Tiểu luận Môn học Triết Học Mác Lênin Trường Đại học Bách Khoa TPHCMĐề tài: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAMChương 1: Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáoChương 2: Ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
TIỂU LUẬN MÔN HỌC TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI
SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 21
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 4
2.1 Sự ra đời của Phật giáo 4
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo 4
2.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni 4
2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo 5
2.2.1 Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan 5
2.2.2 Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan 6
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 10
2.1 Phật giáo và tín ngưỡng dân gian 10
2.2 Phật giáo và tư tưởng, đạo lý người Việt 11
2.2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo về tư tưởng 11
2.2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo về đạo lý 11
2.3 Phật giáo và phong tục, tập quán người Việt 11
2.3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo qua tập tục ăn chay, phóng sinh, bố thí 11
2.3.2 Ảnh hưởng của Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mồng một và lễ chùa 12 2.4 Phật giáo và lối sống của thanh niên hiện nay 12
2.5 Phật giáo trong thời đại công nghệ 13
2.6 Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay 13
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 32
MỞ ĐẦU
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo phật được truyền bá vào nước ta vào khoảng thế
kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa Do có nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng, văn hóa bản địa nên Phật giáo đã nhanh chóng trở thành một thành yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Theo dòng chảy lịch sử, tinh thần từ bi hỷ xả, khoan dung, độ lượng, hòa bình hòa hợp, hướng thiện, giải thoát con người khỏi đau khổ của Phật giáo đã thấm trong nếp sống, nếp nghĩ của đại đa số người Việt Nam
Ngày nay, xã hội Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội cho sự phát triển giàu mạnh, cùng với đó là rất nhiều khó khăn, thách thức Quá trình phát triển chịu ảnh hưởng hai mặt tích cực và tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế kéo theo xu thế toàn cầu hóa, mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khiến cho đời sống tinh thần con người có nhiều chao đảo, bất an Trong bối cảnh
đó, Phật giáo với con đường thoát khổ đã trở thành một phần đời sống tinh thần của một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân Việc phát huy vai trò của Phật giáo với những giá trị nhân bản có vai trò hết sức quan trọng trong việc giải thoát cho con người, đáp ứng được nhu cầu tâm linh, góp phần giải tỏa nỗi đau khổ tinh thần
và nỗi thất vọng trong lòng người, lập lại trạng thái cân bằng nhất định cho đời sống tinh thần của con người
Phật giáo dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng và bác ái Phật giáo đã trở thành một trong những hệ tư tưởng – tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đến ngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần con người Việt Nam Phật giáo Việt Nam luôn gắn liền vận mệnh đất nước, thăng hoa cùng dân tộc trong mọi hoàn cảnh và trải qua mọi thời đại Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc
Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho họ một nhân cách chân chính, đúng đắn, theo đạo để làm điều thiện, tránh cái
ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không trở nên mê tín dị đoan gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềm tin của quần chúng nhân dân
Lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo hiện nay tương đối được mở rộng, ngoài việc nghiên cứu giáo lý, kinh điển, lịch sử của Phật giáo ra còn đề cập đến các lĩnh vực Triết học, Sử học, Tâm lý học, Khảo cổ học, Xã hội học, Dân tộc học, Văn học,
Trang 43
Nghệ thuật Phật học đã trở thành một trong những khoa học tương đối quan trọng trong khoa học xã hội, trước mắt có quan hệ mật thiết với xã hội học
Hơn nữa quá trình, Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Vì vậy khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng
Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người Việt Nam là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai
Đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam gồm 2 nội dung chính:
- Chương 1: Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo
- Chương 2: Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam
Trang 54
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 2.1 Sự ra đời của Phật giáo
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo
Xã hội Ấn độ cổ đại ra đời từ rất sớm và là nơi xuất hiện nền văn minh sông
Ấn (khoảng thế kỉ thứ XXV TCN) Đến thế kỉ thứ XV TCN, có sự xâm nhập của người Arya vào khu vực của người bản địa, người Dravida, hình thành nên các quốc gia Ấn độ với nền văn hóa mới - nền văn hóa Véda
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế - xã hội Ấn độ cổ đại là mô hình “công xã nông thôn” Đặc trưng của nó là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước, dưới
sự cai trị của các Đế vương, mà gắn liền với nó là sự bần cùng của người dân trong công xã Xã hội thời kì này bị phân chia thành bốn đẳng cấp chính: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ cung đình Mỗi đẳng cấp giữ một thế sinh hoạt riêng và có phân biệt sâu sắc Trong khi những người Bà-la-môn có uy tín tuyệt đối trong xã hội và được hưởng rất nhiều đặc quyền thì đẳng cấp nô lệ lại có cuộc sống cơ cực lầm than Giữa các đẳng cấp tồn tại mẫu thuẫn gay gắt mà kết quả là những cuộc đấu tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học ra đời, trong đó có Phật giáo
Phật giáo lí giải căn nguyên của nỗi khổ và tìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn độ Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bà-la-môn và kinh Véda nên Phật giáo được xem là dòng triết học không chính thống
2.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Người sáng lập ra Phật giáo là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya Người sinh ngày 15 tháng 4 năm 563 TCN, là thái tử của vua Tịnh Phạn, một nước nhỏ nằm ở
Bắc Ấn Độ
Nhìn rõ nỗi khổ của chúng sinh, Tất Đạt Đa từ bỏ cuộc sống cao sang quyền quý, dòng dõi Đế vương, quyết xuất gia tầm đạo để tìm đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ Ròng rã suốt sáu năm tu hành, ở tuổi 35, Người đã giác ngộ tìm ra chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, giúp giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh.Từ đó Người đi khắp nơi truyền bá tư tưởng của mình và trở thành người sáng lập ra tôn giáo mới - Phật giáo
Qua hơn 40 năm truyền đạt giáo lí khắp Ấn Độ, Người được suy tôn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Người qua đời ở tuối 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý giá
Trang 65
2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo
Tư tưởng triết học Phật giáo thể hiện trên hai phương diện: thế giới quan và nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác
2.2.1 Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của ba cặp phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên
a) Vô ngã:
Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một “đấng sáng tạo”, một vị thần nào tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp giữa hai yếu tố: sắc và danh
Sắc là yếu tố vật chất, có thể cảm giác được Danh là yếu tố tinh thần, không
có hình chất mà chỉ có tên gọi Danh và sắc hợp thành “Ngũ Uẩn”, bao gồm: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức) Danh và sắc tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người Sự tồn tại của vật chất chỉ là tạm thời, không phải là vĩnh viễn, cho nên cũng không tồn tại cái “tôi”
b) Vô thường:
Vạn vật biến đổi theo một chu trình: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (Sinh - Lão - Bệnh
- Tử) Đức Phật dạy “tất cả những gì trong thế giới đó là biến đổi, hư hoại, đều là vô thường” Vì vậy, vô thường nghĩa là không thường, không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định mà luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã
Vô thường là phương pháp chỉ rõ mặt trái của đời, để bài trừ những sự mê lầm, chạy theo vật dục Vô thường là định luật chi phối vạn vật từ thân tâm đến hoàn cảnh Hiểu được điều đó, con người dễ giữ được bình tĩnh, thản nhiên trước cảnh đổi thay bất ngờ
c) Duyên:
Vạn vật đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó duyên chính là điều kiện để nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới Cứ như vậy
mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của vạn vật tuân theo quy luật Nhân Quả Nhân và Quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nhân là cái mầm, Quả là từ mầm mà có Nếu không có Nhân thì không thể có Quả, nếu không
có Quả là không thể có Nhân, Nhân thế nào thì Quả thế ấy Nghĩa là Nhân và Quả bao giờ cũng cùng một loại, Nhân đổi thì Quả đổi Một Nhân không thể tự thành Quả nếu không có sự giúp đỡ của nhiều Nhân khác vì vạn vật đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên Quả là sự vật đã chuyển thành cái mà ta mong đợi, ước muốn Vì thế mỗi vật đều có thể gọi là Nhân hay Quả đều được Đối với quá khứ nó là Quả,
Trang 76
đối với tương lai thì nó là Nhân Sự biến chuyển từ Nhân thành Quả có khi nhanh, khi chậm, không phải bao giờ cũng diễn ra trong một thời gian đồng nhất
Tóm lại, Phật giáo bác bỏ quan niệm duy tâm cho rằng thần thánh sáng tạo ra vạn vật Phật giáo thừa nhận vạn vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần và chúng biến đổi không ngừng Đó chính là quan điểm duy vật biện chứng của Phật giáo
2.2.2 Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan
Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan bao gồm: “Nghiệp”, thuyết “Tứ Diệu Đế” và “Ngũ giới”
a) Nghiệp:
Phật giáo cho rằng một linh hồn không thể được tạo nên một cách ngẫu nhiên và độc đoán từ sự toàn năng của thượng đế hay một Đức Phật nào Phật giáo tin rằng có một định luật tự nhiên chi phối vạn vật Theo lý nghiệp báo, chúng ta không bị trói buộc bởi một quy luật tiền định nào, chúng ta có đủ năng lực để chuyển phần nào cái nghiệp của ta theo ý muốn
Tóm lại, nghiệp là năng lực cá biệt được chuyển từ kiếp này sang kiếp khác
và phụ thuộc vào sự biến đổi của tâm lực Nghiệp giúp cấu thành nên tâm lí con người và giải thích những hiện tượng thiên tài, vĩ nhân, thần đồng
b Thuyết tứ Diệu đế:
Tứ Diệu đế là bốn chân lý của Phật giáo, gồm: khổ đế, tạo đế, diệt đế và đạo
đế
Khổ đế: Khổ đế là thực trạng đau khổ của con người Phật giáo cho rằng đời người là một bể khổ, ràng buộc, hệ lụy và không tự do, có tám cái khổ gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn Tùy theo phương diện ta có cách hiểu về “khổ” khác nhau:
Phương diện sinh lý: khổ là cảm giác khó chịu, đau đớn Gồm: sinh, lão, bệnh, tử
Phương diện tâm lý: khổ là sự mất mát, thua thiệt, không hài hòng, thất vọng,… Gồm: ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, sở cầu bất đắc
Phương diện Phật học: khổ là ngũ thụ uẩn, gồm: sắc, thọ, tưởng, hành vàthức Khi ta bám víu vào năm yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của ta thì sự khổ đau có mặt Ý niệm “tôi” hình thành cái ham muốn, vị kỷ
mà từ đó mọi khổ đau phát sinh
Tóm lại, khổ là sự đau đớn về thể xác, sự dằn vặt về tinh thần và là kết quả hàng loạt nhân duyên được tạo tác từ tâm thức Để thấu hiểu được căn nguyên của nỗi khổ, con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay đầu chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó
Trang 87
Tập đế: Tập đế là sự thật vững chắc nói về nguyên nhân của những nỗi khổ
đã tích lũy lâu đời, lâu kiếp trong mọi chúng sinh và đây chính là cội rễ của sanh tử luân hồi Có 12 nguyên nhân gây ra sự đau khổ, gọi là thập nhị nhân duyên, gồm:
1 Vô minh: Vô minh là không sáng suốt, là mề lầm, không nhận được bản
tính duyên khởi chân thật Do vô minh, nên không biết tất cả sự vật, dầu thân, dầu cảnh, dầu sinh, dầu diệt, dầu năng, dầu sở, dầu có, dầu không, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, do nhân duyên tan rã mà giả dối mất đi, đều theo nhân duyên mà chuyển biến như huyễn, như hóa, không có thật thể Chính vì không biết như thế, nên lầm nhận thật có cái ta, thật có cái thân, thật có hoàn cảnh, rồi do sự đối đãi giữa thân tâm và cảnh giới, phát khởi ra những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng
2 Hành: Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng ấy,
nó làm cho chúng sanh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp, rồi về sau chịu quả báo
3 Thức: Tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra cái thức
tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác
4 Danh sắc: Các thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc Sắc, bao gồm
những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh, bao gồm những cái không có hình tướng, như cái sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy
5 Lục nhập: Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp
nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần
6 Xúc: Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết
sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc
7 Thọ: Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là
khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ
8 Ái: Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối
với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, hơn bao giờ hết
9 Thủ: Do tâm gắn bó với thân, với cảnh nên không thấy được sự thật như
huyễn, như hóa, mà còn kết hợp được những ảnh tượng rời rạc đã nhận được nơi hiện tại, thành những sự tướng có định, rồi từ đó chấp mọi sự vật đều có thật, sự chấp trước như thế, gọi là thủ
10 Hữu: Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến
thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống
và có chết, cái có như thế, tức là hữu
Trang 98
11 Sinh: Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo lý
duyên khởi như huyễn, không có tự tánh, nên nhận lầm thật có sinh sống
12 Lão tử: Lão tử là già rồi chết Do có sinh sống, nên có già, rồi có chết
Tóm lại, tùy theo cách nhìn của mỗi người về cuộc đời mà có khổ hay không Nếu không bị dục vọng, vị kỷ hay phiền nào khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc
Diệt đế: Phật giáo cho rằng nguyên nhân của nỗi khổ là do sự vận hành của thập nhị nhân duyên mà gốc rễ là vô minh Khi vô minh bị diệt thì trí tuệ bừng sáng, hiểu được vạn vật, không còn tham vọng, không còn tạo nghiệp nữa và vì vậy mà thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham thì những nỗi âu lo, sợ hãi, bất an giảm dần, thâm tâm trở nên thanh thản, nhẹ nhàng Lúc đó, con người sẽ trở nên rộng lượng hơn, cư xử sáng suốt hơn, nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn Tùy theo khả năng giảm thiểu lòng lam, vô minh đến mức độ nào mà đời sống sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy
Đạo đế: Đạo đế là con đường tu hành để diệt trừ đau khổ Thực hiện Đạo đế
là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật, tập trung thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc (Bát chính đạo) buộc ta phải tuân thủ bát chính đạo gồm:
Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái
Chính tư duy: Suy nghĩ phải chính, phải đúng đắn
Chính nghiệp: Hành động phải chân chính
Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối
Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà
Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên
Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính
Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chân chính Muốn thực hiện được “Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “ Ngũ giới” (năm điều răn) và “Lục độ” (Sáu phép tu)
Ngũ giới” gồm:
Bất sát: Không sát sinh
Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa
Bất dâm: Không dâm dục
Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan cho người khác
Trang 109
“Lục độ” gồm:
Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn
Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện
Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng
Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên
Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, không để cho cái xấu che lấp
Bát nhã: Trí tuệ hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi khổ Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã hội Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm của Bàlamôn giáo Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực Như vậy Phật giáo nguyên thuỷ
có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng sáng tạo (vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vô thường, lý thuyết Duyên khởi) Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra