Luận văn Tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian là công trình nghiên cứu nhỏ về chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX từ góc nhìn văn hóa dân gian vả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ:
TRUONG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐOÀN THỊ MAI SANG
TINH YEU TRONG THO NOM
THE KY XV DEN THE KY XIX
ĐƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
"Huế, năm 2016
Trang 2
ĐẠI HỌC HUẾ:
TRU ONG DAI HOC SU PHAM
DOAN TH] MAI SANG
TINH YEU TRONG THO NOM THE KY XV DEN THE KY XIX DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60220121
JAN VAN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG ĐẢN KHOA HOC
TS NGÔ THỜI ĐÔN
'Huế, năm 2016
Trang 3LOICAM DOAN Tôi sin cam đoan day li cng trinh nghign ctu ea réng ti, các
sé liễu và kết quả nghiền cứu ghỉ trong luận văn là rung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bổ trong bắt kỳ một
công trình nào khác,
Tác giả luận văn Đoàn Thị Mai Sang,
Trang 4Loi Cim Ou
oin Uuink luận van niry, nod sy ué lye cố gắng của bám thảm, tôi đã
“lận được sự giáp đỡ ad! tùnk của các thả cô giáo vd whiny gua Uodn
dee tie ea on ce Tit, OB trong Th wien Zrvờng et hge St
thốt cùng, xi ày tỏ long bet ea chun thank dit vat gia dak, byw
be, sà đồng ughiép di hét site igo điểu Kiện giúp đồ, dug oi liek Up 182
06 nt uit ey but Hale Unie WE tai 06 diéu kiện học tập, agluiên cẩm tối Tat zie châu thành: cảm on!
Tie giả
oe ~~
Trang 53 Đồi tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Phuong phip nghiên cứu 8
5 Đồng gộp của luận văn 8
6 Cấu trúc của luận văn 9 PHAN NOL DUNG sel
“Chương 1 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI CHỦ ĐÈ TÌNH YÊU TRONG THƠ, NOM THE KY XV DEN THE KY XIX 0
1.1 Văn hóa dân gian Việt Nam về tình yêu và mỗi quan hệ văn héa - van học 10
1.1.1 Vai nét về văn hóa dân tộc Việt Nam về tình yêu trong buổi đần 10 1.1.2 Van hoe trong mỗi quan hệ với văn hóa dân gian " 1.1.2.1 Văn hóa đân gian a nn ting ca vin hoe dn gian " 1.1.22, Van hia dn gian là cội nguồn tu tưởng của văn học 2 1.2, Suthéhign cha dé tin yéu trong vin hoe dn gian B
1.2.1 Những nội dung chi dé tinh yêu trong văn học dân gian 13
Trang 6
1.3 Sự đồng cảm của dân gian trước chủ,
“Chương 2 NỘI DŨNG THÊ HIỆN TÌNH
XV DEN THE KY XIX DUGI GOC NHIN V,
yeu cua vin chyong trung dai 26 ) TRONG THO NOM THE KY 'N HÓA ĐÂN GIAN 35
2.11 Ảnh mắt đầu tiền - sự khỏi nguồn cho môi tình yêu đẹp 35 3.12 Sự chủ động - một nhân tổ quan trong để xây dựng tình yêu 38 2.13 Trái tim nhịp đập dẫn đường cho tỉnh yêu đẹp 4
22 Tỉnh thần đân tộc về tỉnh yêu trước sự hà khắc của ễ giáo phong kiễn 46
2.22 Hi sinh chin minh d8 bio v8 tn yéu la bi 32
2.3, Những khát vọng tỉnh yêu trong tâm hỗn và hạnh phúc ái ân 55
3.3 Xây dựng hình tượng nhân vật mang đâm chất dân in si
PHAN KET LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7
PHAN MO DAU
1 Mye dich, ý nghĩa đề
“Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng đều đã t nhất một lần được tải nghiệm tỉnh
yêu - yêu và được yêu Tình yêu luôn ẩn chứa trong nó một sức mạnh vô hình nhưng
căng hết sức mạnh mẽ Với vẻ dẹp bắt tân của nó, tình yêu à một chủ đề muôn thuổ, tổn tai song hành cùng thời gian mà ắt các ngành nghệ thuật đều hướng đến
Sư đẹp đề và thiêng liêng của tỉnh yêu vốn đã được cha ông chúng ta nhân rà
và ca ngơi từ lu Vượt qua mọi thời đại, ỉnh yêu mãi mi là để ải vĩnh cửu và chiếm một vị mí quan rong hằng đầu rong văn học thể giới Tỉnh yêu là sự rung cảm và quyến uyễn sâu sắc giữa hai người khác giới Ở họ có sự đồng điệ về tâm
"hồn làm cho họ có nhu cẫu gin gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn
sảng hiển dâng cho nhau cuộc sống của mình Tình yêu trong những bài thơ trang
văn hướng ta đến những khát khao, những ước vọng tốt đẹp trong cuộc sống, giúp 1a vượt qua những khó khăn, tắc ở, khiến cho ta thêm động lục để giữ vững niềm tin rên con đường đi tìm hạnh phúc
Tình yêu vẫn luôn là một để tải muôn thuở của văn học ở mọi giai đoạn từ văn học dân gian truyền miệng đến nền văn học viết từ xưa đến nay, Đã mang trong
"mình đồng máu dân tộc Việt Nam thì thật thiểu sốt nếu ta không nhớ đến kho ting
ăn chương của cha ông từ ngân xưa để lạ các sing te v8 nh yêu trong văn học
trung đại, đặc biệt là những bài thơ Nôm Trong dĩ sản văn hoe din tộc, thơ Nôm
hiểm một vị trí quan trọng hàng đầu, lại giàu tính đặc trưng của văn hóa và văn học
"Việt Nam Thơ Nôm được xem là một bộ phận văn học độc đáo, nó có một vị trí {quan trong trong văn học trung đại Việt Nam Có thể nói, thơ Nôm ra đời là một
bước nhây vọt của thơ ca Việt Nam, là bộ phận văn học mang đậm những gi trị văn hóa dân tộc, góp phần phân ánh sinh động, cụ thể điền mao và đặc điểm văn hóa dân tộc thời phong kiến
Văn học phân ánh cuộc sống con người vì thế địa hạt tỉnh yêu trở thành mảnh đắt mẫu mỡ cho văn học, trong đó văn học trung đại đồng góp khối lượng lớn
vvé tỉnh yêu đôi lứa, tỉnh nghĩa vợ chồng Từ những tác giả
Trang 8khuyết danh đến các tác giá hữu danh như nữ st Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huy Tự, ` ma
hiện trong văn học Trung đại từ rất sớm,
"Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu để lại cho hậu thể những tuyệt tác yêu Thơ Nôm về chủ đề tình yêu đã xuất
những tác phẩm đầu tiên tuy xuất hiện với số lượng còn ít, nội dung chưa sâu sắc
lê lại một dầu ấn nhất định trong dòng chảy văn học Qua thơ Nôm,
ching ta có thể ìm hiểu về nếp sống, phong tục, truyền thống văn hóa của dân
te mình Những bài thơ Nôm về tỉnh yêu thể hiện rắt rõ đồi sống tỉnh cảm, quan niệm và cách ứng xử của cha ông trong tỉnh yêu Đến thể ki XVIH về sau, có thể nối đây là thời k nỡ rộ của Thơ Nôm về chủ đề tỉnh yêu Nhiều tác phẩm thơ Nôm,
nhưng cũng
Ta đồi dã mang lạ giá tr to lớn, ý nghĩa sâu sắc trong việc bộ lộ tỉnh cảm, tỉnh yêu
mà con người trao tặng cho nhau, tỉnh yêu với đủ các cụng bậc cảm xúc, Chúng ta
số quyền tự hào về những tác phẩm bất hú về tình yêu như Truyện Kidu, Pham Ti" Ngoc Hoa, Pham Công-Cúc Hoa, Sơ Kính tin trang, .Trong những kiệt tác thơ [Nam ấy, có rất nhiều tác phẩm được chuyển tải thành phim hay dich sang ng
"nước ngoài và nhận được sự ủng hộ, đánh gi cao cia ban doe quốc
"Để làm nên những thành tru to lớn ấy, phãi nói đến sự đông góp của nền tảng văn học dân gian Chính văn học dân gian đã góp những viên gạch dầu tiên cho
ự phát tiễn tho Nom về chủ đề ỉnh yêu tong văn học trung đại Quy luật của kế thừa và cách tân là quy luật sinh thành và phát tiển của bắt cứ nền văn học nào
“Trong tiến tỉnh lịch sử văn học, luôn diễn ra quá tình nổi
ếp, kế thừa và phát tiển
những thành tựu giữa các nền, ăn học, các giai đoạn, c ác trào lưu văn học với nhau
[Nhu ching ta da bit, văn học là một trong những thành tổ của văn hóa Văn
"học chẳng những là một bộ phân của văn hóa, chịu sự chỉ phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa
“Van học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa của một thời dại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội him tim ly văn hỏa độc đáo của một thời đại và một công đồng dân tộc” [3, 5] Văn hóa dân gian là một bộ phân quan trọng và đa dạng nhất của nền văn hóa dân tộc, bởi lẽ, đó
là sản phẩm trực tiếp hình thảnh từ lao động vật chất và ỉnh thần của nhân dân, biểu
hiện phong phú, đa dạng trong văn hóa vật thể và phi vật thể của đân tộc Văn học
Trang 9là một thành tổ
u trong văn hóa phí vật thể, cấu tạo nên văn hóa dân gian nói
Tiếng và văn hóa dân tộc nói chung
Với những lý do tên, ti xin mạnh dạn lưa chọn đề ải nhiên cứu cho luận văn của mình là “Tình yêu ong thơ Nôm thế kỷ XE đến thế kỷ XIX dưới góc
“nhìn văn hóa dân gian”, Với đ t này, tôi mong muốn tìm hiễu vẻ đạp của những
câu chuyện tỉnh yêu rong sự iếp nổi về chủ để tình yêu trong văn học dân gian đến
‘Tho Nom thé kỹ XV đến thể kỷ XIX và phương thức nghệ thuật thể hiện tỉnh yêu trong cée sing ti Ấy, góp phần đánh giá toàn diện hơn giá t các bãi thơ Nôm viết
về tỉnh yêu giai đoạn văn học này Đồng thời, ôi mong rằng có thể rút ra 6 đó những bài học quý giá về văn hóa ứng xử trong tỉnh yêu đi lúa
3 Lịch sử vẫn đề
‘Tho Nom trong quá tình ra đời, vận động, phát triển đã đạt được nhiều thành tựu đặc sắc với nhiều tác gia và tác phẩm tiêu biểu Nó như một bức tranh văn hóa dã ắc mẫu và là một đề tải thu hút được đông đảo các nhà nghiền cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Sau đây là một số công trình nghiên cứu:
“Trong cuỗn Cơ sở văn bón liệt Nam, Trin Ngọc Thêm khẳng định: “Trên co
sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ nôm dùng trong sáng
tác văn chương Thôi Tây Son, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã mỡ rồng ra, sử dụng chữ Nôm cả tong lĩnh vục hành chính và giáo dục” [43,tr267] Tác giả đã khẳng định vị trí chữ Nôm và ai trồ của nó trong việc hình thành bộ phận văn học
[Nom ding trong sắng tá
Khẳng định giá trị của chữ Nôm, PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh - Viện trưởng
"Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam trong bài viết
văn chương,
Chữ Nâm - Một di sản văn hoá dân tộc khăng định chữ Nôm ra đời có ý nghĩa hết
sức lớn ao, đánh dẫu bước phát tiễn của nén vin hod din the, ¥ thức tự cường và khẳng định vai rò địa vi của iếng Việc Tiếng Việt của chúng ta giàu inh cảm, nhiều màu sắc và âm điệu, phản ánh tâm hồn trong sáng và cốt cách vĩ đại của nhân dân Việt Nam ti hằng ngàn năm lịch sử
CCuỗn Việt Nam phong th cổ lục của tác giả Vũ Ngọc Khánh là một trong
những công trinh biên soạn các truyện kể vị ình yêu Từ công việc sưu tằm, tá
Trang 10đã giới thiệu cho chúng ta một kho tầng phong phú về những câu chuyện tỉnh yêu
Dang Thanh Lê với Truyện Kiểu và thể loại truyện Nôm xoay quanh mỗi tinh
“Thúy Kiều và Kim Trong Qua đó, khẳng định nàng Kiễu đã vượt qua khuôn khổ lễ giáo phong kiến dé m đến tỉnh yêu tưdo
Gio su Trin Binh Sit trong Máy
cho rằng khi viết về tuyện thơ Nôm, các tác giả đã khải quát hình ảnh con người trong truyện thơ Nôm đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ, đồ là “những con người
“hủ động trong tình yêu, r ích cực đẫu tranh bảo vệ hạnh phúc"
vấn đề thị pháp văn học trung đại Việt Nam
Nguyễn Mạnh Hùng với tài liệu Trên hành trình văn học trung đại trích dẫn:
“Xung đột nghệ thuật và tư tưởng thẩm mĩ của Hoa Tiên”, tắc giả bài viết đã chỉ ra
tư tưởng của tác phim Hoa Tin 1 ca ngợi nh yêu tự do, đồng thôi là tư tung gi phóng tỉnh cảm, thể hiện tinh thần hòa hợp giữa tỉnh yêu của cá nhân tự do với
"nghĩa vụ
Bùi Duy Tân rong công trình Khảo luận một số để loại tác giả tác phẩm
ăn học trung đại tập 2 đã đỀ cập ba ác phẩm viết về tỉnh yên gồm 7ruyên Song Tình, Chỉnh phụ ngâm và Truyền ki tan phd Theo ông, ác tắc phẩm trên hoặc ca
"gợi nh yêu tự đo, hoặc ea ngợi ức mạnh inh yeu, st chung thủy, sắn bó, chống
lạ các thể lực cường quyền, hoặc than thờ cho hạnh phúc lứa đối khi bị tắc trở bởi chiến ranh
"Nguyễn Hữu Sơn vit “MG ịp tài tử giai nhân từ truyện Ha Tiên đến Mai
Dinh Mộng kí” đã khăng định hình ảnh tài tử
xây đưng theo mô hình lí tưởng về sự cuốn hút bởi vẻ bễ ngoài cũng như tài năng nhân trong các sáng tác thường,
theo quan niệm “gái tham dài, trai tham sắc" và sự đồng điều về tâm hồn
Hoàng Hữu Yên nhận định: trong truyện thơ Nôm, ca ngơi tỉnh yêu tư do, nêu lên khát vọng cuộc sống lứa đổi ngoài khuôn khổ lễ giáo chính thắng là đ tải phố
biến và rất hấp dẫn Hoa sign, Bich Châu kì ngộ, Sơ kính tân trang, Phan Trần xứng
đăng là những bản tỉnh ca rêo và diễm hin va tha thi
rong
Trang 11Lê Thu Yn trong công trình Văn hóa ng xứ người Việt th hiện qua từ yêu
“Kim Kiằu dã nghiền cứu văn hóa ứng xử của người Việt thể hiện qua tình yêu của Kim Trong và Thúy Kiễu - hai nin vit chinh tong Thoyén Kid của Nguyễn Du
Tiếp thu ÿ kiến của những người đ trước, kế thừa những thành tưu nghiên cứu, luận văn sẽ đi vào nghiên cứu làm rõ sự iếp nối chủ để tỉnh yêu từ văn học dân gian đến văn học rung đại, cụ thể hơn là nghiên cứu "Tình yêu rong thơ Nom thể
Ay XV dn thể XIX đưới góc nhìn văn hóa dân gian”
3, Đối tượng, phạm vỉ nghiên cứu
3⁄1, Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đỀ ải là chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thé ky XV dến thể kỷ XIX Tác giả luận văn sẽ tìm hiểu bộ phân thơ ca này từ gốc nhìn văn hóa dân gian, hay nối cách khác, từ góc nhìn văn hóa dân gian, người thực hiện đề
tài luận văn nay sẽ khảo sát những tác phẩm thơ Nôm về chủ dễ tỉnh yêu đôi lứa từ
thể kỷ XV đến thé ky XIX trên cả bai bình diện: nội ung và hình thức nghệ thuật 13.3, Phạm vỉ nghiên cứu
Tỉnh yêu vốn dĩ là tắt yếu của cuộc sống Vì thể, những sing tác về đề ti
“Phan Trần (khuyết danh), Thoại Khanh - Châu Tuấn (khuyết danh), Hồng Hoan lương sử (Khuyết danh), Phương Hoa (khuyết danh), Hoàng Tràm (khuyết danh),
Ma Phung - Xuân Hương (khuyết danh), Lý Công (khuyết danh), Bạch Viên tân truyện (khuyết danh), Phữ dụng tân truyện (Trúc Lầm Cư S), Thạch Sanh tâm
Trang 12
truyện (khuyết danh), Nhị độ mai (khuyết danh), Truyện Tây Sương (Lý Văn Phúc), Truyện Ngọc Ñiều Lê (Lý Văn Phúc), Song Tĩnh bắt dạ (Nguyễn Mũu Hào), Sơ kink tân trang (Phạm Thái), Phạm Công - Cúc Hoa (Khuyết danh),
Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Truyện Hoa tiền (Nguyễn Huy Tw), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Thơ Năm Hồ Xuân Hương, Lục Vấn Tiên (Nguyễn Dinh Chiễu)
Ngoài ra, để tiện so sánh, mỡ rộng vẫn, trong quá tình khảo sắt đ ti, tác giã luận văn cũng có sử dụng tác phẩm ở những bộ phận thơ văn khác
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiếp cận vẫn đỀ bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp: 4.1 Phương pháp liên ngành
Nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hoá dân gian Từ điểm nhìn văn hỏa
cdân gian, cụ thé là văn học dân gian, soi chiếu vào ther Nom thé ky XV đến
XIX sáng tác về chủ đề tỉnh yêu đôi lúa để nhìn thấy những
gian và những tư tưởng mới mà các tác gid dé Ini trong từng sing tc,
42 Phuong pháp phân tích logic
Phương pháp này nhằm chỉ ra sự hợp ý, chặt chế của nội dung và hình thức,
tử đồ chỉ ra những giá trì văn hóa về tỉnh yêu trong thơ Nôm
43 Phuong pháp thống kế miêu tả
Phương pháp này nhằm thu gọn ại những giá trị văn hóa rong tho Nom từ thế kỷ XV đến thể kỹ XIX về chủ đề tình yêu để qua đó chỉ ra được những giá tị văn hóa cốt lõi trong quá trình phát tiễn cũa thơ Nôm,
5, Đồng gốp cña luận văn
$1, VỀ mặt khoa học
Luận văn là công trình nghiên cứu nhỏ về chủ đề tình yêu trong tho Nom thé
kỷ XV đến thế kỹ XIX từ góc nhìn văn hoá dân gian cả về nội dụng lẫn hình thúc nghệ thuật Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ đem lại một cái nhì khái quất, đầy đủ hơn về chủ đề tình yêu trong thơ Nôm giai đoạn này, từ đó thấy được những tìm tôi, đổi mới, vận động và phát tiễn của thơ Nôm trung đại mang đậm
"bản sắc văn hóa dân gi
Trang 13%2 VỀ mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp một phân nhỏ cho tư liệu có tính
ứng dụng nhất định rong vi
dàng dạy và nghiên cứu vin hoa dn gian, giảng dạy
‘va nghién cứu thơ Nôm thể kỷ XV đến thé ky XIX
.6 Cấu trúc của luận văn
"Ngoài phần mở đầu, kết luân và tả iệu tham khảo; nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương:
“Chương 1, Văn hóa dân gia với chủ đỀ tỉnh yêu trong thơ Nôm thé ky XV đến thể ký XIX
“Chương 2 Nội dung thể hiện chủ để tỉnh yêu rong tho Nom thé ky XV đến thể ký XIX đưới gc nhìn văn hóa dân gian
“Chương 3, Phương thúc thể hiện chủ đề tỉnh yêu trong thơ Nôm thể kỹ XV
«én thé ky XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian
Trang 14PHAN NOI DUNG
Chuong 1
VAN HOA DAN GIAN VOI CHU DE TINH YEU TRONG THO NOM
THE KY XV DEN THE KY XIX
công cụ cách ngây nay vài chục vạn năm cho đến thời đại Hùng Vương dựng nước - thời đại làm nên hai thành tựu lớn lao có ý nghĩa lịch sử Đó là sự hình thành của
sÊn văn mình sông Hồng và sự ra đời của hình thái nhà nước sơ khai: nhà nước Văn Lang của các vua Hùng và tiếp đó là nước Âu Lac eda An Dương Vương Trong sự hình thành nếp sống gia đình của người Việt, ỉnh yêu, hôn nhân là một nội dung đồng vai trồ vô cùng quan trọng
hin chung, xã hội Văn Lang - Âu Lạc đã chuyển sang chế độ phụ quyền,
người nắm giữ quyền hành và quyết định mọi việc rong gia đình chính là người cha, điều này thể hiện vô căng rõ ở các gia đình Lạc hẳu, Lạc tướng Thể nhưng, không phải vì didu dé ma vai t của người phụ nữ trong gia đình bị đánh mắt đi tim quan trong Điều này đã được chứng mình rắt rõ trong các câu chuyên cổ tích, nhưng câu chuyện về người phụ nữ mạnh mẽ không chỉ trong gia đỉnh mà còn có công trang to lớn đối với Tổ Quốc Nhũng nữ tướng Hai Bà Trưng vào dầu thể ky T
"người gìn giữ và lưu truyễn những tụ ễ từ xa xưa của cộng đồng
10
Trang 15
đề hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi la mã còn phải đáp ứng
“quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành thẳng tỐt, trải qua nhiều lễ ễt Hôn nhân một vợ một chẳng dẫn dẫn được phổ biển, mặc
cdầu đây đó, đặc biệt là những vùng sâu xa héo lánh của các dân tộc thiểu số còn
lại những chế độ hôn nhân anh em chồng, tục bắt cô dâu
1-12 Văn học trang mỗi quan hệ với văn hóa dân gian
1.1.2.1 Van hóa dân gian là nền tâng của vẫn học đân gian
Văn hóa dân gian là một thực thể sống, này sinh, tồn tai và phát triển gắn với ảnh hoạt văn hóa công đồng của quần chúng lao động Vì vây, khi nhân thức, lý
hiện tượng văn hóa dân gian phái gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa
hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách
là "động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội”
“Gắn bó lâu đờ với nông nghiệp nên ông cha ta đã có được hệ thống kinh nghiệm rất phong phú và điều đó được thể hiện thông qua ca dao tục ngữ, đó là những kinh nghiệm về kĩ thuật canh tác và trồng trọt:
Khoai đẳtlạ mạ đắt quen
hắt nước nhỉ phân tam cần cứ giống
‘Ching ta biết rằng tre thường đâm măng vào mùa hè, vào cuối mùa hè nước
ta thường xuất biện những cơn bão sớm, những thời kỳ đó đầu mảng phải biết đưa vào re mới trính được sư ng gãy nên ông cha ta mới ó câu:
‘Bau mang nga gue vio he
"ương nhở vào mẹ kéo e bão vẻ
Hay những kinh nghiệm về dự báo thời tiết
CCmủn chuẩn bay thấp tì mưa
Bay cao thi nding bay vita td rim,
"
Trang 16“Các loài côn rùng có cánh đễ dàng cảm nhận khi độ ẩm không khí thay đổi,
nhất là loải chuồn chuồn Chuồn chuồn là lo côn trìng có cánh mông manh, nếu có
đổ Âm cao thì không thể bay cao được, nu độ âm không khí hip thi bay ln rt cao
“RÈ Sỉ mọc trắng, điền nẵng đã đến,
ỗ Si ra trắng chẳng nẵng được đâu
Mỗi khi thời tiết thay đổi thì một số loại thực vật như cây Sỉ (hay còn gọi là
cây Sanh) rất nhạy cảm với thời tiết nên các hoạt động sinh lý của nó biển đỗ, S là loại ây to, lá nhô, rậm cảnh, có nhiề rễ phụ xuống, thường mọc ở bờ nước nên rắt
nhạy cảm với độ ẩm không khí, khi độ âm không khí tăng lên rễ Sĩ sinh ra trắng xoá
vi hút nhiều nước Như vậy thờ tế rắt dễ mưa nên nhân dân ta có cách dựa vào đó
để dự báo thời tiết
Vấn hóa Việt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp và văn minh thực vật
Nét đẹp văn hóa của đân tộc ta là lỗi sống giản dị, chất phác, mộc mạc đầy những
cung bậc và sắc màu khác nhau Trong cuộc sống đồi thường, người Việt Nam thích những ái đơn giản, nhỏ xinh, hài hỏa, thích sống có cộng đồng, làng xóm Qua đó,
nghĩa và tính thần cộng đồng cao đã trở thành bề đây trayén hông tốt đẹp của dân tộc ta
Văn hóa dân gian được thể hiện qua văn học dân tộc, nhất là văn học dân giam
động lực để văn học phát iển, văn học là một biểu hiện cụ thể
sinh động của văn hóa Vì vậy, văn học bao giờ cũng có mỗi quan hệ mật
‘van hóa Văn học nghệ thuật muôn dời gắn liễn với con người và cuộc sống
11.2.2 Van hóa dân gian là cội nguồn tự tưởng của văn học
Trên thực tẾ của đồi sống tính thần, không có hiện tượng sự vật nào mà
Không có mỗi quan hệ với văn học, Văn hóa là toàn bộ những gì dø con người tao
Ta là hước đo của sự phát tiễn Vì thể, văn hóa của mỗi dân tộc bao giờ cũng gắn liền với hệ tư tưởng của dân tộc ấy
Với sự khởi nguồn từ văn mình nông nghiệp lồa nước, hầu hết dân Việt đều xuất thân từ ruộng đồng, gắn bó với thiên nhiễn, thiên nhiền trở thành môi trưởng sinh tén của họ, ý thức này luôn sâu đậm vào suy nghĩ người nông dân Nó trở thình khía cạnh của văn hóa dân gian, định hướng cho người sáng tá như Giáo sự Nguyễn
Khánh Toàn đã từng nói: “Văn học là xương sống của nên văn hóa đân tộc ”
12
Trang 17Macxim Gocky khiing dinh: “Van lọc Id nhdn hoe”, vin hoe bao gid cing xây dựng và khẳng định giá tị con người Văn học giúp thanh lọc tâm hỗn con
sắc văn hóa dân tộc như lòng yêu nước thương ni, ính cộng đồng, sự cằn củ và
sing tạo trong lao động sản xuất Tắt cả những giá tỉ Ấy có ý nghĩa chỉ phối, ác động và định hướng tư tưởng cho người sáng ác,
1.3 Sự thể hiện chủ đề tình yêu trong văn học dân gian
1.2.1 Những nội dung chủ đề tình yêu trong văn học dân gian
đáo như tục cướp kén cẳ\ con, tục ằu tế nô nường, lễ
Tín ngưỡng này xuất hiện từ xa xưa trên dit Viet Trong các tháp Chàm, Linga va Yoni được thờ tai trung tâm ngôi đền chính Kalan Hay ở đầu thị xã Phan
Rang, có hai ngọn tháp tọa lạc trên đồi Trầu, tháp to gọi là tháp Ông, tháp nhỏ gọi là
thấp Bà Trong đó tôn thờ hai tượng Linga va Yoni
“Trong xã hôi loài người, tình dục là quy lut tự nhiền để phát iển nồi giếng, gia định, dòng ho Tai gấ lớn lên đến tuổi dậy th, quan hệ với nhau về yêu đương Sinh lý và văn hóa dân gian về hôn nhân bắt nguồn từ đồ
"Đàn ông nằm với đồn ông
Như gạch, như ngói, như chồng, như chà
Trang 18
"Đàn ông nằm với đản ANự lụa như lĩnh như hoa trên cảnh!
'VỀ sau, sự ảnh hưởng của Nho giáo đã chi phối đến đạo đi ống của
son người Sự ch phối Ấy có tác động mạnh mẽ trong giới thượng lưu, còn tong
nhân đân lao động, sự chi phối ấy nhẹ nhàng hơn - họ cho việc tự do yêu đương l¿
bình thường, dân chủ, hợp quy luật, hợp tình người Thông qua sinh hoạt lao động sản xuất, sự giao lưu nam nữ cảng trở nên tự do hơn, nhưng lời nói tiếng hất thường
tp trùng biểu tị tỉnh yêu lứa đổi Với văn hóa của mình, inh yêu đồ không b thô
"bạo số sàng, sự tiếp xúc thể xác kín đáo riêng tr:
Gap ning anh ném e6 tay
“Anh say vỉ ni, anh yu vi tình Với sự điều chính của xã hội, của văn hóa, người con gái Ấy biết giữ mình và
chồng, quan hệ sinh lý trở thành tr vui di đồm rất hài hước
,Đương khít lửu cơm sối
ơn kêu, cơn khóc chẳng đồi tàn tem ây giờ la đã đó lên Lon no, com nin tm tem tỉ tôm Tinh de li mt to tie mang tn ịch sử Dân gim để ập đến vẫn để nh lý với mục ích con người ất yêu cần đến n để duy trì và phát tiễn nồi giỗng, nhưng
không phải là những ham muốn quá trớn, khiêu dâm mà tạo nên lỗi sống trái với
đạo đức, phong tục của đân tộc
1.3.1.2.Về mặt tâm lý
Muốn hôn nhân vững bổn, gia định hạnh phúc, yêu tổ đầu tiên phải kể đến đó
là tỉnh cảm, tình yêu nam nữ, Tỉnh yêu thương luôn được xây dựng trên cơ sở tôn trọng, cảm thông và quý mến nhau, chỉ có tỉnh yêu thương mới đảm bảo được bạnh
Trang 19hòa Tình yêu chính là một điều kiện cần va đủ để có được hạnh phúc trong hôn
nhân và gia đình Bởi vây, tỉnh yêu đôi lúa là một nhu cầu cần tht và quan trọng trong sinh host cia nhân sinh Trong kho tầng văn học dân gian, rất nhiều những
câu tục ngữ, những bài ca dao đã thể hiện được quan niệm của người xưa về chủ đề
yêu đối lứa và hạnh phúc gia đình
Tục ngữ cũng có câu: “Tinh có mốn, nghĩa mới nổng”, “Đạo vợ, nghĩa chẳng vì thường vợ chẳng chung sông với nhau trước tiên bằng tỉnh yêu, đến tuổi
VỀ giả, con châu đẫy dan, tinh yêu đó không thể sống mãi mãnh liệt như tuổi trẻ được, lúc này vợ chồng lại sống với nhau bằng cái nghĩa, bằng tỉnh thần trách
nhiệm cùng chung làm bổn phận của cha mẹ để nuôi dưỡng và dạy dỗ con chấu thành người VÌ th, dân gian vô cũng đề cao sự trong sáng, thủy chung, son sắt, một lông một dạ, trước sau như một trong tỉnh yêu
Anh đi đường Ấy xa xa,
"ĐỂ em ôm bồng trăng tà năm canh:
_Nước non một gánh chung tình
“Nhớ ai ai có nhớ mình hay chẳng?
"Người xua vẫn nổi: dấu én của tỉnh yêu là lòng chung thủy Chung thủy có
"nghĩa là trước sau như một, như vậy, khi nồi đến một tỉnh yêu chung thủy là nồi đến
“một mỗi ỉnh mà từ ngày đầu đến khi kết thúc ai người vẫn có nhau, vẫn giữ trọn lời hứa yêu nhau ban đầu của họ, Dù có xa cách muôn dặm thì những người yêu
Khi hai người có tình cảm yêu đương, thì bất kỳ đặc điểm nảo của người yêu
cũng đẹp, cũng là đâu ấn để đối phương luôn nhớ đn Người con trai dường như thuộc lòng đến từng đường nét lỗi ăn cách ở của người mình yêu Chỉ cằn đọc lên, 1a có thể hình dung rõ về người con gái anh yêu, đó là một cô gãi róc bỏ đuới ga, an
‘noi man mà có duyên, má lim đẳng tiễn, răng nhânh hạt luyễn, cổ yêm đeo bìa,
“ồn thượng quai tua, nắt ở khôn ngoan TẤt cả những đặc điêm đó là về đẹp thiên
phú của người con gái Việt Nam được dân gian đúc kết l
Trang 20
“Cho thuyền quen bồn cho anh quen nông
Tơ ằm đã vắt vương,
Đã trội dạn diu Hi thương nhau cũng
Tinh yêu được xem như mối tơ mành, sự gắn bó quyển luyễn nhau được ví
như tơ tằm, đã có tỉnh ý yêu thương nhau, dan díu nhau tì hãy nền cùng yêu thương nhau với tỉnh yêu so sắt nhất
"ước sông Tô vừa trong vừa mắt
Em ghé tuyên đỗ sát thuyễn anh Đừng chèo mudn 1 tam tinh
“Sông bao nhiêu nước thương mình bẫy nhiêu
“Quả là một nh cảm sầu đậm và chân thật Tỉnh yêu được ví như dòng nước Yửa trong vừa mát tình yêu mà chăng tai đành cho cô gãi là vô tận như chính cơn sông kia, làm sao đếm được sông bao nhí
định lượng được nước, bởi lẽ bản chất nước là không thể
“Muối ba năm muối đang côn mãn
Girng chin thang gừng hãy còn cay
Datta tình nặng nghĩa đà
"Dù có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín nghìn ngày mới xe
“Côn gì sâu sắc nồng ấm hơn khi ví tỉnh yêu với muối và gừng, hai vật thể
mặn mà, đậm đà nhất Dù có trải qua thời gian bao lâu, tình yêu vẫn vũng bền
“Thậm chí thời gian càng dải thì tình yêu cảng bên chặt hơn, giống như “gửng cảng giả căng cay”
Chững nào cho sông bỏ gành
Củ lao bỏ biển anh mới đành bỏ
“Bao giờ cạn ch Đồng Nai [Nat chia Thign Mụ mới phai lời nguyễn Bin dong sông gơn cát đùa
‘Sanh di khong ding len chia anh rw
Trang 21“Cổ một sự thật hiển nhiên và tất yếu là sóng sẽ chẳng bao giờ bỏ ghành được
‘vi dao chỉ có thể mọc lên từ biển Chàng trai đã lợi dụng sự gắn bó vĩnh cửu của
sông và gảnh, cũ lạo và biển sự vững bên của ạch Đồng Nai và chủa Thiên Mụ để
ví inh cảm của mình à bền chặt vĩnh viễn không thể xóa nhỏa được
“Rủ nhau xuống bỂ mô cua
em về nấu quả mỡ cũua trên rừng
Em oi chua ngor da ting Non xanh nước bạc ta đừng quên như:
Lôi thơ không bóng bẩy nhưng vô cùng sâu sắc và gằn ghi Tình yêu được vi còn to hơn cả non nước, dù cho non có xanh, nước có bạc thì bai người yêu nhau cũng không bao giờ quên nhau
Khi yêu nhau, sự xa cách về không gian trở nên nhỏ bế, bối
Yêu nhau tam tứ ni cũng tẻo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua
`Vây nên trước con mắt của kẻ dang yêu, con sông không đủ đ làm cách trở
én diy ta hiểu được rằng, cây cầu mơ ước trên chỉ là cách để những người dang
êu thổ lộ tỉnh yêu của mình Ta thấy được sự tru mn rong uớc mơ, sự khát khao được gặp gð, gn gi và sẻ cha của những chàng tni,cô gái
Tinh yéu ai gi là những nhủ cu tự nhiên của con người, tỉnh yêu đến với con người khi trưởng thành như là một quy luật ắt yếu, như một ẽ đương nhiên của
to hóa Cuộc đời mỗi cơn người, không ai có hễ thoát ra khối vòng luân bồi sinh lão
"bệnh tử, đã là con người, ai cũng có những phút giây đau khổ và hạnh phúc Tình yêu
là một ý niệm mà ngay từ khinh ra con người đã tự biết cảm nhận, ấn iền như một
phần của thân thể con người Vì thế, ¡nh yêu không phải bao giờ cũng suôn sẻ, êm
đạp mà luôn có những sóng gi, những trc trở mà đổi lứa cổ hề không vượt qua
“Ngày nào em nói em thương,
trần mà để trong rương chắc rải
“Bây giờ khóa rốt chìa rơi,
“ương long nắp vỡ, bay hơi mà trim,
Trang 22(Con duyén dong cita kén ching,
Hết duyên mở cửa gọi ông ăn mày:
Tôi van ông rễ vào độ, Giang cao chiếu sạch gối mây ông nằm,
“Duyên ti xưa đẳng một trăm, Bay gird dm xin ông năm én
“Cũng có những cô gái duyên phận dỡ dang, long đong, không nắm được dduyén tinh của mình, tựa như tiêu gẫy, đàn đứt dây
Phin em sao lim dỡ dang
Cầm tiêu tiéu gay, cam din diet day
"Nước ta là một nước gốc nông nghiệp lúa nước, người dân Việt có tính cách chăm chỉ cần củ trong lo động sản xuắ Người dẫn quê tuy suốt ngày dầu tắt mặt tối xới công việc ông vườn, vắt và kiểm sống, bon chen muu sinh giữa cuộc sống thiểu thốn trăm bề, nhưng tình cảm thì luôn phong phú Cổ th nồi, tình yêu trong văn học dân gian gắn liền với ao dộng, sinh hoạt đồi thường Trong sinh hoạt hàng ngày của
ti gấi thôn qué, họ vẫn thường gặp nhau trong ngày mùa, khi ginh lúa về trên đường cí
những lúc hội hè đình đá
quan thơm mùi toóc rạ, hay gặp nhau trong những đêm giã gạo dưới trăng,
họ cũng đã trao nhau những câu hò điệu hái, mà nội dung căng nối lên được những boài vọng thẳm kín Hình anh lao động đã đi vào thơ ca như một lề thường tình, vì thé, trong vin hoe din gian, tinh yêu cũng gin liỀn với lao
động sản xuất; gắn liên với những hình ảnh điền hình của làng quê Việt Nam
Hôm qua tắt nước đầu định,
“Bổ quên cái do trên cảnh hoa sen
Em được thi cho anh xin,
Hay lem dé tam tin trong nha?
Chang tai thổ lộ tỉnh cảm với cô gái thông qua công việc hôm qua tắt nước
ở đầu đình làng, Mượn chi
áo nhự là vậ làm tin để kế nối tỉnh cảm hai người
Is
Trang 23“Tỉnh yêu trong văn học dân gian không gắn liền với những hình ảnh to lớn, tru
tượng mà gắn liền với những hình ảnh rất đổi đơn sơ và thân quen Đó là những
hin dn didn in cia lang qué Việt Nam hay chỉ một vài nết đơn sơ của đối
việc cây bữa, tuy vắt và nhưng họ luôn luôn có nhau để tạo đụng cuộc sống:
Trên đằng cạn dưới đẳng sâm
“Chẳng củy vợ cẤy con trâu đi bừa Hình ảnh một anh chàng tô tỉnh với cô gấi khi đang cắt có:
Cổ kia cắt có một mình,
Cho anh cit vi chung tình lầm đôi
Cb cin cắt nữa hay Hi,
"Cho anh cất với làm đối vợ chẳng
“Thấy cô gái dang cắt cô một mình, chàng tri vờ xin cắt chung nhưng mục đích chung là muốn kết duyên vợ chồng với cô gái đ làm một đôi uyên ương Mỗi dân tộc rên thể giới đều có một bản sắc tiếng Dân tộc Việt Nam cũng Xây, thơ ca dân gian là tiếng ca din muôn diệu, đáng tự hào của con người Việt
"Nam, Từ tong những lời ca dao câu hát từ xa xưa mã dân gian để li, a thấy lấp
ánh vẻ đẹp muôn đời của tỉnh cảm con người ấn đưới mỗi dòng chữ, điều đó khẳng
định tình cảm truyền thống của dân tộc Việt tử ngàn đồi, ình yê lứa đổi là một chủ
đề đặc sắc trong những câu ca dao xưa ấy, Tình yêu đôi lứa từ trong vẫn hóa đân gian có c gì rất trẻ trung, nên thơ và rất đẹp, đạp từ cách nói giản đơn của người xưa, đẹp đến tùng câu hồ long lanh mát rươi lòng người Có th nói, tỉnh yêu trong văn hóa dân gian, mang tính chung, tính dân tộ và ít có sự riêng t và chỉ phối bởi những tiêu cục xã hôi Đ là thứ tỉnh cảm sâu sắc, bằn chất xuất phát từ những điều
Trang 24Biên đây lấy iy, bin minh ly ta
“Chẳng th lên hỏi trăng giả, Trăng giả cũng bảo rằng a lấy mình!
Đó là sự vui mừng cho hạnh phúc nhưng cũng có khỉ họ căm ghết, oán hân
vi ông Tơ bà Nguyệt đã không kịp thời xe duyên cho đối lứa đến khi đã muộn màng buộc họ thấy hỗitếc
-Anh đừng rằu làm chỉ Tai nam nhi kiém vợ, gái nữ nhỉ kiếm chẳng
Tôi giản bà Nguyệt Lão
Tôi muốn giết ông Tơ Hồng
Thưở xuân xanh anh chưu vợ,
Em chưa chồng mã ông không xe!
Dain gian da thể hiện sự ti tưởng của mình đối với những ông Tơ bà Nguyệt
thông qua tranh dân gian Đông Hỗ Ong To và Bử Nguyt, bức tranh thể hiện khát
Trang 25“Trong cái duyên số của tình yêu, hôn nhân, ca dao thường phản ánh tâm
trạng lo lắng của người con gái, đó là một sự may rủi, hên xui Hạnh phúc có mỉm
cười với mình hay không côn tủy thuộc vào chữ duyên chữ phần
Thân em nh tim lụa đảo Pht pho gia chy bit va tay ai?
Thân em nự giếng giữa đồng
“Người khôn nữa mặt người phầm ra chân Dân gian thường quan niệm về uỗi tác có một mỗi liên hệ với số mạng con
"người Trong tỉnh duyên cũng vậy, số mạng con người có thể là ốt đẹp nhưng cũng
số thể không m gÌ
Người ta tui , tiỗi mũi Cần em dị chịu bùi nghi ti thân
"Nhưng rồi họ an ủi, mặc dù sinh vào năm không “tốt số” nhưng vẫn hỉ vọng
số phân mìm cười với họ khi họ được sinh vào "gi đẹp”
Tuổi thân thì mặc môi thân
Sinh vào giờ dẫn vẫn sướng như tiên!
Từ xưa, dân gian đã tín vào tiền kiếp, tiên duyên, nợ tỉnh nợ nghĩa của kiếp trước đến kiếp này phải tả, nếu chưa trả được thìcó chết di cũng không xí xóa được:
ANg đồi trả trả vúy va)
Aợ ình Bế trả đến ngây nào xong
Nợ tình chưa trả cho ai Khối tình mang xuống tuyễn đi chưa tan
Từ những sự thuận chiều tốt đẹp cũng như sự tri chiều không thuận lợi trong tinh yéu, vé mặt lâm linh, dân gian thường tìm những nguyên nhân, nguyên
số tốt ấu ở đuyên và phận Duyên phận xẫu hay tốt cũng do ti đã định sẵn khó lòng thay đôi được Đó là một niêm tỉn ngây thơ, hồn nhiên của dân gian
1.23 Hình thức thể hiện chủ đề nh yêu trong văn học dân gian
Trang 26“O hién thi lai gp hién
"Người ngay thi gặp người tiên độ trì”
‘Va luôn tin tưởng một thể giới có điều nhân quả, gieo nhân nào gặt quá ấy: Điều ấy tạo nên sức lôi cuốn, hấp dẫn trong ci ác phẩm dân gian, làm cho con
"người luôn lạc quan, yê dồi, hướng tới những hành động đẹp và cao cả Trong tỉnh
êu cũng vậy, dân gian quan niệm, chỉ cẳn con người sống đúng dạo lý, nt ăn ở hiển lành thì tình yêu sẽ ở về, đôi lứa sẽ sóm được đoàn tụ, hạnh phúc sum viy bên nhau
Trong chuyện cỗ tích Tắm Cám, diễn biến chuyện có biến thiên nhưng kết
cu có hậu là nét thị pháp điễn hình của truyện cổ tích thần kỳ đã được thể hiện đảm,
sô gii hiển lành chăm chỉ được trao tăng
Tỉnh yêu với đủ các cung bậc cảm xúc, dã là vợ chồng nhưng đôi lúc vẫn
có những sự hiểu nhằm, có những khó khăn trắc trở trong cuộc sống Kết thúc
chuyện Sự đích trầu cau, vợ chồng người anh đủ phải chết, nhưng đó là cái chết
đẹp Người chẳng hóa thin thành cây cau, người vợ gục bên hóa thân thành cây diy trầu leo quấn quýt bên thân cau Không bản đến những giá tr khác của câu chuyên, ta tập trung chú ý đến tỉnh yêu của vợ chồng người anh, quả thất, đây là
"một cái ết đẹp là những người yêu nhau, được hóa thân thành những sự vặt - hiện tượng mãi mãi bên nhau Tỉnh yêu của họ không bị khép lại khi họ chết đi, nhân gian đã cho họ một sự bóa thân để vĩnh cửu hóa tình yêu, vợ chẳng họ sẽ đồi đồi được sum vầy ĐỂ ừ nay về sau, mỗi khi nhai miếng tầu cau là người ta lại nhớ
ih cảm keo sơn gắn bó, miếng vôi (do người em hóa thân thành) khi quyện
2
Trang 27với tẫu cau sẽ tạo nên một đồng máu đồ tươi Câu chuyện về gia định Ấy sẽ lưu truyền mãi rong dân gian
roi xinh đẹp về ngoại
nh kỳ thế nào di nữa Dân gian luôn đcao cái nất, cái phẩm chất quý giá của
hình, đù anh có hình dạng kỳ dị, nhưng
với bản tính chăm chỉ, tht tha, cn man của mình cũng chiếm được trái tìm người
Tinh yêu rong dân gian không chỉ nôi vỀ nhưng con
So Dia 45 rạng nguyên, ra lâm quan, đưa vợ về định hướng cuộc sống sung túc đủ diy hạnh phúc bên nhau, làm cho hai người chị - vấn trước đây khinh miệt họ đã
xấu hỗ quá phải trốn đĩ biệt tích
“Tỉnh yêu cũng không là ngoại lê, những người có bản chất tốt, chăm chỉ thật thả,
sống đúng đạo lý cuối ine
1.333 Ngôn từ diễn đạt
“Thơ ca đân gian là một th loại nghệ thuật ngôn tờ mang tính đặc trưng riểng
ẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn
biệt Ngôn ngữ thơ ca dân gian có nguồn gốc dân đã, thể hiện bản chất bình dị, chất
phác, hồn nhiên của người nông dân lao động Đó cũng chính là đặc ính cơ bản của loại hình ngôn ngữ tong ca dao
Ngôn từ diễn đạt trong văn học dân gian là ngôn ngữ thuần Việt trong sáng, thể hiện nết đẹp văn hóa truyền thắng mang tính nhân văn cao Đó là tiếng hhất của những con người lao động nơi mộng vườn vắt và nhưng vô cũng lăng
mạn và tình tứ:
2B
Trang 28
‘Cho em vun kẻ cây trằu một bên
“Chững nào trầu nọ bên lên
Caw ka có ri lập nên ca nhà
"Với truyền thống văn hóa rong giao tiếp: "miếng trấu lã dẫu câu chuyện”, trầu cau là những vật lễ không thể thiểu được trong các ngày lễ lớn của dân tộc Vigt Vi th, câu ca dao trên thay vì nhắc đến ngô, khoai, bay lúa th lại nhắc đến hình tượng trầu cau
Bởi luôn gắn với môi trường dân gian, truy thống văn hóa của dân tộc đã
‘ao ra sự mượt mà, trau chuốt trong lời thơ dân gian, Vũ Ngọc Phan từng nhận định
về ea dao: “Nó có vẽ như lời nồi thường mà ại nhẹ nhàng, gọn gảng, chải chuốt
Gis ng hu hat em than,
"Đường xã dâm vắng, xin anh đồng vẻ Minh trăng đã tá lời ti, Lam chi dé gnh năng nh riêng ai
Lời tô tình đã th hiện được tỉnh cảm ti gái làng quê võ cùng để thương và
ty sy trong Thang Bom, Hém qua em đi hải đâu, Cái cỏ cái vac edi nông Hơn thé,
"ngôn ngữ ca dao còn mang phong cách trữ tỉnh dân gian bay bồng lăng mạn với Dém trăng thanh, Trêo lên cây buổi hái loa Ngôn ngữ mộc mạc giản di khiến những lồi thơ tong ca dao đường như trở nên lung linh, đầm thắm hơn thể hiện
đậm nét những giá trị nghệ thuật truyền thống
24
Trang 29Ngôn ngữ ca dao không tô vẽ bóng loãng mã hết síc cỡ đọng, logic, Đồ là sự
"kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, mang đậm tính dân tộc và tính địa
phương đã thấm sâu vào lông người đọc, vào tâm hồn của những người con đất Việt 1.22.3 Thé tho din gi
Là những tác phẩm thơ ca
thức thơ khác nhau: song thắt, song thất lục bát, bỗn chữ, hỗn hợp, tuy nhiên được
‘van dụng phổ biển hơn cả là thể lục bát Đa số các bài ca dao đều được sáng tác
theo thể lục bát vì thơ ục bát là "những lõi nồi vẫn” gần gũi với lõi ăn tiếng nổi của nhân dân, dễ nhớ, dễ thuộc
“Các túc giả dân gian sử dụng thể th lục bát để sáng tác thơ ca, hồ vẻ, một số truyện hơ dân gian Có tới hơn 95% bài ea dao được sưu tằm tròng kho tầng ca dao
gian, ca đao được sáng tác đưới nhiều hình
Việt Nam được làm theo thể lục bát Như vậy, ta có thể khẳng định không có thể
thơ nào được sử dụng rộng rãi trong đời sống, trong văn chương như thể lục bát
Xu tính riêng về số câu, số bài th chắc chấn luc bát đạt con số kỉ lục
"Ngoài thể lục bát truyễn thẳng, dân gian còn đồng lục bát biển thé Lye bit biến thể là một thể thơ lỉnh hoạt trong cách ngất nhịp, gieo vẫn, trong việc sử dụng
luật bằng trắc, trong cách thêm chữ trong câu, số câu trong bai ma các tác giả có
diễu kiện tung hứng, biển hóa, góp phần làm cho thơ lụ bắt tránh được sự khuôn
ảo, nhâm chân Điều này đã và đang làm mới thể thơ ruyề thông này
Có tương thì thương cho chắc Bing true tri thi true trie cho lin
Đừng nhự con thỏ nọ đứng đâu truông
Khi vui giớn bồng, Kửi buổn giữ trăng
Diy lš một dạng lục bát biến thể, câu hai và câu ba có những điểm bơi khác Điệt với những câu lục bất thông thường Tác gi dn gian đã dùng từ lấy “trục rác”
(đều là thanh trắc) đặt vào chữ thứ hai và thứ ba tạo nên một nhịp thơ thoáng nghe
đã thấy được sự “tục tặc”, không được êm xuôi Lục bắt thông thường chủ yêu
"ngất nhip chin (2-2, 2-4, 4-4 hoe 4-2), ở đây, ác giả dân gian ngất theo nhịp 1-2-1=
“Cách ngất nhịp iên tục cũng với việc bạ thanh trắc ở chữ thứ hai đã góp phần
sự không suôn sẽ tong mí
28
Trang 30
Lye bat a thé tho mang đậm bản sắc dân tộc nhất, người Việt Nam đã được
đắm mình trong nhịp điệu của thơ lục bát ngay từ khi thơ dại Chính thơ lục bát đã
nuôi dưỡng dân tộc ta thành nh
con người vừa "đa tình” vừa "nhân hậu”, Cái
‘Viet phin nào được bộc lộ:
Bay giờ mận mới hỏi đào, chất đa tình của
hờn hồng đã có ai vào hay chưa?
Man hot thi dioxin thu:
iờn hồng có lỗi nhưng chưa ai vào Người phụ nữ chẳng may lẤy phải người chẳng không ra gì nhưng vẫn nói
ới người mình yêu rằng
-Anh nồi em cũng nghề anh
“Bát cơm lỡ đã chan canh mắt rỗi
“hắt vào đẳng lắn anh ơi
“Nhà ra thì để tội trời ai mang
“Cốt cách của cả một dân tộc
Trong dim gi dep bing sen
Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng
“Nhi vàng bông trăng lá xanh tân bùn mà chẳng lõi tanh mùi bàn
“Thể lục bát truyền thống trong ea dao bộc lộ trục tiếp những lâm tỉnh này sinh từ thực tiễn cuộc sống; thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy
"nghĩ vỀ cuộc đồi, từ khoảnh khắc hồn nhign vô tư của con người đến những diễn biến tỉnh cảm trữ tỉnh phong phú Kho tầng lục bát của những bài ca dao trong văn học dân gian Việt Nam vô cùng rộng lớn đã đi vào tâm thức của người Việt Nam,
"
góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, cốt cách người dân Việt Có th nồi, lục bát thể thơ mang đậm bản sắc, tâm hỗn, cốt cách dân tốc Việt
13 Sự đồng cảm của dân gian trước chủ đề tình yêu cña văn chương trung dại
Những nội dung tình yêu trong văn chương trung đại đã nhận được sự đồng
cảm của dân gian Dân gian ũng hộ cho những tỉnh yêu sâu sắc, mặn nằng của các
“hân vật trong văn chương trung đại
26
Trang 31“Trong lòng người dân Nam Bộ, những nhân vật trong Luc Van Tién cia
Nguyễn Dình Chiêu đã trở thành biểu tượng Chẳng hạn, khi có một người dũng cảm giữa đường thấy chuyện bắt
'Vân Tiên Nguyệt Nga thì lại là vừa
“chung thuỷ sắt son Mặt khác, một gã có máu đê thường bị gọi là Bùi Kiệm:
_Anh đi lục tỉnh giáp vòng
iin dy trời khiến đem lòng thương em
Cá duyên thìphải la phải xem Col thử đồ là thằng Bùi Kiện, hay anh Vân Tiên, em mới trao lời
Những cô gái trung trình rắt sợ gặp những tay đàn ông mang máu Bui Kigm; Vay nén, miy ching trai khi án tính người đẹp lúc nào cũng phải hứa rỉng mình không bao giỡ có những tâm địa ỗi tệ như Bài Kiệm,
.Mã hằng mình cũng như ta,
Đêm nằm thơ thắn vào ra một mình
Em tương hay không tự ý cia minh,
“Không phải anh nhục Bùi Kiệm áp tình Nguyệt Nga
`Và cô gi cũng thường khuyên người con ti không nên bắt chước Bùi Kiệm,
Bém nam canh trong dạ bồi hải Ngày sáu khắc không nguôi dạ ngoe
Bb em nơi có Nguyệt Nga ma học
Tọa tượng chang thé Lục Vân Tiên
27
Trang 32“Nào hay đâu cổng sứ qua Phiên
“Nhảy xuống sông xa vời hẳn phách
Lông dân lông xin em chỉ mực
Em đừng thương đó bỏ đồng Tắc cuộc đồi như th bồng trăng Khi tỏ rạng đến ngày lại ky Hay
Tình cò la lại gap ta, Tân Tiên mới gặp Nguyệt Nga mội lần
“Câu ea đạo có vẻ bình thường, nghề thật thà như văn chương của truyện Lục Vân Tiên nhưng nó cũng đã nói lên được giá tị đặc biệt của tác phẩm mã câu ca
cdao đã chuyển tải Quả đúng là cuộc gặp gỡ giữa Lue Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga
là một cuộc gặp gỡ tình cờ Và quả là họ chỉ gặp nhau có một lần rồi phải xa nhau
cho dén cuỗi truygn họ mới được ái hợp rong một hoàn cảnh đầy vẻ mơ vúc Vậy thì, câu ca dao trên đây, dù thật thả mộc mạc, nhưng cũng đã nối lên được ốc vọng của hai con người - một nam và một nữ đã mối gặp mặt nhau một lần họ cũng ước mong giữ mãi được mỗi tình thủy chung như Nguyệt Nga đổi với Vân Tiên và họ cũng ước vọng có một kết hợp đẹp như cuộc kết hợp giữa Lục Văn Tiên với nàng Kiều Nguyệt Nga ở cuối truyện:
Nguyét Nga ta gi trung trình, Vicha, nén phi ding rink ra di
Ai ngé sip bie hiỗn mang Phong Lai né bit, dem di ln ring
Tổ thiy than Kc mg bing,
Thời ơi! Nó hại nửa chừng hằng nhan
Tân Tiên vừa lúc ngang Chàng bon ra site ph tan hung đã
"Nguyệt Ngã trong dạ sầu bị, Đêm ngày tơ tưởng nhớ thì Vân Tiên
28
Trang 33Như Lục Vân Tiên gả nghĩa với chy Hai ho Kiéu
'Ngay cả dân ca vùng Nam Trung Bộ, Bì
“Trị Thiên cũng rất
đề truyện thơ "Lục Vân Tiên" và có những câu ca đy lòng ngường vong, nhần văn
“iu biểu là một bài hò mái nhỉ đân ca Bình Trị Thiên:
“Bớ em ơi! lồn đừng suy ngÃĩ tiệt hơn Hãy ở như Nguyệt Nga ngây trước lãng dạ eo sơn chẳng dõi”
Lại một câu rong lõi hát rao của hất Phường Vai ving Thanh Nghệ Tỉnh
nhắc đến mối tỉnh Vân Tiên và Nguyệt Nga
Tình cỡ ta lại gặp ta
in Tiên mới gặp Nguyệt Nga một lần
“Câu ea dao có vẻ bình thường, nghe thật thà nhưng cũng đã nói lên được giá trĩ đặc biệt của tác phẩm mà câu ca dao đã chuyển tải Quả đúng là cuộc gặp gỡ giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là một cuộc gặp gỡ tinh cd Va qua là ho chỉ gặp nhau có một lẫn rồi phải xa nhau cho đến cuối truyện họ mới được tái hợp trong một hoàn cảnh đầy về mơ ước Vậy thì, câu ea dao trên đầy, dù thật thà mộc
mạc, nhưng cũng đã nói lên được ước vọng của hai con người - một nam và một nữ
~ đủ mới gặp mật nhau một lần bọ cũng ước mong giữ mãi được mỗi tỉnh thủy chung như Nguyệt Nga đối với Vân Tiên và họ cũng ước vọng có một kết hợp đẹp như cuộc kết hợp giữa Lục Vân Tiên với năng Kiều Nguyệt Nga ở đoạn cuối đoàn twsum vẫy,
Đôi lứa yêu nhau luôn mong muốn tỉnh yêu của mình luôn bền chặt, đồ có khó khắc cách trở cũng không thay lòng đổi dạ Ví như tỉnh yêu Nguyệt Nga vẫn
"mặn nàng dành cho chàng Vân Tiên dù mắt anh đã mù lòa đi
ao ve ching anh phi xét cho xa,
“Anh Văn Tiên mà mắt, chị Nguyệt Nga còn chờ:
29
Trang 34
lều Nguyệt Nga trong con mắt dân gian luơn là một phụ nữ trung trình tiết
én quy khơng khuất phục được tắm lịng thủy chung như nhất
“Chào cổ sau lãi mat vuơng chữ điền Người nào là vợ Vân Tiên?
Cho tt bids dé cho lin cht du Agười nào người ngơi tối đâu”
Ni cho tt bide dé go ede dn tinh Ling thủy chung trước sau như một của Kiều Nguyệt Nga là một tắm gương cho giới phụ nữ noi theo Bắt cứ người con gái rung tỉnh nào cũng muốn được noÏ theo tim gương tế liệt như nàng:
“Đầu ai gieo tiếng ngọc,
“Đầu ai đọc lồi vàng,
“Bơng sen ht nhựp bơng tàn,
Em dy git és nhu nang Nguyé Nga Học theo gương Kiều Nguyệt Nga, những người phụ nữ kiên tỉnh luơn tự
nhắc nhớ rằng dù gặp phải bắt cứ hồn cảnh éo le, ngang trái nảo, dù ai cĩ dùng lời
"ngon tiếng ngọi, đùng bã phú quý vĩnh hoa để dụ đổ họ vẫn khơng sờn lịng như Kiều Nguyệt Nga đã từng chứng tỏ như thể
ơng lại đặn lịng, dầu non mơn bin cạn,
Da la dn do, dw dé nit ving nha,
Em đây quyễ noi gương chị Nguyệt Nga, Mặc aiphinh dễ, chẳng xa lời nguyễn Hay:
Chim lẻ bạn khĩ v nơi non inh
“Cảnh nhớ thương là tình cảnh mặn nơng
30
Trang 35Dai ai kia có lỗi đạo vợ chồng
Em đây chỉ quyết một lòng như chị Nguyệt Nga
Truyện Kiều phổ biến rộng tải trong khắp nước ta, nên không mấy người là không thuộc những tên: Thúy Kiều, Thúy Van, Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, Hoạn Thư Dân gian thuộc tên những nhân vật này đến mức coi họ như những người có da, có thịt và cảm nghĩ, bành động cũng như mọi người Người có đặc điểm nào thì gắn cho cái tén ấy, chẳng bạn như đẹp như Thúy Kiều, đều như Thúc Sinh, ghen như Hoạn Thư
Miêu tà nỗi xa cách của hai bạn tình, nhân dân đã sáng tác những câu ca ao theo th tỷ Sự xa cách trong tỉnh yêu là một điều không may mắn và không hề
‘mong muốn Khi ai người yêu nhau mà phải xa nhau thì cũng héo mòn như sen xã
hổ, sen sẽ hô héo, nước hỗ cạn kiệt, liễu xa đảo sẽ lan tắc hoang tin
Sen xa hi, sen kh, hd can:
Hầu xa đào, liễu ngủ, đào nghiêng
“Anh xa em như bên xa thon
Như Thúy Kiẫu xa Kin Trọng, biết mắy niên cho ái hồi
Để diễn tả nỗi nhớ khi xa cách, chàng tri cảm tưởng sự xa cách người yêu của mình ii ding va diy dau đón như Thúy Kiểu xa Kim Trọng, mặc dù xa cách nhưng mong mong ngày ái hợp:
Anh xa em ngày thắng đeo phiên Càng như thể Thúy Kiểu xa Kim Trọng mười lãm niên đoạn Irường
Mượn hình ảnh Hán mới gặp Hồ, giống như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều,
ching tai gan lei hỏi tình cảm nơi cô gi, rằng cô có tỉnh cảm gì với anh Không,
hay 1a cô đã có đôi có cặp bỏ anh lại cô đơn phòng không một mình:
"Bữa nay Hón mới gặp HỖ
Tỷ như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều
Nên anh lối thật một điền
Cổ thương có nhớ nhu hay không?
“Hay là nàng đã có ching ing chịu phòng không một mình
31
Trang 36Nhiều khi nói thẳng tên người yêu, nghe thật sỗ sảng, nói ngay vào minh thì
cũng ngượng ngùng, nên người a cũng đi mượn chàng Kim, nàng Kiểu, nàng Vân thay bạn, thay mình cho đỡ thọn
Bóng ai thắp thoảng vườn hoa
nh như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vú Hoặc lắng nghe có tiếng "người của mình” đến thì gọi chệch ra là "tếng nhạc ngựa của chng Kim” cho đỡ khó ăn khô nồi:
“Đêm khuya trời lạnh sương im,
Thủ nghe rồng nhọc chẳng Kim tới gử
Khi nói đến sự quyền luy
đầy nỗi băn khoăn như Kim - Kiều
Di tình lẻ ở người đi day đứt chia xa, đôi lứa cũng cảm thấy sự biệt ly
Ciing nhự Kim Trọng biệt ly Thúy Kí
Có khi đó
ự so sánh tình cảm năng nhẹ trong tình yêu, cô gái mượn hình
ảnh Từ Hải chung tỉnh chờ đi nàng Kiể sau mười my năm lưu lạc để so ánh với
Thương nàng Kiều may nam?
'Cũng có khi là một lời thách thức trong tình yêu Cô gái thách thức chẳng
‘com ghen như Hoạn Thư inh kia thì cũng đừng tá
Anh mà bắt chước Thúc Sinh Thì anh đừng trách vợ mink Hoan Thue!
Va ri
nhiều câu ca dao ví tỉnh yêu của mình như mi tỉnh Thúy Kiều ~ Kim Trọng
= Ling dan long ai dé ding xiêu
ĩ nh Kim Trọng Thúy Kiểu thuở xưa
32
Trang 37= Séng Tién Dường cá lội giao dust Kiểu thương Kăm Trọng giả như tí thương mình
~_ Đingang trước cứu nàng Kiểu Đừng chân đúng lạ, dặt đu đổi câu Xin lên sơn lâm nhớ nguồn nước suối 4n ga0 ben bắc, nhớ buổi Đường, Nghễu
“Nhón chân lên vang tiếng: ø, Kiểu Trước có quen Kim Trọng, giữ có nhớ r nhiễu ch không?
~_ Xim Kim Trong trao trân gửi quạt Miri tam năm man mắc nh thương, Nay chit Kim Trong gap Kiều nương, Ahớ trâm trao quat go, chén regu quinh mong th mio!
= Lotlio eude an bén mic Bo-vo chim nhan l đối
“Điệu chung tình thăm lắm em ơi!
inhự Kim Trọng gá duyên nơi Thúy Kiểu
Ba nd duyên main tinh xu
"Nợ duyên đõi ng, gió hữu hu trên cảnh Thi hàm trắng điền tàn canh
"Để coi người ngọc, duyên lành trao di?
“Trong dân ca Việt Nam, những câu bát đồ và hát đối v Kí tất phong phú
“Trong những ngày hội thời xưa, có thể suốt đêm, nam nữ túm năm tụm ba lại đ hát
đồ và hết đáp toàn về “chữ nghĩa”, toàn về "sư tich” và “nhân vật" trong Kigu CO
nhiều câu đồ đáp vừa tải nh duyên đáng vừa đi đòm
Bên nữ lên tiếng đổ:
Nghe tin anh học tô tài,
“Đào tiên một cõi thiên tai ai rằng ? Bên nam liễn đáp
Thiên thai là của nàng Kid
Riéng chang Kim Trọng sớm chiều vào ra
33
Trang 38Bến nữ đó:
Truyện Kiều anh thuậc đã làu
"Đẳ anh k được một câu mười người Bến nam đáp,
"Đôi bên mười vị tướng quần
"Đặt gươm cởi giáp tước sân khẩu đầu Như vây, dân gian đã có cái nhìn đồng cảm, dầy chỉa sẽ, ũng hộ cho những tình yêu su sắc, mãn nằng của các nhân vật rong văn chương trung dại Dân gian
đã lấy những mỗi tình đẹp Ấy để vĩ von với những tình cảm yêu đương của những con người bình dân trong cuộc sống đời thường
34
Trang 39Chương 2
'NỌI DUNG THÊ HIỆN TÌNH YÊU TRONG THƠ NÔM
‘THE KY XV DEN THE KY XIX NHÌN TỪ VĂN HÓA DÂN GIAN
2.1 Tinh yéu trong han digu din te
‘Tinh yéu - hai tiéng ngin gon nhưng cũng đủ chứa đưng trong nồ vô số sự bất ngờ, cho đủ là ở bắt kỳ nơi đầu, cho dù là vào khoảng thỏi gian nào, Đó là một quy luật đã tôn tại từ muôn đời nay Nơi nào có tỉnh yêu, nơi đồ có sự toa sing Not nào có tình yêu, nơi đó có niềm hạnh phúc Đồng thi, cũng có những khổ đau, nhung nhớ, lo nghĩ với biết bao cung bậc cảm xúc Qua từng trang thơ Nôm viết
VỀ chủ để tình yêu đổi lứa trong mạch nguồn văn hóa dân gian, với pháp luật và lễ giáo phong kiến hoàn toàn không thừa nhân con người có quyển tự do yêu đương, 1w do kết hôn
ong mỗi tác phẩm Các tác giả khẳng định vấn đề tự do yêu đương, họ say mê
tiên gặp gỡ là mốc khởi đầu cho những câu chuyện tình yêu trong kho tảng thơ
'Nôm trung đại Thực tế đã nhiề lẫn chứng mình, tình yêu đổi lứa, sự quyển luyễn
lẫn nhau được sinh ra thông qua cái nhìn trong giây phút đầu gặp gỡ là một điều
hiển nhiên Khi đứng trước một nữa của đời mình, dường như có một điều khó lý giải nào đó, làm cho người tacô giác quan nhay bến để ny sinh ra một cảm xúc kỳ
lạ mà ta khó có thể cưỡng li được, đó chính là tình yêu Bởi vậy dân gian thường
i yéu bang tai, con trai yéu bằng mắt”, các bậc thánh hiển cũng cho rằng,
Trang 40“Trong các sing dân gian về ỉnh yêu đổi lứa, ta đễ đàng bắt gặp bắt kỳ đầu
"một tỉnh yêu nay nở kỹ diệu, mạnh mẽ ngay từ cái nhĩ đầu tiên, đó là một mỗi inh
võ cũng mộc mạc, giản dị, tự nhiên và cũng rắt người, rất đậm tỉnh như chính con người xưa
Gặp đây mận mới hỏi đào
Tườn hằng đã cổ ai vào hay chưa?
Main hỏi thì đào xi thưa THườn hồng có lỗi nhưng chưa ai vào
(Cadao)
Dân gian quan niệm: “Có duyên mới gặp, có nợ mới yêu”, con người gặp gỡ
nhau đô cũng là cái duyên, cái phận Chữ duyên, chữ phận có một ý nghĩa to lớn trong việc hình thành mỗi quan hệ giữa người với người
Hữu duyên thiên lý năng tương ngõ
õ tuyên đãi diện bắt tương phùng
“Thúy Kiều và Kim Trong nhân một buổi dao chơi tong
đã gặp gỡ nhau và nãy sinh tỉnh cảm yêu mễn ngay trong Kin
nhau, cảm xúc đầu tiên giữa hai người đó là ngập ngừng, e then, vương vẫn Vẫn
then thùng, nhẹ nhâng và án đáo mắ dù hai âm hồn, haiti tim da tinh da cm đã
tìm được tiếng chung:
"Người quốc sắc, kẻ thiên tải
Tình trong như đã mặt ngoài còn
“Trước tiếng sét ái nh, Kim Trọng vốn hào hoa, phong nhã đã làm chủ được tâm hồn trong một cuộc tình trường:
Chip chm com tin com mé
“ấn ngồi chẳng tin, đt vẻ chẳng Khôn
(Tnyện Kiều Nguyễn Du) Sau giấy phút đầu gặp gỡ ấy, "Kê thiên ti” đã mang theo hình bóng "người
quốc sắc" trở về nhà Thủy Kiều và Kim Trọng bên duyên tơ vương, ong lòng si
cũng ấp Ú những suy tư về nữa kia Trong lúc Kiễu băn khoản:
36