Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới nền kinh tế Nhật Bản...8 4.. Lí do chọn đề tài Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Nhật Bản đã ảnh hưởng rất nặng nề đến nền kin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC YERSIN ĐÀ LẠT KHOA NGOẠI NGỮ - ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-
-TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ NHẬT BẢN
CHỦ ĐỀ: NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN SAU CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Diễm Hà Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Thiên Nga
MSSV : 12011033
Khóa : 2020 – 2023
Đà Lạt, tháng 8 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
I KHÁI QUÁT CHUNG 4
1 Khủng hoảng kinh tế là gì? 4
1.1 Nguyên nhâ gây ra khủng hoảng kinh tế 4
1.1.1 Khủng hoảng tài chính 4
1.1.2 Lạm phát 5
1.1.3 Bong bóng kinh tế 5
2 Kinh tế Nhật Bản sau khủng hoảng 5
3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới nền kinh tế Nhật Bản 8
4 Tác động của cuộc khủng hoảng Mỹ 11
II Phản ứng của chính phủ 14
III Phản ứng của ngân hàng Nhật Bản đồi với cuộc khủng hoảng 2008 15
IV Kết quả 16
V Tài liệu tham khảo 18
Trang 3MỞ ĐẦU
Năm 2008 tài chính Thế Giới gặp phải nhiều khó khăn Với điểm khởi đầu là cuộc khủng hoảng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Mỹ cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến sự đổ vỡ của hàng loạt định chế tài chính lớn nhiều tổ chức tín dụng bị quốc hữu hóa và sụt giảm trên thị trường chứng khoán trên khắp Thế Giới các nhà kinh tế coi cuộc khủn ghoảng này là cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ đại khủng hoảng những năm 30 của thế kỉ trước cuộc khủng hoảng bùng phát tại
Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chếtài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo nam 2008 đã chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền knih tế chống chọi với khủng hoảng
A Lí do chọn đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Nhật Bản đã ảnh hưởng rất nặng nề đến nền kinh tế cũng như cuộc sống của người dân nơi đây Nhưng với tinh thần đoàn kết và thông minh sáng suất của con người Nhật Bản mà đã có thể kéo nền kinh tế vực dậy một cách nhanh chóng Chính vì điều đó mà em lựa chọn đề tài này để làm tiểu luận, nhằm nâng cao nhận thức và học hỏi về kĩ năng cũng như tinh thần đoàn kết, có ý chí dám đương đầu với khó khăn, đối mặt với khủng khủng “tồi tệ” ấy và đưa đất nước Nhật Bản nhanh chóng phục hồi trở lại
Trang 4I KHÁI QUÁT CHUNG
1 Khủng hoảng kinh tế là gì?
Theo học thuyết Kinh tế – Chính trị của Mác Lê-nin, khủng hoảng kinh tế là tình trạng suy thoái đột ngột của nền kinh tế Hiện tượng suy thoái này thường diễn biến trầm trọng và có xu hướng kéo dài Trong thời kỳ khủng hoảng của nền kinh tế, các chỉ số như tổng sản phẩm quốc nội có xu hướng giảm Đồng thời, thị trường bất động sản và chứng khoán cũng giảm sâu, các khoản thanh toán rơi vào cạn kiệt uy nhiên, với xu hướng toàn cầu hóa, bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ XIX, các cuộc khủng hoảng kinh tế dần mở rộng ra phạm vi lớn hơn Các cuộc khủng hoảng với quy mô lớn như toàn châu lục và các khu vực lân cận bắt đầu được ghi nhận từ những năm 70 của thế kỷ XIX
1.1 N
guyên nhâ gây ra khủng hoảng kinh tế
Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế này bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
1.1.1 Khủng hoảng tài chính
Trang 5Khủng hoảng tài chính xảy ra khi các tài sản có sự sụt giảm mạnh và nhanh chóng
về mặt giá trị Trong một số trường hợp, khủng hoảng tài chính bao gồm sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và sự xuất hiện của các bong bóng kinh tế Các vụ vỡ
nợ và tình trạng khủng hoảng tiền tệ cũng sẽ xuất hiện vào thời kỳ khủng hoảng tài chính Các hệ thống ngân hàng bị sụp đổ và giá trị tiền tệ bị giảm sút trầm trọng 1.1.2 Lạm phát
lạm phát là hiện tượng tăng giá liên tục của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Khi giá hàng hóa tăng lên, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa hơn bình thường
Do đó, lạm phát làm suy giảm giá trị của tiền tệ, đồng thời phản ánh sự suy giảm của tiêu dùng trên một đơn vị tiền tệ Trong thời đại hội nhập, lạm phát làm giảm
giá trị tiền tệ quốc gia này so với tiền của quốc gia khác
1.1.3 Bong bóng kinh tế
Bong bóng kinh tế, hay còn có các cách gọi khác như bong bóng đầu cơ, bong bóng tài chính, là hiện tượng hàng hóa trong thị trường bị đẩy mức giá lên quá cao Giá trị hàng hóa trong thị trường đạt ngưỡng cao một cách vô lý và không bền vững,
Trang 6thường chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn Khi bóng bóng kinh tế bị vỡ, thị trường sẽ sụp đổ
Những dấu hiệu kinh tế tăng trưởng chậm lại xuất hiện từ cuối năm 2007 thể hiện rõ hơn từ quý I năm 2008 và sau đó là nền kinh tế chính thức rơi vào suy thoái từ quý Mức giá chung của nền kinh tế, vốn có mức tăng gần 0% trong suốt thời kỳ dài từ năm 2003 đến giữa 2007 và bắt đầu cao hơn trong quý IV năm 2007, giảm đi do giá
cả các mặt hàng đều giảm Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế trong quý I là 0,6% trong đó nhu cầu trong nước tạo ra 0,2 điểm phần trăm và xuất khẩu ròng tạo ra 0,4 điểm Tuy nhiên, những ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới (nhất là Mỹ) chậm lại đã ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của các doanh nghiệp và đầu tư nhà ở, vốn bắt đầu tăng chậm từ giữa năm 2007, bắt đầu giảm từ quý I Luật Tiêu chuẩn Xây dựng cũng đã bắt đầu tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư nhà ở
Cuộc khủng hoảng tài kinh tế Thế Giới năm 2008
Trang 7Quý II mở đầu thời kỳ suy thoái mới của Nhật Bản khi nhu cầu trong nước thì giảm còn xuất khẩu ròng thì không tăng Nhu cầu trong nước giảm so với quý I tới 0,9%
và tạo ra sự sụt giảm GDP thực tế 0,9% Lâu lắm rồi, người ta mới thấy tất cả các chỉ số tốc độ tăng trưởng của chi tiêu dùng cá nhân, đầu tư vào nhà ở, đầu tư máy móc thiết bị của doanh nghiệp, đầu tư lưu kho của doanh nghiệp đều mang dấu âm Đặc biệt, chi tiêu của chính phủ cũng giảm do chính phủ cắt giảm vì nguồn thu từ phụ phí xăng không còn được Quốc hội cho phép kéo dài sau 30/3/2008
Xuất khẩu ròng của Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng bằng 0, nhưng nhìn vào cơ cấu bên trong thì mới thấy cả nhập khẩu lẫn xuất khẩu đều giảm Xuất khẩu giảm do các thị trường quan trọng của Nhật Bản tăng trưởng chậm lại, thậm chí suy thoái, trong khi yên có xu hướng lên giá liên tục so với đôla Mỹ kể từ giữa tháng 8/2008 Ngày 17/12/2008, tỷ giá yen/đôla xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua là 87,95 Nhu cầu trong nước tăng trở lại trong quý III, nhưng xuất khẩu ròng lại giảm dù cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu đều gia tăng (song nhập khẩu lại gia tăng mạnh hơn xuất khẩu) Xuất khẩu của Nhật Bản trong tháng 10 có mức giảm lớn nhất trong vòng 7 năm lại đây và lần đầu tiên kể từ năm 2002 xuất khẩu của Nhật Bản sang châu Á giảm Tính chung, GDP thực tế của Nhật Bản trong quý III giảm 0,1%
Trang 8Biểu đồ biểu thị tốc độ tăng trưởng của nền knih tế Thế Giới năm 2008
Các nhà kinh tế của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Nhật Bản (JCER) dự báo tốc
độ tăng trưởng trong quý IV/2008 sẽ là -0,2% Tính chung cả năm dương lịch
2008, tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế Nhật Bản là 0,3%, thấp hơn hẳn mức 2,2% của năm 2007
3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới nền kinh tế Nhật Bản Những tác động dễ thấy nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Nhật Bản (cũng như đối với các nền kinh tế khác) là sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP, tình trạng phá sản của các công ty và nạn thất nghiệp gia tăng, giá cả thị trường bất ổn định
Sự thay đổi GDP bình quân (%) từ 2004 - 2009 (Điều chỉnh theo mùa)
Nền kinh tế Nhật Bản đã suy giảm mạnh kể từ quý IV năm 2008, và đặc biệt nghiêm trọng trong quý I/2009 Các số liệu được Văn phòng Nội các Nhật Bản công bố ngày 20/5/2009 cho thấy Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này trong quý I đã giảm 4% so với quý trước và giảm tới 15,2% so với cùng
kỳ năm ngoái Nguyên nhân chính là do nhu cầu đối với các mặt hàng ôtô, điện tử
Trang 9và nhiều mặt hàng khác của Nhật Bản giảm mạnh trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái Tính chung trong năm tài chính 2008 tính đến hết tháng 3/2009, theo số liệu công bố chính thức, GDP của Nhật Bản đã lần đầu tiên sụt giảm trong 7 năm qua và ở mức giảm kỷ lục 3,5%
Như vậy, có thể nói ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho cán cân ngoại thương Nhật Bản từ chỗ có mức thặng dư khổng lồ trở thành thâm hụt chỉ trong vòng 1 năm Trong đó, xuất khẩu trong năm tài chính 2008 đạt 71,1435 nghìn tỷ Yên, giảm 16,4% và là mức giảm lớn nhất từ trước đến nay Nhập khẩu đạt 71,8688 nghìn tỷ Yên, giảm 4,1% Đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 12,876 nghìn tỷ Yên, giảm tới 27,2% so với năm trước, và là mức giảm lớn nhất từ trước đến nay Kim ngạch xuất khẩu sang các nước Châu Âu giảm 23%, và cũng là mức giảm lớn thứ 2 so với trong quá khứ Xuất khẩu sang thị trường Châu Á cũng giảm tới 13,4% Trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 9,8% Xuất khẩu sang Hàn Quốc, Hồng Kông cũng giảm mạnh
Trang 10
Ngành sản xuất ô tô là ngành chịu tác động nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng Theo các số liệu mà Hiệp hội ô tô Nhật Bản công bố, do nhu cầu tiêu thụ của các thị trường chủ yếu là Mỹ, châu Âu và châu Á giảm mạnh nên ngành công nghiệp xuất khẩu ô tô của Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng nghiêm trọng Tháng 4/2009, sản lượng
ô tô sản xuất của các doanh nghiệp trong nước là 485 nghìn chiếc, giảm 41,7% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, sản lượng xe hơi là 416 nghìn chiếc giảm 47,2%
so với cùng kỳ năm trước, sản lượng xe tải và các loại xe khác cũng giảm mạnh
Trong quý IV/2008 và quý I/2009, 20 tập đoàn hàng đầu Nhật Bản đã cắt giảm tổng cộng 87.000 nhân công cả ở trong nước và nước ngoài Tính tới cuối tháng 3/09, các tập đoàn này có tổng cộng 2,858 triệu nhân viên, giảm 3% so với cuối tháng 9/2008 Việc cắt giảm nhân công diễn ra phổ biến trong ngành công nghiệp điện tử, do nhu cầu của thế giới và giá cả của các mặt hàng điện tử giảm Trong quý IV/2008 và quý I/2009, Panasonic đã cắt giảm khoảng 21.000 việc làm, mức cắt giảm lớn nhất trong
số 20 tập đoàn nói trên Tiếp theo là Sony, với số nhân viên bị sa thải là 14.000 NEC cũng đã cắt giảm 13.000 nhân công và có kế hoạch cắt giảm thêm ít nhất 7.000 nhân công nữa trong các tháng tiếp theo Tình trạng cắt giảm nhân công ít nghiêm trọng hơn ở các hãng sản xuất ôtô Cuối năm 2008, Nissan đã thông báo kế hoạch cắt giảm 20.000 lao động, song số nhân công bị mất việc trên thực tế đến nay không lớn như vậy Các hãng sản xuất thép và hóa học cũng thực hiện việc sa thải nhân công một cách hạn chế
Tình trạng cắt giảm nhân công của các công ty cộng với sản xuất đình trệ đã đẩy tỉ
lệ thất nghiệp ở Nhật Bản lên tới mức kỷ lục Tổng số người thất nghiệp toàn phần tại Nhật Bản tính đến tháng 4/2009 đã lên tới 3,35 triệu người, tăng 670 nghìn người
so với tháng trước và là tháng thứ 5 tăng liên tục Số người đang làm việc là 62,45 triệu người, giảm 910 nghìn người so với cùng kỳ năm trước và là tháng thứ 14 giảm liên tục Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của nam giới là 4,9% và của nữ giới là
Trang 114,7% Trong số những người thất nghiệp toàn phần, có 1,06 triệu người do công ty phá sản, giảm nhân viên, và 1,03 triệu người vì lý do cá nhân Tính đến tháng 4/2009 tỷ lệ thất nghiệp toàn phần tại Nhật Bản đã lên đến mức 5,2%, là mức cao nhất tính từ năm 2006, song con số này vẫn tiếp tục tăng thêm Theo một số dự báo,
tỷ lệ này vào quí 2/2010 sẽ lên tới 5,66%, là mức cao nhất trong lịch sử Nhật Bản
Sự suy giảm của nền kinh tế Nhật Bản có nguyên nhân cơ bản là do những tác động của cuộc khủng hoảng tín dụng và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở Mỹ từ năm
2007
Thứ nhất, khủng hoảng tài chính ở Mỹ tác động trực tiếp tới các nhà đầu tư Nhật vào các tổ chức tài chính của Mỹ Các nhà đầu tư này chia làm 2 loại Loại thứ nhất
là những người đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu của các tổ chức tài chính Mỹ niêm yết tại thị trường chứng khoán của Nhật Bản Khi có tổ chức tài chính lớn của Mỹ bị phá sản, thì giá cổ phiếu và chứng khoán của các tổ chức tài chính nói chung đều bị ảnh hưởng tiêu cực dẫn tới mất giá
Trang 12Nhật Bản đang cố gắng khôi phục lại nền kinh tế và tài chính của đất nước
Thứ hai, không ít tổ chức tài chính của Nhật Bản sở hữu cổ phiếu và trái phiếu của các tổ chức tài chính Mỹ Nhiều chi nhánh của các tổ chức tài chính Nhật Bản tại
Mỹ tham gia cho vay mua nhà ở có thế chấp Khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp của Mỹ nổ ra từ năm 2006 và phát triển thành khủng hoảng tài chính từ giữa năm 2008, đương nhiên các tổ chức tài chính của Nhật Bản bị ảnh hưởng tiêu cực, như trường hợp phá sản của Công ty cổ phần bảo hiểm nhân thọ Yamato
Cho đến nay, các nhà đầu tư vào các tổ chức tài chính của Nhật Bản không bị ảnh hưởng gì đáng chú ý Sau chương trình cải cách mạnh mẽ trong những năm 1990 bao gồm cả sáp nhập, xử lý nợ đọng và củng cố bảng cân đối tài sản, củng cố các tiêu chuẩn kế toán và tiêu chí tài sản, các tổ chức Nhật Bản đã trở nên vững vàng hơn nhiều Khi khủng hoảng bùng phát dữ dội ở Mỹ vào tháng 10/2008, Mitsubishi UFJ Financial Group của Nhật đã nhân cơ hội mua lại 21% cổ phần (khoảng 9 tỷ đôla Mỹ) của Morgan Stanley và cùng với một số công ty Nhật Bản khác mua lại chi nhánh công ty chứng khoán Morgan tại Nhật Bản
Thứ ba, sự phát triển từ khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp thành khủng hoảng tài chính ở Mỹ tạo ra một hiệu ứng tâm lý tiêu cực tới thị trường bất động sản của Nhật Bản Hiệu ứng tâm lý tiêu cực của khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp và khủng hoảng tài chính ở Mỹ tới thị trường bất động sản thể hiện rõ qua việc số vụ phá sản doanh nghiệp trong ngành bất động sản và xây dựng tăng lên trong tháng 10/2008 Ngoài 2 khu vực này, còn có 7 trong 8 khu vực khác của nền kinh tế đều thấy tình trạng số lượng các vụ phá sản gia tăng
Thứ năm, cuộc khủng hoảng ở Mỹ đã tác động tiêu cực tới xuất khẩu của Nhật Bản
Từ năm tài chính 2002 đến cuối năm tài chính 2007, kinh tế Nhật Bản ở giai đoạn hồi phục Một động lực quan trọng cho sự hồi phục này là xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang Mỹ Tuy nhiên từ năm 2007, xuất khẩu sang Mỹ tăng chậm lại và được cho là nguyên nhân chính gây ra cục diện suy thoái từ quý I của năm tài chính 2008 (tháng 4-6/2008) với tốc độ tăng trưởng GDP thực tế là -0,6%
Trang 13Tóm lại, cả tiêu dùng nội địa (thông qua hiệu ứng tài sản), đầu tư trong nước (thông qua tiếp cận tín dụng), lẫn nhu cầu nước ngoài của Nhật Bản đều bị tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính ở Mỹ
5 Thất nghiệp tăng cao nhất ở Nhật Bản kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Thị trường việc làm bị đánh giá có phần cứng nhắc của Nhật Bản lại khiến người dân khó tìm được chỗ làm mới sau khi nghỉ việc Tỉ lệ thất nghiệp tại đây vì thế tăng cao, buộc người dân thắt chặt chi tiêu, đẩy tiêu dùng đi xuống
Theo Nikkei Asia, số người không có việc làm trong hơn một năm của Nhật đã tăng vọt lên 720.000 trong quý 2-2021, cao hơn khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2019
Ngoài ra, bộ này cũng ghi nhận số người sắp mất việc làm có xu hướng tăng lên Các khoản trợ cấp giúp duy trì việc làm của chính phủ cho người sử dụng lao động
đã giúp tỉ lệ thất nghiệp giảm 2,6 điểm phần trăm
Dù giúp giới hạn tỉ lệ thất nghiệp, những khoản trợ cấp này lại đẩy số nhân viên tạm giữ được việc làm tăng lên, tức những người vẫn giữ được công việc nhưng phải tạm nghỉ và không được trả lương Cụ thể, số người tạm giữ được việc làm là 2,11 triệu người vào năm 2021, tăng 330.000 người so với năm 2019
Số người muốn thay đổi công việc đạt 8,46 triệu người vào năm 2021, tăng 460.000 người so với hai năm trước đó