đất đó. Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở

đã được Nhà nước công nhận (cấp Giấy chứng nhận) to àn bộ diện tích thửađất là đất ở thì thể hiện loại đất là đất ở

- Các đối tượng nhân tạo, tự nhiên có trên đất

a) Ranh giới chiếm đất của nhà ở và các công trình xây dựng trên mặtđất được xác định theo mép ngoài cùng của tường bao nơi tiếp giáp với mặtđất, mép ngoài cùng của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của các kết cấuxây dựng trên cột, các kết cấu không tiếp giáp mặt đất vượt ra ngoài phạm vicủa tường bao tiếp giáp mặt đất (không bao gồm phần ban công, các chi tiếtphụ trên tường nhà, mái che)

Ranh giới chiếm đất của các công trình ngầm được xác định theo mépngoài cùng của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của công trình đó

b) Hệ thống giao thông biểu thị phạm vi chiếm đất của đường sắt, đường

bộ (kể cả đường trong trong khu dân cư, đường tron g khu vực đất nông nghiệp,lâm nghiệp phục vụ mục đích công cộng) và các công trình có liên quan đếnđường giao thông như cầu, cống, hè phố, lề đường, chỉ giới đường, phần đắpcao, xẻ sâu

Trang 24

c) Hệ thống thuỷ văn biểu thị phạm vi chiếm đất của sông, ngòi, suối,kênh, mương, máng và hệ thống rãnh nước Đối với hệ thống thuỷ văn tự nhiênphải thể hiện đường bờ ổn định và đường mép nước ở thời điểm đo vẽ hoặcthời điểm điều vẽ ảnh Đối với hệ thống thuỷ văn nhân tạo thì thể hiện ranhgiới theo phạm vi chiếm đất của công trình.

Trang 25

CHƯƠNG II CÔNG NGHỆ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH

TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2.1 Các giai đoạn nghiên cứu và phát triển bản đồ số

Lịch sử ra đời và phát triển của bản đồ số và hệ thống thông tin địa lýgắn liền với sự phát triển của máy tính điện tử Từ năm 1950 Trung tâm địahình Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu vấn đề thành lập bản đồ có sự trợ giúp củamáy tính và từ đó công nghệ bản đồ số và hệ thống thông tin địa lý khôngngừng phát triển

Các giai đoạn nghiên cứu và phát triển của bản đồ số :

Giai đoạn 1 (Từ 1950 đến 1970): Nội dung chính của thời kỳ này là

“Lập bản đồ số có sự trợ giúp của máy tính” Các nhà khoa học đã nghiên

cứu chế tạo thiết bị gắn với máy tính điện tử để tạo thông tin như các thiết bị

số hoá (Digitizer) hoặc máy quét (Scanner) và các thiết bị đầu ra như máy in,máy vẽ tự động có độ chính xác cao sử dụng kỹ thuật số

Song song với việc nghiên cứu chế tạo thiết bị, người ta đẩy mạnhnghiên cứu các giải pháp toán học để mô hình hoá và thể hiện các đối tượngkhông gian địa lý sau khi rời rạc hoá thông tin Năm 1963 ở Mỹ có phần mềm

vẽ bản đồ đầu tiên (Symap)

Giai đoạn 2 (Thập kỷ 70 và những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước) Tập trung nghiên cứu xây dựng các hệ thống bản đồ tự động hoá hoàn

chỉnh Các vấn đề kỹ thuật trong quy trình công nghệ thành lập bản đồ sốđược nghiên cứu và giải quyết hoàn chỉnh từ việc chuẩn hoá nội dung, ký hiệubản đồ, tổ chức dữ liệu đến chế tạo các thiết bị gắn với các máy đo đạc trênmặt đất, các máy đo ảnh để tạo dữ liệu số và chế tạo các máy vẽ tự động

Trong giai đoạn này đã xây dựng các phần mềm ứng dụng để điềukhiển toàn bộ hệ thống từ thu thập dữ liệu, tổ chức qu ản lý cơ sở dữ liệu, ngânhàng dữ liệu và các phương pháp sử dụng dữ liệu số, đưa ra kết quả phân tích,

dự báo,… Đặc biệt mô hình số bề mặt địa hình đã được nghiên cứu và đưavào ứng dụng

Giai đoạn 3: Phát triển hệ thống thông tin địa lý Ý tưởng về tích hợp

thông tin không gian và thông tin thuộc tính phi đồ hoạ theo thời gian để tổnghợp, phân tích, mô hình hoá đã có tương đối sớm Song chỉ khi máy tính pháttriển mạnh thì hệ thống thông tin địa lý (GIS) mới trở thành hiện thực Năm

1964 hệ thống CGIS (Canadian Geographic Information System) ra đời Saunăm 1980 các hệ thống thông tin địa lý được nghiên cứu và phát triển mạnh

Trang 26

mẽ Đó là tập hợp có tổ chức bao gồm hệ thống máy tính cùng các thiết bịkèm theo, phần mềm điều hành, cơ sở dữ liệu và con người, được thiết kế đểthu thập, lưu trữ, quản lý, cập nhật, phân tích, tổng hợp và kết xuất tất cả cácdạng thông tin liên quan đến vị trí địa lý.

Các phần mềm GIS được ứng dụng rộng rãi hiệ n nay có thể kể đếnnhư: MicroStation, ARC/INFO, MAPINFRO, MGE, ARCGIS, …

Hệ thống thông tin đất đai (Land Information System - LIS) là một lĩnhvực ứng dụng đặc biệt của hệ thống thông tin địa lý Theo hiệp hội Trắc địa

bản đồ thế giới thì: "Một hệ thống thông tin đất đai là một công cụ giúp cho việc tạo quyết định về luật pháp, hành chính và kinh tế và trợ giúp cho công tác quy hoạch và phát triển Nó bao gồm một mặt là một cơ sở dữ liệu lưu trữ các dữ liệu tham chiếu không gian trên một vùng địa lý nhất định và một mặt

là một số quy trình và kỹ thuật để thu thập, cập nhật, xử lý và phân phối dữ liệu một cách có hệ thống Cơ sở của một hệ thống thông tin đất đai là một hệ thống tham chiếu không gian đồng nhất cho dữ liệu trong hệ thống, đồng thời

có khả năng liên kết dữ liệu trong hệ thống với các cơ sở dữ liệu đất đai khác

có liên quan".

Đến nay hầu hết các nước phát triển đã ứng dụng hệ thống thông tin đấtđai hiện đại để quản lý đất đai, đáp ứng nhanh mọi yêu cầu của đời sống xã hội

Giai đoạn 4: Đặt ra vấn đề nghiên cứu, hoàn thiện và đưa vào sử dụng

hệ thống bản đồ thông tin địa lý toàn cầu (Global Geoinformatic Mapping),phát triển GIS thành hệ thống thông tin không gian toàn cầu ứng dụng cho cácquốc gia và quốc tế

Sự phát triển và tính phổ biến của INTERNET và các dịch vụ WEB đãđưa tới khả năng truy cập dữ liệu thông tin địa lý qua WEB, khái niệm WEB-GIS đã trở thành hiện thực

Ngoài hai yếu tố mang tính kỹ thuật là phần cứng máy tính và phầnmềm hệ thống thì cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin là cực kỳ quan trọng,

nó đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của hệ thống

Đối với bản đồ địa chính, đây là một thành phần quan trọng của quản lýđất đai ở hầu hết các quốc gia Mỗi quốc gia có một hệ thống quản lý bản đồriêng, không có hai hệ thống bản đồ địa chính là như nhau, mặc dù có một sốthành phần cơ bản trong chung cho hầu hết các hệ thống Do sự khác biệt về lịch

sử, văn hóa và xã hội, bản đồ địa chính đóng vai trò khác nhau ở mỗi quốc gia,

có nhiều nhận thức khác nhau về những gì tạo thành một bản đồ địa chính

Trang 27

Hệ thống địa chính của các nước trên thế g iới có thể được chia thành 3nhóm: Nhóm các nước công nghiệp phát triển; nhóm các nước đang phát triển

và nhóm các nước kém phát triển

Ở hầu hết các nước phát triển, hệ thống bản đồ địa chính đã được thànhlập hoàn chỉnh, giai đoạn hiện nay chủ yếu là đo đạc chỉnh lý biến động Hệthống thông tin đất đai (LIS) và hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã có mộtbước tiến lớn trong tin học hóa bản đồ, việc ứng dụng bản đồ số nói chung vàbản đồ số địa chính nói riêng đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực do hệthống bản đồ đã xây dựng đồng bộ, việc cập nhật bản đồ cũng được thực hiệnthường xuyên và quản lý chặt chẽ trong một cơ sở dữ liệu phù hợp

Ở các nước đang phát triển quá trình thành lập bản đồ địa chính thường

bị chỉ trích là chậm, tốn kém và là một trong những hạn chế lớn về phát triểnkinh tế Các nước này đang trong giai đoạn xây dựng hệ thống bản đồ địachính, bản đồ địa chính đang được đo đạc chính quy nhằm hoàn chỉnh cơ sở

dữ liệu phủ kín lãnh thổ

Ở các nước kém phát triển, mật độ dân cư thưa thớt, á p lực về pháttriển kinh tế chưa cao, đất đai có giá trị thấp, hệ thống địa chính còn sơ khai,mới được quan tâm bước đầu

2.1.1.Công nghệ thành lập bản đồ số địa chính trên thế giới

Yếu tố quan trọng nhất trên bản đồ địa chính cần thể hiện chính xác vàđầy đủ nhất đó chính là ranh giới thửa đất Đây là yếu tố quan trọng nhất xuấtphát từ chính mục tiêu của bản đồ địa chính nhằm quản lý đến từng thửa đất.Chính vì lẽ đó, việc thành lập bản đồ địa chính chú trọng đến việc xác địnhchính xác vị trí từng góc thửa đất đồng thời thu thập các thông tin thuộc tínhcủa thửa đất nhằm hướng tới mục đích quản lý một cách hiệu quả

Tuy nhiên, quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính ở mỗi quốcgia có những sự khác biệt riêng phụ thuộc vào khả năng kinh tế, trang thiết bị

kỹ thuật và sự phát triển của khoa học công nghệ Quy trình chung của cácnước xây dựng xong hệ thống bản đồ số địa chính từ rất sớm như Canada,Australia thực hiện đăng ký xét duyệt trước, tiếp đến đánh dấu mốc rồi mớitiến hành xác định ranh giới thửa, lưu, cập nhật thông tin thửa đất phục vụquản lý đất đai và khai thác thông tin

Đối với công tác xác định ranh giới thửa đất, ngày nay, với sự pháttriển của khoa học công nghệ, các thiết bị xác định vị trí điểm ngày càng hiệnđại Do đó, tùy thuộc vào trang thiết bị và yêu cầu độ chính xác cũng như mụcđích quản lý mà có những phương pháp khác nhau đối với mỗi quốc gia

Trang 28

Với bản đồ tỉ lệ vừa và nhỏ khu vực giá trị kinh tế thấp, độ chính xáckhông cao có thể sử dụng ảnh hàng không độ phân giải cao kết hợp đối soátthực tế để khoanh vẽ ranh giới sử dụng đất Đối với bản đồ tỉ lệ lớn, khu vựcgiá trị kinh tế lớn, độ chính xác cao cần sử dụng các thiết bị xác định tọa độvới độ chính xác cao tới từng góc thửa đất Để thực hiện điều này, trước hếtxây dựng một hệ thống lưới đường chuyền sau đó sử dụng phương pháp đotọa độ tuyệt đối hoặc tọa độ tương đối.

Bên cạnh việc xác định chính xác tọa độ các đối tượng trên bản đồ địachính cần phải nối các điểm đo sao cho đúng với ranh giới ngoài thực địa.Việc nối các điểm này phương pháp thường sử dụng trên thế giới là vẽ sơ họa,ngoài ra có thể sử dụng các loại ảnh như ảnh hàng không độ phân giải caohoặc sử dụng ảnh chụp từ máy bay không người lái Các ảnh này được đưa vềcùng hệ thống tọa độ với các điểm chi tiết, từ đó có thể nối sơ họa sau đó tiếnhành đối soát sửa chữa

2.2.Ứng dụng bản đồ số địa chính trên thế giới

Ứng dụng quan trọng nhất của bản đồ địa chính là quản lý đất đai

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, bản đồ số địachính ở nhiều nước trên thế giới đã thêm nhiều ứng dụng khác nhau, nhiềunước đã xây dựng hệ thống địa chính đa mục đích với các hệ thống phần mềmứng dụng đặc thù riêng Chính vì lẽ đó, việc quản lý thửa đất phải thỏa mãn

hệ thống tham chiếu thửa đất, cụ thể:

* Dễ hiểu, không gây nhầm lẫn, sai sót;

* Dễ nhớ, để cho người sử dụng có thể dễ dàng tra cứu;

* Dễ sử dụng đối với cả người quản lý và cộng đồng;

* Dễ xử lý trong máy tính;

* Đảm bảo tính bền vững;

* Có khả năng cập nhật mà không làm thay đổi hệ thống;

* Đảm bảo tính đơn trị của thửa đất: mỗi thửa đất chỉ có một số hiệutham chiếu duy nhất và ngược lại;

* Đảm bảo tính chính xác và không chứa lỗi;

* Hệ thống cần linh hoạt, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khácnhau;

* Đảm bảo tính kinh tế khi thực thi và bảo trì

Với mục đích không làm phá vỡ hệ thống tham chiếu thửa đất, cácquốc gia trên thế giới có các cách quản lý thửa đất khác nhau, thông thường

có các cách quản lý:

- Chia khu vực và đánh số thửa theo khu vực

Trang 29

Với việc phân chia khu vực đo vẽ thành các khu vực nhỏ hơn riêng lẻthuận lợi trong việc đo vẽ thành lập đồng thời khi chỉnh lý biến động khônglàm phá vỡ hệ thống tham chiếu thửa đất Cách phân chia này được áp dụngtrên nhiều nước trên thế giới như Phá p, Australia, Argentina (Hình 2.1).

Hình 2.1 Đánh số thửa theo từng khu vực ở Argentina

- Đánh số thửa đất từ 1 đến hết trên toàn khu vực đo vẽ

Hình 2.2 Đánh số thửa trên toàn khu vực ở Malaysia

Với cách quản lý này hệ thống tham chiếu thửa đất cũng được đảm bảo,tính đơn trị của thửa đất rõ ràng, tuy nhiên việc quản lý cần có hệ thống phần

Trang 30

mềm đủ mạnh xử lý tốc độ cao Cách phân chia này được áp dụng ở Malaysia

và một số nước khác

Với các cách quản lý thửa đất dựa vào trị số đơn trị sẽ truy cập tới thửađất dễ dàng, từ đó có thể gắn thêm nhiều thông tin khác dưới dạng các cơ sở

dữ liệu liên kết tạo nên hệ thống địa chính đa mục đích

Sau khi có phương pháp quản lý thửa đất thì hệ thống phần mềm đóngvai trò quan trọng Ngày nay, các hệ thống công nghệ phần mềm chính được

áp dụng là phần mềm của các hãng Autodesk, Bentley, ESRI Ngoài ra, một

số quốc gia sử dụng các hệ thống phần mềm độc lập riêng có thể trao đổi dữliệu với các hệ thống phần mềm trên

Trong các hệ thống phần mềm đó, hệ thống của ESRI được sử dụngnhiều ở các nước châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới Theo tài liệu trêntrang Web với địa chỉ: http://www.esri.com/news/arcnews/spring11articles/european-cadastres-and-national-mapping-agencies.html cho thấy điều đó

Bảng 2.1 Danh sách các nước sử dụng công nghệ ESRI

Các nước này, hầu hết đã thành lập xong bản đồ số địa chính phủ trùmtrên phạm vi quốc gia, chính vì vậy vấn đề cập nhật và ứng dụng bản đồ sốđịa chính là vấn đề được quan tâm nhiều nhất hiện nay

Khi nhu cầu về bản đồ của các quốc gia châu Âu và các cơ quan địachính (NMCAs) tăng, vai trò của bản đồ tiếp tục mở rộng dẫn đến tầm quantrọng cơ bản và giá trị của việc sử dụng GIS cũng phát triển Công nghệ GIScho phép NMCAs không chỉ thực hiện công tác địa chính một cách hiệu quả

mà còn tích hợp nó với các chủ đề khác của thông tin trong cơ sở hạ tầng dữliệu không gian (SDI) quốc gia Khi làm như vậy, NMCAs có thể đáp ứng

Trang 31

nhiều yêu cầu khác đối với đ ất đai và thông tin địa lý, đặc biệt là trong bốicảnh phát triển bền vững và quản lý đất đai tốt hơn.

Công nghệ GIS của ESRI là nền tảng ưa thích đối với các cơ quan địachính của châu Âu Hệ thống hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai khác nhautrên khắp châu Âu, phản ánh nền tảng khác nhau về lịch sử, văn hóa, khuônkhổ pháp lý và mô hình tổ chức

Trên thế giới đã xây dựng các quy chuẩn về dữ liệu thông tin địa lýtrong đó quy định rõ mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý Tiêu chuẩn để mô hìnhhóa (UML), trao đổi thông tin có cấu trúc (XML) và thông tin địa lý (tiêuchuẩn ISO 19107 của tiểu ban ISO TC211), ngoài ra còn có các tiêu chuẩnkhác của OGC (Open Geospatial Consortium) Một số ứng dụng bản đồ số địachính được trình bày trong

2.3 Công nghệ thành lập và ứng dụng bản đồ số địa chính ở Việt Nam

Công nghệ thành lập bản đồ địa chính ở Việt Nam trải qua nhiều thời

kỳ khác nhau, cũng tương tự như hầu hết các nước trên thế giới, sử dụng cácthiết bị đo đạc để xác định tọa độ các ranh giới thửa đất và các nội dung kháccủa bản đồ địa chính Các công nghệ đã và đang áp dụng bao gồm: sử dụngảnh hàng không độ phân giải cao để lập bản đồ địa chính tỷ lệ nhỏ 1/5000 phủtrùm toàn quốc, 1/5000 các khu vực đô thị; sử dụng phương pháp kết hợp ảnhhàng không và đo bổ sung mặt đất thành lập bản đồ tỷ lệ 1/2000 khu vực thổcanh; sử dụng phương pháp đo đạc trực tiếp bằng nhiều thiết bị khác nhauđảm bảo độ chính xác tùy vào tỷ lệ đo vẽ bản đồ 1/1000, 1/500 và 1/200 Vớitình hình như vậy, việc thành lập bản đồ số địa chính tỉ lệ nhỏ và vừa hiện nay

ít thực hiện Để thành lập bản đồ với độ chính xác cao cho tỷ lệ lớn, việc đođạc trực tiếp ngoài thực địa hiện tại chưa có phương pháp nào có thể thay thế.Đây là công việc tốn nhiều thời gian, kinh phí, chịu ảnh hưởng lớn của th ờitiết Do đó, luận án giới hạn nghiên cứu công nghệ thành lập bản đồ số địachính bằng phương pháp đo đạc trực tiếp ngoài thực địa ở Việt Nam, từ đóđưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy trình công nghệ thành lập cũng nhưứng dụng bản đồ số trong điều kiện Việt Nam

2.3.1 Công nghệ thành lập bản đồ địa chính ở Việt Nam

Đầu những năm 70 của thế kỷ hai mươi, các kỹ sư Trắc địa Việt Nambắt đầu nghiên cứu ứng dụng máy tính điện tử vào xử lý số liệu Những năm

80, thông qua một số dự án với nước ngoài, có một số cơ quan được đầu tưmáy tính kèm một số phần mềm CADMAP, MAPINFO, mở ra khả nănglàm bản đồ chuyên đề bằng công nghệ số và thành lập cơ sở dữ liệu bản đồ

Trang 32

Tuy nhiên, công nghệ số và tự động hoá trong Trắc địa - Bản đồ của ViệtNam chỉ phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1990.

Trong thời kỳ này công nghệ đo đạc như GPS, toàn đạc điện tử (Totalstation) và công nghệ đo ảnh số được đưa vào và triển khai ở 2 cơ quan lớn làCục đo đạc bản đồ Nhà nước sau là Tổng cục Địa chính, nay là Bộ Tàinguyên - Môi trường và Cục Bản đồ quân đội Bộ Tổng tham mưu, sau đóphát triển ở các cơ sở sản xuất kinh doanh khác

Song song với công nghệ đo đạc, các phần mềm đồ hoạ phục vụ thànhlập và quản lý thông tin bản đồ như: AUTOCAD , SDR, ITR, ILWIS,ARC/INFO, MAPINFO, INTERGRAPH, ARCGIS, được nhập vào ViệtNam và được nghiên cứu, triển khai ứng dụng vào sản xuất

Trước năm 1992, bản đồ địa chính được làm theo công nghệ truyềnthống, đo đến đâu vẽ đến đó trực tiếp ngoài thực địa Công nghệ này tỏ ra cóquá nhiều nhược điểm: tốn nhân công kỹ thuật, ảnh hưởng lớn của điều kiệnthời tiết, độ chính xác thấp, sản phẩm bản đồ trên giấy khó lưu trữ, nhân bản

Ưu điểm của công nghệ này là các thông tin tức thời tại thực địa được chuyển

vẽ và ghi chú ngay lên bản vẽ đồng thời kiểm chứng ngay được sự chính xác

về hình thửa, các mối quan hệ hình học của các đối tượng như thẳng hàng,vuông góc Các thông tin này được gọi là thông tin trực quan

Năm 1992, theo yêu cầu của TP Hà Nội về công tác quản lý đất đai cần

có bản đồ địa chính tỷ lệ 1/200 khu vực nội thành Việc sử dụng phương pháptriển điểm truyền thống không đảm bảo được độ chính xác thể hiện các đốitượng trên bản đồ Khi đó, Sở Nhà đất Hà Nội yêu cầu phải tính tọa độ chínhxác từng điểm chi tiết rồi dùng hệ thống mắt lưới chữ thập triển các điểm theotọa độ lên bản đồ Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này thấp do việc tínhtoán tọa độ và triển điểm mất nhiều thời gian (công nghệ thông tin lúc đóchưa phát triển, các phần mềm đồ họa còn hạn chế, máy vi tính còn quá xa xỉđối với các đơn vị thành lập bản đồ) Lúc này, một số nhà khoa học đã nghiêncứu xây dựng các chương trình tính tọa độ điểm chi tiết và triển điểm lên bản

vẽ Việc tính toán và triển điểm khi đó đã trở nên dễ dàng hơn Mặc dầu vậy,với đội ngũ các nhà khoa học trong đó có các giảng viên khoa Trắc địa củatrường Đại học Mỏ - Địa chất và cán bộ đo vẽ chuyên nghiệp nhưng tốc độthành lập bản đồ chậm và nhiều khu vực không thể vẽ đúng được theo thựcđịa Nguyên nhân sau này được phát hiện ra là công nghệ đo vẽ bản đồ số khi

đó vô tình vi phạm một số nguyên tắc đo vẽ truyền thống đó là một số nguyêntắc theo phương pháp truyền thống bị phá vỡ khi đo vẽ bản đồ số:

- Người vẽ phải tham gia trong tổ đo: do lúc này máy vi tình giá thành

Trang 33

cao, người có trình độ vẽ bản đồ số hiếm nên phải vẽ cho nhiều tổ đo;

- Quá trình vẽ phải được thực hiện ngay sau khi đo: bản vẽ bị tồn đọngnhiều ngày do việc đo nhanh hơn việc vẽ;

- Điểm mia triển tuần tự từ trạm này sang trạm khác theo trìn h tự đo:các điểm mia chuyển vẽ toàn bộ lên bản vẽ làm cho việc xác định các sai lệchkhông xác định được khi có một trạm sai

Đúc kết lại, đó chính là thông tin trực quan không được lưu trữ trong sổ

đo dẫn đến người vẽ bị mù thông tin Đặc điểm của thông tin này là chỉ lưutrữ trong thời gian ngắn và chỉ những người trực tiếp ở thực địa mới nắmđược, đồng thời chỉ phát hiện khi có sai sót chẳng hạn sai điểm trạm máy,điểm định hướng; sai dạng hình thửa, địa vật Chính vì lẽ đó, người vẽ trênmáy tính nối các điểm chi tiết không chính xác, các điểm đúng điểm saichồng chéo không phát hiện được làm cho quá trình thành lập bản đồ gặpnhiều khó khăn

Với sự phát hiện này, việc sử dụng thông tin trực quan là nền tảng cơbản để xây dựng các chương trình thành lập bản đồ số địa chính như PickMap(nhóm Pick), GeoSoft (Đinh Công Hòa), Famis (Tổng cục địa chính) Cácchương trình cho phép in bản vẽ theo từng trạm đo, từng khu đo do đó tậndụng được thông tin trực quan của tất cả thành viên trong tổ đo, thậm chí chỉcần một người trong tổ đo biết sử dụng phần mềm cũng có thể thành lập đượcbản đồ số một cách dễ dàng

2.3.2 Ứng dụng bản đồ số địa chính ở Việt Nam

Hiện nay, nhiều cơ quan quản lý ở Việt Nam như Bộ Tài nguyên môitrường, Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện thông tin tư liệu và bảo tàng địachất, Viện địa lý thuộc trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia

đã ứng dụng GIS để quản lý dữ liệu không gian và thuộc tính bản đồ số Đồngthời với việc quản lý thông tin đó đã xây dựng nên các ứng dụn g phục vụ chonhu cầu của mình Các phần mềm được dùng chủ yếu là ArcGIS, ArcInfor,ArcView, GIS office, MGE, MapInfor

Đối với bản đồ số địa chính, việc ứng dụng chỉ mới tập trung trong việctra cứu thông tin, thống kê đất đai, quy hoạch đất đai, đền bù g iải phóng mặtbằng Tuy nhiên, chưa có hệ thống phần mềm hoàn chỉnh nào giải quyết cácbài toán ứng dụng bản đồ số một cách hoàn chỉnh Mỗi khi cần sử dụng bản

đồ số trong các ứng dụng đều cần phải qua nhiều khâu, nhiều phần mềm khácnhau dẫn đến sản phẩm ứng dụng không đồng nhất, khó áp dụng

Qua nghiên cứu cho thấy các nền đồ họa thường dùng phục vụ quátrình thành lập bản đồ địa chính số hiện nay là Autocad và Microstation Các

Trang 34

phần mềm này có các chức năng vẽ, quản lý và xử lý các đối tượng đồ họamạnh các phần mềm nước ngoài chưa giải quyết được triệt để các công đoạncủa quá trình thành lập bản đồ địa chính số theo đặc thù của bản đồ địa chínhViệt Nam.

Các phần mềm Việt Nam tuy đã giải quyết được khá nhiều vấn đềnhưng các phần mềm độc lập thì chỉ giải quyết những vấn đề đơn lẻ, còn lạithì là các mô đun phần mềm phụ thuộc vào nền đồ họa của các phần mềmnước ngoài nên việc cập nhật phần mềm gặp nhiều khó khăn

Một số nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài như giải phápchuyển đổi bản đồ địa chính từ hệ tọa độ HN72 sang hệ VN2000; Khai thácthông tin không gian và thuộc tính bản đồ địa chính; Cập nhật thông tin từExcel sang Famis; Phân tích biện pháp ánh xạ trong môi trường đồ họa phục

vụ xây dựng hệ đồ họa độc lập; Nghiên cứu phương pháp chính xác hóa sốliệu về vị trí, kích thước và diện tích thửa đất phục vụ thành lập bản đồ địachính và quản lý thông tin đất đai; Nghiên cứu quy trình công nghệ chuẩn hóa

hệ tọa độ, chính xác hóa và hiện chỉnh bản đồ địa chính

Các nghiên cứu này mới giải quy ết được một phần nhỏ trong hoànthiện công nghệ thành lập và ứng dụng bản đồ số địa chính

Trong khi đó, thuận lợi ở nước ta là công nghệ thông tin đang phát triểnmạnh mẽ, trang thiết bị máy móc đã hiện đại hóa ngang tầm thế giới, các nhàkhoa học ở Việt Nam cả về lĩnh vực chuyên môn và công nghệ thông tin cũngnhư lực lượng cán bộ kỹ thuật và nhân công đều không thiếu

Với thuận lợi như vậy, tại sao sản phẩm bản đồ địa chính số ở nước tachưa được đầy đủ, chưa được chuẩn hóa, khả năng cập nhật kém, các ứn gdụng của bản đồ địa chính số còn quá ít

2.3.3 Đánh giá công nghệ thành lập và ứng dụng bản đồ số địa chính

a Đo vẽ chi tiết

Với quy trình hiện nay, do quy định phân mảnh bản đồ địa chính nênviệc đo chi tiết thực hiện đo đạc phủ trùm toàn khu đo Tất cả các số liệu đođược chuyển vẽ trên máy vi tính bằng các phần mềm chuyên dụng rồi sử dụngcác bản vẽ sơ họa hoặc ghi chú để thành lập bản đồ tổng thể Quy trình đo vẽnhư vậy, không thể chuyên môn hóa công việc ngoại nghiệp và nội nghiệp màbắt buộc người vẽ phải là người trực tiếp ở ngoại nghiệp Với công nghệthông tin hiện nay, việc chuyển dữ liệu qua mạng ở hầu hết các địa phương vềtrung tâm xử lý đều thực hiện được Do đó, không chuyên môn hóa công việcnội nghiệp và ngoại nghiệp là một nhược điểm của quy trình đo vẽ thành lậpbản đồ số hiện nay

Trang 35

b Biên tập bản đồ

Quá trình biên tập bản đồ địa chính gồm các bước:

- Tạo bản đồ tổng thể khu đo

- Tạo sơ đồ phân mảnh và tạo tờ bản đồ địa chính

- Biên tập tờ bản đồ địa chính

* Tạo bản đồ tổng thể khu đo

Với các thiết bị đo đạc, tiến hành xác định chính xác vị trí các đốitượng nội dung bản đồ địa chính Quá trình này được thực hiện bởi một hoặcnhiều tổ đo khác nhau tùy thuộc vào quy mô của khu vực đo vẽ và thời gianyêu cầu hoàn thành

Với mỗi số liệu đo hàng ngày phải chuyển vẽ lên phần mềm ứng dụng

đồ họa như Autocad hoặc Microstation Tiến hành nối các điểm chi tiết theothông tin trực quan đã được thu thập Quá trình này phải được thực hiện ngaysau khi đo hết một ngày để tận dụng thêm khả năng ghi nhớ c ủa các thànhviên tổ đo Kết quả, có được bản vẽ của từng ngày đo và từng tổ đo khácnhau Tiến hành ghép tất cả các bản vẽ này sẽ được bản đồ tổng thể khu đo.Quá trình này hiện nay thường sử dụng các phần mềm chuyên dụng khácnhau tùy vào loại máy đo và đơn vị sản xuất đồng thời sử dụng phần mềmAutocad hoặc Microstation để làm nền đồ họa

Từ bản đồ tổng thể, tiến hành đối soát, sửa chữa triệt để những sai sótsau đó thu thập các thông tin địa chính ban đầu Các thông tin này thườngđược nhập vào bản vẽ s ố dưới dạng văn bản (Text) Kết quả của quá trình nàyđược một bản vẽ tổng thể khu đo có chứa các thông tin địa chính ban đầu.Bản vẽ này cần được phân lớp theo chuẩn phân lớp bản đồ địa chính quy

định Với quy định hiện nay, chuẩn phân lớp thông tin các đối tượng nội dungbản đồ địa chính (phụ lục 18-thông tư 25/2013/TT-BTNMT) theo các Level

từ 1 đến 63 của Microstation nên bản vẽ tổng thể được chuyển vềMicrostation để thực hiện bước tiếp theo Tiến hành tìm sửa hết lỗi khép kíntrên bản đồ tổng thể khu đo rồi tạo mô hình Topo Đây là một bước cần thiết

để làm cơ sở phân mảnh bản đồ địa chính

* Tạo sơ đồ phân mảnh và tạo tờ bản đồ địa chính

Việc chia mảnh bản đồ địa chính thực hiện theo phương pháp chia mặtphẳng chiếu thành các ô vuông có kích thước tùy thuộc tỷ lệ bản đồ thành lập

Tỷ lệ bản đồ địa chính nhỏ nhất theo quy định hiện nay là 1/10000 và lớn nhất

là 1/200 Số hiệu mảnh bản đồ địa chính trên một khu đo không được trùngnhau Nếu khu đo có nhiều tỷ lệ bản đồ cần thành lập, tiến hành chia và đán h

Trang 36

số mảnh bản đồ tỷ lệ nhỏ trước Lúc này, ta được sơ đồ phân mảnh trên toànkhu đo.

Sau khi tạo bảng chắp, tiến hành tạo các tờ bản đồ địa chính thành cácbản vẽ riêng biệt Các thửa đất bị đường biên ô vuông tờ bản đồ (khung trong)cắt qua được lấy theo nguyên tắc: thửa đất nằm trên tờ bản đồ chứa phần lớndiện tích trừ trường hợp mở rộng khung theo quy định ở ranh giới của khu đohay đường địa giới hành chính để hạn chế số mảnh bản đồ tăng thêm

Một nhược điểm lớn của quy trình mang tính hệ thống là cách phânmảnh bản đồ Trong giai đoạn đầu thành lập bản đồ số địa chính (Quy phạmtạm thời 1996 của Tổng cục địa chính) các mảnh bản đồ địa chính được chiatheo tọa độ địa lý giống như bản đồ địa hình với mục đích ghép nối và quản lýthông tin địa chính và địa hình trên cùng một tờ bản đồ Sau đó, từ quy phạm

1999 đến nay (thông tư 25/2014/TT-BTNMT) quy định chia mặt phẳng chiếucủa khu đo thành thành các ô vuông gọi là các mảnh bản đồ địa chính theo tọa

độ vuông góc và từ đó gắn số hiệu của mảnh bản đồ Cách chia mảnh nàydùng để chia nhỏ bản đồ tổng thể khu đo thành các bản đồ nhỏ hơn để quản

lý, xác định đồng thời xác định giá trị đơn trị cho các thửa đất: mã thửađất=MX.SB.ST mới chỉ thỏa mãn yêu cầu về tính đơn trị của hệ thống thamchiếu thửa đất

Với cách chia mảnh như hiện nay, nhiều yêu cầu của hệ thống thamchiếu thửa đất khác không thỏa mãn và mối quan hệ liền kề giữa các thửa đất

- Các thửa đất ở biên tờ bản đồ bị mất mối quan hệ liền kề: có nhiềuthửa đất để tham chiếu cần phải ghép nhiều tờ bản đồ xung quanh, thậm chí

có những thửa đất lớn không thể thể hiện được trong một tờ bản đồ;

- Khả năng bảo trì kém, chẳng hạn, ở một số nơi hệ thống bản đồ địachính số được thành lập tốn kém nhiều thời gian và kinh phí nhưng hệ thốngbản đồ này do không được cập nhật thường xuyên nên khó có thể sử dụng đểcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vẫn phải sử dụng các bản vẽ đođạc đơn lẻ để cấp GCNQSDĐ;

Trang 37

- Khi chuyển đổi hệ tọa độ bản đồ hoặc có thay đổi về số liệu tọa độgốc, toàn bộ các mảnh bản đồ bị phân chia lại, khi đó các thửa đất không cònbảo toàn được thông tin thuộc tính.

Bên cạnh đó, việc quản lý thửa đất theo các tờ bản đồ đòi hỏi quá trình

đo đạc phải hoàn thiện mới tiến hành phân chia được các mảnh bản đồ để biêntập riêng sau đó mới xác định được số hiệu thửa đất để lập hồ sơ thửa đất.Đây là một bất cập lớn trong quá trình thành lập hồ sơ và làm giảm hiệu quảcông việc một cách rõ rệt, không tận dụng được khả năng làm việc song songgiữa xây dựng bản đồ và hồ sơ địa chính

Các bước biên tập một tờ bản đồ địa chính:

- Tìm sửa lỗi khép kín thửa đất trên tờ bản đồ địa chính

- Tạo mô hình Topo cho các lớp thông tin thành tạo thửa đất;

- Đánh số thửa;

- Gán thông tin địa chính ban đầu;

- Biên tập nhãn thửa;

- Tạo khung và biên tập khung bản đồ địa chính

Quá trình này một số bước được làm bằng mô đun chuyên dụng Hiệnnay ở nhiều cơ sở sản xuất thường sử dụng mô đun Famis hoặc TMV-Mapchạy trên nền MicroStation

Với việc sử dụng các mô đun chạy trên các nền đồ họa nước ngoài dẫnđến nhiều vấn đề không thể chủ động giải quyết theo hướng thay đổi mềmdẻo, khó cập nhật, khó quản lý đặc biệt ở Việt Nam rất hay thay đổi các quyđịnh kỹ thuật về công tác thành lập bản đồ địa chính

c Quản lý dữ liệu phục vụ xây dựng ứng dụng bản đồ số địa chính

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và đo đạc thành lập bản đồ địachính hiện nay đang sử dụng hai hệ thống riêng biệt nên khó quản lý và cậpnhật Mỗi hệ thống có khuôn dạng dữ liệu khác nhau, chính vì vậy, phảichuyển đổi dữ liệu bản đồ từ khuôn dạng này sang khuôn dạng khác Việcchuyển đổi dữ liệu dẫn đến dữ liệu có thể không được đầy đủ Khi có mộtthay đổi nhỏ về thông tin một thửa đất sẽ phải tốn nhiều thời gian để cập nhật

dữ liệu đồng thời trên cả hai hệ thống và đòi hỏi những người có kỹ thuật caomới làm được điều này, trong khi đó việc biến động đất đai và cập nhật thôngtin đất đai là một việc diễn ra thường xuyên

1 Quản lý dữ liệu

Cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính lưu trong 2 dạng file:

- File đồ hoạ *.DGN của Microstation;

Trang 38

- File *.POL lưu trữ mối quan hệ Topo của các đối tượng vùng đồngthời lưu trữ cả dữ liệu thuộc tính của chúng.

Đối tượng dạng vùng quan trọng nhất của bản đồ địa chính cũng như

hồ sơ địa chính là thửa đất Mỗi một thửa đất có một nhãn thửa dưới dạng một

kí hiệu Nhãn thửa này dùng để liên kết thửa đất với dữ liệu thuộc tính và cácphép tra cứu theo thửa đất đều được chọn theo nhãn này

Hình dưới đây mô tả kiểu lưu trữ mô hình Topo trong các mô đun biêntập bản đồ địa chính hiện nay ở Việt Nam

§iÓm nh·n thöa §­ êng ranh giíi thöa

( Cell l­ u trong file DGN) (Line, Line string l­u trong file DGN) ChØ sè liªn kªt X,Y ChØ sè liªn kÕt CÆp XY

116

ChØ sè thöa ChØ sè ®­ êng Danh s¸ch ® ­êng

21 §iÓm nh·n

§­êng 21 116,145

x-axis

Hình 2.3 Mô tả kiểu lưu trữ Topology

2 Chuẩn dữ liệu địa chính

Trong các quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa chính phần biên tậpbản đồ, mặc dầu đã có những quy định cụ thể về phân loại đối tượng, phânlớp thông tin và thuộc tính của đối tượng (khuôn dạng DG N củaMicrostation), sau đó chuẩn dữ liệu địa chính theo thông tư 17/2010/TT-BTNMT yêu cầu "Chuẩn định dạng dữ liệu sử dụng trong trao đổi, phân phối

dữ liệu địa chính được áp dụng theo ngôn ngữ định dạng địa lý Geography Markup Language); chuẩn định dạng siêu dữ liệu sử dụng trongtrao đổi, phân phối siêu dữ liệu địa chính được áp dụng theo ngôn ngữ định

Trang 39

(GML-dạng mở rộng (XML-eXtensible Markup Language)" (Điều 9 Trao đổi, phân

phối dữ liệu và siêu dữ liệu địa chính - mục 2) Mô hình dữ liệu Topo chođối tượng thửa đất dựa trên cơ sở mô hình cấu trúc dữ liệu dan h sách cạnhliên kết kép (DCEL) Tuy nhiên, các quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địachính ở Việt Nam lại thay đổi liên tục làm cho việc xây dựng và chuẩn hóa dữliệu địa chính gặp nhiều khó khăn

d Vấn đề thay đổi quy định kỹ thuật

Từ khi thành lập bản đồ số đến nay, các văn bản quy định kỹ thuật vềcông tác thành lập bản đồ số địa chính đã thay đổi khá nhiều Đầu tiên là Quyphạm thành lập bản đồ địa chính tạm thời năm 1996, tiếp đến là Quy phạmthành lập bản đồ địa chính năm 1999 , Quy phạm thành lập bản đồ địa chínhnăm 2008 , Thông tư 21/2011/TT-BTNMT năm 2011, Thông tư 55/2013/TT-BTNMT năm 2013, Thông tư 25/2014/TT-BTNMT năm 2014 Ngoài ra, còn

có các văn bản kỹ thuật khác liên quan đến công tác thành lập bản đồ số địachính như Thông tư 973/2001/TT-TCĐC, Luật đất đai 2003, Luật đất đai

2013, thông tư 23/2014/TT-BTNMT năm 2014, thông tư BTNMT năm 2014

24/2014/TT-Các thay đổi lớn bao gồm: thay đổi hệ tọa độ từ hệ tọa độ HN72 sang

hệ tọa độ VN2000; thay đổi mã loại đất trên bản đồ địa chính ; thay đổi kinhtuyến trục địa phương; thay đổi thông số đơn vị đo (Working Units) ; thay đổitọa độ điểm trung tâm làm việc ; thay đổi hồ sơ kỹ thuật thửa đất

Trong các thay đổi đó, có những thay đổi làm phá vỡ hệ thống bản đồ

đã thành lập cũ làm cho tọa độ các đối tượng trên bản đồ thay đổi hoàn toàn.Chính vì vậy, khi phân mảnh bản đồ theo quy định kỹ thuật hiện hành cácthửa đất sẽ không bảo toàn được thông tin, các bản đồ được thà nh lập qua cácthời kỳ thay đổi đó sẽ không thể ghép nối với nhau trong cùng một hệ thống

2.3.4 Những vấn đề tồn tại trong thành lập bản đồ địa chính

Qua tìm hiểu tổng quan về công nghệ thành lập và ứng dụng bản đồ sốđịa chính hiện nay ở Việt Nam cho thấy, quá trình biên tập mảnh bản đồ địachính chỉ được thực hiện khi đo vẽ xong bản đồ tổng thể Vấn đề đăng ký, xétduyệt thực hiện sau khi hoàn thiện bản đồ địa chính dẫn đến nhiều bất cập,kéo dài thời gian, những sai sót phát hiện khi đăng ký xét duyệt cập nhật đôikhi không đồng bộ với cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính Các bản vẽ sau biên tậpkhó có thể chuẩn hóa theo chuẩn dữ liệu địa chính quy định Kiểu chia mảnh

và lưu trữ mô hình Topo như Famis sẽ làm cho nhiều yêu cầu của hệ thốngtham chiếu thửa đất không thỏa mãn, mối quan hệ liền kề giữa các thửa đất bịphá vỡ, bản chất đối tượng bị phá vỡ do bị chia cắt bởi các ranh giới chia

Trang 40

mảnh Khi có sự biến động về thửa đất, cần phải tạo lại mô hình Topo và lúcnày, người sử dụng phải gắn thêm các dữ liệu thuộc tính cho các vùng phátsinh Việc gắn thêm các dữ liệu thuộc tính thường khó kiểm soát bởi các vùngbiến động có thể ở nhiều nơi trên bản vẽ Chính vì vậy, người sử dụng thôngthường gán lại toàn bộ cơ sở dữ liệu thuộc tính trên bản vẽ khi có bất kỳ m ộtbiến động nào về vùng dù chỉ những thay đổi nhỏ Điều này gây tốn thời gian

và khó kiểm soát

Đối với việc quản lý dữ liệu bằng GIS cần phần mềm của nước ngoàinhư công nghệ ESRI có đặc điểm là giá thành bản quyền phần mềm cao, để

sử dụng phần mềm cần những người có trình độ kỹ thuật cao, sản phẩm bản

đồ địa chính cần chuẩn hóa đồng bộ, khó có thể áp dụng với những cán bộquản lý đất đai địa phương như cán bộ địa chính xã Đặc biệt, những chứcnăng của phần mềm chưa thực sự phù hợp với quá trình thành lậ p và ứngdụng bản đồ số địa chính ở Việt Nam

Tóm lại, vấn đề tồn tại cần nghiên cứu gồm hai vấn đề chính:

- Công nghệ thành lập bản đồ số địa chính cần có những giải pháp hoànthiện như thế nào để vừa thuận lợi trong quá trình thành lập vừa dễ dàng trongcông tác cập nhật biến động đất đai phù hợp với sự tiến bộ của khoa học côngnghệ ngày nay;

- Quản lý dữ liệu theo cấu trúc như thế nào để xây dựng hệ thống phầnmềm đồ họa độc lập phù hợp với điều kiện Việt Nam trong công tác thành lập

và ứng dụng bản đồ số địa chính

2.4 Quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính tại Việt Nam

2.4.1 Khái quát quy trình

Bản đồ địa chính được lưu trữ trong bộ hồ sơ địa chính ở các cơ quanquản lý đất đai các cấp là bộ bản đồ đã được biên tậ p từ bộ bản đồ cơ sở đo

vẽ Có thể khái quát quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính theo sơ

đồ trên hình 2.4

 Các công đoạn từ lập lưới khống chế địa chính, lập lưới khống chế

đo vẽ, đo vẽ chi tiết, lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất đến biên tập bản đồ địa chính

cơ sở là do những người làm công tác đo đạc thực hiện Công tác này đượctiến hành phần lớn trên thực địa

 Các công đoạn từ biên tập bản đồ địa chính, in bản đồ sẽ được thựchiện trong các xí nghiệp bản đồ

Các công việc đăng ký, thống kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, chỉnh sửa nội dung bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính là do nhữngngười làm công tác quản lý địa chính ở các cấp thực hiện

Ngày đăng: 02/09/2022, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lâm Quang Dốc (2002), Bản đồ chuyên đề, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ chuyên đề
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: NXBĐại học Sưphạm
Năm: 2002
2. Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Lê Huỳnh (1995), Giáo trình bản đồ học, NXB bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bản đồ học
Tác giả: Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Lê Huỳnh
Nhà XB: NXB bảnđồ
Năm: 1995
3. Triệu Văn Hiến (1992), bài giảng bản đồ học, ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài giảng bản đồ học
Tác giả: Triệu Văn Hiến
Năm: 1992
4. Trần Trung Hồng (1997), Giáo trình in bản đồ , NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 5. Trần Trung Hồng (2001), Trình bày bản đồ , NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình in bản đồ", NXB Giao thông vận tải, Hà Nội5. Trần Trung Hồng (2001),"Trình bày bản đồ
Tác giả: Trần Trung Hồng (1997), Giáo trình in bản đồ , NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 5. Trần Trung Hồng
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
8. Trương Anh Kiệt, Lê Văn Hường (2001), Công tác trắc địa ảnh ngoại nghiệp, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác trắc địa ảnh ngoại nghiệp
Tác giả: Trương Anh Kiệt, Lê Văn Hường
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
9. Trương Anh Kiệt (2001), Phương pháp đo ảnh đơn, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đo ảnh đơn
Tác giả: Trương Anh Kiệt
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
10. Luật đất đai (2013), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai
Tác giả: Luật đất đai
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
11. Nguyễn Trọng san (1999), Các phương pháp trắc địa bản đồ trong quản lý đất đai, ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp trắc địa bản đồ trong quản lý đất đai
Tác giả: Nguyễn Trọng san
Năm: 1999
12. Nguyễn Trọng san (2001), Bài giảng đo đạc địa chính, ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng đo đạc địa chính
Tác giả: Nguyễn Trọng san
Năm: 2001
13. Nguyễn Trọng San, Đào Quang Hiến, Đinh Công Hoà (2002) Giáo trình Trắc địa cơ sở, NXB xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Trắc địa"cơ sở
Nhà XB: NXB xây dựng
15. Lâm Quang Dốc (2002), Bản đồ chuyên đề, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ chuyên đề
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: NXBĐại học Sưphạm
Năm: 2002
16. Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Lê Huỳnh (1995), Giáo trình bản đồ học, NXB bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bản đồ học
Tác giả: Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Lê Huỳnh
Nhà XB: NXB bảnđồ
Năm: 1995
17. Triệu Văn Hiến (1992), bài giảng bản đồ học, ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài giảng bản đồ học
Tác giả: Triệu Văn Hiến
Năm: 1992
18. Trần Trung Hồng (1997), Giáo trình in bản đồ , NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 19. Trần Trung Hồng (2001), Trình bày bản đồ , NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình in bản đồ", NXB Giao thông vận tải, Hà Nội19. Trần Trung Hồng (2001),"Trình bày bản đồ
Tác giả: Trần Trung Hồng (1997), Giáo trình in bản đồ , NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 19. Trần Trung Hồng
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
22. Trương Anh Kiệt, Lê Văn Hường (2001), Công tác trắc địa ảnh ngoại nghiệp, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác trắc địa ảnh ngoại nghiệp
Tác giả: Trương Anh Kiệt, Lê Văn Hường
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
23. Trương Anh Kiệt (2001), Phương pháp đo ảnh đơn, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đo ảnh đơn
Tác giả: Trương Anh Kiệt
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
24. Luật đất đai (2013), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai
Tác giả: Luật đất đai
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
25. Nguyễn Trọng san (1999), Các phương pháp trắc địa bản đồ trong quản lý đất đai, ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp trắc địa bản đồ trong quản lý đất đai
Tác giả: Nguyễn Trọng san
Năm: 1999
26. Nguyễn Trọng san (2001), Bài giảng đo đạc địa chính, ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng đo đạc địa chính
Tác giả: Nguyễn Trọng san
Năm: 2001
6. Trần Trung Hậu (2014), Ứng dụng cụng nghệ GNSS xây dựng lưới khống chế đo vẽ, Luận văn tốt nghiệp đại học – trường ĐH Mỏ - ĐC Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w