Luận văn Dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Hương Quê nghiên cứu dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Quý Hương nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vật, dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương nhìn từ ngôn ngữ và các biểu tượng; dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương nhìn từ không gian, thời gian và kết cấu, giọng điệu nghệ thuật.
Trang 1DAT HO
VO THI NGQC LAN
DAU AN VAN HOA
TRONG TRUYEN NGAN QUE HUONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thừa Thiên Huế, năm 2016.
Trang 2ĐẠI HỌC
VÕ THỊ NGỌC LAN
DAU AN VAN HOA
TRONG TRUYEN NGAN QUE HUONG
Chuyén nganh: VAN HQC VIET NAM
Mã số: 60220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOANG TH] HUE
Thừa Thiên Hu, năm 2016.
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng ôi,
các số liệu và kết quả nghiền cứu gỉ trong luận văn là trung
thực, được các đồng tác giả cho phép và chưa từng được công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác
"Phú Lộc, ngày 09 thắng 9 năm 2016
Tác giá luận văn
Vo Thị Ngọc Lan
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Huế đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Giáo sư, Tiến sĩ đã nhiệt tỉnh giảng dạy
và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo ~ TS Hoàng Thị Huễ, người đã tận tỉnh hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này XXin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ, cha sẽ cùng tôi tong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Phi: Léc, ngày 09 thắng 09 năm 2016
'Võ Thị Ngọc Lan
Trang 53 Đổi tượng và phạm vi nghiền cứu
4 Phuong phip nghiên cứu
5 Đồng gớp của luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
NỘI DỤNG:
“Chương 1 Đấu Ấn văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương nhìn từ quan niệm
nghệ thuật vỀ con người và thế giới nhân
1.1 Quan niệm nghệ thuật vỀ con người
1.1.1 Hành tình sống và sắng tạo
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật
12 Thể giới nhân vật rong truyện ngắn Quế Hương
2.1.1 Ngôn ngữ mang màu sắc văn hóa Huế
2.1.2 Ngôn ngữ đổi thoại, độc thoại
2.2 Hệ biểu tượng
2.2.1 Những biểu tượng thiên tính nữ
222 Biểu tượng tâm linh
32.3 Biểu tượng dụng hợp văn hóa
Trang 6“Chương 3 Dầu ấn văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương nhìn từ không, thời
sian, kết cấu và giọng điệu nghệ thuật 64
1
Trang 7MỚĐẦU 1-Lý do chọn đề tài
1.1 Văn hóa ~ văn học có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, Văn học là thành tổ của văn hóa nên chị tác động từ văn hóa và ngược lại văn học phản ánh
ân học là một
bộ phân không th tách rời khỏi văn hóa, không th hiểu nó ngoài cái mạch nguyễn
‘van hóa Khi nói đến mỗi quan hệ này, M.Bakhin cũng cho ring: “
ven của toàn bộ văn hóa mi thời nồ tôn tại Không được tách nó khôi các bộ phận khác của văn hóa, cũng như không được như người ta vẫn làm, là trực tiếp gắn nó với các nhân tổ xã hội, ính tế vượt qua đầu văn hóa Những nhân tổ xã hội kinh tế tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, và chỉ thông qua văn hóa, cũng văn hóa mới tác động được ối văn học” 30, 118]
Quan hệ văn hóa ~ văn học vẫn luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Dù vậy, soi chiều vào tác phẩm văn học cụ hễ, sự nghiệp sáng tác của
một nhà văn hiện nay vẫn còn tương đối ít Khảo sát văn học từ quan hệ văn hóa
via itp chúng tam hiểu về bản chất, chức năng của văn học, vừa khảo sắt văn học để
Khảo sắt những truyện ngắn của nhà văn Qu Hương trong mỗi tương quan văn hóa
— văn học sẽ gp phần thúc đấy mỗi quan hệ này phát triển
1:2 Truyện ngẫn Việt Nam đã đạt được nhiề thành tưu nỗi bật, Đến nay, thể
về cội nguồn văn hóa của thời đại mà tác phẩm và tác giả tổ ti Việc
loại này đã đạt định cao đặc sắc cả về nội dung, nghệ tỉ
đội ngũ sing tác ngày cảng đông đáo, đặc biệt là đội ngũ nhà văn nữ Cùng với các nhà văn Việt Nam hiện đại như Lê Minh Khuê, Lý Lan, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thụ Huệ, Hà Khánh Linh, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Trần Thủy Mai, Võ Thị Xuân Tà Nhà văn Qué Huong tuy lặng lẽ âm thẳm nhưng đã có những đóng góp không
số lượng tác phẩm và
nhỏ cho sự phát iễn của truyện ngắn Việt Nam dương đại
1 Sinh ra và lớn lên ở Huế, đồ sau này chuyển vào Hội An và bây giờ sinh sống ở Đà Nẵng nhưng trong những sing tác của mình, Quế Hương đã mang đến
cho người đọc những câu chuyện, những bức tranh về Huế thấm đẫm nhất, tỉnh tế
nhất Đọc văn Quế Hương ta nhận ra những nét riêng của Huế không lẫn vào đầu được Chất Huế thắm vào tùng trang văn của chí, Hu của những ngày xưa, Hu từ
Trang 8trong vô thức vẫn luôn ấn trong sâu thẳm để khi có cơ hội lại bộc phát Những
"người con của Huế được inh ra và lớn lên ở đây, dù có đi xa đến nơi nào thì những,
ấn tượng, những bản sắc vẫn luôn đọng lại, luôn thôi thúc họ nhớ về quê hương và
“Quế Hương cũng vây Với Qué Hương, Huế là sư hn thức tìm về những ngày xưa,
sự ám ảnh với những con người từ trong quá khứ đến hiện tại Không chỉ thế, truyện
ngắn của Quế Hương còn chịu ảnh hưởng sẫu sắc của văn hóa Quảng Nam ~ Đà Nẵng nơi bà đang inh sống, và một vải nét văn hóa khác của đất Việt
Bing tit ca vin sing phong phú, nhẹ nhàng, đầm thắm, tỉnh tế như chính tâm hồn của minh, Qué Hương gồ đều đều từng giọt nhớ thương, giọt day đứt, ấm
cảnh, suy ngẫm, yêu thương vào lòng độc giả Quế Hương viết văn để sống, để giao
hòa âm hỗn với tể giới bê ngoài Ngược với xu hướng tần tục hóa cuộc sng, giải phóng tâm hồn và thân thé, Qué Hương ~ vốn thích sự lãng lẽ, không thích bon chen với đời đã tim hướng đi khác cho mình ““Tạ hóa" không phải là yêu cầu tiên
cquyết Văn chương cần hay và mới, nhưng quan trọng hơn cả à sự cảm thông, đồng,
điệu Quế Hương viết văn như một sự sẻ chia, một nhu cầu tự thú Văn của chị, theo
đồ, không dung nạp những gỉ to tấ, xa xôi, chỉ toàn những điều bé mọn, Vậy mà thể giới ấy vẫn lột hiện biết bao hí nộ ái ố của cuộc đồi; nỗi da điết với các thân phân nhỏ bé vẫn là nỗi day đứt chung cho kiếp người” [12, tr6| Bởi “Đủ lạc lðng tôi vẫn thích tạ ra thứ văn chương siu thim, diy anh sing nhân văn hơn trần tri,
thực dụng, đâm ác Cuộc đời vẫn vậy, chỉ có nhà văn là có thể hay đổi nó theo tâm, cảnh, tâm thế của mình, gợi lương tí hay thú tính" [6, 123] Chỉnh những nết riêng như thể mà mặc dù với số lượng tác phẩm không hẳn là nhiều, tập thơ và không quá 100 truyện ngắn, nhưng Qu Hương đã có chỗ đứng nhất định tong văn
học Việt Nam và lan ra cả bộ phận văn học hải ngoại
1.4 Tuy nhiên, truyện ngắn của chị vẫn chưa được nhiều người tìm hiểu, khai
hóa trong truyện của Quế Hương Từ chính những
thác, đặc biệt là về dấu ấn
điều ý nghĩa như trên tôi chọn đề tải “Diu ấn văn hóa trong truyện ngắn Qué Hương” để nghiên cứu nhằm giúp người đọc thấy được nhiễu diễu thú vỉ, mới mẻ trong truyện ngắn của nhà văn này
Trang 93 Lịch sử vẫn đỀ nghiên cứu,
Hơn 20 năm cầm bút v
một tài sản văn chương có thể nói không quá đồ sộ
cũng không hé nhỏ chút nào tính đến hiện nay với 9 tập truyện và Ï tập thơ, cũng
với một số giả thường lớn nhỏ khác nhau, hưng chúng tôi nhân thấy vẫn côn rt t
những công trình nghiên cứu về tác phẩm văn học của Quế Hương Đặc biệt mang
"nghiên cứu văn hóa và sự dung hợp văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương chưa có sông tình nào chuyên nghiên cứu về vẫn đề này, Nghiên cứu văn chương của Qué Hương mới chủ yêu dùng lại ở các bài viết nhô trong các công tình có tính tổng hợp hay các bài vit nhô trên các bảo, tạp chí, trang web điện từ ĐỀ phục vụ cho
+1 Những bài nghiên cứu chung về truyện ngắn cña Quế Hương
"Những bài nghiên cứu (heo hướng này thường đề cập chung đến đặc điễm
truyện ngắn Quế Hương hay chất văn của chị
“Tìm hiểu những bài nghiền cứu về truyện ngắn Quế Hương, cổ thể nhận tl luân văn Đặc điểm truyện ngắn Quế Hương = Trương Ngọc Lợi (Dại học Sư phạm Huế, 2011) đã đề cập chủ yếu dến các đặc diễm thí pháp trong truyện ngắn Quế Hương từ góc nhì tự sử qua thể giới hình tượng và phương thức trn thuật của truyện ngắn như nhân vật, không — thời gian, ngôn từ, giọng điều, kết cầu
Vi bài viết Nhà ăn Quế Hương: Để con người hiểu nhan khó lắm!,
"Nguyễn Minh Sơn đã nhận xét: “Ở mỗi truyện, người đọc được cảnh tỉnh một cách
nhẹ nhàng nhưng sâu sắc ước sựtha hóa và biển chất của tỉnh cảm con người Đọc xong, người lớn chợt dạy dứt, chen lẫ cả sự chua xót và im hồi, Đôi khi người ta
ấn của chị xoáy sâu vào bi kịch của con người trong đời sống hiện đại
Hương)" [49] Tác giá đã khá quất được nét đẹp thẳm sẫu trong truyền ngắn Quế Hương Bằng giọng văn nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, Qu Hương đã đưa đến người đọc những bài học về sự tha hóa, biển chất vàcả những bì kịch của con người
Thanh Tân cũng đã đưa ra những quan niệm của Qué Huong trong bai vit
“Nhà văn Quế Hương: Chung cắt nỗi buẳn ấm dp “Qué Huong nối đó là cái tạng
sửa ch rồi, hoa nào tôa hương ấy, chị không viết "ie” được bởi muôn viễt "ác", nhà
Trang 10ăn phải thật bản lĩnh, phải thấu thị được bản chất cái ác, để có thể viết nên những
tác phẩm
có thể được thanh lọc tận
(Qué Huong là những diều thiện lương như chính tâm hồn chị, bởi chị không viết ác
tức tác động mạnh mẽ, để rồi sau những rùng mình, tâm hồn người đọc
sâu nhất” [S1] Thanh Tân đã khẳng định, văn chương,
Nguyễn Thị Yến trong bài viết Quế Hương — Khắc khoải và đằm thắm đã
“Một Cuộc Đua”, từ mười mẪy năm qua, dẫu mỗi bài có những thay đỗi tong giọng
văn qua mỗi mẫu chuyện khác nhau, cái cung cách kể chuyện vẫn bảng bạc một
cách thể như nhau, Kể chuyện duyên đăng và ý tứ Trước khi viết tá
sẽ viết gÌ.Cách nào đi nữa, cốt truyện phải thể hiện cái thể giới mà tác giả đang lá biết mình sống [57] Và cách xây đựng nhân vật trong truyện ngắn của Quế Hương thường
an kết hai tuyển nhân vật với nhau chặt chẽ, Chính điện và phản diện nằm kề, đối nhau, hòa quyên ấy nhau, hỗ trợ cho cái đp bật lên
Đến với bài viết Truyện ngắn Quế Hương thể giới của những “nỗi buần đắm áp”, tác giả Lê Thị Hường đã cho ta thấy một th giới nghệ thuật riêng của Quê Hương, đó là thế giới của những mảnh đời không hoàn bảo, tử sinh và khát vọng thoát xác — ti sinh, thể giới của cái đẹp, sự tương giao, của thăng hoa vô thức và thể giới ign văn bản Tác giã khẳng định "Diệt tiêu vai trồ phát ngôn của nhân vật,
dạng ngôn ngữ chủ yếu trong truyện ngẫn Qu Hương là lời độc thoại nộ tâm Ở
Trang 11đẫy câu chuyện phát triển là lời vô thức-
thuật trong truyện ngắn Quế Hương là những gợi ý đáng quý cho chúng tôi trong cquổ trình khảo sắt dầu Ấn văn hóa về con người trong truyện ngân Quế Hương,
Nguyễn Phúc Vĩnh Ba đã có những nhận định rất sâu sắc về các tác phẩm của Qué Huong khi Đọc 27 truyện mgắn của Quế Hương “Đọc truyện chị ta sẽ làm giàu tâm hỗn mình vì học hỏi được nhiễu diều cao quí: bit tric dn, bit quan tim đến kế khác, biết budn dau Văng, cuộc sống hôm nay có nhiều điều đáng ca tung nhưng cũng không thiểu chuyện dau lòng Không ca tụng thì chưa chắc đã làm bai
ai nhưng thiếu phẫn nộ xót xa trước những chuyện đau lòng thì quả là đáng trách, Hãy theo chị mà chiêm nghiệm những bỉ kịch của kiếp người, đ làm giảu mơ mộng một cối người tốt đẹp hơn, cho "gió phủ vân của cõi người đỡ buổi thấu xương ” B7], Đến với truyện ngắn Quế Hương, lòng người sẽ được tẩy rừa bằng sự đồng
¿hạnh trong cuộc đời
Nhìn chung những bài nghiên cứu theo hướng này đều có những đánh giá,
ghỉ nhận khá
thể hiện được đâu Ấn của chị trên văn đàn Việt Nam
ighiém túc về các tác phẩm cũng như sự đóng góp cia Qué Huong,
3.2 Những bài nghiên cứu có đề cập đến dấu Ấn văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương
Những bài nghiên cứu có đề cập đến dấu Ấn văn hóa trong tuyện ngắn Quế Hương đều chỉ mới bàn đến bằng những nhận xét ngắn và khái quất
Trang 12Mặc dù đứng trên góc nhì trần thuật nhưng luận văn Đặc điểm truyện ngắn
Quế Hương — Trương Ngọc Lợi cũng đã giúp chúng ta nhìn thấy được hệ thống
ngôn từ đậm sắc thái địa phương trong truyện ngắn Quế Hương với sự xuất hiện
dây đặc của ngôn ngữ miễn Trung và giọng điệu kể chuyện khi kế về những địa danh, món ăn đặc trưng xứ Huế
"Nguyễn Minh Sơn tong bài viết Nhã văn Quế Hương: Để con người hiểm
‘hau khé lắm!, dã khẳng định: "Truyện của chỉ không kịch tính nhưng có sức mạnh dữ đội của nội tâm, Là một người Huế, giọng văn của Quế Hương lôi cuốn
Lê Thị Hường trong bai viết Truyện ngắn Quế Hương — thể gi
ï của những
“nỗi buần Ấm áp”, cũng đã đề cập đến dồi nét về sự xuống cắp của những dẫu Ấn
ăn hóa dân tộc như văn hóa Chăm, phổ cổ Hội An, lãng tắm Huế và những cảnh Têu phong điều tần, đỗ nắt, Ngoài ra tác giả còn nói đến những biểu tương, cổ mẫu
ăn hóa "Những cổ mẫu (archetipe) Đắc Nước (và những biển thể như biển, dòng
sông, hỗ, mưa ) xuất hiện đậm đặc với nhiễu ý nghĩa rong thể giới nghệ thuật của
“Quế Hương “Nước là yếu 6 gây ra những tưởng tượng sẫu xa nhất rong con người
về sự sống và sự chết, Nước huỹ diệt, nước tấy rửa và nước lâm ái sinh, trong tro, tính khiết : “Biên là hình tượng vừa của sự sống, vừa của sự chết” Nước là sự cứu
tối Nước thanh lọc, ấy rửa tội ỗi, cỏn lại nước-vĩnh-cửu Dắt là biểu tượng cho sự
phần thực, sinh sối này nở Dắt dồn chứa và cung cắp nguồn năng lượng đội dào Đắt sinh nở và tiêu diệt Trong Đắt, trong Nước con người sống đúng bản năng, sống lạ thu ban sơ người” [45] Bài iết đã chỉ a những cổ mẫu Đắt-Nước và biển thể của nó, đây là gợi ý quan trọng cho chúng tôi khảo sắt cảm quan văn hóa từ góc nhìn biểu tượng văn hóa
Lê Thị Minh Hiễn ưong bài viết Tình yêu và hoài niệm xứ Huế trong tuyên ngắn Quế Hương đã khái quát hóa những đc điểm trong truyện ngắn Qué
Trang 13Hương như "Con người rong truyện ngắn của chị mang đầy đủ tính cách, âm hồn
là “Cho dù sống xa Huế nhưng những hoài niệm tình yêu về một xứ Huế mông mơ đường như vẫn luôn thắm dim trong mỗi rang văn của Quế Hương Chính sự am hiểu, gấn bố mầu thịt với văn hóa Huễ từ nếp sống, nẾp nghỉ, thôi quen vỀ con người nơi đây đã tạo dấu Ấn riêng biệt đầy sức sống cho truyện ngắn của Qué Hương” [6, tr 128]
“Từ thực tiễn trên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào chuyên đề cập
đến những dẫu Ấn văn hỏa HuẾ và sự dụng hợp văn hóa rong tuyện ngắn Quế
Hương, và hướng nghiền cứu này là một việc ầm cằn tiết, mới mẻ và bắp dẫn cho những ai yêu thích văn Qué Hương nối riêng và văn học Việt Nam nói chung Các bài nghiên cứu nói trên là tiễn để, sự ơi ý và t liệu tham khảo bổ ích cho tôi trung
“quá trình thực hiện để tài này
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đắi tượng nghiên cứu
DE tai Kho sit cde
Phạm vì nghiên cứu mà đề ti hướng đến là dấu ấn văn hóa trong truyện
"ngắn của Quế Hương nhìn từ bình điện nội dung biểu hiện và hình thức nghệ thuật
Trang 144 Phuong pháp nghiên cứu
“Trong quá trình nghiên
"miễn khác, rong truyện ngắn Quê Hương
~ Phuong php vin dụng lý thuyết văn hóa học: từ những lý thuyết về văn hóa — vin học, có cơ sở để đi sâu phân ích, bình luận, chọn lọc những vấn đề có liên quan
5, Đồng góp cña luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn đã góp phần:
1 Khẳng định vị trí, phong cách và sự đóng góp của nhà văn đối với nền văn
học Việt Nam dương dại
2 Tìm hiểu dấu ấn văn hóa Huế và sự dung hợp văn hóa vùng miễn khác
trong truyện ngắn Qué Huong, dé khẳng định sự tương tác bai chiều giữa văn hóa Với văn học, một vẫn đề đang rắt được quan tâm nghiên cứu
3 Đây là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về truyện ngắn Quế
Hương và là tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm, yêu thích truyện ngắn của nhà
văn nay
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và
liệu tham khảo, nội dung luận văn bao
sằm 3 chương
“Chương 1: Dắu ấn văn hóa rong truyện ngắn Quế lương nhìn ừ quan niệm
"nghệ thuật về con người và thể giới nhân vật
“Chương 2: Diu fn văn hỏa trong truyện ngắn Quê Hương nhì từ ngôn ngữ
và các hệ biểu tượng
“Chương 3: Diu én vin hoa trong truyện ngắn Qu Hương nhị từ không, thời gian, kết cấu và gingđiệu nghệ thuật
Trang 15NỘI DŨNG
Chương 1 Đầu én văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương nhìn từ
tõ nết nhất Trong lời đề từ về tip Hud Minh của Ng Ph Vinh Quyền, Trân Kiêm Đoàn đã viế: "Huế, nguyên (hủy chỉ là một cái tên, nhưng là một c lên định
là Hóa, là Huê, là Quê, la Qué la gi
đi nữa theo các nhà Hu học thi vin mang trong mình “chủng tử” của sư ra đi vì
‘én ngin ma tinh di” (20, tr 5] Chính diều này đã gợi cho ôi suy nghĩ về từ Quê trong bút danh của chí, phải chăng ngay cách đặt bút danh cũng đã thể hiện được nỗi niềm tỉnh cảm kín đáo mã chị dành cho cổ đô
Yy guộc, ánh mắt sâu, lãng lẽ nhìn lung qua khung cửa Tôi
ngoan Tuổi trẻ, Thuong minh mi i, it at, nhỏ nhẹ mà tự tin.” [57] Cô nữ sinh văn
Khoa với "dáng buồn như liễu, diệu gầy như mai” ấy vi đau ôm tiền miễn đến mức, phải nghỉ dạy, phải từ bò một nghề duy nhất mà mình biết Nhưng bằng sự tha thiết với cuộc sống và như chỉ nồi viết giúp chỉ bước ra khôi khung cửa hợp của đời
"mình, chị khối nghiệp viết văn từ năm 1990 với truyện ngắn đầu tay Bd? chin bide Ahác "Đôi chân bit khóc là ấn tượng sâu sắc về bản chân vtvã, lặn ội khắp nơi, tảo tần nuôi con của người mẹ mà chỉ vô cùng kính yêu, cũng là đôi chin in di sb
phận của mẹ và cả của chỉ
Trang 16“Quế Hương lớn lên bằng tình thương và sự che chở của mẹ, bởi bồ chị - một
u trong văn chương của chị "quyết liệt dữ dẫn trộn với da cam
gò xanh xao nhưng rất dễ thương” [12, tr.338] Lớn lên, chị lấy chồng, một thầy
giáo dạy toán cũng nhỏ nhắn như chị, rồi sinh đôi bai thằng, mười mấy năm sau
sinh thêm một thẳng nữa, thể là nhà toàn dan ông, mình chị cô don
Sống trong một căn nhà chỉ toàn đân ông, cho nên những công việc không tên đã ngôn hết phần lớn thời gian của chỉ, chỉ còn lại chút ít dành cho sự thôn thúc lòng mình, tuy nhiên, thời gian í ói đồ chính là thời gian mà chị cảm thấy được sống đúng nghĩa, với những khắt khao, hòa điệu lâm hồn gi gắm vào từng con chữ
"Như Quế Hương từng tâm sự “Viết đối với tôi là sống, chân thành, da điết, vật vã
Người phụ nữ ấy vẫn lặng lề sống, lãng lẽ viết như thể, như vốn tâm hồn tính lạng của mình, không muốn bon chen với đời Bằng tắt cả sự tân tuy với nghề văn,
chị cống hiến cho văn học Việt Nam đương đại những bông hoa thằm lặng tỏa
"hương như chính con người chỉ
Mỗi nhà văn khi bước vào làng văn đều xuất phát từ một hoàn cảnh khác
nhau, riêng Quế Hương bước vào làng văn với hoàn cảnh thật đặc biệt: “Rời bỏ một
nghề duy nhất mình biết, đeo duổi ới 18 năm thì còn biết lầm gì? Thể giới bỗng họp lại ong bốn bức tường, việc nhà, đau ôm, khó khăn Có lẫn tôi buôn bã ngắm chân mẹ, chân mình, tế là Đôi chân bit khóc ra đời” [46]- Chí vit khá đễu tay, lần lượt cho ra đời các ác phẩm,
~ Đôi chân biết khóc, Tập truyện, 1994
~ Quán Búp Bê, tập truyện, 1996
~ Cô Miu trong nhà, truyện vừa, 1997
2
Trang 17~ Thự gửi thời giạn tập yên, 1898
~ Bí Đỏ và truyện vừa, 2001
~ Đảm cưới cỏ, tập truyện, 2004
~ 37ruyện ngn của Quế Hương tập truyện 200%
~ Chiếc vẻ vào công Thiên đường xanh, tập truyện, 2009
~ Nabi chơi với bụi, thơ, 2009
- Đa hon không ga và sơ cu không rọ môm ấp tuyền, 2010
Bằng tắt cả những nỗ lực miệt mài, đáng trần trọng, Quê Hương đã xác lập vỉ trì của mình trên văn đân Việt Nam một cách thuyết phục nhất giữa bao nhà văn, Trong ai mươi mẫy năm cằm bút, với hành trình sing tạo miệt mãi không
ngừng của mình, Quế Hương đạt rất nhiều giải thưởng khác nhau như là động lực,
Tà sự ủng hộ tỉnh thần và cũng là sự khẳng định được thừa nhận đổi với đời văn của
chỉ Các giải thưởng như: Tặng thưởng cũa Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1997, Giải
thưởng truyện ngắn tạp chí Sông Hương năm 1993, báo Tiền Phong năm 1995, Tap
chỉ Kiến Thức ngày nay năm 1999, Tạp chí Văn Nghệ Quân Dội năm 1996, 2006 Giả nhất và giải nhì sáng tác văn học cho trẻ em năm 1996-1997, 20002001, Giải
nhất cuộc thì viết truyện ngắn cho thanh niên, học sinh, sinh viên 2004
Không chỉ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam mà Quế Hương còn là hội viên
Hội Điện ảnh Việt Nam khi có một số kịch bản phim truyện được chuyển th từ các
‘hii gian, Câu hát tìm nha, Mật cuộc đua, Phố Hoài: rong đỏ trong đó Thư gửi thời gian là kịch bản đạt giải
truyện ngắn như #ức tranh thiếu nữ áo lục, Thư gu
nhỉ, không có giải nhất của cuộc thị sáng tác kịch bản vả truyện phim toàn quốc
nm 1996; kich bin Cau hat tim mhau, chuyển thê từ truyện ngắn cùng tên của chị,
doạt giải nhỉ, không có giải nhất cuộ thi sáng tác kịch bản sản khẩu và phim truyện truyền hình của Đài phát thanh và tuyển hình Hà Nội năm 1998, Và Qu Hương cũng sẽ không viết kịch bản nữa để ở lại với truyện ngắn bởi theo ch: “Điền ảnh khai thác nhà văn ở khía cạnh biên kịch chữ không cần văn chương Với tôi, văn học và điện ảnh cần nhau nhưng khó đồng hành Nhà văn đem đến cho điện ảnh
chiều sâu và sự mênh mông của ý tưởng, sự phong phú của những chỉ tế đất giá, lời hoại hay nhưng với yêu cầu phải cụ thể hóa tắt cả Cụ thể mãi e rắng không
l3
Trang 18tốt với người viết văn Tôi không nghĩ rằng nhà văn trẻ bây giờ khôn
ết kịch bản phim, kịch bản sân khất
hi ay khi đỡ, hi được khi không Khi mệt
"mồi, bế tắc người ta có thể chuyển hướng để thử sức ở một lĩnh vục síng tác mới hoặc đồng lạ rồi bước tiếp” []
Sự sáng tạo miệt mài, không ngừng nhị, vượt lên nỗi cô đơn, bệnh tật
viết văn được,
Một tâm hồn được nuôi dưỡng bằng vẻ sáng đẹp của văn chương ấy thật khó để tìm
Nhung 46 là một "thế giới hải hòa, hài hòa ngay cả từ sự đổ vỡ Không
số bất hạnh nào không có lối thoát Không có nỗi buỗn nào không thể cảm thông
[Nhu dòng Hương, như nhà vườn, như điệu Nam ai Nam bình, như tiếng da thưa của
"người con gái Hu bảng lãng trong rất nhiều sing tác của chỉ ” [12 tr6j thể giới truyện ngắn Quế Hương là một th giới hài òa và thắm đươm màu sắc Huễ
Từ truyện ngắn đầu tay Đđi chân biắt khác đến tập truyện Đón hon không
gai vã con cầu klông rợ mãm là một hành trình tâm tình, Một hành tình tấu nặng nỗi buồn nhưng chất chứa nhiễu hy vọng Giữa xô bồ cuộc sống hôm nay, nỗi buồn
số khi trở thành xa xi hay mắt giá, để giới văn chương của nỗi bun có thé thang,
hoặc giúp ta lấy lại thăng bing? Quế Hương là nha văn đồng hành củng nỗi buồn,
truyền dẫn cái đợp nhân văn của cuộc sông, khiến mỗi trang sách lấp kinh sắc màu
ấm áp của sự đồng cảm, của nh người
11.2 Quan niệm nghệ thuật
Mỗi nhà văn khi bước vào làng văn trước điều kiện, hoàn cảnh sống, những
nh hướng khác nhau từ thời thơ ấu, ái nhìn khác nhau về cuộc đời, con người,
đa hình thành nên ở mỗi nhà văn một quan niệm nghệ thuật khác nhau
Trang 19Con người là rung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu mà các nhà văn,
nhà thơ khao khát hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con người là khái
"bản nhằm thể hiện khả
người của người nghệ sĩ nói riêng và thời đại văn học nói chung Gi
ing khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miều tả, thể hiện con
"nguyên ắc, phương tiện, biện pháp trong các tác phẩm văn học, từ đó, thấy được giá tị và chiều sâu tấết lí của tác phẩm Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa
thể hiện ở điểm nhìn nghệ tl
nhận đời sống được hiểu như những hang số tâm li của chủ thể, ở kiểu nhân vật và
biến cổ mà tác phẩm cung cấp, ở cách xử lí các biển cố và quan hệ nhân vật” [5,
1.274] Nhin chung, tuy khác nhau
nói lên được cấi sách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều
lõi của vẫn đề quan niệm nghệ thuật về con người
`Với nghề văn, Quê Hương quan niệm: "Viết đối với tôi là sống, chân thành, ddadiễ, vật vã, Mã cũng như tắt cả mọi người, ôi cằn đồng tiền chính đáng để sống
"Đồng tiền viết văn khổ nhọc, lương thiện và vinh dự” [46], Với Qué Hương vi sống, bởi chỉ khi viết cuộc sống mới có ý nghĩ, Đỏ là cuộc sống hiện ra từ âm hồn
biết thương cảm với mọi nỗi đời và tâm
í tưởng tượng, là cuộc:
thành trong từng trang viết của chỉ Bởi viết văn đã đưa chị a khỏi khung cửa hẹp
ca đời mình, viết chính là nhú cầu để sẽ chia, đ tự hú, nên điều quan trọng vượt
lên cả cái hay và mới hơn cả trong văn Quê Hương chính là sự cảm thông, đồng,
diệu, lắp lánh tình yêu thương cho cuộc sống này Chính vì thể mà văn của chị dẫu Không dung nạp những gì to tt, xa xối mà chỉ toin nbimg ditu gin gi, bé mon vin
lột hiện bit bao hi nộ ái Š của cuộc đời: nỗi da diết với các thân phận nhỏ bể vẫn
là nỗi day đứt chung cho số kiếp lâm người” [12, r6] Chỉ hoàn toàn xa la với lồi văn "Văn giờ không cần đẹp Truyện không cần cốt Ninh nhữ cái ta, nêm nếm chút tâm trang và đừng quên sex, Phân mảnh tung tố th là xong [44] Quế Hương vit nhiều về nỗi buồn, nỗi buỗn chấy tràn lênh lãng trong văn chị, c bởi đời chỉ
Is
Trang 20
cũng là chuỗi ngày buôn Trên trang bìa cuốn sich Cư phái ngày buổn nhất, Dạ
"Ngân đã nhận định "văn chương không nói chuyện vui, ì nỗi buồn bao giỡ cũng
hiện hữu vả có ích với những ai muốn những điều tốt đẹp hơn cho con người”, có lẽ:
Qué Hương cũng đồng ý ki
người trong văn Quế Hương cũng mang tính quan nigm rit riêng của chị
với chị Với quan niệm như thể về văn chương, con
“Giữa võ vàn các gương mặt nhà văn, đặc iệtlà các nhà văn nữ cùng thôi để thấy rõ hơn đóng góp cũng như là nét riêng không lẫn vào đầu được của nhà văn
“Quế Hương, chúng ta không thể không so sinh với quan niệm nghệ thuật vỀ con
"người của các nhà văn nữ khác, đặc biệt là nhà văn Trần Thủy Mai Trần Thùy Mai
là nhà văn sinh ra ỡ Quảng Nam nhưng lại có quê gốc và lớn lên, làm việc tại Huế Tốt nghiệp ĐHSP Huế và từng giảng dạy tại đây, sau chuyển qua làm ở NXB,
Khỏe, đều ty, thấy bản ch
“Thuận Hóa thì chị chính thức chọn nghiệp viết cho mình Với lối vi
xen của những giắc mơ, suy tưởng, ảo ảnh của một mối inh, Con người trong
cội lỗi,
là người phụ nữ cuồng yêu và dám chết vì yêu Dù cùng viết về Huế, nhưng con
truyện ngắn Trần Thùy Mai côn là con người của dẫn vặt, đau đn với hi
người trong truyện ngắn Trần Thủy Mai mạnh mẽ, quyết liệt hơn hẳn con người
trong truyện ngắn Qué Hương
“Qué Huong quan nigm, văn chương dù thể nào vẫn là côi ảo, muốn đến sự thật phải băng qua hư cu, trởng tượng Văn chương là cồi ti tạo, chứ không chỉ tấi hiên cuộc đời, Vi thế, truyện của chỉ "là những giắc mơ cuộc đời trên giấy" - những khát khao về người, về đời
Với Quế Hương, cuộc đời vẫn vây: thiện ác song hành, xắu tốt ngôn ngang
“Chỉ có nhà văn mới có quyn thay đối thực tai Ấy theo tâm th, âm cảnh cũa mình,
16
Trang 21Và, với trái im lương thiện, đa cảm, tải nữ gốc Huế cằn mẫn dệt nên những giắc mơ
cuộc đời tuyệt đẹp trên những trang văn bay bồng, Có điều, cái đẹp rong văn
“hương hay trong hiện thực thường gắn với nỗi buồn Truyện của Qué Huong vì thể
nổi buồn của
là những giọt sương tỉnh khiết được chưng cắt từ nỗi buổn Dù đó
chi Thời thánh nữ công bản tình ca buồn đến day đứt, ấm ảnh trung Chiếc lý hàn:
‘lot Ie, hay cuộc đồi cũ bắt cù bơ của thằng Tí bụi trung truyện ngắn cùng tên
chi thi dé sau cing, điều còn lại với người đọc vẫn là vẻ đẹp lung lỉnh, Ẩm áp của tình yêu thánh thiện, thủy chung, của tỉnh người, nh đời Chị viết như khát khao lưu giữ những thứ đang biến mắt, dang li tần trong th giới thục dụng - vẻ đẹp của
những nỗi buỗn, lăng mạn, từ tâm ” [51]
“Con người trong các sing tác của Quế Hương là những con người được nhữn
từ góc độ vĩnh cữu Ở mọi khía cạnh, con người trong truyện ngắn Quế Hương đều
sống ngay cả khi chất, vĩnh cứu với tỉnh yêu, vĩnh cửu với cuộc đời Qu Hương ching bao giờ để nhân vật của mình tự chơi vơi, vô định mã đường như luôn có sẵn son đường để người ta tự gi thoát cho chính mình, không có con dường nào Ì đường cùng
“Quê Hương tín rằng, chết chưa phải là hết, mà chất rồi còn để lại những điều
gi mới được gọi là đảng quý, chẳng hạn như phút the tin lương tỉ của một vị quan tham khi đã sắp rới hở Bên kia, Hay thẳng Chuột dù đã chết vẫn luôn bên chị Ái, Không để chị cô đơn một mình Người đần bà rong đa xáp nh
điềm tĩnh nhất "Mọi người sinh ra là để biết nỗi kinh hoàng khốc liệt này, Hãy chịu
'khó một chút rồi sẽ xong thôi mà!” [10, tr41] Và quan điểm này được lặp lại trong
cái chết một cách
“hư gửi thời gian, đồng nhất với suy nghĩ của một cô gái bị AIDS giai đoạn cuối
“Từ quan niệm nghệ thuật về con người như vậy nên những nhân v
1
Trang 22"hi quá muộn, qua hình ảnh người cựu quân nhân chăm bà vợ liệt nữa người "Khoa
"học kỹ thuật dù có thành tựu mấy cũng bắt lực trước cái chết Đứng trước nó tỉnh
yêu hiệu quả nhất Có tuï bà Ấy ít đớn đau, ngũ được ” [12, tr 197] Gi
1a trai tim bé bong đẹp như ngọc không tỉ vết của con gã, nhận ra vợ mỉnh không
“quát tháo mà vẫn lăn xã vào thương Gn chết mới biết dịu dàng với người vợ hiển
ân tuy” [12, 232] Ti
yêu thương, sự chấm sóc chủ đáo cia thing Cot di chip
cánh cho Cở gả bay lượn trên nên trời cao rộng mênh mông Ngược lại, Cò gà đã
chữa lành vết thương lòng của thẳng Cot Dém đến khi ngủ, nó không còn mơ bị
cđìm trong nước lụt nữa, và trên cánh cỏ là bóng đáng em nó,
"Như Quế Hương đã từng nói “Tôi là một “đứa trẻ” thích chuyện cô tích hơn
choi game hay bin sing, một người mơ mộng lạ loài trong thể giới đang khô kiệt dẫn lăng mạn ~ mông tưởng về tỉnh người, tỉnh yêu, cái chết, nỗi cô đơn Dưỡng như có nó, gió phủ vẫn của côi người đỡ buốt thẫu xương.” [10] Chính bởi sự mơ mộng Ấy về tỉnh người, nh yêu nên văn chỉ trữ nên ấm áp hơn bao giờ, sưởi Ẩm cho những tâm hồn lạnh giá, tưới ấm cho cuộc đời đang dẫn khô kiệt, làm cho cái chết không cô đơn nữa và chết không phải là hết mà chất để ở nên bắt tử Thể giới của trẻ em là th giới của những tình cảm trong sing, thính thiện Và dẫu thể nào đ
chăng nữa, thì họ vẫn luôn là những con người mang trái tìm ấm áp nỗi buồn, tình
yêu thương là cứu cánh cho mọi khổ đau Từ góc độ vĩnh cửu, cuộc đồi con người trở nên lắp lãnh hơn bởi tỉnh người, tỉnh đổi
1.2 Thể giới nhân vật trong truyện ngắn Quế Hương
“Chức năng chủ yếu của nhân vật là xác lập mô hình của hiện thực và thể hiện định hướng về giá tr đối với cuộc sống Nhà văn sing tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó, Nồi cách khác, nhân vật là phương tiện thé hign các tính cách, số phân con người và ác quan niệm về chúng" [23,118] Con người vừa à chủ thể sing tạo ra văn hóa, đồng
I§
Trang 23thời cũng là sản phẩm cña văn hóa, văn hóa nuôi dưỡng, xây đắp và góp phẫn phát
tiễn con người, ới tư cách là sản phẩm của văn hó
văn hôn là sự thể hiện rõ nổ nhất cho
nhau đều ao ra những con người đặc trưng cho nét văn bón của vùng miễn, quốc
„người là biểu hiện của
hóa Mỗi vùng miễn, mỗi quốc gia khác
sia ấy Thể giới nhân vật trong truyện ngắn Quề Hương cũng không nằm ngoài quy
luật ấy
1.21 Nhân vật an phận
“An phân là một trong những nét tính cách của người phụ nữ, tạo nên tính chịu đưng, hì sinh, coi trong bổn phân của người phụ nữ rong gia định của người Huế, Chịu tác động bởi chế độ phong kiến với 13 triều nhà Nguyễn, với vô số tục
lê, quy định bó buột con người trong xã hội Họ cam chịu với một sự tự nguyện,
như một lẽ tự nhiền phải như th, Tính gia trưởng của đân ông, đã ạo nên tính cách,
an phn, cam chịu của người phụ nữ “Phần truyền vã im rip nghe đã tr thành nếp, thâm căn cổ để rong họ nội Cụ cổ là một ông quan, quen truyền lệnh Chống là bắt trung, cai bắt hiểu Tính thẫn gia trường thật năng nễ "[2 tr 165] Những người phụ
nữ Huế xưa từ thời niên thiểu đã được dạy dỗ theo chuẫn mục của công dung ngôn hạnh, chịu thua nhường và xem hy sinh như là bỗn phận đương nhiên, đã hình thình,
"nên ính cách an phân như là một trong số những đặc tính của người phụ nữ Huế
Người phụ nữ Huế trong sing tác của Quế Hương luôn an phận, mà trước hết
là an phận trong cuộc sống Đổi châm biết &hóc là tác phẩm đầu tiên, đưa Quế
Hương bước vào làng văn Việt Nam, thể hiện ấn tượng đầu tiên và sâu sắc về bàn chân của người mẹ Qu Hương thừa hưởng đổi bản chân này tử mẹ "người đân bà
se suốt một đồi Ba tub, md edi Bay tuổi, đ ở Mười bảy ti, lấy chồng Bảy
"mươi vẫn nắng sớm mưa chiều chưa được nghỉ ngơï Mẹ hơ lên đó đôi tay tím tái, đôi chân gầy giơ xương, ớt vì nước, lắm tắm dẫu vết lẫm than” [12, tr.122]
“Cũng hình ảnh đó rong ANiữn rừ vinh cấu; “Tuổi tăng tròn phải lưu lạc Chẳng con không ra chỉ Đôi chân bà là đôi chân biết khóc, uôn dằm trong nước, "ướt" suốt đời Đưa hắn ra đây! Mẹ tôi iu iu chìa chân ra, Đôi chân in dấu số phân Chỗ chai, chỗ sn, chỗ lăm, chỗ nh xương, mỏng hư, móng tri Dấu vết lầm than lắm tắm như lệ ứa [13, tr 149) Nó được Hp lại rong Đá on không gai và con
19
Trang 24“Rứa chân xong, chị lau khô bằng cái áo rch rồi ngâm chân
đứa lệ” [12, tr.20] Hình ảnh đổi bàn chân biết khóc ấy ám ảnh cả tuổi thơ của nhà văn và nó lặp di lập lại rất nhiễu lần trong sáng tác của Quể Hương Đó không chỉ là itu khong rp mom:
"Đàn bà mà" (10, r6] như là một sự chấp nhận cho số phân của người phụ nữ là phải như th, Biết khổ mà không hÈ phân kháng, vẫn cam chịu bi đó là số phận mà một người phụ nữ phi chấp thuận
Sự an phận, cam chịu của người phụ nữ để ại những đầu vết rên ngoại bình
của họ, "Trên cần cỗ mảnh đẻ, gương mặt chỉ còn là những nét dịu đàng cam chịu”
L2 tz132] tên in chin ặnôi vì chồng cơn, trên đôi bản ty vất và Người
phụ nit wong Bai chẩn biết khác vẫn nhẫn nhịn tìm vé, im lặng ngay cả khỉ nhữn thấy chồng ngoại tỉnh bởi “Có lẽ anh ti tôi chẳng bao giờ qua thấu đó Anh yên tâm rào kín tôi trong chẳng chịt bổn phận, công việc và yên tâm đi với người đàn bà duyên dáng không hề lo gai” (12, tr125] Không bÈ phân khing, đấu tranh để chống lại việc chồng ngoại tỉnh, người phụ nữ nhẫn nhịn đến mức cô đơn trong chính ngôi nhà của mình, chịu bùa vây bi trích nhiệm và bổn phân, với những công việc t vặt không bao giờ làm hết, dẫu có sấu ay, ba mắt Bằng sự nhạy cảm,
"người phụ nữ nhận ra sự phân bội, nhưng bằng sự nhẫn nhị, an phận họ đỗ lỗi cho
số phân đản bà mắy ai mã hông thổ
Họ an phận trong ng
iấu phụ áo lục “Em chẳng được làm chỉ theo ¥ em” [12, tr 28T] Cô à hình ảnh sống, nếp nghĩ như người thiểu phụ trong Bức /ranl:
của người phí ẫn thôi xưa, chịu sự hờ hững, đn lúc chất xẵn còn là một tính nữ, bởi chế độ phong kiến như một hằng rào vây quanh cuộc đời họ, muốn thoát cũng không thể nào thoát ra được Người phụ nữ trong Đáo bĩ ngại cũng an phân trong
bn phận làm vợ, mặc dù người chẳng "độc đoán của bà, người mà mỗi cái lếc mắt, quất tháo, ra lệnh đều thể hiện quyền lực tối thượng của một ông chủ Người
đã chẽ bà giả, không đầu ấp uy gối, không đi cùng, không chi sẽ” (12, 1.232), Bén
20
Trang 25tc, người đản ông mạnh mẽ quyền uy Ấy bắt lục, yêu đi bà cũng không ời xa, vẫn
tân tuy chăm sóc, vẫn cảm động trước sự địu ding bắt ngờ của người chồng,
sảng bỏ qua mọi lỗi lầm của ông
Sư cam chịu của người đân bà trong Nỗi buẳn rực rỡ “Người đàn bà lạng l£
khóc Bà đã quen lối khóc không tảo lệ cả thời thơ ấu tối tăm” [12, tr218] Một
"người cam chịu đến mức cắt giầu cả những giọt nước mắt vào trong lỏng, không để
nổ trào ra ngoài, thành nỗi buồn mênh mang Nỗi buổn ấy là bởi người lưu giữ cả tuổi niên thiểu của bả, mà chính bà cũng chưa từng nhìn thẤy, chỉ âm vang qua giang ni còn đến tận bây giờ vẫn ngân nga rong lòng bà
Trong cuộc đời đã thể, và rong tỉnh yêu, người phụ nữ Huế cũng rất an phận, như Trần Thủy Mai đã từng nhận xét “Nhưng Huế thời chúng ti thì "tội lắm” Những người phụ nữ từ khí niên thiểu đã được dạy đi nhẹ nối khẽ, chịu thua nhường và xem hy sinh là bỗn phân đương nhiên, Người đân bà Huế chịu cực chịu
khô thì đại tải nhưng giảnh lây hạnh phúc cho mình thì đường như hơi kém!” [2I,,
7] Thất khó để tìm thấy trong truyện ngắn Quế Hương một người phụ nữ giành
giật mạnh mẽ để đem vẻ hạnh phúc cho chính mình
“Chỉ Thời rong Chiếc lá hình gi lệ
bây giờ, vẫn không hề nguôi ngoái, chị vẫn lăng lẽ yêu, nuôi dưỡng tỉnh yêu ấy lớn
êu thời niên thiểu theo chỉ đến lên từng ngày trong tim chị Chị yêu và chấp nhận lắng nghe nỗi tht ỉnh của người mình yêu, "lắng nghe ngân lẻ một lẫn chuyện tình của chú mà không trều chọc đó là
[12,138] Yêu âm thằm và cũng thật mãnh liệt, cắt phăng mái tốc dài đẹp nhất xứ Huế rồi lắm bẩm “Tôi là người vô hình Không ai thầy tôi Tôi là người
võ hình Không ai thấy tối ” [12, 139] Mănh liệt thể mã không đám thổ lộ để giành lấy hạnh phúc cho chính mình và mãi đi chờ để lỡ mắt bạnh phúc, cam chịu
chị Thời
đến mức tắt bật ngay cả trong đám cưới của người mình thương Tỉnh yêu của chỉ
cứ lớn dẫn lên, mà không dám thổ lộ với chú Tâm để rồi chỉ bắt gặp một chỉ Thời lạng lề khép kín không thể thắm qua Chỉ Thời là hình ảnh của người thiếu nữ Huế dâm đang, dịu dàng và ụt rẻ, ethẹn rong tỉnh yêu
“Cũng như chị Thời, Rêu rong PhỔ Hoài là một cô gái lãng lề yêu và không dám bộc lộ th yêu Ấy Chị yêu giòn tan say đấm như cách chị ăn bánh trắng Chỉ
bì
Trang 26y@u thiy Tường, người thầy giảng Kiểu như kẻ bị Kiều ám, Hết học thầy chị có mặt
trong
fh nghe kể lại Tình yêu của chị nơn dại âm ¡ như lò
'cả cuốn sách bói Kii
than nướng bảnh tráng Tang thi mã thầy Toán quý nhất và
là một tỉnh yêu không thành,
im lặng ngay cả khi chịu đòn Tỉnh yêu âm ¡ ấy, m
bởi chị không dám th lộ
“Tinh yêu là trồ chơi của người can đảm” [I2, tr.112] ~ Mưa trong Tran
‘sian c6 mira đã nối như th, bà đã gặp được tỉnh yêu của đời mình khi định nhay sông tự từ vì bị cưỡng hôn nhưng cuỗi cũng vẫn phải an phân dé lly người mình
ih cảm và tir d6 vỡ luôn tiếng = cười ~ bánh = đập
không yêu, an phân sống với người đân ông hơn mình mười lãm tuẫ, nhưng tắt cả
i bốn phận, tách nhiệm cña một người vợ, người mẹ *ThẾ mà tôi chỉ biết mẹ như
một người din bà tất bật, tế nhạt, công lưng dưới gánh nặng của cam chịu và bổn
phận” [12, tr.109] đến mức “ngủ bên mẹ nhiễu lúc tôi thức giắc vì nước mắt mẹ làm
ớt lốc tôi” 12, 110] và với những cuộc chiến không cân sức với người chồng
“dé lại trên khuôn mặt mẹ võ số dầu vết tàn phá của đẻ nén cam chịu” [12, tr.!14-
115] bởi vì “mẹ cũng không có ý định bộ cha bối mẹ đã đóng đình số phân vào ngồi nhà này, gia đình này” [12, tr 15] Dẫu phải sống bên người chẳng mình không hề
số tỉnh yêu, dẫu bao lẫn khóc vớt gỗ, và đù cho người đản ông mà nhân vật Mưa Xêu sau bao năm đã tở về thì Mưa cũng không có ý định bô chồng, hay có hình, động gì phân kháng lại sau bao năm đề nén cam chịu ấy, Cũng như Mưa, cô Thơm,
‘wong Khác chi tả chịu ảnh hưởng nặng nề của tự tưởng cha mẹ đặt đầu, con ngỗi
46, may nhờ rủi chịu, cô vẫn khóc hàng đêm nhưng chẳng hề có chút nào kháng cự
lại cải đảm cưới không tỉnh yêu và người chồng chẳng hề tương xứng với một
người “đẹp nhất thôn Kim Long” như cô An phận lắy chồng, an phận sống bên
"người chồng nghiện ngập, “gã hành hạ cổ như một th vui man rợ « gã cắn, gã tồi,
di nến vào tóc cô" [12, tr 166], đến nỗ cô không bỏ người chồng nghiện ngập ấy
"mà bí tổng ra Khôi nhà chồng sau khi chẳng chất với sự đau đón vì tôn tht về cả
"ngoại hình và tổn thương về tỉnh thần
Mặc dẫu ưu tiên những số phân người phụ nữ, nhưng văn Qué Huong cing thấp thoáng bóng dáng của những người đân ông cuồng yêu, sỉ tỉnh Tình yêu dai nhữ cơn mưa xứ Huế, đồ là chú Di ong Tri gian có mưa, người đàn ông mà suốt
2
Trang 27sả đội chỉ yêu một người, oi âm thay người đ lại lã chỉ dầu của mình, tnh yêu ấy
chỉ có một tuần so với đời người thật quá ngắn ngủi nhưng “nó vắt kiệt máu trong tìm chú khiến chú không còn yêu ai được nữa” [12, tr.I 16] Chú Dĩ yêu âm thẳm,
nghịch cđều là những người
nhớ dữ đội, dai đẳng nhưng cũng Không thể lâm gì khác ngoài chấp nh
cảnh ấy Gã Dóp, lão Tâm Xuân, lão C
din ông mang trong mình một tinh yêu năng sâu cả đồi Tuệ snommsl với mỗi tnh ~ ém, Tug anormal,
thơ dại không tàn theo năm tháng cứ lớn dần lên và xa vời vợi, yêu nhưng không dám tới gẳntình yêu đồ, “tỉnh yêu gã như cây tre nở hoa, kết tụ đẳng đãng bung nở rồi chết, Rồi hết” [12,tr341] Lão cây - êm cũng th, cũng mang trong mình một
tỉnh yêu lặng mà sâu cả đời Lão Tầm Xuân mãi miết di tim nữa câu quan bo dẫu
tuổi đã gần đất xa ti, nhưng tình yêu Ấy rước sau có gỉ sai tái bối chính nữa câu
«quan họ đã nu lão lại với tần thể này Dậu rong Phd Hedi cng the inh yeu thoi
trẻ đại là nỗi nhớ, nỗi hoài nigm dit diu ông qua từng ngõ phố cỗ mặc thời gian trồi
ấn như ngày hôm qua, vẫn vang vọng
đổ nước bã?" [12, tr357] Dưỡng như những người đàn ông trong truyện ngắn Quế Hương cũng chứa đựng môi tình yêu lạng lề nhưng đủ khiến người ta hoài nhớ, day dứt, đuổi theo cả đời nhưng không cách nào và cũng không có ý định thoát ra khôi ỉnh yêu Ấy
in mươi năm thì những kỹ niệm ủa
câu chảo quen thuộc của chị Rêu “Mi t
Những người phụ nữ ấy mang vẻ ngoài ầm lặng như mặt nước của dòng
Hương lững lờ trôi, nhưng ai biết được bên trong lại là một tâm hồn chứa đầy cảm
Xúe cuồn cuộn sắng, cuỗn cuộn yêu thương như dòng Hương mùa nước lũ
Sự tỉ mí, cầu kỉ của phụ nữ Huế còn được thể hiện ở một né tính cách khác
là biệt lải và sở trường chế biến món ăn Như Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nói
“Nhưng chính yếu tổ con người - ở đây là người đàn bà Huế là chủ thể là ra phong
vị Huế qua các món ăn, Điễu này có nguồn gốc sẫu xa từ quan niệm phong kién xưa
VỀ chức năng người phụ nữ trong gia đình: xã hội thời đó đặt chữ Công (ong tứ đúc) bên trong chữ Hiểu (đối với bốn vị phụ mẫu), và chữ Thuận (đối với chồng):
tạ đồ tải nghệ nấu nướng là nội dung hàng đầu của bỗn phận làm dâu, làm vợ đồng thời là nhân cách bà chủ gia đình trước họ hàng xã hội” [28, 38] Chính vì thể mà
đã nâng nghệ thuật chế b
ấm thực Huế lên một tằm cao mới, điều làm nên giá tị
2B
Trang 28sửa mơn ăn khơng phấi phụ thuộc vào nguyên liệu mã do ở bản tay của người chế
biển, mà đĩ là bàn tay của một người phụ nữ Huế tải năng như o Lải “Thứ tằm
thường đạm bọc nhất qua ty vua bếp cũng thành mốn độc, Cây và gốc vườn, bụi
cht nua sau ng nước, buồng chuỗi xanh, những thứ ru lĩnh in ang tang thế mã
0 dim đã đến nỗi cứ com to, Nghio &n gi cũng ngon hay tay o thơm như mạ nĩi, đến thân cây chuối làm dưa với kiệu cũng nức mũi" [12, tr25] Giỗng như lời đúc kết của Thục Phổ Bách Thiên: "Đồ ăn khơng phải hỗ cá thịt thì ngon, mà dưa rau thì đĩ! Chỉ ngon cũng được mà chỉ dỡ
mạ chạy gạo khơng kịp Ngày lụt, bánh bột sắn đường đen ci
cu ft Ni ms, min tm by tim b cũà ăn thơng đấy ní
cũng được, ngon dỡ tại nơi tay mình, chớ tại gì nơi rau thị” [28, tr 49], Nguoi phụ
nữ Huế khi nấu ăn thì đặt tồn bộ tâm hồn của mình vào đĩ, sự tinh tế, khéo léo, cầu
ki, tỉ mi ấy chính là ảnh hưởng của một nếp văn hĩa sinh hoạt cung đình thời xưa, là
một rong tữ đức thời xưa mà bổn phận của người phụ nữ trước khi về làm dâu, làm
vợ, làm mẹ phải học được
Lăn, người Huế ưa ăn các mĩn an da dong, bổn p, đù mỗi mĩn
ich pha tinh thể hiện ý thức mỹ cảm rõ rộ, con người ăn uống khơng chỉ thỏa
"người than quant, (27, 258]
Đức tính tử mi cầu kỉ rong chế biển âm thực của người phụ nữ Huế đã làm
‘nén một văn hĩa âm thực kiểu Huễ, Đĩ là một chị Thời “Nhìn chị mĩ a dưa mà Khơng nỡ ăn Ngon lá, cây thơng, hoa đào, ái lựu bằng đu đủ đạp như ngọc, những, son thú bằng cà rốt, su hào xinh như đổ cho? [13, tr 137] hay “Nhung tii me dim đẹp như ngọc xúm xít nhau trong thấu Quit rim vàng ĩng gối đầu lên nhau Rồi
"mút hạt sen đài các, mút khoai dân đã, mứt kh như cơ bể lọ lêm mà tơi mê mắn cũng cĩ mặt” (12, 141] Khơng thể phủ nhận nết tỉnh tế trong cách chế biển thức
ăn của người phụ nữ Huế, đồ là ảnh hưởng của văn hĩa cụng đình xưa cịn sớ lai,
bi “người Huế ăn bằng mắt, bằng mũi rước khi ăn bằng miệng Ở day chi xin haw
24
Trang 29trắng miệng” [12, tr I43] Bữa cơm nha thanh dam ma tinh té ay, trước hết là
"một bức tranh màu sắc bài hòa, da dang gồm năm mầu là hệ ngữ sắc riéng cia Huế
‘Bs tim vàng lụ lam Bữa cơm ấy gồm những món ăn quen thuộc của Huế, Kế cả lúc làm mâm cổ cưới cho người mà chị yêu thằm, chị vẫn t mĩ như vậy, vẫn tỉ mỉ Lửa những chiếc lá hình giọt lệ Và cả cô Thơm một thời đẹp nhất thôn Kim Long, biết nấu những mâm cỗ đầy màu sắc, đẹp như một tác phẩm nghệ thuật Một bữa ăn ngày mưa với những món ăn đậm chất Huế giản đị mà tỉnh tế “Nỗi cơm nóng, tô canh chuối lá ốt nấu mốc mỡ đậm đã và địa muối sả như gỉa vị cuộc đời đủ mặn ngọt bùi cay” [12, tr H17] không bổ danh người ta gọi người Huế là đấu mắm zuố
Hương vị này chúng ta lại bất gặp trong truyện Đồng hành, món
ngon là khỉ
được ăn trong không gian ph hợp “Mùi cá kho tiêu Mới canh mí nẫ lốt Mũi
rube si d8 chùng đến 20 năm anh chưa được ăn lại một bữa cơm gia đình có mùi ning cay của rude 6t vi vi t€ tái của mưa dằm ĐĨ rau luộc xanh nôn Những con
cá bồng thệ cong vòng nâu sẵm” [12,132] Những món ăn giản dị, đời thường ấy
nhắc đến là ta lại đễ dàng nhận ra ẩm thực xứ Huế, cũng là nỗi nhớ quắt quay của
Những món bánh đặc sản của ẩm thực Huế được chuyển tải vào văn Qué Hương thật nhuằn nhị, nh tế biết bao thể hiện sự khéo léo, tử mĩ của người phụ nữ Huế mà không nơi nào có được
28
Trang 30“Bảnh nâm xếp (heo bình quai, mười ái một đĩa Mỡ lòng mỏng mảnh, phơi
im nước chỉ
ắng ngần, điểm nhụy (ôm hing, cl
cất hình thoi, xếp thành đóa hoa vàng, gắp cứ tần ngắn vì quá đẹp Dĩa bánh ướt
ngọt thanh, ăn kèm chả tôm
nhy tôm cũng mười cũ, uốn cong thành mười ánh hoa Bánh bêo chến để trên
met tre, nhụy hồng, điểm tốp mỡ giòn, bằng chèo tre vót mảnh Bat mat
"Nhự Võ Phiến đã nhận xết “Người đần bà Huễ nấu ăn bằng,
I28, tr39], Ding vậy, chỉ khi đt hết tâm hồn vào nó, tì người ta mí
tao nên, thổi hồn vào những món ăn duom vị quê hương, tỉnh tế mà thanh dam đến như thể
cả lâm
có thể sắng
Phụ nữ Hu chăm chút mãi tóc và cách thức chả tóc cũng là một dấu hiệu về tửng con người [27, 0.260] nhu chi Thời ~ có mái tóc dài đẹp nhất xứ Huế luôn được tâm hờ hai lọn bằng chiếc nơ nhung đen, hương ướp tóc ừ nước gội “Mãi tóc
ấy luôn gội bằng bồ kết, hong khô bằng gió ri, ngan ngất mũi hương bưổi, hương, nhủ, ông ả, mềm mại, dầu địu bay bay đến say ông Tôi hay nhìn chị hong tóc qua
bờ rào" [12, tr 139] hay như cô Thom tóc vẫn du địu hương vườn, mũa nào hương, nấy Cũng như ti do di, người Huế ất quý trọng mái tóc của mình, hiễm khi họ cất
"gắn mái tóc của mình, bởi muỗn dé t6e thể khiến bao chẳng tra say mê, khiến tôi chợt nhớ đến một câu bát trong bài Bắt Huế: “Giữ chút gì rất Huế hiễn ngoan, xin
cm ch cắt mái tóc thể Để cho gió thôi bay suỗi óc, và mùa đông ấm đổi vai gầy" Người phụ nữ Huế sống an phân thủ thường vì gia đình, vì chồng, vi con, đó
cũng chính là đức hi sinh, nhẫn nại Tuy nhiên, họ không chỉ có sự an phận mà còn có
những lúc vũng lên, thoát m khỏi khuôn phép, như “C6 ti, người đần bà nhút nhất, đoan trang, chưa hề đặt chân ra khôi khuôn phép của công dung ngôn hạnh đã dâm,
26
Trang 31vượt rào bay xã sống phẫn đời còn lại của đời mình” [12, tr 71] Cô Thơm tiêu biểu
chia anh hướng sâu phong kiến trên mảnh đắt kính kì này, Xinh đẹp, đảm đang khéo léo, địu đăng, nhân
cho hình ảnh của người con gi H ác của những lễ giáo
"hậu nhưng ấn sau sự cam chịu bẫy lâu nay đó là bản lĩnh vượt qua rào cản trong cuộc sống để đến với hạnh phúc đích thực của đời mình Hay tôi trong tác chiều tả đã
“quyết không để ai chọn chẳng cho mình cả ôi khi rong cái áo ngủ hở cổ, hở vai
‘trong nhà, tôi len lén nhìn lên ảnh các cụ Ánh mắt họ đảo theo tôi, lạnh ling, trang
nghiêm, đÌy khiển trích nhưng bắt lực" [12, 166] Và họ cũng đã sống một thi thiểu nữ là "con yêu bánh nâm” Như Đặng Lệ Khánh đã từng nhân xét về ổ chất để
tử thành *con yêu bánh nậm ” là "Tôi không tự xem mình là con yêu bánh nâm Tôi
thiểu tố chất đẻ trở thành một người nữ rất Huế, vừa nhí nhảnh, nghịch ngợm, vừa
uyên dáng, thông minh, vừa lãng mạn trêu ngươi” [20, tr 8] Muốn trở thành thiếu
nữ nghịch ngợm rất Huế thì phải hội tụ đủ những tổ chất đó, nhí nhảnh mà duyên
dáng, nghịch ngợm trêu ngươi mà thông minh, lang man Ha trong Gipt sau trong
chính là một thiểu nữ hội tụ được những đặc diễm ấy của con yêu bánh nêm, vừa thông minh, nhí nhành “Tôi nguýt chúng một cái, bắt má tóc đầi qua một bên cho chúng “ch
lang mạn trêu người "Tôi ôm cặp che ngực rồi vênh mặt làm "người wong mưa”! Những giọt mưa nhẹ nhàng chỉ lạ trên nn lá quai nhung “Cái đuôi” đầu trần, áo mưa cầm lay bus
châm lại là tối phóng lên” [I0, 130], vừa duyên dáng, nghịch ngợm “Quên mình,
ˆ gái bảng tên màu tim của chị cả Đồng Khánh mà lễ đ” [10, 129], vừa
đúng một giây, nguýt một cái cất đôi người hắn.” [10,tr.131] Và Hạ có đủ mộng mơ
để ôm ấp một tình yêu chưa kịp lớn đã đành phải nguôi ngoại bởi Hạ đã kịp gửi giọt
sẩu tong tro, nh cảm chóm nỡ ở mùa đông cuỗi cùng Ấy, “cái đuôi" đành phải đi
xa Cái vẻ khinh khinh, nghịch ngợm ấy còn hiện ra qua Huyễn khi biết tân dụng câu
nói “mê cổ chị phải mị cô em", để vừa khỏi đã bộ mà côn rùng rỉnh tiễn “Mang tiếng cuc bộ nhưng tôi hay thấy hắn ngồ vất véo sau yên xe nhiều anh, mặt cảng công Có lần hắn khoe với tôi cả tờ 5 đồng mới ỉnh bảo nhất được Sau này mới li rà chỉ cần biết hắn là em muột chị Thường khối cái đuôi tự nguyện chữ hắn đi học và cho hẳn
27
Trang 32
[12 r19-20] Tổ chất của con yêu bánh nậm đúng là đặc trưng cũa người thiều
nữ HÀ Ế, và để giải thích cho tổ
không gì khác hơn chính là câu nồi của Jean
lễ làm ra vẻ khinh khinh, họ là đám hậu sinh
ita cic phi tin không bao giờ quên rằng một giot mắu thiên từ dang chấy truyền Hougron: * Các cô gái Huế kiêu sa
trong huyết quản của mình” [34]
`Nguyên trong Hon ngữ sắc và cổ cũng là một cô nàng danh đá, nghịch ngom như thể “Hồi đó, ôi bị một cô gái ông phải ở một khúc queo bùng bình Đã thể, tồi còn bí cổ Ia quát “Bến mắt mà như không có mắt nào! "Nên về thay kính lúp!”, Cô
ta cit ôi thành mấy mảnh bằng đối mắt xếch sắc hơn dao” [7, tr63] Tôi tong
“Trần gian có mưa cũng nghịch ngợm không kém “Me (hường mắng tôi vì ôi con gắi mà hay lo trêo, Muối ớt lận lưng quần Ấn, học, đọc tên cây, Tôi trẻo cây giới lắm, từng to tốt lên ngọn cây cau để rốn đồn cha Dưới ngõ lên bể như con mèo.” [12,109] Cũng chính sự nghịch ngợm ấy gây nên tội kinh thiên động địa
“Chuyện bai đứa cũng lớp, ky nhau như nước Tửa, so kè nhau trên từng cây
Lúc coi văn nghệ trường dỡ chứng thách nhau Thằng con trai thách đứa con gấi nếu dám chun, trẻo lên cây phượng sau trường qua mái ngắm sao trời với hắn, hắn 3# goi là bà nội trước bản dân thiên hạ, Hắn dám thách tôi, đứa con gái từng trẻ,
gật đầu Thể là trêo [12, 0.112] C6 thé thy, nu nu phần lớn Qué Huong viết về những người đần bà với đời sống xoay quanh bổn
tuất ên ngọn cây cau? T
phận, trách nhiệm, tĩ chỉ lại thả hỗn vào những tỉ
sống sôi nỗi, đúng kiểu cách cũa thiểu nữ rất Huế lữ vô tư, hồn nhiên với đời
“Tuy đôi lúc cũng có sự vượt thoát để được sống cuộc đời của mình nhưng phần lớn những người phụ nữ trong truyện ngắn Qu Hương chưa có ai phản kháng
gia đình, thay đổi
nề nếp vốn đã đóng bảng của một xã hội Cùng viết về người phụ nữ Huế nhưng nhân vật của Trần Thủy Mai mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn nhiều Với Quy trong trăng, là Nguyệt có dâng đi "khập khiễng" vì muốn dì ìm điều mà mình mong đợi đđã chấp nhận bỏ chồng, bỏ hai con ở lại Akikô lại bỏ ra đi để tìm hình ảnh của Vũ
một cách mạnh mẽ, hoc là làm một điều gì đó để ching di
trong cuộc sống thất giống như trong tranh Trang cũng chấp nhận tỉnh yêu như
“hối trên sông Hương bởi vớ nàng, tích rồi dòng sông và tiếng hát là điều không
28
Trang 33thể Đôi khi đó còn là sự nỗi loan trong hinh déng, ning Lilly trong Gide mo nit
ngẫy với cuộc sống tẻ nhạt tà túng
và có hành động bắt thường là muốn nhìn mặt một người đàn ông để thỏa mãn tr tô
"mô, nhưng tắt cả những diễu ấy là trái với quy định của nội cung và nàng bị đây xong lãnh cung Có thể thấy qua một vài nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn Trần Thủy Mai, thật khó để tìm ra sự quyết liệt ấy trong những nhân vật của Quế Hương,
đặc trưng của văn hóa xứ Huế nồi riêng và văn hóa Việt Nam nồi chung
“Nhân vật suy tröng, mơ mộng
“Có một bài bất đã ngợi ca Huế “Huế là mơ, Huế là th ", Xứ Hu vẫn nỗi
tiếng với phong cảnh hữu tỉnh, sông Hương, núi Ngự, núi Bạch Mã mây trắng lững
lờ, với bề đây trầm tích của các di tích lịch sử văn hóa, đã tạo nên một vẻ đẹp nên thơ, trữ tình mà hiểm nơi nào có được đã đi vào thơ ca
Nhà thơ Thu Bồn đã từng viết
“Con sông dùng ding con sông không chảy,
Sông chấy vào lòng nên Huế rấ sâu
(Tạm biệt)
Hay Tổ Hữu đã từng ca ngợi cảnh đẹp nên thơ của Huế
CCó nơi đẹp vậy yết vời
“Trường Sơn lượn xuống hang đổi thông reo Ding Huong nude bike trong veo
Gió khơi Bạch Mã, sóng đèo Hải Vân
(Nước non ngàn đặm)
29
Trang 34“Cảnh đẹp nên thơ, non nước hữu tỉnh ấy đã ác động đến tâm hồn của người
ih cách rất đặc biệt,
'“Nhiều người tưởng nhằm tâm hỗn Huế là buồn, thực ra đấy là những cảm
xúc được gạn lọc và không thích bộc lô để thực hiện lý tưởng thăng bằng của nỗi
tâm” [27, tr.26] Tâm hôn của người Huế không hãn là buôn mà chỉ bởi vì họ đã
thắm nhuần
đồ hôi ái hỗn cảnh đẹp nên thơ của chốn cổ đô mà tâm hồn trở nên mơ mộng,
“Trong truyện Hoa ngũ sắc và cỗ, một Nguyện dùng vẻ bề ngoài danh đá để che dấu một tâm hồn mơ mộng, dễ thương tổn "Phải chăng kẻ yếu đuổi, mộng mơ thường nguy ạo cho mình đáng vẻ một con bò rũng?"[7, r0] Tâm hỗn mơ mộng
của Nguyện thể hiện rõ rằng qua sở thích của nàng “Nàng vốn thích thơ thân trong
một không gian nhiều khoảng trồng, lang thang giữa đất ti, nếm hương vị tri và hit, tải sim ngợi, trấi mâm xôi chua chua Nàng vốn thích tốc tiên mọc trăn
vườn!” [, tr70] Còn “Tôi thích những buổi đọc sách giữa để
dim c trong sách vỡ và tỉnh yêu Tôi hay n chuyện ngày mai của hai đứa "[7, trời cùng Nguyên,
11.66] Toi người thiy giáo cũng là một con người có tâm hồn mơ mộng, chỉ bằng một cái tên Cao Thơm mà cả vùng ti kí ức hiện về, để rồi loay hoay bắt định đồi theo nó, tuổi đôi mươi vẫn mãi xanh trong tâm tướng của ông
Tâm hồn mơ mộng Ấy còn thể hiện ở một né ắt đặc trưng rong hầu hết các
nhân vật của Qué Hương là mặc dù sống ớ
“Cô gái mù trong Nổi buổn rực rỡ đã sống một thi niên thiểu đầy mơ mộng lên tại nhưng luôn hướng về quá khứ với những kỉ niệm đẹp đế, trong sing của tuổi niên tiểu với anh thợ sửa xe cổ tài
"họa si những kỉ niệm Ấy sâu sắc đến mức sau này kh lớn lên đứng trước bức trình
vẽ chính mình, bà đã nhớ lại cả một thời hoa niên ấy “Có phải màu hoa chối chang
và nết buồn khôn tả của thiểu nữ rong tranh đã níu chân bà lại hay ti cách áp má
ào hoa của cô a quen thuộc quá chừng? Càng nhìn, những cánh hoa dường như cảng xóe o, lập ibe, Hang mi dải như hai vật tối của cô thiểu nữ động đậy, tro ra
lạ láng nỗi buồn Hoa phượng rực rỡ, tuổi thanh xuân rực rỡ mà sao bức tranh vẫn buổn khôn tả" (10, r217] Hay như chú Di trong Trần gian có mưu chỉ gấp gờ và yêu trong một tuần nhưng cả đời cũng không sao thoát khôi tuần ấy được, khiến chú
30
Trang 35tượng nhớ thương bao năm dài của một người đần ông nào đó.” [12, tr 109] Và mẹ
căng là một người rất lãng man, rt ma ming “Ké dang mia hoa Rong diy Me
thích thể nên chỉ quét buổi chiều đề có một ngảy nhìn sân tìm Một người vậy
phải lãng man.” 12, tr 109 Khi người ta mãi mơ mông thì theo đồng suy tưởng, Không đặt hết sự ch ý vào việc mình đang làm “Me dang hii rau ndu canh tip ting
“Chỉ đồi tay Con đôi mắt đâu trên bở rào Bơ vơ Trồng rồng [12, tr 114]
Trong truyện ngắn “Ấn fan "Họ là những kẻ mơ mộng!” (12, tr299] khỉ muốn trở thành hiệp sĩ thông bai lá dt, “những kẻ mộng mơ ấy đã sống như người
mộng du giữa núi rừng mũ sương và tỉnh lặng Mùa xuân đắt rời th nhau độ lượng,
chung quanh họ, thiên nhiên bày cảnh ái ân đầm ấm khắp nơi.” [12, tr 299] Trong một thiên nhiên xinh đẹp, rực rỡ như thể, muốn con người ta không mơ mộng thật khó và pl
những người con xứ Huế
i chinh bởi vẻ đẹp của thiên nhiên đã ươm
tính mộng mơ của
"Người Huế là người của mộng mơ và chính “Mưa Huế tao nên vẻ thơ mộng
và lăng mạn cho Hué Mua tao thành tính cách Huế thâm rằm sâu lắng” [31] (Chính vẻ mơ mộng của Huế cũng đã góp phần làm nên tính cách mơ mộng của người Huế Tiêu biểu như Hạ rong Giạr sẵu trong vắt: "Con ranh Từng thấy tối nhìn không chân mưa tơi soi môi: “Ai lâm cho cô nương cha như dấm, ngang như
[10,138], Nghệ câu chuyện me
cua thành hiền dịu, mộng mơ nhất lớp ra ba
kể về nàng công chúa đẹp tuyệt trần muốn có một xâu chuỗi kết bằng những gioi mưa bay, Hạ cũng đã mơ vỶ, cũng “ước có một xâu chuỗi kết bằng những mộng
"mơ, vui bun trong vất của tuổi 17 Xâu chuỗi Ấy không bao giờ có bởi mùa mưa
«dim di chim dit trước khi tôi chọn được ngoc!” [0, tr 134] Tỉnh yêu của một tuổi
"mơ mộng chưa kịp lớn đã vội an ấy vẫn là nỗi khắc khoải không nguôi của người dân ông tong Hoa ngữ sắc và cổ chợt sống lạ, dập dịu bước về phía Nguyện khi gặp hình bồng của người cũ trong đãng của Cáo Thơm
Ngay cả về đạp của người thiểu nữ Huế cũng mang dáng dấp mơ mộng, tiêu biểu nhất chính là chị Thường "Chị ngồi xích lô cũng không giống ai Dáng thẳng
31
Trang 36
băng, đùi kháp lại tay để tên vạt áo, cần cổ như cuống hoa, mi ức như vột huyển
đen nhưng nhức Nhiều anh bám theo để mong chớp bằng mắt bức ảnh của thục
nữ-” [12, tr.19] Vẻ đẹp của chị không chỉ ở dáng da, đường nét mã còn ở thần thái, nhẹ nhõm, thanh thoát, phiêu điêu Vé dep dai céc ấy là hình ảnh của những thục nữ
«quan tim hơn cả là chim có đến ăn tr ôi chín chị để dành không,
tắLướt vượt như nhung chớp chớp tươm rướm là người đối diện bổi rối như chỉnh họ
có lỗi.” [12, tr 21] Chính tâm hồn mộng mơ ấy tô lên vẻ đẹp, làm giảu thêm “Nhả em
"mà nghèo chỉ! Có ắt nhiều kho báu ~ Lòng tốt Vẻ đẹp Mông mơ [12,tr22], đưa son người vượt lên sự đối nghèo Tập truyện Hoàng rữ bể dã giúp HỄn mơ về một hoàng từ bé tính khiết như giọt sương, xa như vì sao, “từ khi "số" chú, tôi không còn
"nghe tếng rú rích của đối nghèo trong mọi xô xinh nữa.” [12, tr22]
Tính cách mơ mộng, suy tường là nét đẹp thấp thoáng bóng dáng của những
con người Huế, Tính cách ấy cũng đã từng được Trần Thủy Mai khẳng định wong truyện ngắn Huyễn thoại về châm phượng, nhân vật ông Ninh-một nhà khảo cổ học
đã nhiều năm gắn bỏ với Huế đã nhận xết “Người Huế là con người suy tưởng và
mơ mộng, chưa hẳn là con người nói năng, đi lại và giao tế” [3] Bởi với Quế
Hương, họ được sinh ra lớn lên nhờ hút nh khí của xứ sở xinh đẹp này, với những,
‘com muta dm, và cả ảnh hưởng từ nếp sống của những con người để đô xưa cũ 1.43, Nhân vt *bhuyée thiểu”
Bằng tắm lòng nhân ái, bao dung, Qu Hương đã chuyển ti niềm tn, niềm
"hy vọng vào những mảnh đồi không hoàn hảo tong trang văn cña mình,
"Đồ là những nhân vật khuyết thiếu về thân thể nhưng tâm hồn luôn đủ đầy, luôn khát vọng vươn lên bằng ý chí, nghị lực và niềm tin Đồ là chẳng thanh niên
32
Trang 37mắt hai chân trong Một cuộc đưa, nhận lời đua vươn lên đưới ánh mặt rời với cô
trẻ Đó là con Lỡ với đôi chân bị liệt, là thẳng Đầu to, con Sót, thẳng Quảng,
thẳng Lượm,
Tiểu tính cầu Déa hoa không gai và con cừu không rp mom la thé gsi cia những mảnh đồi không hoàn hảo, quê quặt không ngoài cũng trong Con Mốc với lịch sử đời nó là một trang cảm lăng Nhung nó hiểu chuyện “con Mắc biết ngay
"nguyên nhân lãng lề mua cho tôi nữa mì chan nước xíu bằng tiền của nổ” và chăm, chỉ “lâm việc nhà xong côn di bn keo gừng” Con Mốc cảm đi đôi với điếc nhưng (Qué Hương vẫn đặt niềm tin vào nhân vật của mình "tôi tin nó nghe được cả tiếng
a lũ mọi tiếng th thảo ong đầu
con gấi “Chị Thường đẹp đến phát lo Ma phải đem bin cho am cô đồng,
dõi ấy lá bùa luỗn đưới gối Con Huyền ranh đến phát sơ Tôi vú chữm cau còn đái dằm ” [12, 16-17] cũng không hoàn hảo Ma là người nhất nhạnh những cảnh đời dáng thương ấy về cũng cơ cục không kém, nhị vào đôi chân lỗi chợ là có thể thấy kiếm được đồng tiền vắt vã nhường nào Mạ nghèo khỗ nhưng tắm lòng yêu thương
đã tòa sáng nét đẹp của lòng nhân ái, lấn lóc kiểm sống ở chợ, tính thoảng mạ dẫn
vŠ đồ sút mẻ để cho n ở, lấy tỉnh thương để đối nhân xử thể
Trong truyện Tiên ngÌi khóc, hình ảnh của con Tôi bì nhiễm xi-da với ảnh
năng
inh “ng
không hề khiếm khuyết một chốt nào, nó nhạy căm, thông mình và lạc quan “rótin
u khát khao được chơi cùng, được đi học đã tự nhận thức về bản thân
ếm khuyết Nhưng tâm hồ
vi nút” ~ người không hoàn hảo, bị k
tôi sẽ chữa lành bệnh cho nó di hoc” [12, tr39], nó cồn chứa cả một tình cảm vô bờ
với bà ngoại, sợ rằng khi nó chết bà ngoại sẽ ắt buồn
trong bệnh hoạn, cô đơn, tâm hồn nó lớn thay cho thể xác" [12, 39} Va con Tôi
lường như khi giam mình con chữ cả ước mơ lắp lánh tỉnh thằn nhân đạo ca tác giá "Khi phải bay ra khối cuộc đời này, thin thin nho bé ấy sẽ chữ trên đôi cánh những gì tốt đẹp của trần
gian"[12, tr38]
33
Trang 38
Hãy Bà mụ của bắp bê ~ Con Ld “Lai xi xi! Lại gầy gò vì thiểu cân, thiểu tháng! Lại bị qué sau tn sit liệt khi lên ai! Đôi lúc người mẹ cũng ăn năn Giá
lầy đủ Thôi thì lỡ rồi La sinh
Lỡ quên Người ta gọi nó luôn là con Lỡ” [10, tr22], Nhưng bên rong dé là một tâm hỗn thất đẹp, thật hoàn mỹ Chỉ có nó tì
chuyện, và niềm tin, hy vọng của nó cũng thật đẹp, tin vào sự tái sinh lành lặn, xinh
'chăm chút nó như hai đứa trước, uống, tiêm phòng
mg ndi mới có người để chơi, để trỏ đẹp và nhân hậu "Mày sẽ để con thôi Mày để một con búp bể tóc vàng đẹp như công chúa, không tr tốc, không gây lay Con mày sẽ đẹp giảm mày” [10,tr25] Và
nó cũng mơ nó sẽ đề một con Lỡ con xinh đẹp, lnh lặn để đẹp thay cho nó, Nếu
Người vợ trong Siêu nhân Bé bổng là một người phụ nữ vừa giỏi vừa hiển, không hễ biết hoạnh học hay đòi lâm chủ thời gian của gã chồng Nhưng người vợ
am bình chữ” Thể
lại khiến gã chẳng sợ và ghét chính bởi say sưa điều khiến
Tồ, gã mãi mê theo những thú vui võ bổ và bỏ quên người vợ Chỉ sáu một lẫn tai
nạn nằm bệnh viện, gã mới chợt nhận ra “Gã tỉnh giắc, thấy vợ ngoẹo đầu ngủ gục ở
chân giường Mây nh li, miệng há bốc Tóc đỗ một bên, ối ren Ngực thin then,
sữa tảo ớt áo Một chân duỗi ra, gốt nứt nẻ Đã lãu lắm tồi gã mới nhữn thấy vợ gần đến thể không hoàn hảo nhưng nguyên vợn” 12, tr 199] Dũng rồi nhan sắc
vợ gã đã bị thời gian, nghĩa vụ, sự hí sinh bào môn duy chỉ có tâm hồn, tỉnh yêu dành cho gã, cho gia đình vẫn luôn nguyên vẹn
Nhân vật trong truyện ngắn của Quế Hương phần lớn đều không hoàn hảo, nếu như thân thể không khuyết thiểu tỉ sẽ là tâm hồn, Tâm hồn của Nguyện đã trở nên khuyết thiểu từ tuổi lên mười khi chứng kiến cảnh ngoại tỉnh của cha, một Nguyên danh đá, bình luận nghĩ
bảo vệ mình cũng chính vì “Ba mẹ em trước kia yêu nhau lắm, Cả họ ngoại từ bộ ngã về tỉnh yêu, tăng cường những cái gai đ tự
34
Trang 39mẹ vì dâm tự lấy một kế ngoại đạo nghèo kiết xác, Mười năm sau ba em không
Cé ta va ba em ở trên giường Mẹ em và em ở ngưỡng cửa Bà không nói một lời
“Thật bắt hạnh khi bị làm chứng nhân ở tuổi lên mười Lớn lên, nhìn đôi vợ chẳng
nào, em cũng
thấy bộ mặt của tỉnh yên!" [7,tr69] Tổn thương tính thần Ấy không chỉ là sự ấm ảnh về mặt trấi của tình yêu, về sự phân trắc, lừa dối đổi với một cô gái như
Hh dung cánh cửa bật mở hôm ấy Nếu mọi cánh cửa đều mở, anh sẽ
Nguyên Mà còn là nỗi dau cảm lặng của mẹ Nguyện, bắt chấp tắt cả, í sinh để rồi nhận ại sự phân bội là điều quá tần nhẫn với bà
Mỗi nhân vật rong truyện ngắn Qu Hương, phần lớn đều mang rong mình
một nỗi đau, một biến cố nảo đó trong cuộc đời .4psara hoang dại mang trong lòng
nỗi sợ hãi đến mức quên đi ngôn ngữ giao tiếp khi chứng kiến cảnh mẹ bị rắn cắn
chễ, và cảm lặng chủ đến kh nhận thấy nình cũng đang cặn kể nguy hiểm như mẹ
"mới thốt ên được lồi kêu cứu với đồng loại
Neuve Iai với chăng trai, cô gấi rong Một cuộc đưa nguyên ve về thể xác nhưng lại chịu những thiệt thời về tâm hồn “Tôi không có cha Người đần ông nào
đồ đã bỏ mẹ tôi kh ôi tượng hình Ông cậu ôi đem tôi về, lấy tiên người ta bai thường, cho đi học nữa buổi còn nữa buổi sai vặ, bưng bê trong quân cà phê của
họ 4 tuổi, ôi bị bà mơ ép bán trình cho một doanh nhân Tôi cằm chai rượu quật
te thành trẻ không nhà, nương thân vào mái ấm loàn
những đứa rẻ không có tổi thơ, nhưng sau tắt cả những tổn thương ấy, cô gái đã
it kiến cường vươn lên để làm chủ cuộc đời mình, để biến đồi buôn thành vui, đ khẳng định khôn
Nhân vật khuyết thiểu nhưng luôn mang hy vọng, iễm in và th thần nhân là đồ bỏ cả, để vươn lên dưới ánh mặt trời
đo cao cả Khí nồi vỀ những nhân vặt khuyết thiểu, giọng văn Quê Hương Ấm lên tính thần nhân đạo, cái âm, cái ỉnh của con người và thẳm nhuằn tư tưởng của Phật giáo
35
Trang 40Tiểu kết chương Ì
“Trong chương 1, chúng tôi đã đề cập đến quan niệm nghệ thuật về con người và
thể giới nhân vật rong tuyên ngắn Qué Hương từ góc nhìn văn hóa, Qua việc tìm hiễu
"hành trình sống, hành trình sáng tạo, chúng ta hiểu rõ hơn vẻ cuộc đời và sự nghiệp của
chị để thấy rõ hơn quá nh lao động nghệ thuật nghiêm tức và những cổng hiển của chỉ ho nền văn học nghệ thuật Việt Nam, Từ quan niệm nghệ thuật về con người, chỉ sáng tạo một thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, đc sắc Thế giới nhân vật Ấy lột hiện một tính cách văn hóa của người phụ nữ HuẾ, người phụ nữ an phận trong bổn phận và rách nhiệm, giu inh thương và nhiều suy tưởng, mơ mộng
36