1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về biện pháp thu thập chứng cứ của tòa án cấp sơ thẩm, thực tiễn thực hiện và đề xuất, kiến nghị

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về biện pháp thu thập chứng cứ của tòa án cấp sơ thẩm, thực tiễn thực hiện và đề xuất, kiến nghị
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 77,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SỞ THẨM 1 1 Khái niệm 1 2 Đặc điểm của các biện pháp thu thập chứng cứ 1 3 Cơ sở quy định các biện pháp.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SỞ THẨM 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm của các biện pháp thu thập chứng cứ 1

3 Cơ sở quy định các biện pháp thu thập chứng cứ 1

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM TRONG PHÁP LUẬT TTDS HIỆN HÀNH 2

1 Các trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ 2

2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án 2

III Thực tiễn việc thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ tại tòa án cấp sơ thẩm 4

1 Các vụ việc Tòa án sơ thẩm áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ 4

2 Những khó khăn của Tòa án cấp sơ thẩm khi áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ 6

III Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật TTDS về biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm 7

KẾT LUẬN 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

PHỤ LỤC: So sánh quy định pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ cuả Tòa án sơ thẩm trong BLTTDS 2015 và BLTTDS 2004 (sửa đổi - bổ sung năm 2011) 10

1

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

2

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng có ý nghĩa quan trong trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong số các chủ thể tham gia tố tụng dân sự thì Tòa án là một trong

số các chủ thể tiến hành hoạt động và áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ

B NỘI DUNG

I Một số vấn đề cơ bản về biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm

1 Khái niệm

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ

chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn

cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp1

Thu thập chứng cứ trong TTDS là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa

vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá, sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự2

Biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm là tổng thể các cách thức, phương

pháp được pháp luật TTDS quy định cho Tòa án nói chung và Tòa án sơ thẩm nói riêng trong những điều kiện nhất định được áp dụng nhằm tìm kiếm, phát hiện, thu giữ, bảo quản những chứng cứ cần thiết đê làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự3

2 Đặc điểm của các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS

- Biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án do Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện.

- Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án do pháp luật TTDS quy định Việc áp

dụng các biện pháp thu thập chứng cứ phải tuân theo các quy định pháp luật, đồng thời, phải tiến hành nhanh chóng, kịp thời, có trọng tâm, bám sát những vấn đề cần chứng minh trong

vụ việc dân sự

- Biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án là cách thức, phương pháp nhằm tìm kiếm,

phát hiện, thu giữ, bảo quản các chứng cứ của vụ việc dân sự

- Biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm đảm bảo Tòa án có đủ chứng cứ để

giải quyết vụ việc dân sự chính xác và đúng đắn

3 Cơ sở quy định các biện pháp thu thập chứng cứ

Bao gồm cơ sở về mô hình tố tụng và cơ sở về mặt lịch sử các quy định về biện pháp thu thập chứng cứ trong pháp luật TTDS Việt Nam

1 Điều 93 – BLTTDS 2015

2 Giáo trình Luật Tố tụng dân sự 2019 - ĐH Luật Hà Nội (tr.153)

3 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình : luận văn thạc sĩ Luật học / Mai Thị Quyên ; TS Trần Văn Trung hướng dẫn (tr.5)

Trang 4

II Thực trạng quy định pháp luật TTDS hiện hành về các biện pháp thu thập

chứng cứ của Tòa án sơ thẩm

1 Quy định pháp luật về các trường hợp Tòa án tiến hành thư thập chứng cứ

Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do BLTTDS quy định Cụ thể:

- Tòa án thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự: Theo quy định tại điểm e, g,

khoản 1, Điều 97, BLTTDS 2015 thì đương sự có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ

bằng những biện pháp sau đây:… Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;… Đây là trường hợp đương sự không thể tự thu thập được chứng cứ và đã

có đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ

- Tòa án chủ động thu thập chứng cứ: Theo khoản 2 Điều 97 và các điều từ 98 đến điều 105 BLTTDS 2015 thì Tòa án chủ động áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ trong các trường hợp: Lấy lời khai của đương sư khi đương sự không thể tự khai; lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cân thiết; đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của đương sự, người làm chứng; xem xét, thẩm định tại chỗ là cần thiết cho giải quyết vụ án; định giá tài sản trong trường hợp các bên có yêu cầu, không thỏa thuận được về tổ chức tẩm định hoặc về giá; thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định;…

2 Quy định pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Theo khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015 thì trong các trường hợp Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:

- Lấy lời khai của đương sự và người làm chứng: Theo quy định tại Điều 98, 99 thì

Toà án lấy lời khai của đương sự trong trường hợp đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa rõ ràng, đầy đủ Đối với người làm chứng, Tòa án lấy lời khai của hộ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết tại trụ sở hoặc ngoài trụ sở Tòa án

Thẩm quyền lấy lời khai: Việc lấy lời khai do Thẩm phán tiến hành Thư kí Tòa án chỉ

có thể giúp đỡ Thẩm phán ghi lại lời khai vào biên bản Trường hợp do công tác hoặc trở ngại khách quan thì Thẩm phán có thể giao cho thư kí tòa lấy lời khai nếu đương sự đồng ý Thủ tục lấy lời khai của đương sự và người làm chứng tương tự nhau Biên bản ghi lời khai phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Người khai

có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án Trường hợp biên bản ghi lời khai được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc

cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản

2

Trang 5

- Đối chất: Đối chất là việc hỏi cùng một lúc nhiều đương sự, người làm chứng để so

sánh, đánh giá lời khai của họ khi xét thấy có sự mâu thuẫn Căn cứ Điều 100, BLTTDS

2015 thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các

đương sự, người làm chứng Trước khi đối chất, thẩm phán phải chuẩn bị kĩ những vấn đề

cần hỏi đối chất Khi đối chất, thẩm phán phải đối chiếu lời khai của những người tham gia đối chất với các chứng cứ tài liệu khác để đánh giá những vấn đề của VVDS

- Xem xét, thẩm định tại chỗ: là biện pháp thu thập chứng cứ mà tòa án đến tận nơi có

tài sản tranh chấp, vật chứng hoặc nơi xảy ra sự việc để nghiên cứu, xác minh nắm vững sự việc và được tiến hành trong trường hợp tài sản tranh chấp, vật chứng không thể mang đến tòa án xem xét được Biện pháp này tiến hành theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, được thực hiện theo quy định tại Điều 101, BLTTDS 2015

- Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định: Trưng cầu giám định: là việc Tòa án

quyết định đưa vấn đề liên quan đến VVDS cần xác định ra lấy ý kiến kết luận của người có

kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực đó Yêu cầu giám định: là việc đương sự yêu cầu

người có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học kĩ thuật nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề liên quan đến VVDS

Khi cần ý kiến của các nhà chuyên môn về một vấn đề trong vụ việc dân sự thì theo yêu cầu

của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định.

Biện pháp này được thực hiện theo quy định tại Điều 102, 103 BLTTDS 2015

- Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản: là việc xác định giá trị tài sản của VVDS và

được thực hiện theo Điều 104 BLTTDS 2015 Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá ở một trong các trường hợp sau đây: Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; Các đương sự không thỏa thuận được về giá hoặc về lựa chọn tổ chức thẩm định giá hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau; Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá

- Ủy thác thu thập chứng cứ: là việc tòa án thụ lý giải quyết vụ việc dân sự giao cho

tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ theo Điều 105 BLTTDS 2015

- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ: Theo Điều 106 BLTTDS

2015, Tòa án áp dụng biện pháp này trong trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét

thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Đương sự có yêu cầu phải làm đơn ghi rõ các thông tin tại Khoản 2 điều luật này

Trang 6

- Xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú: Trường hợp không

xác định được nơi cư trú của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (mà trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của các chủ thể này) , Tòa án không được đình chỉ giải quyết vụ án để trả lại đơn khởi kiện mà tiếp tục giải quyết

vụ án theo thủ tục tố tụng chung và xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của các chủ thể này ở nơi cư trú4 Biện pháp này được liệt kê nhưng vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, vì vậy gây khó khăn và tạo ra sự không thống nhất khi áp dụng ở các Tòa án

- Các biện pháp khác theo quy định của BLTTDS: Đây là trường hợp dự liệu để có

thể bao quát tối đa các biện pháp Tòa án cần áp dụng khi thu thập chứng cứ

Đánh giá: Theo nguyên tắc tại khoản 2 Điều 6 BLDS 2015 thì Tòa án có trách

nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ

này, BLTTDS đã quy định tương đối đầy đủ các biện pháp để Tòa án nói chung và Tòa án

sơ thẩm nói riêng có thể áp dụng để thu thập chứng cứ một cách hiệu quả So với Bộ luật cũ, BLTTDS 2015 đã khắc phục những thiếu sót, bổ sung thêm biện pháp mới và dự liệu cả những biện pháp chưa được liệt kê5

III Thực tiễn thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm

1 Vụ việc dân sự Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ

Tòa án sơ thẩm áp dụng các biện pháp mà BLTTDS 2015 quy định để thu thập chứng

cứ, phục vụ cho việc giải quyết các vụ việc dân sự

Ví dụ 1: Bản án dân sự sơ thẩm 24/2017/DS-ST của TAND huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông xét xử vụ việc kiện đòi tài sản Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã áp

dụng biện pháp thu thập chứng cứ là trưng cầu giám định.

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H kiện bị đơn là ông Ngô Văn C yêu cầu ông C trả cho bà 1371kg café nhân xô do ông còn nợ và đã đến hạn trả từ ngày 31/12/2011 theo thông tin trên giấy nợ viết ngày 28/02/2011 (theo lời nguyên đơn, giấy nợ này do bị đơn là ông C viết và ký)

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C không thừa nhận chữ viết và chứ ký trong giấy nợ viết ngày 28/02/2011 là của mình nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông trong giấy nợ này Tòa án nhân dân huyện Đắk Song đã ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông để trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông C Tòa án nhận được Thông báo kết luận giám định

4 Điểm e, khoản 1, Điều 192 BLTTDS 2015 và “Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình ” : luận văn thạc sĩ Luật học / Mai Thị Quyên ; TS Trần Văn Trung hướng dẫn

5 Phân tích cụ thể tại phần Phụ lục

4

Trang 7

số 37-GĐTL/PC54 ngày 08/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông với nội dung xác nhận chữ ký, chữ viết trong giấy ghi nợ là của ông C

Như vậy, trong vụ án này, Tòa án sơ thẩm đã áp dụng biện pháp trưng cầu giám định theo yêu cầu của bị đơn C để giám định chữ ký và chữ viết trong giấy ghi nợ Việc áp dụng

và thực hiện biện pháp trưng cầu giám định phù hợp với căn cứ tại Điều 102 BLTTDS 2015

Ví dụ 2: Bản án dân sự sơ thẩm 05/2021/DS-ST của TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ

An xét xử vụ việc về tranh chấp quyền sở hữu tài sản Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa

án sơ thẩm đã áp dụng biện pháp thẩm định, định giá tài sản và trưng cầu giám định để thu

thập chứng cứ

Nguyên đơn là ông Vừ Nềnh T kiện bị đơn là anh Vừ Bá K yêu cầu anh K trả lại tài sản đang bị tranh chấp là 01 con bò đực cho gia đình ông Tại các buổi hòa giải, ông T và anh K đều khẳng định con bò đực đang tranh chấp thuộc sở hữu của mình, quá trình hòa giải hai đương sự không thống nhất được giá trị tài sản tranh chấp và có yêu cầu thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với con bò đang bị tranh chấp này

Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án đã tiến hành thẩm định tại chỗ và thành lập Hội đồng định giá tài sản Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 29/01/2021 kết luận: Về kết quả thẩm định: Con bò đang tranh chấp hình dáng giống với bò

mẹ và bò em của bị đơn, màu lông giống với bò mẹ của nguyên đơn Về kết quả định giá: Hội đồng định giá định giá con bò bị tranh chấp có giá trị 12.000.000 đồng

Ngày 23/03/2021, do vụ việc vẫn chưa được giải quyết, nguyên đơn Vừ Nềnh T có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định Gen của con bò đực đang tranh chấp và con bò mẹ

mà nguyên đơn và bị đơn cung cấp Ngày 13/4/2021, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn đã ra Quyết định trưng cầu Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ

tế bào động vật - Viện chăn nuôi giám định để xác định rõ các vấn đề còn vướng mắc

Như vậy, để giải quyết tranh chấp về tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ việc này, Tòa án sơ thẩm đã phải sử dụng kết hợp cả ba biện pháp thu thập chứng cứ là thẩm định, định giá tài sản và trưng cầu giám định theo quy định tại các điều 101, 102, 104 BLTTDS 2015

Ví dụ 3: Bản án dân sự sơ thẩm 12/2021/DS-ST của TAND huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử vụ việc về tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại uy tín danh dự, thực hiện

cải chính xin lỗi Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã áp dụng biện pháp lấy

lời khai của người làm chứng để thu thập chứng cứ.

Trang 8

Nguyên đơn là ông Lê Văn T đã kiện bị đơn là bà Tăng Thị L phải thực hiện cải chính, xin lỗi và bồi thường thiệt hại về uy tín, danh dự cho ông T

Người làm chứng là vợ chồng ông Lâm Văn T và bà Nguyễn Thị T, tuy nhiên, do hai ông bà không biết chữ, không thể tự viết lời khai nên thư ký Tòa án là ông Đặng Quốc B (do thẩm phán đang đi công tác nên thư ký thực hiện thay) đã tiến hành lấy lời khai tại nhà riêng của ông bà theo điều 98 BLTTDS 2015

Ví dụ 4: Bản án sơ thẩm 06/2018/DS-ST của TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La về tranh chấp ly hôn Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã áp dụng biện pháp để

thu thập chứng cứ là ủy thác thu thập chứng cứ.

Nguyên đơn là chị Ưng Thị B khởi kiện bị đơn là anh Vũ Huy C xin ly hôn do những mâu thuẫn trong quá trình chung sống Anh C tại thời điểm bị khởi kiện và cả thời điểm diễn ra phiên tòa đều không có mặt do đang chấp hành án phạt tù

Ngày 07/11/2017 Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ đối với bị đơn là anh Vũ Huy C, tại kết quả ủy thác thể hiện: Anh và chị B kết hôn và phát sinh mâu thuẫn là đúng như chị B đã trình bày, tuy nhiên anh vẫn còn tình cảm với chị B nên không nhất trí ly hôn và yêu cầu Tòa án cho anh chị được đoàn tụ Anh chị có con chung là cháu Vũ Đình V, sinh ngày 27/9/2008 nếu ly hôn anh đề nghị chị B để lại con chung cho bố mẹ đẻ anh trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng

Như vậy, trong vụ án này, để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân và mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn, do bị đơn không thể có mặt nên Tòa án sơ thẩm đã thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ để có đầy đủ thông tin giải quyết vụ việc

2 Một số khó khăn ảnh hưởng tới việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ

Thứ nhất, khi áp dụng biện pháp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, việc

các chủ thể này có hành vi không hợp tác như cố tình không đến Tòa án làm việc, lẩn tránh, không trình bày hoặc đưa ra lời khai không nhất quán, không thể hiện đúng bản chất sự việc Điều này gây ảnh hưởng đến việc thu thập chứng cứ và giải quyết tranh chấp dân sự

Ví dụ 5: Hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 24/2021/TLST-DS ngày 04/03/2021 của TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng vay tài sản6

6 Biện pháp thu thập chứng cứ của Toà án trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc : luận văn thạc sĩ Luật học / Đặng Thị Thuý ; PGS TS Nguyễn Thị Thu Hà hướng dẫn (tr42)

6

Trang 9

Nguyên đơn Vũ Thị T kiện bị đơn là bà Vũ Thị H để đòi số tiền 600.000.000đ tiền nợ gốc và tiền lãi Để làm rõ nội dung vụ án, tòa án tiến hành lấy lời khai của đương sự và người làm chứng Tuy nhiên, những người làm chứng trong vụ việc này không hợp tác, không đến Tòa án làm việc theo triệu tập Khi Tòa án hợp tác với chính quyền địa phương

về tận gia đình người làm chứng lấy lời khai thì những người này có hành vi trốn tránh, không hợp tác Vì vậy, Tòa án buộc phải lập biên bản về việc không lấy được lời khai của người làm chứng và lưu vào hồ sơ vụ án

Thứ hai, khi áp dụng trưng cầu giám định, đương sự không hợp tác để Tòa án lấy

mẫu giám định hoặc không hợp tác để cung cấp mẫu giám định nên không có căn cứ đánh giá khách quan, toàn diện vụ án Do không có những quy định bắt buộc những người có liên quan có nghĩa vụ cung cấp mẫu giám định nên nhiều đương sự không đồng ý, không hợp tác trong việc cung cấp mẫu giám định, đặc biệt là khi giám định những mẫu phải lấy từ cơ thể người như mẫu máu, mẫu tóc,… Điều này làm cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự trở nên khó khăn, gặp nhiều cản trở

IV Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật TTDS hiện hành về biện

pháp thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm

Thứ nhất, đối với biện pháp lấy lời khai của đương sự Khỏan 1 Điều 98 BLTTDS

2015 quy định: Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Quy định này có phần chưa hợp lý và chưa linh hoạt, bởi vì, theo quy định này đương sự phải “tự viết”, vậy trường

hợp đương sự nhờ người khác viết bản khai hoặc tự bản thân đánh máy bản khai của mình,

dù bản khai phản ánh đúng ý chí của đương sự, tuy nhiên, nếu Tòa án chấp nhận những bản

khai này thì sẽ trái với quy định về hình thức là “tự viết”, nếu không chấp nhận sẽ ảnh hưởng

đến quyền và lợi ích của đương sự

Vì vậy, có thể thay cụm từ “tự viết” thành “xuất trình bản khai” để đảm bảo tính linh

hoạt cũng như quyền lợi của đương sự

Thứ hai, cần bổ sung thêm quy định về biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ

Theo quy định của BLTTDS hiện hành, thành phần xem xét thẩm định tại chỗ thì chỉ

có Thẩm phán là người được trao quyền với sự có mặt của đại diện UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét Tuy nhiên, sự có mặt của các cơ quan UBND cấp xã hay Công an xã, phường, thị trấn nhằm mục

Trang 10

đích gì, để thực hiện nhiệm vụ gì thì pháp luật chưa nói rõ Đồng thời, thẩm quyền thẩm định chỉ được giao cho thẩm phán, tuy nhiên, với những tài sản lớn và có tính phức tạp, thẩm phán không có đủ trình độ chuyên môn để xem xét mà cần có các cơ quan chuyên môn thì sẽ phải giải quyết bằng cách nào thì pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể

Vì vậy, biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ này cần bổ sung thêm quy định về nhiệm

vụ của các cơ quan UBND cấp xã hay Công an xã, phường, thị trấn (ví dụ như giám sát hoặc

hỗ trợ thẩm phán) và quy định về trường hợp nếu thẩm phán không đủ trình độ chuyên môn

để thẩm định thì có được trưng cầu thẩm định từ các cơ quan chuyên môn hay không

Thứ ba, đối với biện pháp trưng cầu giám định, cần xem xét bổ sung quy định mang

tính bắt buộc và chế tài để đảm bảo việc lấy mẫu trong trường hợp cần giám định ADN, hạn chế trường hợp đương sự cố tình không hợp tác cung cấp mẫu, gây khó khăn và cản trở việc giải quyết vụ việc dân sự

Trường hợp đương sự tự mình yêu cầu giám định thì cần quy định một khoảng thời gian hợp lý (có thể là 07 ngày hoặc 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản từ chối yêu cầu trưng cầu giám định của Toà án) để thực hiện quyền này sau khi bị Tòa án từ chối yêu cầu trưng cầu giám định

Thứ tư, đối với biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ, về nội dung quyết định ủy thác

(khoản 2 Điều 105 BLTTDS 2015) bao gồm: “tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ

tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ”, để Tòa án nhận ủy

thác có đầy đủ thông tin để thực hiện công việc ủy thác, trong quyết định ủy thác cần bổ sung thêm thông tin của người làm chứng, người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác (nếu có), tóm tắt nội dung vụ việc

Thứ năm, đối với biện pháp xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại nơi cư

trú, cần bổ sung một điều luật cụ thể như với các biện pháp khác để đảm bảo sự thống nhất khi áp dụng của các Tòa án

C KẾT LUẬN

Các biện pháp thu thập chứng cứ của tòa án sơ thẩm được quy định khá đầy đủ, được các tòa án áp dụng linh hoạt, tích cực, chủ động để phục vụ công tác thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án Tuy nhiên, quá trình áp dụng các bện pháp vẫn còn những hạn chế, đòi hỏi việc sửa đổi, bổ sung pháp luật và nâng cao nghiệp vụ của người có thẩm quyền áp dụng

8

Ngày đăng: 01/09/2022, 12:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w