1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích tâm lý học ứng dụng hội chứng OCD

32 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tâm Lý Học Ứng Dụng Hội Chứng OCD
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Ngọc Vui
Trường học Đại Học Hoa Sen
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Báo cáo cuối kỳ
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN HỌC TÂM LÝ HỌC – KHÁI NIỆM VÀ ỨNG DỤNG BÁO CÁO CUỐI KỲ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG RỐI LOẠN ÁM ẢNH CƯỠNG CHẾ (OCD) TRÍCH YẾU Đại học Hoa Sen xác định các giá trị cốt lõi làm kim chỉ nam cho mọi ho.

Trang 1

MÔN HỌC TÂM LÝ HỌC – KHÁI NIỆM VÀ ỨNG DỤNG

BÁO CÁO CUỐI KỲ

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG RỐI LOẠN

Trang 2

TRÍCH YẾU

Đại học Hoa Sen xác định các giá trị cốt lõi làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của từng thànhviên trong nhà trường trong việc thể hiện tinh thần hiếu học, thể hiện tư duy độc lập, tinh thần tráchnhiệm, tính chính thực, tôn trọng sự khác biệt và đa dạng năng động, sáng tạo, cũng như việc camkết dẫn đầu về chất lượng Hầu hết các sinh viên đều được học tổng quát qua tất cả các môn cơ bảnrồi sẽ nâng cao vô chuyên ngành chứ không chỉ tập chung riêng cho chuyên ngành toàn bộ

Bài báo cáo này là kết quả của việc hoạt động nhóm trong phần công việc được giao ở môn họcTâm lý học – Khái niệm và Ứng dụng với đề tài hội chứng OCD – Rối loạn ám ảnh cưỡng chế Đây

là một đề tài hết sức thú vị, chúng tôi khá dễ dàm nắm bắt được kiến thức cần thiết, mục tiêu, hướng

đi của hội chứng này Mục tiêu chính của đề tài này giúp chúng tôi xác định, mô tả và giải thích vềhội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, cụ thế là khảo sát ở các sinh viên Hoa Sen Môn học giúpchúng tôi hiểu được những tác nhân ảnh hưởng đến tâm lý con người cũng như là những triệu chứngthường gặp phải và hướng giải quyết, khắc phục để cải thiện tốt hơn

Trang 3

2.1 Khái niệm rối loạn ám ảnh cưỡng chế (hội chứng OCD) 7

11

3.5 Các phương pháp phổ biến hiện nay được sử dụng trong việc trị liệu

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Ngọc Vui giảng viên hướng dẫn môn Tâm lý học –Khái niệm và Ứng dụng đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ cho chúng tôi, để có thể hoàn thành đề tài này.Trong quá trình thực hiện đề tài sẽ không tránh khỏi sai sót, vì thế nhóm rất mong nhận được sự đóng góp

ý kiến của cô và các bạn để có kinh nghiệm thực hiện những đề tài sau hoàn thiện hơn

Xin cảm ơn

Trang 6

Hình 12: Kết quả khảo sát từ hình ảnh viên gạch ngoài đường 20

Hình 13: Kết quả khảo sát từ hình ảnh những viên gạch nhỏ trên đường phố 21

Trang 7

-DẪN NHẬP

Nhóm chúng tôi chọn đề tài phân tích và khảo sát về hội chứng OCD – Rối loạn ám ảnh cưỡng chế, đềtài này giúp người làm khảo sát nhận biết được có mắc bệnh hay không, các triệu chứng và sự tác độngcủa nó vào tâm lý con người, đánh giá mức độ và đưa lời khuyên điều trị

Các mục tiêu cụ thể

1 Khảo sát và đánh giá về hội chứng OCD đối với sinh viên Hoa Sen

2 Đem đến cái nhìn tổng quan về ảnh hưởng tâm lý của hội chứng OCD

3 Giúp sinh viên Hoa Sen nhận biết được tình trạng của mình về hội chứng OCD

Trang 8

1 Mục địch nghiên cứu

 Nhằm xác định, mô tả và giải thích về hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế trong sinh viên

 Thông qua khảo sát mà đưa ra được những kết quả từ đó có những kết luận hiệu quả về hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế

2 Tổng quan

2.1 Khái niệm rối loạn ám ảnh cưỡng chế (hội chứng OCD)

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (tiếng Anh: Obsessive-Compulsive Disorder - OCD)

Là một rối loạn tâm lý có tính chất mãn tính, dấu hiệu phổ biến của bệnh đó là ý nghĩ ám

ảnh, lo lắng không có lý do chính đáng và phải thực hiện các hành vi có tính chất ép buộc

để giảm bớt căng thẳng, đây là một dạng trong nhóm bệnh liên quan trực tiếp

đến stress Bệnh còn có tên khác là rối loạn ám ảnh cưỡng bức.

 Khi mắc bệnh, các suy nghĩ và nỗi sợ không mong muốn (hay còn gọi là sự ám ảnh) xuất

hiện liên tục và khiến bệnh nhân lặp đi lặp lại các hành động cưỡng chế

Người bị ảnh hưởng của bệnh có những ý nghĩ và hành vi lặp lại một cách vô nghĩa mà

không kiểm soát được chẳng hạn rửa tay hàng chục lần mặc dù tay đã sạch hay dành quá nhiều thời gian để sắp xếp đồ vật trong nhà quá mức gọn gàng cần thiết

 Mức độ của bệnh có thể từ nhẹ đến nặng, nếu bị nặng mà không được điều trị sẽ làm thoái

hóa khả năng làm việc, học tập thậm chí làm người bệnh không thoải mái trong chính căn nhà của mình, họ có thể mất vài giờ một ngày chỉ để thực hiện các hành vi cưỡng chế

Trang 9

Hình 1: Ảnh về hội chứng OCD

2.2 Lịch sử nghiên cứu hội chứng OCD

 Vào thế kỷ XVII, những ám ảnh và cưỡng chế thường được mô tả như những triệu chứng của sự

u uất tôn giáo

 Các khái niệm hiện đại về OCD bắt đầu phát triển vào thế kỷ 19, khi Khoa Tâm lý học, Khoa học

và Mê học là những lý thuyết phổ biến và khi “chứng loạn thần kinh” ám chỉ một tình trạng bệnh

lý thần kinh

 Giống như chúng ta, các bác sĩ tâm thần khi đó đang đấu tranh để hiểu người bệnh tâm thần bịảnh hưởng bởi các dòng trí tuệ xoay chuyển qua triết học, sinh lý học, vật lý, hóa học và tư tưởngchính trị Những ám ảnh, dần dần được phân biệt với ảo tưởng, trong đó nó không ép buộc đượcphân biệt với “bốc đồng”, bao gồm nhiều dạng hành bộc phát, rập khuôn và không thể cưỡng lạiđược Các bác sĩ tâm thần có ảnh hưởng không đồng ý về việc liệu nguồn gốc của OCD là do rốiloạn ý chí, cảm xúc hay trí tuệ

Trang 10

Hình 2: Bác sĩ đang đấu tranh tâm lý với bệnh nhânTrong cuốn sách giáo khoa tâm thần học năm 1838 của mình, Esquirol (1772-1840) đã mô tảOCD như là một dạng monomania, hoặc mất trí một phần Anh ta dao động giữa việc cho rằngOCD là do trí tuệ rối loạn và ý chí bị rối loạn.

Trang 11

Hình 4: Nhà tâm lý học Griesenger

Trong một phần tư cuối của thế kỷ 19, thể loại chẩn đoán, suy nhược thần kinh (hệ thần kinh không đủ

"tấn"), nhấn chìm OCD cùng với nhiều rối loạn khác

Khi thế kỷ 20 mở ra, cả Pierre Janet (1859-1947) và Sigmund Freud (1856-1939) đã cô lập OCD khỏi chứng suy nhược thần kinh

Hình 5: Nhà tâm lý học Pierre Janet (1859-1947)

Trang 12

Hình 6: Nhà tâm lý học Sigmund Freud (1856-1939)

Freud dần dần phát triển một khái niệm về OCD ảnh hưởng và sau đó dựa trên những ý tưởng của ông

về cấu trúc tinh thần, năng lượng tinh thần và cơ chế phòng vệ Theo quan điểm của Freud, tâm trí của bệnhnhân phản ứng không tốt với những xung đột giữa những xung động không thể chấp nhận được, vô thức vềtình dục hoặc hung hăng và cái ác

3 Triệu chứng hay biểu hiện của hội chứng OCD

3.1 OCD là gì?

Trong cuộc sống ngày càng hiện đại thì các áp lực cuộc sống ngày càng tăng song song đó các loại rối loạn tâm lý cũng ngày càng phổ biến trong các loại rối loạn tâm lý thì OCD cũng là một trong những rối loạn phổ biến không chỉ tồn tại ở một quốc gia mà trên toàn thế giới

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một chứng rối loạn phổ biến, mãn tính và kéo dài, trong đó một người có những suy nghĩ không thể kiểm soát, lặp đi lặp lại (ám ảnh) và hành vi (cưỡng chế) mà họ cảm thấy thôi thúc lặp đi lặp lại

Trang 13

2 Môi trường: Một số nhà nghiên cứu tin rằng bệnh xuất phát từ thói quen liên quan đến hành vi đãhọc được qua thời gian Ví dụ thói quen kiểm tra cửa thường xuyên.

3 Thiếu serotonin: Cấp không đầy đủ của serotonin, một trong những chất hóa học của bộ não, có thểđóng góp cho chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế

4 Liên cầu họng: Một số nghiên cứu cho rằng một số trẻ em phát triển rối loạn ám ảnh cưỡng chế saukhi nhiễm liên cầu nhóm A, liên cầu khuẩn tán huyết beta

Yếu tố nguy cơ:

1 Di truyền học: có nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong một gia đình nếu có người thân như ba mẹ hay concái mắc phải hội chứng OCD thì những thế hệ sau họ có nguy cơ tự phát triển OCD cao hơn

2 Cấu trúc và chức năng của não: theo các cuộc nghiên cứu hình ảnh đã chỉ ra rằng những người mắc hội chứng OCD có sự khác biệt cấu trúc vỏ não trước và dưới vỏ não so với một người bình thường

3 Yếu tố môi trường: từ các chấn thương thời thơ ấu hoặc sau khi bị nhiễm trùng liên cầu một số trẻ

em có khả năng phát triển thành các triệu chứng OCD Hay những hành vi được thực trong thời giandài

.3 Triệu chứng và biểu hiện

 Ở bệnh nhân bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế họ bận tâm về trật tự, chủ nghĩa hoàn hảo, và kiểm soát bản thân và các tình huống ảnh hưởng đến sự linh hoạt, tính hiệu quả và sự cởi mở Sự cứng nhắc và bướng bỉnh trong hoạt động của họ, những bệnh nhân này nhấn mạnh rằng mọi thứ đều được thực hiện theo những cách cụ thể

 Những người mắc phải hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế có thể chỉ có triệu chứng ám ảnh hoặc cưỡng chế hành vi hay cả hai:

 Ám ảnh là những suy nghĩ lặp lại nhiều lần thôi thúc hoặc do hình ảnh tinh thần gây ra làm cho bệnh nhân lo lắng

Trang 14

 Cưỡng chế hành vi là một hành động cứ lặp đi lặp lại nhiều lần và không kiểm soát được để giảmbớt lo lắng hoặc ngăn lại những ám ảnh.

Ví dụ: Sợ vi khuẩn làm cho bệnh nhân cứ lặp lại hành động rửa tay và bệnh nhân không thể kiểm soát được hành vi của bản thân hay phải kiểm tra bếp đã tắt chưa sau khi ra khỏi bếp họ sẽ lặp lại hành động này

vô số lần

.4 OCD ảnh hưởng đến tâm lý bệnh nhân như thế nào?

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế không chỉ gây nên tổn thương về tâm lý như rối loạn lo âu, rối loạn hammuốn tình dục, trầm cảm, ám ảnh sợ: dơ, mà còn tác động đến cuộc sống của bệnh nhân như gây

ra tổn thương về cơ thể của mình nếu không tìm được hướng trị liệu hiệu quả Song song với nhữngtác động tiêu cực nếu bệnh nhân tìm được bác sĩ có hướng điều trị hiệu quả khống chế được bệnh lýthì OCD lại mang đến tích cực trong cuộc sống đặc biệt những người làm những công việc cần tínhcẩn thận tỉ mỉ Và hội chứng OCD có thể xuất hiện ở nhiều độ tuổi từ trẻ vị thành niên đến ngườitrưởng thành

.5 Các phương pháp phổ biến hiện nay được sử dụng trong việc trị liệu cho người mắc hội chứng

rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Hội chứng OCD có hai phương pháp điều trị sau:

1• Liệu pháp nhận thức-hành vi

2• SSRIs

 Liệu pháp nhận thức hành vi thường được các bác sĩ áp dụng trong trị liệu vì phương pháp này mangđến những hiệu quả kiểm soát các triệu chứng tâm thần, xác định cách để kiểm soát cảm xúc, cải thiện các tình trạng ám ảnh và rối loạn lo âu,

 SSRIs là sử dụng thuốc tác động đến não bộ, OCD thường được điều trị bằng clomipramine ức chế tái hấp thu Serotonin (SRI), làm tăng mức serotonin trong não và cho kết quả tốt nhất

Trang 15

 Dựa theo mức độ và tình trạng người bệnh mà chuyên gia tâm lý sẽ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp hoặc kết hợp cả hai phương pháp trên để áp dụng điều trị cho bệnh nhân của mình.

3 Phương pháp khảo sát

4.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu về hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế trong sinh viên mà đối tượngchính là các bạn sinh viên bao gồm cả nam và nữ với độ tuổi trung bình là 20 đang học tập từ bậc CaoĐẳng đến bậc Đại Học tại Trường Đại Học Hoa Sen

4.2 Công cụ nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng duy nhất một nghiên cứu dựa theo biểu mẫu được cài đặt câu hỏi và hình ảnh trên nềntảng kỹ thuật số, qua đó sinh viên chỉ cần thao tác vào đường link dẫn chúng tôi cung câp và trả lời theobiểu mẫu dạng hình ảnh Thay vì những biểu mẫu dạng chữ ngán ngẫm và hầu như mọi sinh viên đều làmbiếng thì tụi mình chọn sử dụng khảo sát dạng hình ảnh đồng thời sử dụng thang đo Likert và được chialàm 4 mức độ biểu cảm (khó chịu) khác nhau tương ức với mỗi mức độ như sau: không khó chịu chút nào(màu xanh) , rất ít (màu đỏ) , hơi khó chịu (màu vàng) , rất khó chịu (màu xanh lá) Dựa vào bảng khảo sátnhóm chúng tôi chia các nguy cơ mắc bệnh thành 4 nhóm như sau:

Nhóm 1: những sinh viên chọn hầu hết đáp án A  bạn chỉ có 10% nguy cơ mắc hội chứng

Nhóm 2: những sinh viên chọn hầu hết đáp án B  nguy cơ của bạn mắc hội chứng xấp sỉ 30%

Nhóm 3 : những sinh viên chọn hầu hết đáp án C  đang ở ranh giới mắc hội chứng với tỉ lệ lên đến70% và đây là con số đáng báo động đấy

Nhóm 4: những sinh viên chọn hầu hết đán an D  bạn nhiều khả năng đang bị hội chứng rối loạn ámảnh cưỡng chế với tỉ lệ lên đến 90-100%

5 Phân tích kết quả

5.1 Kết quả khảo sát

Nhóm thực hiện khảo sát đối với 106 sinh viên tại trường đại học Hoa Sen, trong đó nam chiếm 40% và

nữ chiếm 60%

5.1.2 Phân tích kết quả khảo sát

Dựa vào số lượng đáp án đã thu được từ bài khảo sát, chúng tôi đưa ra kết quả như sau:

Trang 16

- 39 người có nguy cơ mắc chứng OCD dưới 10% , những người này hầu như không hề bị ám ảnh,

hay có những hành vi ép buộc đối với bản thân

- 28 người có nguy cơ mắc chứng OCD xấp xỉ 30% , nhóm này thường không vừa mắt với những

thứ được sắp xếp không theo trật tự, từ đó họ phải tìm cách khắc phục sự khó chịu đó bằng cáchdọn dẹp, vệ sinh nhà cửa ,

- 28 người có nguy cơ mắc chứng OCD lên đến 70% , người thuộc nhóm này thường cảm thấy lo

lắng hơn bình thường về những chuyện xảy ra trong cuộc sống, chẳng hạn khi không biết đã khóacửa chưa họ sẵn sàng đi một quãng đường xa về nhà để tự mình kiểm tra, tự “chữa lành” nhữngmối lo lắng của bản thân

- 11 người có nguy cơ mắc chứng OCD gần như 90%-100%, những người này hay có những ý nghĩ

ám ảnh và những ý nghĩ đó phải đáp ứng các tiêu chí cụ thể, chẳng hạn ám ảnh với việc phải sạch

sẽ Ngoài ra họ có những hành động cưỡng chế để đáp ứng những ý nghĩ đó chẳng hạn như việcphải rửa tay thật nhiều, thật lâu để không cảm thấy dơ bẩn

5.1.3 Phân tích dựa trên hình ảnh khảo sát

Trang 18

Ở bức hình này chúng ta nhìn thấy hai vĩ thuốc tây đã bị uống dở chừng nằm cạnh nhau, nhưng tại sao vỉbên tay phải đang uống hết một nữa lại không dùng tiếp mà lại chuyển qua uống lưng chừng một viên bên

vỉ mới? Đối với người bị mắc chứng bệnh OCD thì cảm thấy rất khó chịu khi việc sử dụng thuốc khôngtheo đúng sự sắp xếp, họ thấy bức rức trong người khi nhìn thấy nó lộn xộn và không nguyên vẹn theo trình

tự Ở đây có đến 40,6 % sinh viên chọn đáp án là không khó chịu chút nào, cũng chứng tỏ rằng đây là vấn

đề khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày và nó hầu như không ảnh hưởng Nhưng vẫn có trường hợpngoại lệ với những sinh viên đang có khả năng phải chịu sự dày vò do căn bệnh gây ra với 24,5% trongtổng số 106 sinh viên chọn rằng họ rất khó chịu khi nhìn vào bức ảnh ( yếu tố này còn phải phụ thuộc vàomức độ khó chịu của họ ở những bức ảnh kế tiếp )

Hình 9: Kết quả khảo sát từ ảnh những viên gạch trong nhàĐến với hình số hai, đây là một sự tách biệt của một hình dạng trong một tập thể đồng nhất hoá Khi ngườimắc bệnh OCD nhìn vào bức ảnh trong đầu họ sẽ liên tưởng đến sự sai lệch, nó cứ ám ảnh trong đầu và lặp

đi lặp lại một cách bất thường và tất nhiên điều này là vô nghĩa vì nó chỉ là một bức ảnh mặc dù người bệnhbiết rằng điều ấy là không bình thường nhưng họ không thể thoát ra được vì họ cứ luôn phải liên tưởng đếnnhững thứ khó chịu nhưng nguồn gốc gây ra OCD, hoặc thậm chí có trường hợp bệnh nhân không biếtđược họ bị mắc bệnh Nhờ đó mà khảo sát hình ảnh được ra đời và giúp cho con người dễ hình dung vềOCD Ở bức ảnh này chỉ số không cảm thấy khó chịu đạt tỉ lệ cao nhất với 30,2% nhưng điều đó không cónghĩa rằng họ không mắc bệnh OCD và để chắc chắn hơn về việc bản thân sinh viên có bị mắc bệnh hay

Trang 19

không còn phụ thuộc vào nhiều bức ảnh có tính chất khá giống nhau, từ đó nhìn chung được tổng thể mức

độ khó chịu thì mới nhận định được rằng bạn có bị chứng bệnh OCD hay không

Hình 10: Kết quả khảo sát từ hình bịch bánhĐến với bức hình thứ ba, chúng ta có thể thấy và đoán được đây là một bịch bánh nhưng được người tạo ra

nó thay đổi vị trí 1 trong số những chiếc bánh còn lại để tạo sự khác biệt, người chụp ảnh đã cố ý chụp nótrong tối với đèn flash được bật và canh gốc cạnh để mặt bánh khác biệt được thể hiện rỏ ràng hơn Điềunày sẽ khiến cho người xem nhận ra sự khác biệt một khác nhanh chống cũng nhằm kích thích cho bộ nãocon người tiếp nhận thông tin rằng đây là một bịch bánh bị lỗi, người bị hội chứng OCD sẽ ngay lập tứcthấy khó chịu và suy nghĩ rằng tại sao người ta lại có thể làm ra một bịch bánh sai trái như thế này được, vàtại sao nó lại bị xếp kì cục như vậy, những câu hỏi tại sao và hình ảnh cứ luôn đeo bám họ Có thể nhìntổng thể cái bịch bánh họ sẽ tưởng tượng ra những điều quái dị từ đó nó sẽ ảnh hưởng đến thói quen sinhhoạt như là sẽ sẽ ngưng việc mua bánh dạng như trong hình vì họ nhìn thấy những loại bánh tương tự sẽtưởng tượng ra hình ảnh sai lệch của sự sắp xếp trong bức ảnh này Qua kết quả được thống kê trong 106sinh viên có thể nhận thấy con số 33% ( không khó chịu chút nào ) và con số 31,1% ( hơi khó chịu ) là sấp

xỉ với nhau Nhưng những con số không hẳng là đưa ra được kết quả họ có bị mắc hội chứng OCD haykhông, hay là có thể một người nhìn vào và tưởng tượng ra một con động vật nào đó ghê rợn làm họ thấy sợsệt và khó chịu Để xác định được chính xác kết quả chúng ta phải đánh giá tổng thể mức độ qua mười bức

Ngày đăng: 02/09/2022, 20:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w