BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Tiểu luận kết thúc học phần MÔN Pháp luật về Điều ước quốc tế ĐỀ BÀI Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ký kết ĐƯQT Liên hệ với thực tiễn của Việt Nam k.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Tiểu luận kết thúc học phần
MÔN: Pháp luật về Điều ước quốc tế
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ký kết ĐƯQT Liên hệ với thực tiễn của Việt Nam khi ký kết một ĐƯQT cụ thể.
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 3
I Khái quát chung 3
II Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ký kết ĐƯQT 3
1 Bối cảnh quốc gia và quốc tế 3
2 Phong cách dân tộc và các yếu tố văn hóa 5
3 Một số yếu tố khác 7
III Liên hệ với Hiệp định Paris 1973 8
1 Khái quát về Hiệp định Paris 1973… 8
2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ký kết hiệp định Paris 1973 a, Bối cảnh quốc gia và quốc tế 8
b, Phong cách dân tộc và các yếu tố văn hóa… 10
c, Các yếu tố khác 11
C KẾT LUẬN… 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… 13
Từ viết tắt: ĐƯQT - Điều ước quốc tế
Trang 3A MỞ ĐẦU
Các điều ước quốc tế (ĐƯQT) là công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ hợp tác quốc tế của các quốc gia và các tổ chức quốc tế Quá trình
ký kết ĐƯQT chịu tác động bởi nhiều yếu tố ảnh hưởng Bài tiểu luận nhằm phân tích rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc ký kết ĐƯQT và liên hệ với quá trình ký kết một ĐƯQT cụ thể của Việt Nam
B NỘI DUNG
I Khái quát chung:
Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa
các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì1
Ký kết là hành vi pháp lý do người có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện, bao gồm đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế hoặc trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế 2
Việc ký kết ĐƯQT chịu tác động bởi các yếu tố bao gồm: Bối cảnh quốc gia
và quốc tế; Phong cách dân tộc và yếu tố văn hóa; các yếu tố khác như tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục tập quán,…
II Phân tích các yếu tổ ảnh hưởng đến quá trình ký kết ĐƯQT:
1 Bối cảnh quốc gia và quốc tế
a Bối cảnh quốc tế:
1 Điểm a, Khoản 1, điều 2, Công ước Viên 1969
2 Khoản 5, điều 2, Luật ĐƯQT 2016
Trang 4Trước khi tham gia đàm phán ĐƯQT, các cơ quan có thẩm quyền của mỗi bên phải cân nhắc xem xét nhiều vấn đề về bối cảnh quốc tế, bao gồm:
- Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến vấn đề đàm phán: quy định của luật quốc tế chung và quy định của các điều ước mà quốc gia đã ký kết;
- Xu hướng chung trong đàm phán ký kết điều ước về lĩnh vực sẽ đàm phán;
- Vấn đề chính trị khác như: các nước láng giềng, trong khu vực, các nước lớn có lợi ích liên quan có thái độ như thế nào, có tham gia điều ước đó hay không;
- Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đối tác đàm phán: Việc thu thập thông tin cần thiết về đối tác đàm phán như dân số, trình độ phát triển, sức mua, phong tục tập quán, cơ sở hạ tầng, sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa… sẽ giúp đánh giá chính xác điểm mạnh và điểm yếu của đối phương
Ví dụ: Hiệp định EVFTA được đàm phán và ký kết trong xu hướng chung
của thế giới là đẩy mạnh hợp tác về kinh tế, nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết, tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của cả hai phía là Việt Nam và
EU đều ổn định, thuận lợi cho việc đạt được các thỏa thuận trong hiệp định
b Bối cảnh trong nước:
Việc nghiên cứu bối cảnh trong nước trước khi tham gia đàm phán ký kết ĐƯQT gồm: nghiên cứu, đánh giá thực lực chính mình; đánh giá tương quan lực lượng, tìm ra những góc khuất trong đàm phán Cụ thể:
- Chính sách đối ngoại phục vụ lợi ích của quốc gia và pháp luật hiện hành
- Sự ủng hộ của dân chúng: Việc đàm phán ĐƯQT nhận được sự ủng hộ của dân chúng hay không cũng tác động đến quá trình ký kết ĐƯQT Lợi ích quốc gia được thể hiện qua lợi ích chung của người dân, việc người dân ủng hộ đàm phán, ký kết một ĐƯQT có nghĩa là việc ký kết ĐƯQT đó được người dân
Trang 5đồng tình và sẵn sàng thực hiện nội dung của ĐƯQT đó trên thực tế Nếu người dân
Trang 6không ủng hộ, việc đàm phán và kí kết sẽ gặp phải rất nhiều cản trở (biểu tình, bạo loạn, chia rẽ trong nội bộ quốc gia, …) gây ảnh hưởng không chỉ tới qúa trình ký kết mà còn tới cả tình hình kinh tế - xã hội quốc gia
Ví dụ: Đối với hiệp định EVFTA, chính sách đối ngoại của nước ta thời kì
này là tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; và đồng thời việc kí kết hiệp định này cũng nhận được sự đồng tình của doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp do tác động tích cực của nó đến việc sản xuất và tìm đầu ra cho các hàng hóa, mang đến lợi ích và góp phần cải thiện nền kinh tế đất nước
2 Phong cách dân tộc và các yếu tố văn hoá
a Phong cách dân tộc:
Mỗi dân tộc có truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý… riêng, là đặc điểm văn hóa tạo nên phong cách dân tộc trong đàm phán quốc tế Tuy nhiên, chỉ những nét đặc sắc, những đặc điểm phổ cập nhất của văn hóa mới tạo nên phong cách dân tộc trong đàm phán Có ba nhóm nhân tố tạo nên đặc điểm phong cách dân tộc trong đàm phán quốc tế:
+ Thứ nhất là thành phần đoàn đàm phán và mức độ độc lập, quyền hạn của đoàn đàm phán trong việc quyết định các vấn đề tại bàn thương lượng
+ Thứ hai là những định hướng giá trị khác nhau như hệ tư tưởng, đạo đức, tôn giáo, những nét riêng trong tư duy…
+ Cuối cùng là những đặc thù trong cách ứng xử, thủ thuật, chiến thuật đặc trưng cho nền văn hóa dân tộc thường được các nhà đàm phán sử dụng
Thời gian gần đây, xuất hiện xu hướng tăng cường đàm phán quốc tế làm cho ranh giới dân tộc có xu hướng bị xói mòn, xuất hiện hiện tượng thâm nhập lẫn nhau giữa các phong cách đàm phán dân tộc Kết quả trên thế giới dần hình
Trang 7thành nền văn hóa phụ với những quy tắc ứng xử mới, khác với những quy tắc ứng xử
Trang 8của dân tộc mình Tuy nhiên, không phải vì thế mà những đặc thù dân tộc trong đàm phán quốc tế bị xóa bỏ, phủ nhận
Ví dụ: Những nhà đàm phán Mỹ là những người ra quyết định rất nhanh,
vì họ thường tự ra quyết định Ngược lại, người Á Đông thường ra quyết định thông qua đồng thuận tập thể, do vậy, sẽ kéo dài thời gian đàm phán Người Mỹ
đề cao việc trao đổi thông tin thẳng thắn, dễ nghi ngờ kiểu nói chuyện vòng vo, bóng gió như của người Á Đông Người châu Á vốn thường cố gắng thoả thuận khuôn khổ và nguyên tắc chung rồi mới đi vào chi tiết còn người Mỹ thì ngược lại
Phong cách đàm phán Nga cũng có tính chuyên nghiệp cao nhưng lại thận trọng, không mạo hiểm, tính độc lập không cao, vì vậy đã hạn chế tính sáng tạo của nhà đàm phán Nga Họ ít khi chủ động đề xuất kiến nghị hay sáng kiến của mình, họ sợ nhân nhượng vì theo họ điều đó thể hiện sự yếu kém
Phong cách đàm phán Trung Quốc đó là đoàn đàm phán thường rất đông,
họ rất chú trọng thu thập thông tin, thích phát biểu quan điểm của mình trước và đưa ra kiến nghị đầu tiên nhưng chỉ nhân nhượng vào phút chót, thường tìm cách kéo dài đàm phán, làm đối phương mất kiên nhẫn
Tóm lại, văn hóa dân tộc đã góp phần hình thành nên những phong cách đàm phán đặc trưng khác nhau Muốn đàm phán thành công thì một trong số các công việc là phải hiểu rõ đặc điểm văn hóa dân tộc của đối tác trong đàm phán
b Các yếu tố văn hoá:
Có hai nhóm văn hóa cơ bản trên thế giới: văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, giữa chúng có sự khác biệt và có sự ảnh hưởng tới việc hình thành phong cách dân tộc trong đàm phán Cụ thể:
* Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể
Trang 9Các quốc gia phương Tây như Mỹ, Canada,… và một bộ phận các nước Tây
Âu theo nền văn hóa phương Tây, con người cá nhân được khích lệ sống tự do, chân thực, thẳng thắn, độc lập ra quyết định và độc lập hành động
Các quốc gia ở châu Á, Đông Âu và một phần châu Mỹ la tinh theo nền văn hóa phương Đông, ở đó mục tiêu cá nhân chịu sự chi phối của mục tiêu tập thể Việc sống có nghĩa vụ trong sự hòa hợp, tính khiêm tốn, lịch sự là đòi hỏi quan trọng cho mỗi thành viên xã hội
Do sự khác biệt này nên người phương Đông chú ý nhiều đến quan hệ hơn là nội dung thỏa thuận trong khi người phương Tây lại chú ý đến nội dung thỏa thuận nhiều hơn là các nghi thức xã giao
* Cơ chế tầng bậc
Nền văn hóa phương Đông nghiêng về tôn trọng tuổi tác, thâm niên, địa
vị và quyền lực hơn, cơ chế tầng bậc được thể hiện khá rõ nét Còn nền văn hóa phương Tây lại có quan niệm “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”, vì vậy, địa vị, tuổi tác…không phải là yếu tố chi phối nặng nề trong giao tiếp đàm phán
* Tính kỷ luật và thời gian ra quyết định
Ở phương Tây, các thông lệ văn hóa cho phép cá nhân được tư duy độc lập, được phản bác đồng nghiệp, thậm chí là với cả ông chủ Còn phương Đông lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Tử (Trung - Tín - Lễ - Nghĩa) Những yếu tố này tạo ra sự khác biệt trong quá trình ra quyết định Đối tác châu
Á thường ra quyết định chậm so với đối tác châu Âu vì họ phải tính toán cho kỹ hoặc còn cần thời gian để tham khảo ý kiến đồng nghiệp, thậm chí xin chỉ đạo của cấp trên
3 Một số yếu tố khác:
Trang 10Các yếu tố khác bao gồm: tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc, phong tục tập quán
và truyền thống lịch sử Trong đó yếu tố tôn giáo có sức chi phối và tác động mạnh
Trang 11mẽ trong giai đoạn quan hệ quốc tế hiện đại, những sự kiện quốc tế gần đây đã khẳng định điều đó
III Liên hệ với thực tiễn của Việt Nam khi ký kết Hiệp định Paris 1973:
1 Khái quát về Hiệp định Paris:
Hiệp định Paris 1973 là hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973
Hiệp định gồm 9 chương, 23 điều Nội dung chủ yếu của hiệp định này là: Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Hoa Kỳ hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua Tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ Việc thống nhất nước Việt Nam được thực hiện bằng phương pháp hòa bình3
2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ký kết Hiệp định Paris:
a, Bối cảnh quốc gia và quốc tế:
Cuộc đàm phán về Hiệp định Paris kéo dài trong gần 5 năm Những chiến thắng trên mặt trận quân sự của phía Việt Nam trong việc đánh bại các chiến lược chiến tranh, sự sa lầy của Mỹ và áp lực từ dư luận thế giới đã mở ra cơ hội đàm phán, quyết định đến sự thành công trong việc ký kết các thỏa thuận của hiệp định Paris
Trang 12Hiệp định Pari năm 1973 - Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam - Đức Thịnh – Báo Kiên Giang
Trang 13Sau những thắng lợi về mặt quân sự của phía Việt Nam và đặc biệt là sự thành công của chiến dịch Mậu Thân 1968, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Johnson phải tuyên bố: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở
ra và chấp nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là bước tiến lớn trên mặt trận ngoại giao, mở ra cơ hội đàm phán về Hiệp định Paris với phía Việt Nam
Trong ba năm đầu đàm phán, từ 1969 đến 1971, trên chiến trường (mặt trận quân sự) có sự giằng co giữa ta và địch, về mặt chính trị khi đó chúng ta mạnh hơn, nhưng về mặt quân sự thì ta với địch ở thế giằng co
Đến năm 1972, chúng ta ở thế chủ động trên chiến trường Nhưng ngược lại,
Mỹ đàm phán muốn rút quân, nhưng phải rút trên thế mạnh Do đó, Mỹ vẫn có nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, phá hoại miền Nam; ngăn chặn viện trợ của miền Bắc cho miền Nam Cũng trong giai đoạn này, Mỹ tổ chức bầu cử tổng thống vào cuối năm 1972 Trong khi đó, dư luận quốc tế đã nhận thấy cuộc chiến tranh kéo dài nên các phong trào đòi chấm dứt chiến tranh cũng rất mạnh Đặc biệt ở Mỹ, phong trào phản chiến đã tạo áp lực cho Tổng thống Richard Nixon, đặt chính quyền Nixon vào thế phải chấm dứt chiến tranh
Cuối tháng 12 năm 1972, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đã buộc
Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam
Ngày 23/1/1973, ký tắt Hiệp định Paris Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris chính thức được ký kết tại trung tâm các Hội nghị quốc tế ở Paris giữa bốn bên tham gia hội nghị Ngày 29 tháng 3 năm 1973, quân nhân Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ chỉ còn duy trì viện trợ và cố vấn quân sự
Tóm lại:
Trang 14-Bối cảnh quốc tế: Các bên đã tuân thủ quy định của pháp luật quốc tế chung
liên quan đến vấn đề đàm phán Thời điểm bấy giờ, xu hướng đối thoại, hòa bình, hợp tác cùng phát triển đang dần hình thành và trở nên phổ biến trên thế giới Về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đối tác đàm phán: Cuộc chiến tranh của Mỹ mang tính vô nhân đạo, gây thiệt hại lớn về kinh tế, quân sự
và cả con người, gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ từ phía chính người dân Mỹ cũng như dư luận trên toàn thế giới
- Bối cảnh trong nước: Những chiến thắng trên mặt trận quân sự, chính
sách ngoại giao hợp lý vì lợi ích của dân tộc (hòa bình, tự do, thống nhất đất nước) cùng với sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân đã góp phần tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán ký kết hiệp định Paris
Dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong khoảng thời gian dài đã phải sống trong sự khổ cực, bị đàn áp, bóc lột, đất nước bị chia cắt, bị bom đạn tàn phá, vì vậy, càng thúc đẩy hơn nữa việc đàm phán và kí kết hiệp định để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở nước ta
b, Phong cách dân tộc và yếu tố văn hóa:
* Phong cách dân tộc:
Là một quốc gia thuộc khu vực Á Đông nên phong cách dân tộc khi dàm phán của Việt Nam cũng mang đặc trưng của phong cách Á Đông Điều này thể hiện rõ nhất thông qua số lượng thành viên của đoàn đàm phán đông bao gồm nhiều đồng chí như ông Lê Đức Thọ, bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyễn Trọng Nhâm, ông Nguyễn Duy Trinh,…
Trong gần 5 năm đàm phán ở Paris, đoàn đàm phán của Việt Nam không
bỏ lỡ một cơ hội nào để có thể chấm dứt được chiến tranh Nhưng việc chấm dứt chiến tranh không phải chỉ do mình phái ta quyết định mà còn tùy thuộc phía đối
Trang 15phương là Mỹ, đặc biệt là cuộc chiến đấu trên chiến trường Theo bà Nguyễn Thị Bình (một thành viên trong đoàn đàm phán), Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ
Chính trị đã có chủ trương rất đúng về ngoại giao “Trước hết là đánh giá được
tình hình Không chỉ đánh giá về tình hình trên chiến trường, về quân sự, chính trị, mà ta đánh giá cả tình hình thế giới” Vì thế, ta mới nhìn thấy cơ hội để nắm
bắt và buộc được phía Mỹ phải ký vào bản Hiệp định4
Tuy nhiên, do mục tiêu đàm phán đối lập nhau, các bên đều muốn giành lợi thế cho phía mình, đặc biệt là việc Mỹ do dã tâm lớn và muốn rút quân trên thế mạnh nên vẫn tiến hành các chiến lược chiến tranh để đánh phá đất nước ta
đã làm cho thời gian đàm phán kéo dài
* Yếu tố văn hóa:
Văn hóa Á Đông đề cao tính tập thể, việc đàm phán và đưa ra các quyết định của phía Việt Nam cũng được tiến hành thông qua tập thể và vì lợi ích chung của toàn dân tộc, đó là giành lại nền hòa bình, độc lập và thống nhất cho đất nước
Tuy nhiên, khác với đặc trưng thường thấy của phong cách đàm phán châu
Á là đưa ra quyết định chậm hơn so với phương Tây, trong cuộc đàm phán này, phía Việt Nam luôn nắm bắt mọi cơ hội có thể để nhanh chóng đạt được những thỏa thuận có lợi cho dân tộc và đất nước Các nhà đàm phán Việt Nam không dùng lối nói vòng vo, bóng gió mà sẵn sàng thẳng thắn phản biện những luận điệu của phía đối phương về cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam với thái độ
vô cùng cứng rắn
c, Các yếu tố khác: