1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận: Đánh giá vai trò của quốc gia trong xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế và liên hệ đối với việt nam

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận: Đánh giá vai trò của quốc gia trong xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế và liên hệ đối với Việt Nam
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 40,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 3 Khái niệm 3 Vai trò của quốc gia trong xây dựng và thực thi luật quốc tế 3 Vai trò của quốc gia trong xây dựng luật quốc tế 3 a, Đặc trưng về cơ chế xây dựng luật quốc tế 4 b, Vai.

Trang 1

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

I Khái niệm 3

II Vai trò của quốc gia trong xây dựng và thực thi luật quốc tế 3

1 Vai trò của quốc gia trong xây dựng luật quốc tế 3

a, Đặc trưng về cơ chế xây dựng luật quốc tế 4

b, Vai trò của quốc gia trong xây dựng luật quốc tế 4

2 Vai trò của quốc gia trong thực thi luật quốc tế 6

a, Đặc trưng về cơ chế thực thi luật quốc tế 6

b, Vai trò của quốc gia trong thực thi luật quốc tế 8

III Liên hệ với Việt Nam 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Quốc gia là chủ thể cơ bản của quan hệ luật quốc tế, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ nhất và sinh ra các chủ thể khác của quan hệ pháp luật quốc tế Và cũng vì vậy, quốc gia là chủ thể có vai trò quan trọng trong xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế

B NỘI DUNG

I Khái niệm:

- Luật quốc tế: là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế do các

quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, qua đó nhằm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể Luật quốc tế trong mọi lĩnh vực đời sống quốc tế

Đây là hệ thống pháp luật độc lập, tồn tại song song với pháp luật quốc gia Luật quốc tế được chứa đựng trong các nguồn bao gồm: Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc chung của pháp luật, học thuyết về luật quốc tế, phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế,

- Quốc gia: Tuy chưa có định nghĩa thống nhất trên bình diện quốc tế về quốc gia

nhưng căn cứ theo quy định tại Điều 1, công ước Montevideo 1933 về quyền và nghãi

vụ quốc gia thì một thực thể được coi là quốc gia – là một chủ thể của luật quốc tế

-nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: dân cư ổn định, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế.

- Xây dựng và thực thi luật quốc tế: Xây dựng pháp luật là việc các chủ thể có thẩm

quyền thực hiện các hoạt động cần thiết để thống nhất tạo lập, ban hành các quy phạm pháp luật Thực thi pháp luật là việc đưa pháp luật vào thực hiện trên thực tế và bảo vệ pháp luật Tóm lại, xây dựng và thực thi luật quốc tế là việc các chủ thể có thẩm quyền tạo lập, đảm bảo thực hiện và tôn trọng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật trên thực tế

II Vai trò của quốc gia trong xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế

Trang 3

1 Vai trò của quốc gia trong xây dựng pháp luật quốc tế

Trang 4

a, Đặc trưng về cơ chế xây dựng luật quốc tế:

Khác với trình tự xây dựng luật quốc gia, việc hình thành luật quốc tế là quá trình mang tính tự nguyện của quốc gia Sự tự nguyện này thể hiện ở sự tự điều chỉnh quan

hệ lập pháp mà các quốc gia tiến hành theo phương thức thỏa thuận công khai bằng quan hệ điều ước hoặc mặc nhiên thừa nhận quy tắc xử sự trong tập quán

Luật quốc tế được xây dựng dựa trên sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế (mà chủ yếu là các quốc gia) Việc xây dựng luật quốc tế trải qua hai giai đoạn là giai đoạn thỏa thuận của các quốc gia về nội dung quy tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã được hình thành Việc hình thành hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế thông qua hai giai đọan trên thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận của quốc gia dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền

Sự hình thành của các quy phạm pháp luật quốc tế phản ánh bản chất của luật quốc

tế là kết quả của sự thỏa thuận, nhượng bộ lẫn nhau giữa các chủ thể, hướng đến lợi ích của từng chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng luật quốc tế và lợi ích chung

b, Vai trò của quốc gia trong xây dựng pháp luật quốc tế:

Thông qua đặc trưng về cơ chế xây dựng, hình thành của luật quốc tế có thể thấy quốc gia có vai trò quan trọng, là chủ thể tạo nên các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế thông qua giai đoạn thỏa thuận về nội dung quy tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã được hình thành

* Giai đoạn thỏa thuận về nội dung quy tắc xử sự trong Luật quốc tế:

Đây là giai đoạn có vai trò trong việc lên ý tưởng về các quy phạm luật quốc tế Khi trong quan hệ quốc tế xuất hiện một quan hệ, một tình huống mới mà chưa có quy phạm luật quốc tế nào điều chỉnh quan hệ này, hoặc các chủ thể muốn dựa trên cơ

sở những nguyên tắc đã có từ trước để thỏa thuận các quy tắc xử sự cụ thể hơn, thông qua đó đảm bảo cho lợi ích của chính mình thì các chủ thể có thể cùng lên ý tưởng, thỏa thuận nội dung của các quy phạm để điều chỉnh quan hệ đó

Trang 5

Lên ý tưởng thể hiện ở việc đề xuất về việc xây dựng các quy phạm luật quốc tế để sau đó các bên cùng thỏa thuận, xây dựng các quy phạm, hoặc thể hiện trực tiếp ở việc đưa ra một cách thức xử sự mới để giải quyết các tình huống quốc tế phát sinh (rồi sau

đó các chủ thể khác, chủ yếu là quốc gia, có thể thực hiện áp dụng trong trờng hợp tương tự hoặc có sự sủa đổi hợp lí cho phù hợp với các nguyên tắc)

Ví dụ: 1967, quốc gia Malta, đại diện là Đại sứ Pardo đã khởi xướng đề nghị Liên

Hợp Quốc bảo trợ một hội nghị quốc tế để soạn thảo Công ước luật Biển, đây là cơ sở

để các quốc gia thảo luận về nguyên tắc xử sự và cho ra đời Công ước về luật Biển 1982

Việc thỏa thuận về nội dung của quy tắc xử sự mới có thể thực hiện bằng cách các chủ thể cùng nhau tiến hành, các bên cùng bàn bạc, đưa ra ý kiến của mình, bổ sung ý kiến cho chủ thể khác để hoàn thiện được các quy phạm luật quốc tế,hoặc, một chủ thể

sẽ soạn trước sẵn các quy phạm, các chủ thể khác trong quan hệ sau đó sẽ tiếp tục bàn bạc, sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh bản dự thảo đã được soạn ra, từ đó cho ra đời những quy phạm pháp luật hoàn thiện, thống nhất

* Thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã được hình thành.

- Dựa trên các nguyên tắc xử sự đã được thỏa thuận, thống nhất về nội dung ở trên,

để việc xây dựng luật quốc tế hoàn thành, để các quy phạm luật quốc tế đã hình thành

có hiệu lực và được thực thi trên thực tế thì các quốc gia và chủ thể khác phải thực hiện các hành vi để công nhận tính ràng buộc của các nguyên tắc xử sự này

- “Công nhận tính ràng buộc” có thể hiểu là những hành vi thể hiện sự chấp thuận,

đồng ý thực hiện các quy phạm luật quốc tế của quốc gia Theo đó sau khi công nhận tính ràng buộc các quốc gia sẽ phải thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận nội dung hoặc luật quốc tế đã quy định (trường hợp quốc gia gia nhập ĐƯQT đã có sẵn) trừ những điều khoản mà quốc gia bảo lưu Việc công nhận này có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng luật quốc tế vì xây dựng luật quốc tế không chỉ là

Trang 6

việc cho ra đời các quy phạm mà còn phải làm sao cho các quy phạm đó dược thực hiện trên thực tiễn thì mới đảm bảo sự tồn tại của các quy phạm đó được

Trang 7

- Quốc gia công nhận sự ràng buộc của các nguyên tắc, quy phạm luật quốc tế

thông qua các hành vi như: “phê chuẩn”, “chấp thuận”, “phê duyệt”, “gia nhập”,… đây

là hành vi quốc tế của quốc gia, theo đó quốc gia xác nhận sự đồng ý của mình, trên phương diện quốc tế, chịu sự ràng buộc của luật quốc tế, mà chủ yếu ở đây là các Điều ước quốc tế1 Các hành vi này được thực hiện đều thông qua việc thỏa thuận và thể hiện

ý chí chí tự nguyện ràng buộc của quốc gia Sự đồng ý chịu sự ràng buộc của một quốc

gia đối với một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao đổi các văn kiện cấu thành điều ước phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận2 Các cách thức công nhận sự ràng buộc rất đa dạng, mục đích là để kết thúc quá trình xây dựng và đảm bảo các quy phạm đã xây dựng sẽ được thực hiện trên thực tiễn

c, Ví dụ: Xây dựng công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS):

Đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia muốn mở rộng các quyền của quốc gia liên quan đến biển Xuất phát từ như cầu đó, nhiều Hội nghị về luật biển và các phiên họp được

tổ chức để thỏa thuận về các quy tắc xử sự trên biển Sau thời gian dài đàm phán, với

sự tham gia của hơn 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, Hội nghị Liên Hợp Quốc lần thứ III về luật biển đã cho ra đời văn kiện là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

Việc xây dựng văn bản luật quốc tế như UNCLOS 1982 được thực hiện qua cả hai giai đoạn là thỏa thuận về nội dung quy tắc (các hội nghị, phiên họp được tổ chức, các quốc gia đã thảo luận về nội dung, cách thức xử sự để và thống nhất nội dung thống nhất bằng việc bỏ phiếu) và thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã được hình thành (thông qua hành vi ký kết hoặc gia nhập Công ước này) Quá trình xây dựng UNCLOS 1982 thể hiện đặc trưng của xây dựng luật quốc tế là thỏa thuận, tự nguyện thể hiện ý chí của các quốc gia

2 Vai trò của quốc gia trong thực thi pháp luật quốc tế:

a, Đặc trưng về cơ chế thực thi luật quốc tế:

Trang 8

Điểm b, khoản 1, điều 2, Công ước Viên 1969

2 Điều 11, Công ước Viên 1969

Trang 9

- Khái niệm: Thực thi luật quốc tế là quá trình các chủ thể áp dụng cơ chế hợp

pháp, phù hợp để đảm bảo các quy định của luật quốc tế được thi hành và được tôn trọng đầy đủ trong đời sống quốc tế

Đây là quá trình các chủ thể luật quốc thế thông qua các cơ chế quốc tế và quốc gia

để thực thi các quyền và nghĩa vụ pháp luật quốc tế Quá trình này được tiến hành bằng nhiều hoạt động pháp lý có liên quan vói nhau trong yêu cầu chung là đảm bảo lợi ích riêng của từng chủ thể phù hợp với lợi ích chung của cả công đồng, hướng đến phát triển và ngày càng hoàn thiện luật quốc tế

- Tính chất của thực thi Luật quốc tế: Về phương diện pháp lý, thực thi luật quốc tế

thực chất thể hiện tính hai mặt của quá trình hiện thực hoá các quy định pháp luật vào đời sống sinh hoạt quốc tế Hoạt động pháp lý này được diễn ra bằng hành vi pháp luật của chủ thể luật quốc tế, theo cơ chế chung hoặc riêng, trong từng lĩnh vực mà luật quốc tế điều chỉnh Tính chất của hoạt động này có thể dưới dạng xử sự tích cực (như hoạt động thực thi) để chủ thể chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hoặc là

xử sự thụ động (tuân thủ) của chủ thể để không tiến hành những hoạt động trái với quy định của luật quốc tế, gây ảnh hưởng đến trật tự pháp lý quốc tế hay lợi ích của chủ thể khác

Thực thi luật quốc tế là hiện thực hóa các quy định pháp luật vào đời sống sinh hoạt quốc tế Thực thi luật quốc tế thể hiện đặc trưng của luật này là thông qua cơ chế thỏa thuận hoặc sự tự điều chỉnh của từng quốc gia Trong thực tiễn thực thi luật quốc tế, các quốc gia phải tự điều chỉnh trên cơ sở luật quốc tế với các hoạt động thực hiện nghĩa vụ chung của chủ thể luật quốc tế và những nghĩa vụ cá thể phát sinh từ tư cách thành viên điều ước quốc tế hay tổ chức quốc tế

Khi có sự vi phạm các quy định của luật quốc tế hoặc vi phạm nghĩa vụ thành viên (của tổ chức quốc tế, điều ước quốc tế) thì pháp luật sẽ ràng buộc chủ thể vi phạm vào những trách nhiệm pháp lí quốc tế cụ thể để buộc chủ thể đó khôi phục lại những trật tự pháp lý đã bị xâm phạm Các chế tài của luật quốc tế do chính quốc gia thực hiện bằng

Trang 10

cách thức riêng lẻ hoặc tập thể (nhiều trường hợp do cơ quan tài phán quốc tế thực hiện)

Trang 11

Chủ thể luật quốc tế áp dụng nhiêu cách thức, biện pháp khác nhau để đảm bảo cho việc thực hiện và tôn trọng đầy đủ các quy định pháp luật Bên cạnh điều ước quốc tế

và các cách thức pháp lý khác, các chủ thể luật quốc tế còn tận dụng các yếu tố chính trị - xã hội để tạo động lực cho sự thực thi luật quốc tế

- Vấn đề kiểm soát quốc tế: Cơ chế kiểm soát quốc tế bao gồm việc yêu cầu các quốc gia trình bày báo cáo hoặc là hoạt động bảo vệ các báo cáo quốc gia về một lĩnh vực luật quốc tế nhất định trước cơ quan, thiết chế quốc tế

b, Vai trò của quốc gia trong thực thi pháp luật quốc tế:

* Vai trò của quốc gia khi thực hiện (thi hành) luật quốc tế:

Thực hiện (thi hành) luật quốc tế là việc các thành viên đưa các quy phạm pháp luật quốc tế (chứa đựng trong các nhiều nguồn) vào thực tiễn để tuân thủ và thực hiện theo các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận

Việc thực hiện này chủ yếu được thực hiện với các quy phạm trong ĐƯQT Để ĐƯQT được thực hiện trên thực tế có hai cách để thực hiện:

- Thứ nhất, là cách nội luật hóa, đây là cách thức thực hiện ĐƯQT thông qua

quá trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật quốc gia trên cơ sở bảo đảm sự tương thích giữa quy định của điều ước quốc tế và luật quốc gia Mục đích là để chuyển hóa các điều khoản của điều ước quốc tế của luật quốc gia Nội luật hóa có thể

thực hiện theo hai cách là ban hành văn bản pháp luật mới hoặc sửa đổi - bổ sung văn bản pháp luât hiện hành.

Ví dụ: Luật biển Việt Nam 2013 là văn bản pháp luật nội luật hóa của UNCLOS

1982, trước văn bản này, nước ta chưa có văn bản nào là luật biển

- Thứ hai, là cách áp dụng trực tiếp, không thông qua việc nội luật hóa mà được

viện dẫn áp dụng trực tiếp trong luật quốc gia Ví dụ: Nghị quyết 71/2006/QH11 của

Quốc hội về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của nước Cộng hoà xã hội

Trang 12

chủ nghĩa Việt Nam quyết định áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam trong Hiệp định thành lập WTO mà không cần phải thực hiện phương thức chuyển hoá

Trang 13

Tóm lại, quốc gia là chủ thể có vai trò quan trọng khi đưa các quyền và nghĩa vụ

đã thỏa thuận trong luật quốc tế vào thực tiễn để đảm bảo các quy phạm được thực thi

* Vai trò của quốc gia trong việc đảm bảo tôn trọng luật quốc tế:

- Thứ nhất, việc đảm bảo tôn trọng luật quốc tế trước hết thể hiện ở việc mỗi

quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ luật quốc tế đã quy định Các quốc gia – các chủ thể chủ yếu của luật quốc tế - thực hiện

đúng các quyền và nghĩa vụ trong luật quốc tế sẽ đảm bảo các quy phạm này không bị xâm phạm, qua đó thể hiện sự tôn trọng với các quy phạm và các chủ thể luật quốc tế khác

- Thứ hai, việc đảm bảo tôn trọng luật quốc tế còn thể hiện ở việc, nếu có quốc

gia hoặc chủ thể khác nào xâm phạm, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nguyên tắc, nghĩa vụ của luật quốc tế, hoặc gây ảnh hửơng đến quyền lợi của chủ thể khác mà luật quốc tế đã quy định – đây có thể coi là hành vi không tôn trọng luật quốc tế - thì

chủ thể vi phạm sẽ bị áp dụng các chế tài, phải chịu hậu quả do hành vi của mình thực

hiện

Mỗi hành vi sai phạm quốc tế của một Quốc gia đều làm phát sinh trách nhiệm quốc tế đối với Quốc gia đó Hành vi sai phạm quốc tế phải là hành vi của quốc gia vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ của quốc gia thực hiện hành vi theo luật pháp quốc tế Nghĩa vụ đó phải đang có hiệu lực với quốc gia đó tại thời điểm có hành vi liên quan,

và bất kể nguồn gốc hay tính chất của nghĩa vụ đó

Khi có hành vi sai phạm quốc tế, quốc gia phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc

tế, là hệ quả của hành vi sai phạm quốc tế Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia

có nội dung chính là ba nghĩa vụ phát sinh theo luật pháp quốc tế áp đặt lên cho quốc gia có hành vi sai phạm: (1) nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bị vi phạm, (2) nghĩa vụ chấm dứt hành vi vi phạm và không được tái phạm, và (3) nghĩa vụ khắc phục hậu quả cho thiệt hại gây ra

Trang 14

Tóm lại, khi một quốc gia có hành vi có tính không tôn trọng các quy phạm luật quốc tế thì các quốc gia đó phải thực hiện các hành vi để khôi phục lại đúng trật tự, khắc

Ngày đăng: 01/09/2022, 12:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w