TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH THẢO LUẬN HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Đề tài: Sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại... Gia đình hiện đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
THẢO LUẬN HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài: Sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam
truyền thống và hiện đại.
Lớp HP: 2210HCMI0121
Nhóm: 7 GVGD: ThS Đỗ Thị Phương Hoa
Hà Nội, 4/2022
Trang 2DANH SÁCH NHÓM
STT Họ tên Nhiệm vụ Ý thức, thái độ
1 Nguyễn Thị Mai Nhóm trưởng, làm nội
dung đề tài 2
2 Trần Vũ Uyên Minh Làm nội dung đề tài 2
3 Lưu Thị Mùi Thuyết trình, thư kí
5 Quàng Anh Nam Làm nội dung đề tài 2
6 Chu Thị Nguyệt Nga Thuyết trình
7 Nguyễn Thị Kim Nga Làm nội dung đề tài 1
8 Phan Kim Ngân Làm nội dung đề tài 1
9 Bùi Khánh Ngọc Làm nội dung đề tài 2
10 Thân Bảo Ngọc Làm nội dung đề tài 2
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 26 tháng 2 năm 2022
BIÊN BẢN HỌP
Thời gian bắt đầu: 15h
Địa điểm: phòng họp google meets
1 Thành phần tham dự:
Lưu Thị Mùi, Nguyễn Thị Mai, Trần Vũ Uyên Minh, Chu Thị Nguyệt Nga, Phùng Văn Nam, Quàng Anh Nam, Bùi Khánh Ngọc, Phan Kim Ngân, Thân Bảo Ngọc, Nguyễn Thị Kim Nga
2 Nội dung cuộc họp:
Nhóm trưởng phổ biến sơ lược về cách thức tiến hành thảo luận dựa trên file word
cô đã gửi
Cả nhóm thảo luận dàn ý nội dung 2 đề tài
3 Kết luận cuộc họp
Diễn ra thành công tốt đẹp và kết thúc vào 15h30 cùng ngày
Thư Ký
Mùi
Lưu Thị Mùi
Trang 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 2022
BIÊN BẢN HỌP
Thời gian bắt đầu: 15h
Địa điểm: phòng họp google meets
1 Thành phần tham dự:
Lưu Thị Mùi, Nguyễn Thị Mai, Trần Vũ Uyên Minh, Chu Thị Nguyệt Nga, Phùng Văn Nam, Quàng Anh Nam, Bùi Khánh Ngọc, Phan Kim Ngân, Thân Bảo Ngọc, Nguyễn Thị Kim Nga
2 Nội dung cuộc họp:
Phân công word:
Đề tài 1 (đề tài phụ):
Nguyễn Thị Kim Nga, Phan Kim Ngân
Đề tài 2:
Nguyễn Mai: phần mở đầu, kết luận, tổng hợp và chỉnh sửa word
Anh Nam: mục 1 Phần nội dung
Khánh Ngọc: mục 2.1 và 2.2 Phần nội dung
Bảo Ngọc: mục 2.3.1 Phần nội dung
Uyên Minh: mục 2.3.2 và 3 Phần nội dung
Phân công powerpoint: Phùng Văn Nam
Phân công thuyết trình: Lưu Thị Mùi, Chu Thị Nguyệt Nga
3 Kết luận cuộc họp
Diễn ra thành công tốt đẹp và kết thúc vào 15h20 cùng ngày
Thư Ký
Mùi
Lưu Thị Mùi
Trang 5PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng với đó là sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc chạy đua như vũ bão của khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại Đồng thời với tiến trình phát triển của xã hội, nhiều vấn đề mới được nảy sinh, trong đó vấn đề gia đình có nhiều biến đổi tương đối toàn diện Gia đình hiện đại đã có sự thay đổi nhiều so với gia đình truyền thống về quy mô, kết cấu, các chức năng, mối quan hệ gia đình…
Sự biến đổi của gia đình cũng tạo động lực mới thúc đẩy sự phát triển của xã hội Bởi rằng gia đình là tế bào của xã hội, gia đình phát triển mọi mặt thì xã hội mới tốt đẹp Khi nước ta đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế mở rộng, tiến theo nhịp độ phát triển mới lại càng phải chú ý tới việc phát huy những giá trị của các yếu tố truyền thống trong gia đình, chọn lọc, hòa nhập chứ không hòa tan để phát triển mô hình hiện đại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Để hiểu rõ hơn về vấn đề này,
nhóm chúng em xin gửi đến cô bản báo cáo chi tiết đề tài: “ Sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại”
Do còn giới hạn về việc tìm kiếm nguồn tài liệu cũng như trình độ hiểu biết nên bản báo cáo không thể tránh khỏi thiếu sót, chúng em xin nhận sự thông cảm và lời nhận xét chân thành từ cô để có thể hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG
1 Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam truyền thống và gia đình Việt Nam hiện đại
Thứ nhất, đó là sự không ngừng biến đồi của xã hội Sự ổn định của xã hội chỉ là
sự ổn định bề ngoài Thực tế, nó không ngừng thay đổi ngay ở bên trong bản thân nó Sự biến đổi xã hội sẽ dẫn theo các yếu tố bên trong nó và những yếu tố khác như kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự thay đổi Và gia đình là một thành tổ tồn tại bên trong xã hội, có thể coi gia đình là một nhóm xã hội sơ cấp, là "tế bào” của xã hội, hay hiểu rộng hơn gia đình là một thiết chế xã hội
Thứ hai, sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, mở cửa toàn cầu hóa, hiện đại hóa kéo theo nó là sự du nhập ồ ạt của lối sống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta đã làm thay đổi phần nào Những giá trị truyền thống, đặc biệt trong gia đình Việt Nam dù ở nông thôn hay thành thị, có thể tùy từng dân tộc, từng vùng, từng dòng họ, từng gia đình mà thay đổi nhiều hay ít Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng
2 Phân tích sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại
2.1 Sự khác nhau về quy mô gia đình
Trong gia đình Việt Nam truyền thống, gia đình tồn tại nhiều thế hệ theo kiểu “ tam đại đồng đường” , “ tứ đại đồng đường”, có khi tới hơn chục người cùng chung sống trong một ngôi nhà Gia đình thường đông con, theo quan niệm nhà đông con là phúc đức của ông bà, cha mẹ Và con cái phải giữ chữ “Hiếu” đặc biệt là con trưởng, phải sinh sống cùng mẹ cha để cung phụng, trả ơn nuôi dưỡng
Đối với gia đình hiện đại, quy mô gia đình Việt Nam hiện nay đang dần thu nhỏ, thịnh hành kiểu gia đình hạt nhân.Gia đình thường chỉ có hai thế hệ cha mẹ, con cái hay
có thể đến thế hệ thứ ba, rất hiếm thấy gia đình có 4-5 thế hệ cùng chung sống Theo kết quả Tổng điều tra năm 2019, số người bình quân trong hộ liên tục giảm, năm 1979 là 5,22 người/hộ; 1989 là 4,84 người/hộ; 1999 là 4,6 người hộ; 2009 là 3,8 người/hộ; và đến năm
2019 bình quân mỗi hộ có 3,5 người/hộ, thấp hơn 0,3 người/hộ so với năm 2009 Điều này cho thấy xu thế quy mô hộ gia đình nhỏ đã hình thành và ổn định ở nước ta và tuy quy mô hộ gia đình nhỏ đã hình thành và ổn định nhưng vẫn tiếp tục giảm Quy mô số gia đình ở các vùng miền cũng khác nhau, do ảnh hưởng của trình độ dân trí, đặc điểm về kinh tế xã hội, phong tục tập quán và đặc trưng văn hóa Quy mô hộ bình quân khu vực
Trang 7thành thị là 3,3 người/hộ, thấp hơn khu vực nông thôn 0,3 người/hộ Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có số người bình quân một hộ lớn nhất cả nước (3,8 người/hộ); xếp thứ hai là vùng Tây Nguyên (3,7 người/hộ); vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có
số người bình quân một hộ thấp nhất cả nước (3,3 người/hộ) Hai vùng ở giữa là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (3,6 người/hộ) và Đồng bằng sông Cửu Long (3,5 người/hộ)
2.2 Sự khác nhau về chức năng gia đình
2.2.1 Chức năng tái sản xuất con người
Trước kia, trong gia đình Việt Nam truyền thống, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán và nhu cầu sản xuất nông nghiệp, nhu cầu về con cái thể hiện trên ba phương diện: phải có con, càng đông con càng tốt, “ con đàn cháu đống” là có phúc và nhất thiết phải
có con trai nối dõi Đặt nặng vấn đề có con trai nối dõi tông đường, người phụ nữ nếu không thể sinh con trai sẽ bị coi là không biết đẻ và chồng sẽ nạp thêm thiếp, vợ lẽ
Tuy nhiên, đã có một sự chuyển đổi nhận thức về mặt số con, quan niệm về con trai hay con gái trong gia đình Việt Nam hiện đại Theo kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, tỉ lệ người đồng ý rằng gia đình phải có nhiều con chiếm tỉ lệ khá thấp , khác hẳn với gia đình truyền thống trước kia hầu như nhà nào cũng sinh rất nhiều con Trong đó, có khoảng 63% người cho rằng không nhất thiết phải có con trai, cho thấy bộ phận người dân đã tự nhận thức được giá trị của con cái trong cuộc sống gia đình nói chung Ngoài ra, với những thành tựu của y học hiện đại, hiện nay việc sinh đẻ được các gia đình tiến hành một cách chủ động, tự giác khi xác định số lượng con cái và thời điểm sinh con Hơn nữa, việc sinh con còn chịu sự điều chỉnh bởi chính sách xã hội của Nhà nước, tùy theo tình hình dân số và nhu cầu về sức lao động của xã hội Ở nước ta, từ những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã tuyên truyền, phổ biến và áp dụng rộng rãi các phương tiện và biện pháp kỹ thuật tránh thai và tiến hành kiểm soát dân số thông qua cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con Sang thập niên đầu thế kỷ XXI, dân số Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn già hóa Để đảm bảo lợi ích của gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội, thông điệp mới trong kế hoạch hóa gia đình là mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ hai con Trong gia đình hiện đại, sự bền vững của hôn nhân phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tâm lý, tình cảm, kinh tế, chứ không phải chỉ là các yếu tố có con hay không có con, có con trai hay không
có con trai như gia đình truyền thống
2.2.2.Chức năng giáo dục của gia đình
Dù là gia đình Việt Nam truyền thống hay hiện đại thì giáo dục là một phần không thể thiếu trong gia đình, nó thể hiện sự dãy dỗ của ông bà, bố mẹ với con cái, cháu chắt
Trang 8Gia đình truyền thống thì con cái sẽ có được sự chỉ bảo, dạy dỗ của cả ông bà, chú bác, bố mẹ nhiều hơn gia đình hiện đại Giáo dục chủ yếu theo tư tưởng Nho Giáo và những
lễ nghi Giáo dục con cái bằng những kinh nghiệm được truyền đạt từ đời này sang đời khác Chỉ có con trai mới được đi học, con gái được giáo dục để làm việc nhà
Gia đình hiện đại ngày nay chủ yếu là gia đình hạt nhân làm chặn đứng cơ hội truyền thụ những hiểu biết về việc nuôi dạy con cái từ thế hệ ông bà cho thế hệ cha mẹ Thế hệ mới lập gia đình cho dù có nhận được sự giúp đỡ của bố mẹ nhưng vẫn bộc lộ những bất đồng thế hệ, xung quanh việc nuôi dạy con cái vì giới trẻ ngày nay trông cậy vào tri thức khoa học và chuyên môn hơn là sự hiểu biết của bố mẹ Giáo dục gia đình hiện nay phát triển theo xu hướng sự đầu tư tài chính của gia đình cho giáo dục con cái tăng lên Nội dung giáo dục gia đình hiện nay không chỉ nặng về giáo dục đạo đức, ứng
xử trong gia đình, dòng họ, làng, xã, mà hướng đến giáo dục kiến thức khoa học hiện đại, trang bị công cụ để con cái hoà nhập với thế giới Con trai, con gái đều được đi học, tiếp xúc với môi trường học tập như nhau Việc giáo dục không giới hạn độ tuổi Tuy nhiên, tỷ
lệ biết chữ của dân tộc ít người vùng núi phía Bắc ở độ tuổi trên 15 không biết đọc, biết viết hiện vẫn ở mức khá cao (gần 22%) - từ đề án “Xóa mù chữ đến năm 2020” Hơn nữa,
sự gia tăng của các hiện tượng tiêu cực trong xã hội và trong nhà trường làm cho sự kỳ vọng và niềm tin của các bậc cha mẹ vào hệ thống giáo dục xã hội trong việc rèn luyện đạo đức, nhân cách cho con em của họ đã giảm đi rất nhiều so với trước đây
2.2.3 Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng của gia đình
Gia đình Việt Nam truyền thống chủ yếu hoạt động kinh tế nhỏ lẻ, riêng rẽ tự cung
tự cấp là chính Chức năng sản xuất và tiêu dùng đi đôi với nhau, tự cày cấy, cung cấp lương thực, thực phẩm cho chính gia đình mình Người đàn ông gánh vác kinh tế gia đình, phụ nữ và con cái phụ thuộc vào khả năng làm việc tạo ra kinh tế của người đàn ông
Gia đình Việt Nam hiện đại trở thành đơn vị mà sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của người khác hay của xã hội, thành tổ chức kinh tế của nền kinh tế thị trường hiện đại đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu Các thành viên trong gia đình thực hiện hoạt động kinh tế ngoài gia đình Xu hướng cá nhân hóa các nguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình dẫn đến chỗ phạm vi hoạt động của gia đình như một đơn vị kinh tế thu hẹp lại Sự phát triển của kinh tế hàng hóa và nguồn thu nhập bằng tiền của gia đình tăng lên làm cho gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng của xã hội Các gia đình Việt Nam đang tiến tới “tiêu dùng sản phẩm do người khác làm ra”, tức là sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội
Trang 92.2.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm.
Trong gia đình Việt Nam truyền thống coi trọng những giá trị về vợ chồng, con cái
bố mẹ theo những chuẩn mực nhất định Người vợ kì vọng vào vai trò trụ cột kinh tế, vai trò làm cha của người chồng hơn là vào tình yêu và sinh hoạt vợ chồng Còn người chồng lại coi trọng sự đảm đang , vai trò làm vợ, làm mẹ của người vợ Những gia đình Việt Nam truyền thống thường không thấy ly dị như gia đình hiện đại
Gia đình Việt Nam hiện đại vẫn coi trọng những giá trị truyền thống đó , nhưng bây giờ độ bền vững của gia đình không chỉ phụ thuộc vào sự ràng buộc của các mối quan
hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa vợ và chồng: cha mẹ và con cái, sự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích gia đình, mà nó còn bị chi phối bởi các mối quan hệ hoà hợp tình cảm giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, sự đảm bảo hạnh phúc cá nhân, sinh hoạt tự do, chính đáng của mỗi thành viên gia đình trong cuộc sống chung Vợ chồng có thể tự do tìm cho mình một đối tượng theo tình cảm , họ dễ chia tay nhau hơn, dễ thay đổi hơn Trong tương lai gần, khi mà tỷ lệ các gia đình chỉ có một con tăng lên thì đời sống tâm lý – tình cảm của nhiều trẻ em và kể cả người lớn cũng sẽ kém phong phú hơn, do thiếu đi tình cảm của anh, chị em trong cuộc sống gia đình
=> Bốn chức năng cơ bản của gia đình là những điểm chung của của gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại Nhưng tùy thuộc vào mỗi loại gia đình mà những chức năng này lại có cách thức biểu hiện khác nhau.
2.3 Sự khác nhau về mối quan hệ gia đình
2.3.1 Quan hệ vợ chồng
a Quan điểm về vị trí, vai trò trong gia đình
Gia đình truyền thống: Vợ chồng sống với nhau có trách nhiệm, nghĩa vụ với nhau, cùng chia sẻ với nhau trong quan hệ vợ chồng và chăm sóc con cái Trong gia đình, chồng thường là chủ gia đình, có quyền quyết định mọi hoạt động lớn nhỏ trong gia đình nhưng
vợ, người phụ nữ thường bị phụ thuộc vào chồng và không có vị trí trong nhà Có thể thấy, người chủ gia đình được quan niệm là người có phẩm chất, năng lực, và đóng góp vượt trội, được các thành viên khác trong gia đình coi trọng Họ là những người quyết định chính cho những vấn đề lớn của gia đình Người chủ của gia đình thường là đàn ông/ người chồng
Gia đình hiện đại: Quan niệm người chủ gia đình rất đa dạng Người chủ gia đình có thể là người đàn ông/người chồng; người phụ nữ/ người vợ; hay cả hai vơ chồng cùng làm chủ gia đình tuỳ thuộc vào phẩm chất, năng lực, đóng góp của họ trong mỗi gia đình cụ thể Nhiều vấn đề quan trọng (nhất là trong lĩnh vực kinh tế) đều được vợ chồng bàn bạc thống nhất và cùng đưa ra quyết định chung Vợ và chồng đều là chủ thể của gia đình,
Trang 10cùng quản lý và chi tiêu tài chính, cùng có trách nhiệm chăm sóc và nuôi dậy con cái Qua đây có thể thấy rằng người phụ nữ đã dần dần khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong gia đình
b.Phân công lao động trong gia đình
Gia đình truyền thống: Trước kia sự phân công lao động theo phương thức người phụ nữ hay người vợ được coi là phù hợp hơn với các công việc trong nhà (nội chợ, chăm sóc người thân trong gia đình ) Người vợ không được can dự vào các công việc lớn; còn nam giới/ người chồng phù hợp với các công việc sản xuất kinh doanh và ngoại giao ở bên ngoài gia đình và xã hội
Gia đình hiện đại: Sự phân công lao động trong gia đình có xu hướng bình đẳng hơn, cả hai vợ chồng cùng đi làm bên ngoài, công việc nội trợ gia đình được người chồng chia sẻ nhiều hơn Hầu hết hiện nay những người phụ nữ đều có thể tham gia vào các công việc sản xuất, sinh hoạt ngoài xã hội, có thể làm những việc đàn ông làm, chính vì vậy việc nhà cũng không còn là công việc của riêng người phụ nữ nữa Cả vợ và chồng đều có trách nhiệm trọng việc chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa thể hiện qua 33,4% người đều cho rằng vợ chồng tham gia ngang nhau vào công việc chăm sóc con cái Trong công việc dạy học cho con, mức độ tham gia của người chồng là 14,3%, trong khi
đó ngườ vợ là 25,6%, và cả hai vợ chồng đều tham gia như nhau chiếm tỉ lệ cao nhất là 32,1% Tuy nhiên ở một số gia đình ở vùng nông thôn, vẫn còn tồn tại quan niệm phụ nữ phải lo toan nhà cửa, chuyện bếp núc là việc của đàn bà con gái, mặc dù tư tưởng này không còn đặt nặng như trước
c.Người sở hữu tài sản:
Gia đình truyền thống: Trước đây, tỉ lệ người đàn ông/ người chồng đứng tên các giấy tờ sở hữu tài sản lớn của gia đình cao hơn rất nhiều so với người phụ nữ/ngươi vợ Điều này bắt nguồn từ bản chất của chế độ hôn nhân phụ hệ trong xã hội Việt Nam truyền thống(trừ một số dân tộc có chế độ hôn nhân mẫu hệ) Việc nắm giữ tài sản lớn trong gia đình giải thích phần nào giải thích lí do người chồng có tiếng nói và quyền quyết định cao hơn người vợ trong những công việc quan trọng của gia đình
Gia đình hiện đại: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như các chính sách của Nhà nước đang làm thay đổi mối quan hệ giữa vợ-chồng về quyền sở hữu tài sản lớn trong gia đình theo xu hướng người phụ nữ ngày càng có nhiều quyền sở hữu tài sản
của hộ gia đình hơn Tài sản sau hôn nhân là tài sản chung của hai vợ chồng, cùng làm
cùng hưởng, mỗi người đều có quyền quản lý và chi tiêu và tất cả đều có trách nhiệm bảo
vệ, gìn giữ tài sản chung