Đề xuất trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2Hà Nội - 2022
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các số liệu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được tríchdẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này
Tác giả Luận án
Nguyễn Ngọc Yến
Trang 5TỪ NGUYÊN NGHĨA VIẾT TẮT
Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các
International Valuation Standards
International Valuation Standards Council
(Uỷ ban Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế) IVSC
Net Present Value
Trang 6Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của 03 NHTM cổ phần:
Đệ Nhất, Sài Gòn & Tín NghĩaPhụ lục
3 Ưu và nhược điểm của các phương pháp xác định giá trị ngân hàngPhụ lục
4
Trình tự, thủ tục xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động cổphần hoá tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Phụ lục
5
Trình tự, thủ tục xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái
cơ cấu đối với tổ chức tín dụng không do Nhà nước nắm giữ 100%
vốn điều lệPhụ lục
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1
6 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu 7
1 Những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài Luận án 9
1.1 Kết quả nghiên cứu lý luận về xác định giá trị doanh nghiệp và pháp luật xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
1.2.2 Những kết quả nghiên cứu thực tiễn xác định giá trị doanh nghiệp
Trang 81.3 Đề xuất trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 30
1.3.1 Những kết quả nghiên cứu định hướng hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
30 1.3.2 Những kết quả nghiên cứu giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở
2 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án và
2.1 Những vấn đề liên quan đến đề tài Luận án đã được giải quyết, luận án sẽ
2.2 Những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu và giải quyết 34
3 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 35
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÁI CƠ CẤU CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT
VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÁI CƠ
Trang 9tổ chức tín dụng 40
1.1.2 Nội dung cơ bản về xác định giá trị doanh nghiệp 47 1.1.3 Khái quát về tái cơ cấu tổ chức tín dụng 57 1.1.4 Khái quát về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
65
1.2 Lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
2.1 Thực trạng pháp luật quy định về tài sản của tổ chức tín dụng cần xác
2.2 Thực trạng pháp luật quy định về chủ thể tham gia xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng 99
2.2.1 Chủ thể tự thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái
cơ cấu các tổ chức tín dụng
Trang 102.2.2 Chủ thể có chức năng thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp 102 2.2.3 Chủ thể có chức năng kiểm tra tài chính nhà nước 109
2.3 Thực trạng pháp luật quy định về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 112
2.3.1 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động cổ phần hoá tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trang 11doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng 137
3.1.2 Tiêu chí, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng 149
3.2 Đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về tài sản của tổ chức tín dụng cần xác định giá trị khi tiến hành tái cơ cấu 152
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về chủ thể tham gia vào việc xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng 157
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng 161
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về trình tự, thủ tục xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng 167
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về hoạt động quản lý nhà nước
Trang 12chức tín dụng 172
Trang 131 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Tái cơ cấu là yêu cầu cấp thiết nhằm thiết lập nên những tổ chức tín dụng(TCTD) lớn mạnh về tài chính, an toàn trong hoạt động Đặc biệt, trong bối cảnhnền kinh tế có những bất ổn, nợ xấu gia tăng, việc cơ cấu lại nhóm chủ thể đóng vaitrò là trung gian tài chính, thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ này sẽ góp phầnquan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển lành mạnh của kinh tế quốc gia và sự
ổn định của xã hội Hoạt động tái cơ cấu các TCTD có thể thực hiện dưới nhữnghình thức khác nhau, diễn ra trong phạm vi nội bộ TCTD hay có sự kết hợp giữanhiều chủ thể tham gia Tuy nhiên, dù thực hiện tái cơ cấu dưới hình thức nào cũngkhông thể bỏ qua việc xác định giá trị doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, việcxác định đúng và đủ giá trị doanh nghiệp là TCTD có ý nghĩa rất lớn trong việcquyết định tới sự thành công hay không của hoạt động tái cơ cấu nhóm chủ thể kinhdoanh này
Thực tiễn, trong hệ thống các TCTD đã ghi nhận những trường hợp việcđàm phán mua lại, sáp nhập, hợp nhất giữa các TCTD với nhau hoặc giữa TCTDvới các nhà đầu tư trong và ngoài nước không thành công Năm 2013, Ngân hàngUnited Overseas Bank (UOB) của Singapore tiến hành đàm phán mua cổ phần củaNgân hàng Dầu khí toàn cầu (GPBank) nhằm tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếukém này và định hướng chuyển GPBank thành chi nhánh ngân hàng 100% vốnnước ngoài Tuy nhiên, kế hoạch của UOB không thực hiện được sau hơn một nămtiến hành đàm phán với GPBank Năm 2018, sau gần bốn năm kể từ ngày ký thoảthuận việc sáp nhập giữa Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank) vàoNgân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), thương vụ này chính thức
không thành công
Sự không thành công của những thương vụ mua lại, sáp nhập nói trên xuấtphát từ nhiều lý do, trong đó, lý do cơ bản và quan trọng nhất được đề cập tới làviệc không đạt được thoả thuận về giá trong các thương vụ GPBank cho rằng cổphần của mình cần phải được mua với giá cao hơn nhiều so với mức giá UOB đưa
Trang 14đổi lấy 01 cổ phần PGBank là không hợp lý vì không phản ánh đúng giá trị củaPGBank Sự định vị “cao” giá trị của bản thân cũng là nguyên nhân dẫn đến việcPGBank không
Trang 15Quân đội (MB) hay với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh(HDBank).
Bên cạnh đó, thực tiễn cũng ghi nhận những trường hợp TCTD được Ngânhàng Nhà nước (NHNN) mua lại với giá 0 đồng Đây là mức giá được NHNN đưa
ra để mua lại những TCTD yếu kém nằm trong diện kiểm soát đặc biệt, với nguyênnhân sâu xa là tái cơ cấu những TCTD này, đảm bảo sự an toàn, ổn định của hệthống các TCTD, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Tuynhiên, cơ sở để xác định mức giá 0 đồng và những hệ quả của việc mua lại cácTCTD gây ra rất nhiều tranh cãi trong dư luận
Ở góc độ pháp luật, ở Việt Nam hiện nay hoạt động xác định giá trị doanhnghiệp trong quá trình tái cơ cấu TCTD được thực hiện dựa trên các quy định vềxác định giá trị doanh nghiệp nói chung kết hợp với các quy định về tái cơ cấu cácTCTD Tuy nhiên, khi dẫn chiếu sang các quy định của pháp luật về việc xác địnhgiá trị doanh nghiệp nói chung hiện nay cũng tồn tại nhiều bất cập, sự phức tạptrong các quy định gây khó khăn trong quá trình thực hiện Bên cạnh đó, pháp luậtquy định về việc tái cơ cấu các TCTD còn thiếu và yếu Quá trình tái cơ cấu từ năm
2011 đến nay cho thấy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một số vănbản nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc quản trị hệ thống ngân hàng, song cácvăn bản này mới chỉ mang tính “tạm thời”, chưa giải quyết triệt để những vấn đềpháp lý phát sinh, càng không đủ khả năng dự báo cho việc tái cơ cấu hệ thốngTCTD đạt được hiệu quả cao nhất
Ở góc độ nghiên cứu, hiện nay nội dung pháp luật về việc xác định giá trịdoanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD chưa thực sự được quan tâm.Các công trình nghiên cứu đã công bố mới tập trung vào hoạt động xác định giá trịdoanh nghiệp thông thường, hoặc hoạt động tái cơ cấu các TCTD Hoạt động xácđịnh giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTD nếu được nghiên cứutới cũng chủ yếu thể hiện các phân tích dưới góc độ kinh tế, mang tính đơn lẻ trongtừng vấn đề
Trang 16pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD ởViệt Nam có tính cấp thiết, đặc biệt, trong bối cảnh tương lai, khi hoạt động tái cơ
Trang 17là tạo ra giá trị cộng hưởng Xuất phát từ những lý do đó, nghiên cứu sinh lựa chọn
đề tài “Pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ
chức tín dụng ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ luật học, chuyên ngành Luật
Kinh tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận
về pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái
cơ cấu các TCTD; đánh giá thực trạng pháp luật từ đó đề xuất một số giải pháphoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này
Với mục đích như trên, Luận án bám sát vào một số nhiệm vụ nghiên cứuchủ yếu:
Thứ nhất, phân tích những quan điểm hiện hành về giá trị doanh nghiệp, xác
định giá trị doanh nghiệp, tái cơ cấu các TCTD, từ đó xây dựng nội dung lý luận vềpháp luật xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD, như:xây dựng khái niệm xác định giá trị doanh nghiệp được sử dụng trong phạm vi Luận
án, xác định các nguyên tắc cơ bản và cấu trúc của pháp luật xác định giá trị doanhnghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD
Thứ hai, phân tích và đánh giá nội dung pháp luật về xác định giá trị doanh
nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD Việc đánh giá được thực hiện chi tiếttheo cấu trúc của từng bộ phận pháp luật nhằm phát hiện những bất cập, hạn chế cơbản của các quy định pháp luật hiện hành
Thứ ba, xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị
doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD Những giải pháp được đưa racần có tính khả thi và có cơ sở khoa học, được dựa trên cơ sở lý luận đã xây dựng
và những đánh giá khách quan về thực trạng pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, các quan điểm khoa học đã được các nhà nghiên cứu công bố
Trang 18nghiệp, sự cần thiết, nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động này trong việc tái cơ cấu cácTCTD.
Trang 19Thứ hai, các quy định của pháp luật Việt Nam về xác định giá trị doanh
nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD Trong quá trình đề xuất những giảipháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án sẽ mở rộng việc tìmhiểu thêm các quy định có liên quan ở một số quốc gia trên thế giới để có tiền đềđúc rút các kinh nghiệm tốt thành bài học cho Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu cácTCTD là vấn đề rộng Với mong muốn tập trung làm sâu sắc các quy định có liênquan, do đó, nghiên cứu sinh có sự giới hạn về phạm vi nghiên cứu của luận án, cụthể:
- Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung:
Thứ nhất, Luận án tập trung nghiên cứu về việc xác định giá trị doanh
nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu đối với trường hợp TCTD đơn lẻ, không phải tái
cơ cấu toàn bộ hệ thống TCTD Các phân tích trong luận án cũng tập trung hướngtới nhóm Ngân hàng thương mại, do:
Một là, ngân hàng thương mại là nhóm chủ thể thực hiện hoạt động ngân
hàng đầy đủ, mang những đặc trưng của trung gian tài chính trong hoạt động kinhdoanh tiền tệ Trong khi, đối với TCTD là ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác
xã, quỹ tín dụng nhân dân hay tổ chức tài chính vi mô, quá trình ra đời, hoạt độngcủa những TCTD này đều gắn liền với những mục tiêu cụ thể có gắn yếu tố xã hội
và lợi nhuận không phải mục tiêu hàng đầu của những nhóm TCTD này Hoặc đốivới nhóm TCTD phi ngân hàng, phạm vi và nội dung hoạt động có sự giới hạn nhấtđịnh Như vậy, việc lựa chọn xác định giá trị doanh nghiệp đối với những TCTD cóphạm vi hoạt động rộng (mô hình ngân hàng thương mại), mục đích tối đa hoá lợinhuận sẽ mang tính quy chuẩn, bao quát và phản ánh được toàn diện những yếu tốđặc biệt trong việc xác định cơ cấu tài sản, giá trị tài sản khi tính toán giá trị cácTCTD
Hai là, ngân hàng thương mại là nhóm TCTD có vị trí, vai trò quan trọng
Trang 20trong hệ thống các tổ chức tín dụng, có sức ảnh hưởng lớn tới sự an toàn, ổn địnhcủa hệ thống Những rủi ro của hoạt động ngân hàng được phản ánh tương đối đầy
đủ và rõ nét thông qua hoạt động của những TCTD này Do đó, việc tái cơ cấu đốivới những TCTD này có những điểm đặc trưng hơn, yêu cầu đặt ra cũng cao hơn vàquá trình thực hiện cũng “thận trọng” hơn so với những nhóm TCTD khác như tổchức
Trang 21tài chính vi mô hay quỹ tín dụng nhân dân Thực tế, nếu xem xét Đề án tái cơ cấucác tổ chức tín dụng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các giai đoạn qua có thểthấy:
(i) Nhóm Ngân hàng chính sách không nằm trong đối tượng của đề án tái cơ cấu,xuất phát tính chất đặc trưng trong nguồn vốn và mục tiêu hoạt động của nhómTCTD này; (ii) Nhóm Ngân hàng hợp tác xã, TCTD phi ngân hàng, quỹ tín dụngnhân dân, tổ chức tài chính vi mô, các biện pháp tái cơ cấu được áp dụng chủ yếu lànâng cao năng lực tài chính, bộ máy quản trị, điều hành, đa dạng hoá các sản phẩmdịch vụ ngân hàng , là những biện pháp giải quyết vấn đề trong nội bộ của nhữngTCTD này Ở những biện pháp tái cơ cấu đưa ra với những nhóm TCTD này, vấn
đề xác định giá trị doanh nghiệp không đặt ra/không mang tính cấp thiết
Thứ hai, Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động của ba nhóm chủ thể
tham gia vào việc xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTDsau: các TCTD tự mình thực hiện hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp phục vụtái cơ cấu; các tổ chức thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp và những chủthể có chức năng kiểm tra tài chính Nhà nước Mặc dù, xét trên bình diện rộng, gắnliền với từng hoạt động có thể phát sinh thêm những chủ thể khác, chẳng hạn, nếuxét tới hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp nói riêng, có thể nhắc tới vai trò của
Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát nhân dân trongviệc quản lý, kiểm sát, xử lý đối với hoạt động này Hoặc nếu xét tới hoạt động tái
cơ cấu TCTD nói riêng có thể đề cập tới vai trò của Bảo hiểm tiền gửi trong việctham gia kiểm soát đặc biệt đối với TCTD; tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổchức tham gia bảo hiểm tiền gửi; hay Công ty TNHH một thành viên Quản lý tàisản của các TCTD Việt Nam (VAMC) trong việc tham gia mua nợ xấu, xử lý nợxấu của TCTD Tuy nhiên, hoạt động của những chủ thể này chỉ mang tính đơn lẻ,gắn với từng cấu phần của quá trình xác định giá trị doanh nghiệp là TCTD khi tái
cơ cấu Do đó, trong Luận án, nghiên cứu sinh xác định tập trung nghiên cứu nhữngchủ thể có vai trò mang tính xuyên suốt từ quá trình xác định giá trị doanh nghiệpcho tới việc thực hiện tái cơ cấu đối với chính TCTD được xác định giá trị
Trang 22- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian:
Do đề tài luận án nghiên cứu Pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệpgắn với hoạt động tái cơ cấu các TCTD, do đó, luận án tập trung nghiên cứu cácquy định của pháp luật về vấn đề này từ năm 2011 đến nay, những nội dung thựctiễn cũng gắn với mốc thời gian này Lý do cho việc lựa chọn mốc thời gian từ năm
2011 xuất phát
Trang 23từ hoạt động tái cơ cấu các TCTD được diễn ra từ năm này, tính đến nay đã và đangtrải qua ba giai đoạn tái cơ cấu, gồm: giai đoạn 2011 - 2015; giai đoạn 2016 - 2021
và giai đoạn 2021 - 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, Luận
án được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Đối với từngnội dung cụ thể, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khácnhau như: phương pháp phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn, phươngpháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp
so sánh luật học, cụ thể:
- Phương pháp phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn làphương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là Chương 2nhằm làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệptrong hoạt động tái cơ cấu các TCTD Thông qua việc phân tích từng khía cạnh củađối tượng nghiên cứu, luận án xây dựng các khái niệm hoặc chứng minh các luậnđiểm đã được đưa ra
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thu thập tàiliệu, phân tích các quan điểm của các nhà nghiên cứu về nội hàm khái niệm xácđịnh giá trị doanh nghiệp, tái cơ cấu các TCTD, đề xuất và kiến nghị của các nhànghiên cứu trong việc hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp tronghoạt động tái cơ cấu TCTD
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình ban hành và
sự thay đổi, phát triển của các quy định pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệptrong hoạt động tái cơ cấu TCTD
- Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng để xâu chuỗi và tìm ra sựnhất quán giữa các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến pháp luật vềxác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu TCTD Qua đó, Luận ánđánh giá, kiến nghị một cách hệ thống và toàn diện các giải pháp hoàn thiện pháp
Trang 24luật về vấn đề này.
- Phương pháp so sánh luật học được áp dụng khá linh hoạt trong quá trìnhphân tích các luận điểm, đặc biệt trong nội dung so sánh giữa các quy định phápluật hiện hành của Việt Nam với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thếgiới
Trang 25Phương pháp này có ý nghĩa rất lớn trong việc đưa ra những kinh nghiệm cần thiếtcho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề nghiên cứu.
5 Đóng góp mới của Luận án
- Là Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu hệ thống và cụ thể các vấn đề lýluận về pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trìnhtái cơ cấu các TCTD và các quy định pháp luật hiện hành ở Việt Nam về vấn đềnày
- Đánh giá khách quan quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt độngxác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTD tại Việt Nam,trên cơ sở đó, chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật
- Nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp và khả thi nhằmhoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xác định giá trịdoanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTD
6 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về ý nghĩa khoa học, Luận án là công trình nghiên cứu pháp luật về xácđịnh giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các TCTD Những nội dung lýluận về pháp luật cũng như đánh giá các quy định pháp luật về vấn đề này đã đượcthể hiện trong luận án Từ những bất cập của pháp luật, luận án đề xuất những kiếnnghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật Những giải pháp mang tính phùhợp và khả thi giải quyết cả những vấn đề pháp luật tồn tại và nâng cao hiệu quả ápdụng, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Về tính thực tiễn, bên cạnh ý nghĩa khoa học, kết quả nghiên cứu của luận
án có tính ứng dụng thực tiễn cao Điều này thể hiện: Một là, đóng góp căn cứ khoa
học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong
hoạt động tái cơ cấu các TCTD Hai là, đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để
cơ quan quản lý nhà nước, các TCTD có thể tham khảo khi tiến hành xác định giátrị TCTD trong quá trình tái cơ cấu
7 Kết cấu của Luận án
Trang 26Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài luận án, Kếtluận chung, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận án gồm 03Chương:
Trang 27Chương 1 Lý luận về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơcấu các tổ chức tín dụng và pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạtđộng tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Chương 2 Thực trạng pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạtđộng tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị doanhnghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trang 28PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài Luận án
Xác định giá trị doanh nghiệp, tái cơ cấu các TCTD và xác định giá trịdoanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu là những nội dung quen thuộc trong lĩnhvực kinh tế, tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia Đồng thời, từ vị trí, vai trò của
hệ thống các TCTD đối với nền kinh tế, việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt độngxác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu các TCTD cũng được đặcbiệt chú trọng Bởi vậy, các công trình nghiên cứu dưới góc độ kinh tế và góc độpháp lý về những nội dung này tương đối phong phú Mỗi công trình thể hiệnnhững kết quả nghiên cứu khác nhau, tuỳ thuộc vào phạm vi và mục đích nghiêncứu của mỗi tác giả
1.1 Kết quả nghiên cứu lý luận về xác định giá trị doanh nghiệp và pháp luật xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
Thông qua những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố cóphạm vi nghiên cứu đề cập tới những vấn đề lý luận về pháp luật xác định giá trịdoanh nghiệp trong hoạt động tái cơ cấu tổ chức tín dụng, có thể thấy những kết quảnghiên cứu đã được thể hiện như sau:
1.1.1 Những kết quả nghiên cứu lý luận về giá trị doanh nghiệp nói chung, giá trị
tổ chức tín dụng nói riêng và xác định giá trị doanh nghiệp
Thứ nhất, về khái niệm giá trị doanh nghiệp
Một số công trình nghiên cứu có đưa ra khái niệm về giá trị doanh nghiệp,
có thể kể tới các công trình sau:
- Cuốn sách “Đánh giá giá trị doanh nghiệp: Khi chuyển quyền sở hữu,
thanh lý, nhượng bán, giải thể, cổ phần hoá” của tác giả Đỗ Văn Thận (1995)1
- Cuốn sách “Nguyên lý chung định giá tài sản và giá trị doanh nghiệp”
của tác giả Nguyễn Minh Hoàng (2006)2
- Luận án “Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp ở Việt Nam” của tác
giả Trần Văn Dũng (2006)3
Trang 291 Đỗ Văn Thận (1995), Đánh giá giá trị doanh nghiệp: Khi chuyển quyền sở hữu, thanh lý, nhượng bán, giải
thể, cổ phần hoá, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh.
2 Nguyễn Minh Hoàng (2006), Nguyên lý chung định giá tài sản và giá trị doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Hà
Nội.
3 Trần Văn Dũng (2006), Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học
Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Trang 30Những công trình nghiên cứu trên đây gần như có sự thống nhất trong việc
quan niệm về thuật ngữ “giá trị doanh nghiệp” Theo đó, giá trị doanh nghiệp là sự
biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu
tư trong quá trình kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được coi
là một loại hàng hoá, do đó, mỗi doanh nghiệp sẽ có một giá trị khác nhau tuỳ thuộcvào quy mô hoạt động, cơ cấu tài sản, khả năng hoạt động, khả năng tạo ra lợinhuận Khái niệm này được xây dựng dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh
nghiệp, gồm: (i) Doanh nghiệp khác với những tài sản thông thường, bởi nó là một
thực thể kinh tế luôn vận động, bởi vậy, giá trị doanh nghiệp được nhìn nhận trong
trạng thái “động” (ii) Giá trị doanh nghiệp được cấu thành bởi các yếu tố hữu hình
và vô hình
(iii) Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
hoạt động của doanh nghiệp (iv) Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng
mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư – chủ sở hữu doanh nghiệp trong tương lai
Một vài nhà nghiên cứu bổ sung thêm góc nhìn khác về giá trị doanh nghiệpnhư:
- Tác giả Nguyễn Hồ Phi Hà trong hai cuốn sách chuyên khảo với tên gọi
“Thẩm định giá trị doanh nghiệp phục vụ mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp”4 và
“Thẩm định giá trị doanh nghiệp nhỏ và vừa” (2018)5 cho rằng, giá trị doanh
nghiệp là tổng giá trị cổ phần mà doanh nghiệp có được đối với công ty cổ phần.
- Tác giả Phạm Thị Hồng Nhung trong công trình nghiên cứu “Các vấn đề
pháp lý về định giá doanh nghiệp” (2017) cho rằng, “Giá trị doanh nghiệp ở thời điểm mới thành lập được hiểu là giá trị tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản
lý 6 ”.
Thứ hai, về khái niệm xác định giá trị doanh nghiệp
Mỗi công trình nghiên cứu khác nhau có cách gọi tên hoạt động này khác nhau như:
- Tác giả Trần Văn Dũng trong Luận án “Hoàn thiện công tác định giá
Trang 31doanh nghiệp ở Việt Nam” (2006) ; tác giả Nguyễn Minh Hoàng trong cuốn sách
“Nguyên
4 Nguyễn Hồ Phi Hà (2018), Thẩm định giá trị doanh nghiệp phục vụ mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp,
Nxb Tài chính, Hà Nội.
5 Nguyễn Hồ Phi Hà (2018), Thẩm định giá trị doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Tài chính, Hà Nội.
6 Phạm Thị Hồng Nhung (2017), Các vấn đề pháp lý về định giá doanh nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học
cấp trường: Xác định giá trị doanh nghiệp, Học viện Tài chính.
7 Trần Văn Dũng (2006), Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học
Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Trang 32lý chung định giá tài sản và giá trị doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Minh Hoàng
(2006) hay tác giả Aswath Damodaran trong tập sách chuyên khảo “Investment
Valuation”8 xuất bản năm 2000 sử dụng thuật ngữ “định giá doanh nghiệp”
- Tác giả Nguyễn Hồ Phi Hà trong cuốn sách “Thẩm định giá trị doanh
nghiệp phục vụ mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp” và tác giả Hay Sinh trong cuốn
sách “Phương pháp chi phí vốn – Phương pháp giá trị hiện tại có điều chỉnh trong
thẩm định giá trị doanh nghiệp” (2015)9 sử dụng thuật ngữ “thẩm định giá trị doanhnghiệp”
Ngoài ra, phổ biến trong các công trình nghiên cứu của các tác giả khác cóliên quan là thuật ngữ “xác định giá trị doanh nghiệp” Dù mang những tên gọi khácnhau, từ đó dẫn đến nội hàm khái niệm có phần khác biệt, nhưng các công trìnhnghiên cứu nêu trên đều đồng nhất trong việc xác định một số đặc trưng của hoạtđộng xác định giá trị doanh nghiệp, bao gồm: (i) Về bản chất, xác định giá trị doanhnghiệp là việc ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình tháitiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ ràng Hay nói cách khác, giá trị củamột doanh nghiệp được “định” với một số giả thuyết chủ quan (ii) Về cách thứcthực hiện, xác định giá trị doanh nghiệp là một hoạt động vô cùng phức tạp, bởivậy, xác định giá trị doanh nghiệp là một nghệ thuật chứ không phải nội dung khoahọc mang tính chính xác Tuy nhiên, các kết luận này đều chưa cho thấy hoặckhông thừa nhận sự chuẩn hoá trong việc xác định giá trị doanh nghiệp Bởi lẽ, khi
đã tồn tại các Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế ở phạm vi thế giới hay các quy định
về xác định giá trị doanh nghiệp ở phạm vi trong nước, hoạt động xác định giá trịdoanh nghiệp cần phải dựa trên những cơ sở pháp lý với sự khách quan và khoahọc Giả thuyết chủ quan dù có tồn tại trong việc ước tính giá trị các tài sản củadoanh nghiệp nhưng cũng phải tuân theo những trình tự, thủ tục, nguyên tắc nhấtđịnh để tính toán được giá trị doanh nghiệp
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu như Trần Văn Dũng (2006) còn cho rằng,giá trị doanh nghiệp được ước tính bằng tiền, theo giá cả thị trường; tác giả Nguyễn
Trang 33Minh Hoàng (2006) nhấn mạnh về kết quả của việc xác định giá trị doanh nghiệp
8 Aswath Damodaran (2000), Investment Valuation, Mc Kinsey & Company Inc
9 Hay Sinh (chủ biên) (2015), Phương pháp chi phí vốn - Phương pháp giá trị hiện tại có điều chỉnh trong
thẩm định giá trị doanh nghiệp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
Trang 34được thể hiện qua các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho nhà đầu
tư, hay tác giả Nguyễn Hồ Phi Hà (2018) bổ sung thêm tiêu chí mục đích khác nhau
sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình cũng như kết quả của hoạt động xác định giá trịdoanh nghiệp Đối với công trình nghiên cứu nước ngoài, nhóm tác giả Mike
Young, Peter Sullivan, Ali Nokhasteh & William Holt trong bài nghiên cứu “All
roads lead to Rome: An Integrated Approach to Valuation Models” (1999)10 chỉ ra
sự khác biệt giữa định giá doanh nghiệp và định giá giá trị cổ phần – vốn là hoạtđộng nhằm xác định vị trí của công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán
Thứ ba, về nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp
Đa phần các công trình nghiên cứu không đưa ra hệ thống nguyên tắc làm
cơ sở cho việc xác định giá trị doanh nghiệp Tác giả Nguyễn Minh Hoàng (2006)chỉ ra các nguyên tắc thẩm định giá trong nền kinh tế thị trường bao gồm: nguyêntắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất; nguyên tắc thay thế; nguyên tắc dự kiến cáclợi ích trong tương lai; nguyên tắc đóng góp; nguyên tắc cung cầu Tuy nhiên, tácgiả mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra nội dung của nguyên tắc, chưa cho thấy ý nghĩa
và sự thể hiện của các nguyên tắc chi phối như thế nào đến hoạt động xác định giátrị doanh nghiệp Năm 2018, tác giả Nguyễn Hồ Phi Hà đã kế thừa và có nhữngphân tích sâu về những nguyên tắc này trong công trình nghiên cứu của mình Tuynhiên, tác giả không làm rõ đây là những nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệpnói chung hay chỉ là nguyên tắc áp dụng cho các phương pháp xác định giá trịdoanh nghiệp phục vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
Thứ tư, về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
Đây là nội dung được đề cập đến nhiều nhất trong các công trình nghiêncứu về xác định giá trị doanh nghiệp Các học giả đều cho rằng, do tính phức tạpcủa hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp nên có nhiều phương pháp xác địnhkhác nhau, mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm và phù hợp với nhữnghoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp, phù hợp với ngành nghề và loại hình doanhnghiệp khác nhau Không có một phương pháp nào là phù hợp với mọi hoàn cảnh
Trang 35Kết quả xác định giá
10 Young, M & Sullivan, P & Nokhasteh, A & Holt, W (1999), All roads Lead to Rome: An Integrated Approach to
Valuation Models, Golman Sachs Investment Research.
Trang 36trị doanh nghiệp có thể có sự chênh lệch rất lớn khi sử dụng các phương pháp khácnhau và thậm chí ngay cả khi vận dụng cùng một phương pháp.
- Theo tác giả Trần Văn Dũng (2006), phương pháp định giá doanh nghiệpđược lựa chọn thông thường gồm 2 nhóm chủ yếu: (i) Nhóm phương pháp dựa trên
cơ sở kết quả hoạt động, gồm 5 phương pháp chủ yếu: Phương pháp chiết khấudòng tiền (Discounted Cash Flow – DCF); Phương pháp chiết khấu dòng cổ tức(Divident Discount Model – DDM); Phương pháp hệ số giá thị trường trên thu nhậpP/E; Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần (PV); Phương pháp dòng tiền vốnchủ (FCFE) (ii) Nhóm phương pháp dựa trên cơ sở thị trường, gồm 4 phương phápchủ yếu: Phương pháp tài sản; Phương pháp so sánh (Peer Valuation); Phương phápchi phí; Phương pháp lợi thế kinh doanh (Goodwill)
- Tác giả Nguyễn Minh Hoàng (2006) cho rằng, có 4 phương pháp chủ yếu
để xác định giá trị doanh nghiệp, gồm phương pháp giá trị tài sản thuần; phươngpháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai; phương pháp định lượng Goodwill
và phương pháp định giá dựa vào PER Tuy nhiên, sự phát triển của các doanhnghiệp với sự thay đổi và nhận diện đầy đủ hơn về giá trị doanh nghiệp dẫn tới cácphương pháp được tác giả đưa ra đã bộc lộ những hạn chế khi không phản ánh đượcđầy đủ giá trị doanh nghiệp bởi chưa có những phương pháp áp dụng cho việc địnhgiá những tài sản vô hình của doanh nghiệp
- Tác giả Hay Sinh (2015) khi thẩm định giá trị doanh nghiệp và ước tínhcác tham số tài chính trong chi phí sử dụng vốn đã sử dụng hai phương pháp, baogồm: phương pháp chi phí vốn và phương pháp giá trị hiện tại có điều chỉnh Thực
tế, đây là hai phương pháp không được sử dụng phổ biến trong việc xác định giá trịdoanh nghiệp hiện nay
- Theo tác giả Aswath Damodaran (2000), về tổng thể, có ba phương phápđịnh giá, gồm Phương pháp định giá dòng tiền chiết khấu; Phương pháp định giátương đối; Phương pháp định giá tài sản có giá trị phụ thuộc Tuỳ vào phương phápđược sử dụng mà kết quả có thể rất khác nhau Và dù có nhiều phương pháp xác
Trang 37định giá trị mới được nêu ra, nhưng tất cả những phương pháp ấy đều dựa trên 3phương pháp cơ bản nêu trên.
Trang 38- Tác giả Luca Francesco Franceschi (2008) trong nghiên cứu mang tên
“Valuations of Banks in Mergers”11 cho rằng, việc định giá các ngân hàng tronghoạt động sáp nhập được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc chung, tuỳ thuộc vàomục đích và hoàn cảnh của việc định giá, trong đó có 2 nguyên tắc cơ bản: nguyêntắc định giá tương đối và nguyên tắc định giá độc lập Tuy nhiên, nguyên tắc địnhgiá độc lập cần được xem xét lại, bởi lẽ, giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiềuyếu tố khác nhau, và nó thể hiện sự tổng hoà giá trị của các tài sản trong doanhnghiệp Vì thế, tính độc lập trong việc xác định giá trị doanh nghiệp trong một sốtrường hợp có thể không phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp
- Theo tác giả David Nuno Prazeres Algarvio trong Luận văn với tiêu đề
“Equity Valuation of Cimpor” (2011)12, có sự khác biệt trong căn cứ xác định giá trịcông ty, dù cùng sử dụng một phương pháp là chiết khấu dòng tiền tự do Điều nàyxuất phát từ việc, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp còn cần phải điềuchỉnh nội dung gắn với tính đặc thù của nền kinh tế mỗi quốc gia Thêm vào đó,một trong những kết luận đáng chú ý của tác giả là khẳng định sự tương đối của giátrị doanh nghiệp và sự không đồng nhất của kết quả giá trị doanh nghiệp Điều nàyphụ thuộc vào quan điểm và những giả định được đưa ra khi tiến hành định giá củamỗi chủ thể định giá khác nhau
Ở những công trình nghiên cứu khác, dựa trên góc độ và mục đích nghiêncứu riêng của mình, các tác giả lựa chọn phân tích một hoặc một số phương phápxác định giá trị doanh nghiệp riêng Ví dụ như tác giả Robert Bergeth (1994) chú
trọng tới phương pháp so sánh giá trị thị trường qua tác phẩm “How to sell your
company for the most profit” xuất bản bởi Prentice Hall Hoặc theo Tim Koller và
các cộng sự của mình trong cuốn sách “Valuation: Measuring and Managing the
Value of companies”13 được xuất bản lần đầu vào năm 1990 và đã qua 7 lần tái bản,phương pháp chiết khấu dòng tiền được cho là phương pháp có tính thuyết phục caotrong định giá doanh nghiệp Một số tác phẩm đưa ra và phân tích những phươngpháp xác
Trang 3911 Luca Francesco Franceschi (2008), Valuations of Banks in Mergers, truy cập ngày 01/4/2017 tại địa chỉ
https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1107200
12 David Nuno Prazeres Algarvio (2011), Equity Valuation of Cimpor, Master’s Thesis in Equity Valuation,
Católica Lisbon, School of Business and Economics.
13 Tim Koller, Marc Goedhart, David Wessels (1990), Valuation: Measuring and Managing the Value of companies,
1st edition, McKinsey & Company Inc
Trang 40định giá trị doanh nghiệp, trong đó có hai phương pháp chủ yếu là: phương phápchiết khấu dòng tiền (DCF – Discounted Cash Flow Methods) và phương pháp địnhgiá tương đối (Multiples methods).
Thứ năm, về sự cần thiết của việc xác định giá trị doanh nghiệp
Trước năm 2006, ở Việt Nam, việc xác định giá trị doanh nghiệp phục vụcho mục đích quan trọng nhất là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Do đó,các công trình nghiên cứu thời điểm trước đây cũng chủ yếu xoay quanh nội dungnày, như công trình nghiên cứu của Đỗ Văn Thận (1995), Trần Văn Dũng (2006).Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mục đích của việc xác định giá trịdoanh nghiệp ngày càng được nhìn nhận một cách bao quát hơn
Ở nước ngoài, sự cần thiết của hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp cóthể được thấy rõ trong hai cuốn sách nổi tiếng về hoạt động tái cơ cấu doanh
nghiệp, là Cuốn sách “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z” của tác giả Andrew
J.Sherman và Milledge A Hart (2009)14 và “M&A – mua lại và sáp nhập căn bản,
các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của tác giả
Michael E.S.Frankel (2009)15 Trong những tác phẩm này, các tác giả đặc biệt đềcao việc xác định giá trị doanh nghiệp mục tiêu, từ đó đưa ra quyết định mua lại vàsáp nhập chính xác, và đây cũng là bước quan trọng trong quá trình M&A doanhnghiệp Trong hợp đồng M&A, mục giá giao dịch có thể chỉ chiếm một dòng nhưng
đó là kết quả của một quá trình làm việc ròng rã và đầy thách thức đối với cả haibên Do đó, các bên mua bán, sáp nhập doanh nghiệp phải sử dụng các phươngpháp định giá theo nguyên tắc nhất định và phù hợp với giá thị trường Khi đề cậpgiá trị của một doanh nghiệp là nói đến cả giá trị tài sản hữu hình và giá trị tài sản
vô hình Trong M&A, xác định đúng, đủ giá trị tài sản vô hình giúp bên bán đánhgiá đúng giá trị của mình và bên mua cũng nhận thức được tài sản vô hình mà mình
sẽ sở hữu cũng như giá trị của những tài sản này Tuy nhiên, do những công trìnhnày nghiên cứu tổng quan quá trình M&A từ bước định hướng, chuẩn bị cho tới cácvấn đề sau khi M&A, nên các nội dung liên quan đến xác định giá trị doanh nghiệp