Luận văn Song tính trữ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường luật thể kỷ XVIII-XIX tiến hành nghiên cứu thơ Nôm Đường luật thể kỷ XVIII-XIX diện mạo và thành tựu, yếu tố trữ tình, tự sự trong thơ Nôm đường luật thể kỷ XVIII-XIX nhìn từ hệ đề tài và cái tôi trữ tình, yếu tố trữ tình, tự sự trong thơ Nôm đường luật thể kỷ XVIII-XIX nhìn từ phương thức thể hiện.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ,
TRUONG DAI HQC SU’ PHAM
PHAN THỊ THANH THANH
SONG TÍNH TRỮ TÌNH, TỰ SỰ TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỈ XVIII-XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
HUE, NAM 2016
Trang 2
ĐẠI HỌC HUẾ
TRUONG DAI HQC SU’ PHAM
PHAN THỊ THANH THANH
SONG TÍNH TRỮ TÌNH, TỰ SỰ TRONG THƠ NOM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỈ XVIII-XIX
“Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGÔ THỜI ĐÔN
HUE, NAM 2016
Trang 3MỤC LỤC Trang phụ bìa
Tải cam đoạn
Tôi cảm ơn
MoDAU
1 Mue dich, ý nghĩa đề tà:
2 Lich sirvin để
3 Đổi lượng và phạm vi nhiên cứu,
-4 Phương pháp nghiên cứu
5, Đông góp của luận văn
6 Bồ ce luận văn
NỘI DỤNG
'CHƯƠNG I THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THỀ KỈ XVIH - XIX - ĐIỆN MẠO 'VÀ THÀNH TỰU
1.1 Điện mạo thơ Nôm Đường luật thể kỉ XVHI-XIX
12 Thành tựu của thơ Nôm Đường luật thé ki XVIL-XIX
CHVONG 2 YÊU TÔ TRỮ TÌNH, TỰ SỰ TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG
7
7
12 LUẬT THÉ KỈ XVIII ~XIX NHÌN TỪ HỆ ĐÈ TÀI VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH 2.1 Hệ đề tài
2.1.1 ĐỀ tài tình yêu
2.12 Đề tài về thân phận người phụ nữ
z3
2.14 Đề di thế sự
3.15 Tiết lý nhân sinh và khí it nhà Nho
2.15.1 Tiết lý nhân sinh
Trang 4“CHƯƠNG 3 YEU TO TRU TINH, TY SỰ TRONG THƠ NÔM DƯỜNG LUẬT THÊ KỈ XVIH—XIX NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THÊ HIỆN 3.1 Ngôn ngữ
3.1.1 Ngôn ngữ dân tộc
3.12 Ngôn ngữ hiện thực kết "hợp với trảo phúng
3.1.3 Ngôn ngữ bộc lộ sắc thải cá nhân
3.1.4 Ngôn ngữ mang dấu ấn của văn học dân gian
3.2 Giọng điệu thơ
n
85 87
Trang 5trung đại Trung Quốc và văn học trung đại Việt Nam Thơ Nôm Đường luật có thể
ta đồi vào khoảng thể kí XI, ừ đầu thể kỉ XIV ở đi nên văn học chữ Nôm
là hiện tượng giao lau, tgp biến văn hỏa vẫn học
chung và thơ chữ Nôm nối iêng mới phát iển đáng kẻ Thơ Nôm Đường luật tổn tại các thể gồm: thất ngôn bất có, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bắt cũ, ng ngôn tứ tuyệt ngũ ngôn bài luật Thơ Nôm Đường luật là những bãi thơ được viết bằng chữ [Nam theo thể Đường luật (gồm cả những bài theo thé Đường luật hoàn chỉnh và những bài theo thé đường luật phá cách ~ những bài có xen câu lục ngôn vào thơ thất ngôn) Tuy nhiên để thường thức được cái hay, cái đẹp của những tác phẩm thơ Nôm Đường luật thể kỉ XVINI — XIX cần phải nắm rõ bản chất thơ Nôm Đường luật
vỀ phương điên nội dung và cả hình thức nghệ thuật Một trong những yêu tổ tao nên cái hay của mỗi bài tho Nom Đường luật là sự kết hợp hải hòn giữa "yếu /ổ
sự ” và "yếu tổ trữ tình” Hai yêu tỗ này hòa quyện, đan xen vào nhau tạo nên giá
tr của mỗi ác phẩm thơ Nôm Đường luật Mỗi một yếu tổ có những giá tị b
dạ biểu cảm, giá tị thẳm mỹ khác nhau Có th nồ
được vận dụng vào Việt Nam một cách cổ chọn lọ, t nhiễu thắm nhuẫn vào tr tưởng thơ ca Việt Nam lm phong phú thêm cho nên văn bọc Việt Nam và khiếp
ing tinh hoa Dường Thi da
nhân các nhà thơ Việt Nam đã chuyển nó thành của riêng mình phủ hợp với nén văn
‘hoa cia dan tộc
Nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn nbn xét:“‘Tho Nôm Đường luật là một thé loại độc đáo bậc nhất của văn học Việt Nam Một thể loại có nguồn gắc ngoại li nhưng trong quá trình phát triển lại trở thành th loại văn học dân tộc Thơ Nim
i mt ong những th loại có hành tựu lớn vào bậc nhất cũa văn
[Nam là tác gi tho Nom dinh cao giá tỉ của văn học đân tộc thuộc về thơ Nôm Đường
hạật *[49, tr 5]
Trang 6
“Trong các loại hình văn học chữ Nôm của nền văn học trung đại Việt Nam,
thơ Nôm Đường luật có vị tí vô cũng quan trọng Vị tí Ấy được khẳng định dựa trên quá trình phát tiễn trong suốt bảy th kỹ từ th kỹ XII đến hết thể ki XU
12 Trong ti
rink phát triển của thơ Nôm Đườn luật trái qua nhiều thăng trim, én thể kỹ XV được đánh gá là thể kỹ của thơ Nôm Đường Luật, với sự xuất hiên hai cột mốc, đứng ở vị tí hàng đầu là Quốc âm thi tip của Nguyễn Trãi và
“Hồng Đúc quốc âm th tập của Lê Thánh Tông Từ đây dòng thơ Nôm Đường Luật chính thức tổn tại và phát triển với tự cách là một loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo Đến thé ki XVIII vi XIX thơ Nôm Đường luật phát triển mạnh với các nhà thơ như: Hồ Xuân Hương, Trần TẾ Xương, Nguyễn Đình Chu, Nguyễn Công Tr,
“Nguyễn Khuyến lầm phong phú thêm và tạo bước khởi sắc cho thơ Nôm Đường luật giai đoạn văn học này
Năm rong hướng nghiên cứu từ góc độ song tính trữ tỉnh, tự sự, luận văn tập trùng nghiên cứu thơ Nôm Đường luật thế kỉ XVIIL- XIX, các tác giả têu biểu là
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần
“Tế Xương mà điểm trọng yếu làm hi
của 4 lác giả : Hồ Xuâ Khuyến, Trin TẾ Xương Để tiến đến mục đích đó, luận văn cũng phát họa quả
trình phát triển, tái hiện lại diện mạo thơ Nôm Đường luật trong văn học trung đại
Việt Nam thé ki XVIII - XIX Thong qua vige khảo sắt các nhà thơ này, luận văn gốp phin chi ra méi quan hệ giữa yêu t tự sự và yêu tổ tr tỉnh tong thơ Nom
và xác định những đặc điểm của nó về nội dụng ả nghệ thuật Hương Nguyễn Công Trứ, Nguyễn
"Đường luật giải đoạn này
Nghiên cứu thơ Nôm Đường luật từ góc độ yếu tổ tự sự và trữ tỉnh không phải là việc lâm mới, nhưng đứng ở th kỷ XXI, thế kỹ giao lưu và hội nhập tì việc
nhìn lại đi sản văn học đỉnh cao của dân tộc trong quá khứ để xem xét, đánh giá một
cách khoa học, khách quan là một việc lảm có ý nghĩ I
dinh chọn đề tả: “Song dính trữ từnh, ạ sự tong thơ Nôm Đường uật thể Kỉ _XVIII-XIX” làm luận văn thác sĩ
Trang 7
cứu tìm tôi và Khám phá giá tị nội dung và nghệ thuật của nó Nhiễu công tình
"nghiên cứu của ác tác giả rong nước đã quan tâm đến hiện tượng văn học này, Năm 1943, cuỗn Việt Nam vẫn học sử yếu của Dương Quảng Hàm xuất hiện lần đầu Trong công trình này, ừ sự phân tích, tác giả đãrút ra kế luận quan trọng:
"Van Nom của ta vẻ thé hy thứ XI, so với tước, tật cổ tiến bộ nhiễu ( ) các thể tho, hit noi, song that, lục bát đầu có phần khởi sắc và các văn sĩ ta đã nhiều khi
‘thot ly eat ảnh lướng của thơ văn Tâu mà diễn đạt t tướng, tink tình một cách
thành thực để sảng tạo một nên văn đặc biệt của dân tộc ta” [ 1T, tr 399]
"Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử gọi đó là “vấn clương te th”, xem như một cách dối lập với “ăn chương tữ ni”, cách gọi đó đã hàm chứa và mặc nhiên thừa nhận sự ồn tại của yêu ổ tự sự, trữ tình trong những tác phẩm Muôn giải bày thd
lộ tỉnh cảm không có con đường nào khác ngoài vige phi ké ra, thật lại những sự
việc lên quan dén tinh cam Ay
Dựa vào quan dim thi php hoe eta Jakobson, Đỗ Đức Hiễu đã ìm hiểu ý nghĩa thơ Nôm Đường luật của Hỗ Xuân Hương từ cấu trú biểu đạt trong bài Thể giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương và ông kết luận "HÀ Xuân [lương sảng tạo một
phong cách thơ Đường luật mới” [20, tr 87]
Đặc bit, trong cuốn chuyên luận Thơ Nôm Đường lật, Lã Nhâm Thìn đã nhìn nhận, nghiên cứu về những diễu kiện cho sư hình thành và phát triển của thơ Nôm Đường luật Khái quất quá tình phát triển của thơ Nôm Đường luật trong lịch
Sử văn học Việt Nam, Đồng thời, tác giả cũng để cập đến hệ thống chủ đề, đề tài, ngôn ngữ
Sự xuất hiện văn học chữ Nôm nói chung và thơ Nôm Đường luật nồi riếng
là bước phát triển mới thể hiện tính thẳn tự lấp, tự cường về mặt văn hóa của dân
{Ge Viet trong trong quan với văn hóa, văn học Trung Quốc Điều khẳng định này được thể hiện qua sự vân động và phát tiễn của đồng thơ Nôm Dưỡng luật tời trung đại theo hướng : Vita ké thira Dường luật Hán, vừa iẾp biển và sing tao theo
tinh thần dân tộc hóa, dân chủ hóa thể loại
Lã Nhâm Thìn cho rằng: “Thơ Nôm Dường luật là một hiện tượng va tiều biểu, vừa độc đáo, Tiêu biểu ở chỗ phân ánh những điều kí
«qué tinh giao lưu ti nhận văn học Độc đáo bởi thơ Nôm Đường uất tuy mô „bản chất quy luật của
Trang 8phòng thể thơ ngoại lại nhưng lai có vị tí xứng đáng bên cạnh các thể thơ dân tóc" [49,tr21]
[La Nhâm Thìn kết luận Có thể hẤy bội số chung nhỏ nhất của các yêu
"Đường luật được xác định bởi tỉnh chất Nôm của th loi
“Trương Chính rong bải viết Cha dng ta đã vận đụng các thổ loại vấn học
Trung Quốc như thế nào vào thơ ôm nhận định: “Cha ông ta khi chuyển sang sing
tác bằng chữ Nom, đồng thời cũng muỗn cởi xiỄng xích ra, bắt đầu từ Nguyễn
“Thuyền Nếu Hàn luật là thứ thơ Nôm ta thấy thịnh bành ở thể kỉ XV, từ Nguyễn
“Tri cho đến đời Hồng Đức thì nó không phất hoàn toàn là thơ luật Đường †4, r3} Trong quả trình nghiên cứu nhiều nhà nghiên cửu văn học nhận thấy thơ Nôm Đường luật không chỉ áp dụng luật Đường mà nó còn là sự giao lưu, tiếp biến các thể loại của văn học Trung Quốc để tìm ra một lỗi riêng làm phong phú thêm, cho thơ ca Việt Nam,
* Thơ Nôm Dưỡng luật là sự kết hợp hài hỏa giữa "yêu tổ Nôm” và "yếu tổ Đường
tác phẩm thơ Nôm Dường luậ Mỗi một yếu tổ có những giá t biểu đạt thẳm mỹ
khác nhau nhưng cũng có tính độc lập tương dối, có thể tách ra để nhận diện đặc
điểm của thể loại " [50 t.141] Tuy nhiền, tong một bài thơ Nôm Đường luật
“Thơ Nôm Dường luật được hình thành khá sớm, có thể bắtđầu từ thể kỉ XIV
«qua Quốc Âm tải tấp của Nguyễn TH, tuy nhiên mãi đn thể kỉ XVI, XIX thời ki dinh cao của thơ Nôm Đường luật mới phát triển khi sắc tr li bởi hiện tượng thơ
Hồ Xuân Hương Trần TẾ Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến Trần
Thanh Đạm nhận định: "Riêng thể thơ luật, tính từ Hỗ Xuân Hương, Bà huyện
“Thanh quan cho đến các bài thơ trường thiên liên hoàn của Nguyễn Đình Chiều (Điều Trương Định, Điều Phan Tông) các bi xướng họa giữa Tôn Thọ Tường và
Trang 9Phan Văn Trị đến các tác phẩm của Nguyễn Khuyến, Tủ Xương về sau, chúng ta cũng chứng kiến một sự nở rộ, đa dạng về nghệ thuật [12, tr 13]
Nhiễu công trình nghiên cứu bản riêng về thành tựu tho Nom Đường luật của
các tác giả trong giai đoạn này, nhiều luận án Tiến sĩ, luận văn cao học viết về giả
trị của thơ Nôm Đường luật tong văn học trung đại Việt Nam nói chung và thơ Nôm Đường luật giải doan thé ky XVIII XIX, nhung hiém có công trình nào quan tâm đến mỗi quan hệ giữa yếu ổ trữ tình và yếu tổ tự sự rong thơ Nôm Đường luật của chặng đường này
“rên cơ sở những tệp thụ thành tưu nghiên cứu của những người di trước và soi đây là những khám phá mangính chất tiên phong để định hướng cho việc tham, khảo và nghiên cứu, chúng tôi đ vào khảo sắt và nghiên cứu im hiễu song tính tự
sự, tình rong thơ Nôm Đường luật thể kỉ XVIHI ~ XIX ( khảo sắt các nhà thơ Nôm tiêu biểu của thể ki XVIII ~ XIX như: Hồ Xuân Hương, Trần TẾ Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trữ, Nguyễn Đỉnh Chiều Tuy nhiền, luận văn tập
trung chính vào 4 tác giả: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn khuyến,
“Trần TẾ Xương ) với mong muốn chỉ ra mỗi quan hệ về ính tự sự, trữ tỉnh trong thơ [Nom During lust thé ki XVII — XIX Trên cơ sở thẤy được vá trỏ và vị tí của các nhà thơ Nôm Dường luật thể kỉ XVIII — XIX trong tiến trình tiếp thu và Việt hóa thơ ca dân tộc, tạo nên diện mạo thơ Nôm Dường luật giai doạn này
3, Đối tượng và phạm vĩ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu Thơ Nôm Đường, luật thể kỷ XVIII- XIX Tuy nhiên, do yêu cầu của đề tải nên chỉ tập trung ở song tinh trữ tình, tự sự rong thơ Nôm Đường luật của các tác giả tiêu biểu: Hỗ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trân TẾ Xương,
3.2 Phạm vi nghiên
Luận văn giới hạn phạm vĩ nghiễn cứu song tính trữ tỉnh, tự sự của các nhà thơ Nôm tiêu biểu thể kỉ XVIHI~ XIX Các bình điện được chọn khảo sắt bao gồm:
hệ thống để ti, cái ôi trữ tình, ngôn ngữ và giong điệu
4 Phuong pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp
Trang 10= Phương pháp cu trúc - hệ thẳng: Nhìn các yêu tổ trong thơ Nôm Đường luật trong tính chính thể, bao gồm các yếu tổ tong hệ thống th loại
~ Phương pháp so sánh - đốt chu : đùng để nghiên cứu những nết tương đồng và iêng biệt ưong tư duy nghệ thuật, phương thức thể hiện của các nhà thơ
~ Ngoài ra luận văn còn sử dụng các lý thuyết thi pháp học, văn hóa học
khi trình bảy những vấn để cụ thể
= Vin dé sie dang vấn bản: Luận văn chủ yêu sử dụng những văn bản đã được phiên ăm và những văn bản này đã được nhiều người thửa nhận
5, Đồng gốp của luận văn
~ Đề tải “Song tính rữ tình, tự sự trong tho Nom Đường luật thể kỉ XVII- -XIX” bằng cách tiếp cân từ nội dung (hệ đề ải, cái
ï rữtình) và các phương diện ình thức như ngôn ngữ, giọng điệu Hy vọng sẽ chỉ ra được những đổi mới thơ Nôm Đường luật trên các bình điện chủ yêu góp phần dân tộc hóa th thơ này, mỡ Tông khả năng tiếp nhận của người đọc rong thời trung đại
Kết quả của Luân văn cũng góp phần khẳng định những thành tựu của văn
"học chữ Nôm nối chung và thơ Nôm Đường luật nói
của văn học trung đại Việt Nam,
6 Bồ cục luận văn
"Ngoài phần Mỡ đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính gồm,
3 chương
“Chương 1: Thơ Nôm During lt thé ki XVII ~ XIX din mao va thành tú
“Chương 2: Yêu tổ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường lu thé ki XVI —
XIX ohn tr hg đỀ ải và cái tôi trữ tỉnh,
“Chương 3: Yêu tổ uữ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường luật th kỉ XVIH —
XIX phương thức th hiện.
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1
‘THO NOM DUONG LUAT
‘THE Ki XVIII — XIX - DIEN MAO VA THANH TUU,
L1 Điện mạo thơ Nôm Đường luật thể kỉ XVII-XIX
* «Thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bãi thơ viết bằng chữ Nom theo
luật Đường hoàn chỉnh có cả những bải viết theo thơ luật Đường phá cách- những
bài có chen câu ngũ ngôn,lục ngôn vào bài thơ thất ngôn ” [48,tr 141]
"Nhà nghiền cứu Lã Nhâm Thìn cho rằng : “ diện mạo thơ Nôm Đường luật là điện mạo đường như không có ổi du thơ chập chững cũng như không có tuổi già [49, tr 5]
Từ th kỉ XII đến thé kỉ XVI, thơ Nôm Đường luật không phải là không có những thành tựu.“ Nhìn chung đó là năm thể kỉ phát tiển có nhiễu thành tu của thơ Nôm Đường luật Tuy nhiên trong năm thế kỉ đó, thơ Nôm Đường luật đã qua
hai chặng có những đặc điểm riêng khá rõ Giai đoạn Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân
đoạn đi từ thể nghiệm đến ổn định
triển rực rỡ nh
Hương là của thể thơ này Giải đoạn sau Hỗ Xuân Hương là gi
te sự phát tiễn cia tho Nôm Dường hụt, thành tưu không bằng trước nhưng vẫn
sõ những đồng góp to lớn " [ 49, tr.39]
Văn học Việt Nam thể kỉ XVIII - XIX vin gdm bai bộ phận văn học chữ Hin và văn hoe cht Nom, cả bai đều phát triển, tuy nhiễn giải đoạn này nên văn học chữ Nôm phát tiển rực rỡ hơn sau hơn một thể kỉ không có gì đặc sắc Ngày nay nối đến thành tựu văn học Việt Nam thể kỉ XVIHI= XIX, chủ yêu nói đến văn học chữ Nôm, mặc dù văn học chữ Hán không phải là không có những thành tựu
Lã Nhâm Thìn nhận xét: * Hồ Xuân Hương gần như là trường hợp duy nhất không vit với bắt cứ một ánh sắng của học thuyết tôn
lo nào, không một học thuyết chính tr nào từ phía trên doi xuống, Hỗ Xuân Hương là sự gii ôa hoàn toàn
7
Trang 12Khải giáo điều phong kiến Với thơ Hồ Xuân Hương, thơ Đường luật không còn ở địa vị “đẳng cắp trên” trong hệ thẳng th loại văn học trung đại, và với nhà thơ, thể thơ Đường luật đã xa phong cách trữ tỉnh trang nghiêm cao qúy đỂ đi vào cuộc sống đồi thường ” [49,r46]
Ho Xun Hương tổ cáo chế độ đa thể và nỗi đau thân phận của người phụ nữ
Bai tho “Lam fể ” của Hỗ Xuân Hương đã kích mạnh mẽ
tiếng nói đôi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi cho người phụ nữ
Ke dip chin bang, ke lan King
CChém cha cái kiếp lấy chẳng chung
"Năm thì mười họa hay chăng chớ
“Thả trước thôi đành ở vậy xong
(Lam lẽ- Hồ Xuân Hương)
“Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Dường luật tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đồng thời chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loi
‘Xu hung din chi héa thể thơ Đường luật là xu hướng manh mẽ nhất trong sắng tác của Hồ Xuân Hương Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật không còn địa vỉ
ở đẳng cắp trên trong hệ thống thể loi văn học trung đại, và với nhà thơ, thể thơ
"Đường luật đ rời xa phong cách trừ tỉnh trang nghiêm, cao quý dé di thẳng vào cuộc sống đời thường, đó là một cuộ cách tân đầy ý ngha" [49 r46]
Gop phần tạo nên điện mạo thơ Nôm Đường luật thể ki XIX là Nguyễn Công
“Tr, nha the thé hiện chí nam nhỉ, ảnh nghéo tho Nôm Nguyễn Công Trứ mang đâm dấu ấn tòi dai 1d nt, sing tie cia Nguyễn Công Trứ toàn thơ Nôm, chỉ có một bài chữ Hán là bài Tự Trào, Cách diễn đạt của Nguyễn Công Trứ trong thơ 'Nôm bình dị, mộc mạc, ời thơ gần gũi với người dân, nhiề bải thơ mang dáng vóc của bài ca dao, tục nữ
Một lưng một vốc kém chỉ mồ, (Cho biết chanh chua khế cũng chua
"Đã chắc bữa trưa chữa bữa tôi,
Trang 13Mà tham con giếc tiếc con rô
‘Trim điều đồ tội cho nhà oán,
Nhiều si không ai đồng cửa chùa Khó bó
thôn còn nói khéo,
ai có quấy vẫy nên hồ
(Trồ Đời - Nguyễn Công Trừ) Đến giai đoạn nữa thể kỉ XIX đất nước có những biến động lớn, thực din Pháp bắt
Pháp, người có tắm gương sáng về lòng yêu nước và trách nhiệm của người cằm
lầu xâm lược nước ta Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước chống
bút rong ý thức sảng tác của mình
“Chờ bao nhiêu đạo thuyền không Khim
‘Bim miy thing gian bút chẳng tà
(Đương Từ - Hà Mậu)
Những bai tho Nôm của Nguyễn Đình Chiếu phản ánh kịp thời những sự kiến lớn của lch sử dân tộc, thể hiện tắm long yêu nước của các nghĩa sĨ, và người ning din yêu nước Tỉnh thần yêu nước, chống Pháp của Nguyễn Đình Chiễu vẫn
mãi là
còn sắng mãi trong lông người ‘Nei sao sing trén
bẩu trời Nam Bộ”
Một gương mặt tiêu biểu tạo nên diện mạo thơ Nôm Đường luật thập kỉ cuối
củng của thể kỉ XIX là Nguyễn Khuyến ~ Thơ Nguyễn Khuyến có sự kết hợp gia trào phúng và trữ tình tạo nên những vẫn thơ mang diện mạo riêng:
"Đã bẫy lâu nay, bắc tối nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thôi xa
‘Ao stu nue ea, kon chai cá
Nam Bộ ông
‘Von rng ri thưa, Khó đuổi gà Cải chữa ra hoa, cả mới nụ Bầu vừa rụng rồn, mướp đương hoa Đầu tò tiếp khách, tu không có Đắc đến chơi đây ta với ta
(Bạn đến chơi nhà = Nguyễn Khuyn)
“Thơ Nôm Nguyễn Khuyến để lại ân tượng sâu sắc, là nhà thơ của làng mạc
và dân quê và là nhà thơ cổ én của mùa thu làng cảnh Việt Nam “Tai ning của
Trang 14"Nguyễn Khuyến là ở chỗ, ông chiếm lĩnh được thơ Đường luật, chiếm lĩnh được
trung hữu họa", chiếm lĩnh được khả năng diễn dat dén dinh cao
12,1283) lên cuối thế ky XIX, là nhà thơ
phúng và trừ tình như Nguyễn Khuyến, trào phúng của Nguyễn Khuyến là trào
phúng ở nông thôn, nhưng với Tả Xương là xã hội thực đần phong kiến ở thành thị
"Nhà thơ Tả Xương không nhằm vào mục đích mgôn ch, đhuật hoài mà thể hiện sự túng dung tự tại của một nhà Nho trước một xã hội đảo điên và thể hiện cái ngông
nghênh tự mãn của một con người thị dân:
phd Hang Nâu có phống sành Mặt thời lơ láo, mắt thời xanh
it râu inh vo, con bu nd (Quite mit khinh ds, ei b6 anh Bài bạc kiệu cỡ cao nhất xứ
Rượu ch trai gái đủ tam khoanh,
Thơ bắt nguồn từ chính cuộc sống, các nhà thơ không chỉ bằng lông với việc
«ling chi Hin sing tác mã ích cực sử dụng chữ Nôm, đồng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác, do đó bộ phân văn học chữ Nôm ph
cũng là biểu hiện lòng tự hào về dân tộc, để
[Nom Đường luật th kỉ XVII — XIX chúng ta gặp những đề tài phổ biển của văn
triển mạnh mẽ Việc dùng char Nm
ao tiếng nói của dân tộc Trong thể thơ
"học giai đoạn trước, đó là thể tài ịnh sử và vịnh thiên nhiên, nhưng giai đoạn này sắc nhà thơ không còn ngụ ý của những bài học về đạo đúc Nhà thơ viết về thiên nhiên là để nối lên xúc cảm của mình trước những đối tượng ấy, đồng thời qua đó bộc lộ nhận thức của mình về những vẫn đề của cuộc sống ĐỀ tải cơ bản rong thơ
10
Trang 15'Nôm Đường luật giả đoạn này chủ yêu là những vẫn để thiết yêu của cuộc sống, sắc nhà thơ viết vỀ chiến tranh phong kiến, những tải họa của nó như trong thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Dinh Chiễu hay các nhà thơ viết về sự thối nát của
kí
thống tị, về cuộc sống khổ cực của
“Xương Thơ Nôm Dưỡng luật đã bắt đầu thoát khôi loại tho Thi
h hiện thực đời sống đa dạng của con người Do,
kể, đưa thơ về gần với cuộc sống hơn Đây cũng là quá tình dân tốc hóa và dân chủ hóa thể thơ Đường luật ở Việt Nam Thành tựu của thơ Việt Nam ở thời kỳ này có những đồng gớp tích cực của các nhà thơ Nôm Đường luật như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trữ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
“Chờ bao nhiều đạo thuyền không khẩm
‘am mấy thẳng gian bút chẳng tà
(Dương Từ - Hà Mậu, Nguyễn Đình Chiều)
TH câu thơ mang đến cho \ một quan niện văn chương thời tung đại, đồ là
quan niệm “săn di tai đạo” Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ mù ông không thể cả
giáo và đánh gie thì ông sẽ cằm bút để ấn công dịch trên mặt trận tư tưởng tính thần
“Có thể nồi rằng tính chất thời sư đã chỉ phối đời sống dân tộc và làm thay đổi diễn mạo thơ Nôm Đường luật th kả XIX, giai đoạn thế kỉ XVIHI thơ Nôm Đường luật thường hướng vào đồi sống riêng tư của con người như giải phóng tỉnh cảm cá
i XIX đường như biển mắt để nhường bước cho sự phát triển một chủ để mới có
tính thời sự hơn, Đó là chủ để yêu nước trong thơ văn cụ th là văn chương yêu nước chống Pháp trong thơ Nguyễn Đình Chiếu Ông đã thay đổi chủ để văn học cho thời ki này đó là Không để cập đến nội dung giáo huắn đạo đức chung chung
cho con người mà nhà thơ chuyển sang đề tỉ phản ánh cuộc sống của những người dân rong nỗi đau đất nước bị chỉa cắt, kêu goi nhân dân đứng lên chéng gite, di thay đôi nội dung nhưng truy thống nhân đạo và hiện thực thì vẫn luôn tồn tại và
Trang 16"manh nha sang thế kỉ XIX, nó đã trở thành một lân sóng vô cùng mạnh me đó là truyền thống yêu nước Dù tuyển thống này không phải là mới nhưng truyền thông nay di vio tho Nom Đường luật của các nhà thơ Nôm tiêu biểu của th kỉ này một
diện mạo mới đó là văn học phục vụ chính trị và khi thơ Nôm Đường luật là công
cụ đấu tranh chống xâm lược
Với Hồ Xuân Hương và Trị “TẾ Xương theo xu hướng dân tộc hóa và thậm
chí tên con đường đi đến hiện đại hóa văn học, đặc iệtlà Hỗ Xuân Hương theo xu
"hướng dân chủ hóa thể thơ Dưỡng luật một cách mạnh mẽ trong nỀn văn học trung đại Việt Nam
Trần TẾ Xương, Nguyễn Khuyến là hai ác giá đã chuyển thơ Nôm Đường luật từ văn học rung đại sang văn học cân ~ hiện đại Do sự phát triển của xã hội,
48 dp ứng nhu cầu phân ánh và nhu cầu thưởng thức mới, văn học dân tộc xuất hiên những thể loại khác thực hiện tốt chức năng xã hội và chức năng thắm mĩ mà
"Đường luật Nôm không vươn tới Sỉnh mệnh nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật chấm đứt khi chữ Nôm không còn được dùng trong sing tác
“Thơ Nôm Đường Ì thế kỉ XIX có thành tựu nỗi bật đồ là sự
»t giai đoạn cu làm cho
kế thừa truyễn thống và cách lối điễn dạt bớt chung chung, ước lệ mà
thay vio đó các nhà thơ bám sắt đời sắng như thơ trào phúng của Trần Tế Xương và
"Nguyễn Khuyến tổ cáo hiện thực, tao nề tiếng cười và chất sống của nó có phần nỗi
ð hơn trong thơ trữ tỉnh, các bài thơ ổ cáo hiện thự xã hội xuất phát từ hiện thực dồi sống để khi đọcthơ 1a có thê hiểu được những vẫn đ cuộc sống dâng đặt ra
“Trong tho Nom Đường luật từ thể kỉ XVII ~ XIX, chúng ta thấy các nhà thơ
đã kết hợp hải hòa các yêu tổ tư sự và tr tỉnh, làm cho trung đại Việt Nam thoát dần ra khôi loại thơ Tự tình để chuyển sang loại tha a tinh, da thơ về gần với đồi
Văn học trung đại giai đoạn thé ki XVIII ~ XIX phat wién rự rỡ và đây được coi là giai đoạn phát triển mạnh của văn học trung đại Việt Nam, thành công,
"2
Trang 17cả về mặt nội dung, nghệ thuật và cả thể loại cũng như có sự chuyển biến trong tw
tưởng sắng tác của các nhà thơ Bộ phận văn học chữ Nôm lúc này phát triển nhanh,
đặc biệt là thể thơ Nôm Đường luật, góp phần thể hiện phong phú những nội dung
mã thôi đại đang đặt ra và có những cách tấn đáng kế về mặt hình thức biễu hiện
Góp phần tạo nên thành tựu rực rỡ của thơ Nôm Đường luật giai đoạn này phải kể đến các tên tuổi tiêu biểu Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Đình
CChigu, Nguyễn Công Trú, Nguyễn Khuyến, Trần TẾ Xương
“Thơ Nôm Dường lut thường diễn tà tâm trang bay một cảm xúc nào đó của nhà thơ trước cuộc sống Dung lượng của thể loại hạn chế và cách luật chất chế Tuy nhỉ
pham của th loi, ìm cách phá vỡ quy phạm ở những phương diện có thể thay đổi được để thể hiện khả năng sáng tạo dồi ào của họ và đưa thơ về gần với hiện thực
sắc nhà thơ sẵng tác thơ Nôm Đường luật không chấp nhân những quy
đồi sống Nhiều nhà thơ đã có những cách nhìn mới về hiện thực cuộc sống, về con người Cải nhìn đa dạng đã bắt đầu được khơi mỡ tao ra những biến đổi mới trong thể giới nghệ (huật thơ Dưới ngồi bit cia Bd chia tha Nom Hd Xun Huang, thơ [Nom Duong luit duge vn dung theo husng din we hia wigt dé trong Khusn Kh
thể tài cho phép, bả vận dụng những câu thơ đối nhau trong thê thơ Nôm Đường
luật để tạo ra những thể đối lập, tương phản ding vio mye dich chinh trào phúng và
đã kích những bắt công, thối nát của xã hội Bà đã đưa một thể thơ vốn đãi ác, trang trong sang một nội dung thông tục, hùng ngày của cuộc sông vào văn học một
cách tự nhiên, bộc lộ khát vọng thành thực trong cuộc sống Thơ Nôm Dường luật của bà Huyện Thanh Quan lại xuất hiện dưới dạng cổ diễn, niềm luật chất chẽ, nội dụng trang nhã và âm hưởng thơ đồi dào, bắp dẫn Điều này tạo cho diện mạo thơ Nôm Đường luật một n£t riêng, độc đáo nhưng không kêm phần sâu sắc "Lã một
thể loại văn học, thơ Nôm Đường, luật có *
“ Sinh mệnh nghệ thuật ” thơ Nôm Đường luật cỉ
được diing trong sáng tác " [491tr S1]
"Nhìn chung thơ Nôm Đường luật giai đoạn nay phát triển rục rỡ cả về số lượng lẫn chất lượng và đạt được nhiều thành tựu nghệ thuật đáng kế đánh đầu một
"mốc son sing chói cho văn họ trung đại Việt Nam Lã Nhâm Thìn ch làm ba gi!
đoạn: giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn cuối, phát triển trong
bây thế kí từ thể kỉ XHHL đến hết thể ki XIX Trong quá trình phát triển tho Nom
B
Trang 18"Đường luật các nhà thơ trung đại không ngừng ếp thu những tỉnh hoa Đường luật cia Trung Quốc, họ biết Việt hóa sáng tao chứ không hề rập khuôn sao chép một cách máy móc, điều này đã tạo dâu ấn riêng của con người, ắt nước và bản sắc văn hôn Việt
“Giai đoạn văn học Việt Nam thể kỉ XVIHI - XIX, các nhà thơ phản ảnh đời
họ không bằng lòng với việc dùng chữ Hán để
với tư duy và cảm quan của người Việt, kể cả người sáng
ở giai đoạn này,
qua và chứng mình sức sống của loại hình văn học Nôm nói chúng va tho cha Nom nối riêng Trong bối cảnh đồ các nhà thơ sáng tác nhiều bài thơ Đường luật bằng chữ Nôm và được truyền tụng và được người đọc tiếp nhận rộng rãi Đây là điều Xiên cho thơ Nôm Dưỡng luật phát iển ở thé ky XVII thé kỹ XIX Nhiễu bình
lên của thơ Nôm Dường luật giai đoạn này đã có những thay đổi đáng kể
* Hệ thống đề tài, chủ để trong Thơ Nôm Dường luật thé ki XVIII ~ XIX côn thực
"hóa thể loại Nói cách khác, phần cách tân, sáng tạo của Thơ Nôm Đường luật trong
lên quá trình cách tân và sing tạo theo xu hướng dân chủ hóa, dân tộc
tương quan với sự vận động và phát triển cả nội dung và hình thức là kết quả của sự
trường thành của ý thức dân tộc Sự ra đời và quá tình vận đông, phát tiển của đồng Thơ Nôm Đường luật từng bước khẳng định vị thể của mình với tư cách là một th loại văn học dân tộc ” [66]
Hiện tượng đưa yếu tổ dân gian vào thơ Nôm Đường luật, cũng như vấn đề
dân tộc hóa, chủ hóa trong thơ Nôm Đường luật đi thành một vấn đề phổ
biến trong thơ Nôm Dưỡng luật thé ki XVII - XIX Giai đoạn này địa vị văn học chit Nom và những thể loi văn học dân tộc như thơ Nôm vit theo thé Đường luật dạt đến đỉnh cao Trong văn học chữ Nôm thể kỉ XVIM = XIX ít cố văn xuôi nghệ thuật thơ vẫn là chủ yếu, thơ Nôm trữ tỉnh ở thời gian này chủ yếu được viết bằng thé Đường luật, bất nồi và song thất luc bát, còn thơ tự sự được viết bằng th lục bất, Các nhà thơ Nôm: Đường luật đã biết vận dụng hài hỏa các yêu tổ ự sự và trữ
"4
Trang 19tinh vio trong thơ một cách nhuần nhuyễn, tạo ra kh năng da dạng cho thể loại, mở Tông khả năng phân ánh thể giới hiện thực Dưới ngôi bút của Hồ Xuân Hương, Trần TẾ Xương, Bà Huyện Thanh Quan thơ Nôm Đường luật được vận dung theo hướng
hóa triệt để trong khuôn khổ mã thể tài cho phép,
iw hi
Qui cau no nho miếng
"Này của Xuân Hương mới quệtrồi
Có phải đuyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi
(Môi trầu ~ Hồ Xuân Hương) Bài tho Mot rdw vin trong khuôn khổ thơ thất ngôn tứ tuyệt, nhưng vóc
dáng là chữ Nôm, một hồn thơ dân tộc Việt Nam Thứ chữ “ôm na mách qué” 46
đã tạo một cái nhìn mới đầy cá tính nganh ngạnh, điều này tạo nên hiện tượng thơ độc đáo Hồ Xuân Hương Tuy nhiên xã hội phong kiến thời bấy giờ chưa chấp nhân
“ái tối "với lãi xung danh trự tiếp “Xuân Hương” như vậy Nhưng người phụ nữ bánh ở đây lại đấm tún vào chính mình và khẳng định cái tôi cá tính bướng bình,
ai góc đẩy bản lĩnh và có phần cao ngạo với thói đời bạc bẽo Hành động “mới
cqut ” hết sức khiêm tốn, chân thành và thẳng thắn pha chút ngông ngạo đã tạo nên
THồ Xuân Hương Miếng trầu có thể không khéo léo tong cách têm, thâm chí là“ miếng mẫu hối", nhưng rên tắt cả là tắm chân tình đám nổi thẳng vào thụ tai và là lời mỗi chân thành nhất
`Ý thức về thân phân, rhương ưn, xót thân thâm thía nhất, đó là cách tự khẳng định mình Hay ý thức về “;lân phối” trong thơ Hồ Xuân Hương
(Ghế mắt trồng ngang thấy bảng treo Kia đền thi thú đứng chéo léo
"bản sắc riêng của con người cá í
“Chữ tài liền với chữ tai một vần
"Đã mang lấy nghiệp vào thân,
15
Trang 20“Cũng đùng trích lẫn trời gần trời xa Thiện căn ở ti lồng ta,
“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ ti Lời quê chấp nhặt đông
“Mua vui cũng được một vải tri
(Tmyện Kiều - Ngyễn Du)
tự sự, tữ tình trong thơ Nôm
“Thể cũng bia xanh, cũng bảng vàng
(Tự Trào ~ Nguyễn Khuyén)
“Trong những tác phẩm thơ Nôm Dường luật các nhà thơ thường phản ánh những vin dé vé tw tuéng, tỉnh cảm và những mỗi quan hệ xã hội cũng như phản
nh đời sống tâm hồn của con người Việt Nam Trong văn hoe Vigt Nam thé ki XIX
sắc nhà thơ Nôm kế thừa truyền thống văn học dân tộc ở giả đoạn trước, sing tao trong một bỗi cảnh lịch sử mới * Ý thức dân tộc trước cuộc chiến đẫu chẳng
"ngoại xâm chính là ngọn nguồn cho sự thẳng nhất và ý thức dân tộc cũng là ngọn nguồn cho sự phong phú của văn học giai đoạn này ” (32, 625}
Nhà thơ miền Nam Nguyễn Đình Chiều đã tạo được tiếng vang lớn với các
thơ phản ánh cuộc đầu tranh quyết liệt của nhân dân Nam Bộ chẳng Pháp, sự hy sinh của nghĩ
cho mang tho Nom Đường luật về để tải quê hương làng cảnh, dân tỉnh Việt Nam,
nỗ ưu thời mẫn thể trước bì kịch của lịch sử và bỉ ịch của chính nhà Nho Thơ
"ôm giải đoạn này khai thác các vấn để hướng vào con người, lim cho vin hoe gin
nghìn dân Nhà thơ Miễn Bắc Nguyễn Khuyến tạo được dẫu ấn
gii với đời sống con người, các nhà thơ Nôm không bàn về tiết lý đạo đức thời
Trang 21"khiến thơ Nôm Đường luật Việt Nam mang sắc thái của dân tộc Việt Nam như câu
thơ bảy từ xen cầu su tử hoặc câu sâu ừ xe câu bảy từ
“Quân thân chưa báo lông canh cánh, Tình phụ cơm trời áo cha
(Ngôn Chí 7, Nguyễn Trãi) Bán lợi, buôn danh nào nhượng kể,
“Chẳng nên mặc cả một đồi lời
(Chợ Trời, Hỗ Xuân Hương)
“Chẳng phải Ngô chẳng phải ta, Đầu thì tre lốc, áo không tà
(Sư hỗ mang, Hỗ Xuân Hương)
“Thực tế này đã chứng tỏ cha ông ta trên cơ sở vay mượn đã dần biến thành
cái mới tạo bản sắc riêng, đầu ấn riêng trong thơ 1m Dường luật Việt Nam Trong,
cquá tình kế thừa và phát rin tho Nom Dường luật, các nhà thơ côn thực hiện quá trình cách tân và sáng tạo theo xu hướng hiện đại hóa, dân chủ hóa nhưng vẫn luôn
‘dam bao bản sắc của dân tộc, tạo nên thành tựu lớn cho văn học Việt Nam trung đại
“Thơ Nôm Đường luật ở chăng đường trước thường hướng đến các để ti, chủ
đỀ mang tính ước lệ, uy pham như: vịnh năm canh, thiên nhiên: phong ñoa, yết,
"guyệt nhằm thể hiện thú hưởng ngoạn của một bậc trí nhân quân tứ đồng thời gắn
ới tự tưởng sng cỗ và mục đích giáo huần chủ yếu theo tinh thin Nho giáo Thơ [Nom Đường luật giai đoạn th kỉ XVIII ~ XIX di di theo hướng chủ đề mới, không
bi ring bude bởi những quy ắc cũ, nghĩa là các nhà thơ đã sử dụng các loại đ tả gÌn gũi với cuộc sing đời thường, bắt nguồn những vấn để từ thực tẾ cuộc sống, đặc biệt là thân phận người phụ nữ được nói đến nhiều nhất trong thơ Nôm Đường
luật giai đoạn văn học này Ho
những con người có thân phận vô cùng nhỏ bé,
cuộc đời của họ long dong lận đân Họ phải sống tong một chế độ xã hội phong kiến lạc bầu, trọng nam khỉnh nữ, người phụ nữ không có chỗ đứng và đị vỉ trong
Trang 22hội VÌ vậy, những người phụ nữ có ải như Hỗ Xuân Hương thường không được soi trong và luôn luôn chịu nhiễu bắt hạnh, tỉnh duyên lần dân
Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nỗi, bạ chìm với nước non
lầu tay kẻ nặn
tm long son
(Bánh troi nude —Hé Xudn Heong)
Can khuya ving ving trồng cạnh dồn
‘Teo edi hồng nhan với nước non
(Te tinh UH Xuan Hương )
Kế đắp chăn bông kẻ ạnh lùng CChém cha cái iếp ấy chồng chung
'Năm thì mười họa hay chăng chớ,
‘Mt tháng đôi lần có cũng không,
“Cổ đấm in xôi, xôi lại hắm
“Cầm bằng làm mướn, mướn khôn
, (ầm lẽ HỖ Xin Heong)
“Thơ Tú Xương giai đoạn còn phân ảnh đồi tơ, vết về người vợ thân yê của ình Tú Xương lấy vợ từ năm 16 tổi,bà là Phạm Thị Mẫn, sinh ra từ một đông họ
lộng nhiều người đỗ dat Bà đã di vào thơ Tú Xương như một nhân vật điển hình của người phụ nữ Việt Nam tin tio, thủy chung Tú Xương đã phá vỡ quy phạm của văn học phong kiển, đưa vào thơ hình ảnh của người vợ đồi thường, thâm, chí làm thơ ca ngợi vợ và người ta còn gọi là */áơ sống vợ'
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Thôi đủ năm con với một chẳng
Ln lội thân cỏ khi quảng vắng
Eo sto mgt muse bud dd dng
Một duyên hai nợ, âu đảnh phận
Trang 23Và có kh Tú Xương tự nhân mình là người nịnh vợ:
6 phd Hang Nau có phỗng sành Mặt thời lo io, mt th xan 'Vuốt râu nịnh vợ, con bù nó
'Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh
Hg thing nga ngữ thơ mộc mạc giản dị, bình dân gần gũi với đời sống nhân dân và con người Việt Nam chứ không tuân thủ theo quy định ngôn ng, hình ảnh tước lệ, trang trọng như thơ ở chăng đường trước
“Quả cau nho nhỏ miếng trằu hồi Này của Xuân Hương mới quệt rồi
“Có phải đuyên nhau th thắm hà,
'Đừng xanh như lá bạc như vôi
(Mời trầu - Hỗ Xuân Hương)
Bn cột khen ai khéo khéo trồng
"Người thì lê đánh, kẻ ngôi tông Trai đụ gối hạc khom khom cật
vốn lưng ong ngữa ngửa lông
"ổn mảnh quần hồng bay phát phối
"Hai hàng chân ngọc duỗi song song
“Chi xuân aĩ bit xuân chăng tí Cðt nhỏ di rồi, lỗ bồ không
(Đánh đụ- HỖ Xuân Hương)
9
Trang 24Ngoài ra “tự rảo "cũng là nội dung thơ Nôm Đường luật giai đoạn này, đặc biệt của thể ki XIX, mie di trước đó vào thể kỉ XVIII đã xuất hiện ở thơ Nguyễn Binh Khiêm nhưng đó là nụ cười nhẹ nhàng, thâm thủy Ở đây tự rà, tự phú nhân như là đặc điểm quan trọng tạo dấu n riêng tong thơ Nôm Đường luật thé ki XIX,
là giai đoạn cuối cũng của thơ Nôm Dường luật nhưng vẫn có thình tựu rực rỡ với
"hai tác gia lớn cuối cùng : Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Thơ tự trảo các nhà thơ
thưởng viết về cái nghèo, tự giều mình, than nợ, tiếp tục xu hướng trảo phúng của thơ Nôm Dường luật, kết hợp trào phúng với tữ tỉnh để tạo nên tiếng cười hớm hinh, chua cay, Đó là sự tự cảm nhân về sự bất ực của những con người có ý hức, nhân cách lớn, tự trách mình quá kém cõi, tim thường trong hoàn cảnh nước mắt nhà tan
CCó ai muốn biết tuổi tên gì, Vừa chẵn hai mươi, gọi chú LÌ Năm bây bài thơ ngâm lêu láo, Một vải câu kệ tụng a
“Tranh vờn sơn thủy mâu lem luốc,
"Bầu giốc cản khôn giong bét be Miễn được ngày nào ngang đọc đã, Sống thì nuôi lấy, cht chôn đ!
(ự Trà- Phạm Thái) Cái khó theo nhau mãi thể thôi
C6 ai, hay chỉ một mình tôi?
Bạc đầu ra niệng ma mong được?”
“Tiền chữa vào ay đã hết
‘Van ng Kim hi tran nu
h thân thuở trước đi làm quách
Chạy ăn từng bữa toát
Bi
“Chẳng kí, không thông, cũng cậu, bồi
(Than nghèo- Trằn Tổ Xương)
"Với Nguyễn Khuyến và Trần TẾ Xương, nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật
được mở rộng và thơ Nôm đã trở thành chức năng phản ánh xã hội với những tình
sinh động phong phi chir king chi bo hep trong “it rink đi sự ” nên người
20
Trang 25
đọc thấy được xã hội thị dân trong thơ Tú Xương, chất mộc mạc làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến Hai tác giả này đã góp phẩn cho thơ Nôm Đường luật giai doạn cuối có được dấu ẫ iêng
“Thơ Nom Đường luật hình thành và phát triển từ khoảng th kí XI và kết thúc khoảng cuối thể kỉ XIX với các cây bút tiêu biểu như Nguyễn Khuyến, Trần TẾ Xương Từ khi hình thành và phát triển rải qua nhiều bước thăng trần
Bà Huyện Thanh
Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đã
nhưng phát triển đỉnh cao là ở chặng đường này Thơ Nôm Đường luật c
thực sự gbỉ dẫu ấniêng rong tiễn tình văn học chữ Nôm nối chung và thơ Việt nồi riêng Thành tựu của thơ Nôm Đường luật chứng tỏ khả năng tiếp biển và sắng tao sửa các nhà thơ Việt Nam trên cơ sở ý thức dân tộc và bản nh của người Việt
Trang 26“Từ điển thuật ngữ v hoc viet: “De tai là khái niệm chỉ các hiệt
sống được tmiễ tả, phân nh trc tp trong sng tác văn bọc, ĐỀ là phương điện Khách quan của nội dung tác phẩm I8, 96)
‘Tho trung dại Việt Nam chịu ảnh hưởng của thơ trung dại Trung Hoa về cả cquan niệm thơ và hình thúc thể loại Tuy vậy, trong qué tinh phat tiển các nhà thơ Việt Nam đã tìm céch sing tao lại cho phù hợp với quan niệm về đời sống, về chức năng của văn học, về hình thúc thể loại ĐỀ tải trong thơ cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Trước đây, thơ Nôm Đường luật còn chịu ảnh hướng của quan niệm Thí ngôn chỉ nên đỀ ải trong thơ tô khả năng mỡ rông, yêu tổ
ign phát tiễn, ti rong thơ Nôm Đường luật thé ki XVIII ~ XIX et phong phú
đa dang, các nhà thơ thường dé cập đắn những vấn dé dat nước, thời đại, con người
tình khó có điều
Nói chung thơ Nôm Dường luật đề cập đến mọi phương diện của đời sống con
"người, kể cả những đỀ tài mangtính ịch sử, những đề tải gắn iễn với đồi sn tâm
h yêu được thểhiện trong sing ti sửa Phạm Thi đặc biệt là thơ Hồ Xuân Hương với khát vọng nh cảm và hạnh phúc Ha đôi Nỗi đau của tỉnh duyên không trọn vợn rong thơ Hỗ Xuân Hương,
"một tỉnh yêu chân thành mãnh iệt
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hồi
2
Trang 27"Này của Xuân Hương mới quật rồi
“Có phải duyên nhau th thắm lại, Đừng xanh như lá, bạc như vi
(Mời tầu - HỖ Xuân Hương)
Hai câu đầu là yếu tố tự sự, nha thơ giới thiệu quả cau, miếng triu và mời trầu, hiện thực được tái hiện qua cảm xúc miêu tả miếng trằu Hai câu sau nhân vật
trữ tình bộc bạc
"hát tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ cũng được thể hiện một cách chân thành
nguyện vọng trong quan hệ tình cảm lứa đôi Những ước mơ, khao
đến nồng nàn cháy bông Giữa cuộc đồi xanh như lá bạc như vôi, người phụ nữ chỉ sầu mong được hưởng những tỉnh cảm chân thành, im áp để có thêm nguồn vui,
"nguồn an ủ, Lời cảnh tính nhẹ nhàng mã thắm thía én chứa trong bải thơ có sức lay động lòng người
“Xuất phát từ đời sống hiện thục các nhà thơ ở giai đoạn này đ viết nhiễu bãi thơ về đề ải tỉnh yêu, Hồ Xuân Hương là trường hợp tiê biểu Xut phát từ cuộc đồi thực của nữ sĩ họ Hỗ ta thấy ở bà điều đau khổ nhất lưu vết trong thơ Nôm của
vé tinh thẫn đó là nh yêu, Hồ Xuân Hương là người phụ nữ da tài nhưng cũng là
"người muộn chẳng, khi lấy chẳng thì cũng chỉ là làm lẽ, làm lề đến hai lần và đều chịu cảnh chồng chung bà bai lần lẤy chẳng và cả bai lần đều làm lẽ, một lẫn lấy lề
“Tổng Cóc, một lần làm lẽ Phủ Vĩnh Tường
Hồ Xuân Hương làm lề lần đầu với Tổng Cóc, một cường hào đất chữ xì Vây chẳng có sự cân xứng và cũng chẳng có ỉnh yêu nên khi chẳng chết Hỗ Xuân Huương có làm thơ khóc chẳng nhưng với lời lẽ trào phúng dĩ dôm chữ không đau
xót thật sự của một người vợ mắt c
i Ching Cc oi ! ching Cée ot Thiếp bến duyên chẳng có thể tôi
"Nông nọc đứt đuôi từ đây nhé, 'Nghĩn vàng khuôn chuột đấu bồi vỗi
(Khóc ông Phả Vĩnh Tường ~ H Xuân IIrơng) Khóc chồng mà không có vẻ gì thương xót, dau lòng Tiếng khóc pha chút tưng từng, cười cợt,giễu nhai Nhưng trên hết nó là lời uyệt tỉnh nhắn gửi đến
2
Trang 28người chẳng phụ bạc, nhẫn tâm: Nông noe đứt đuối từ đây nhé, điều này khẳng định dứt khoát chẳm dứt tình cảm vợ chẳng giữa bai người bằng hình ảnh “Đẩy bói với” đô một quan niệm dân gian nếu bôi vôi vào lưng cóc ủi đi đâu rồi cóc cũng lại tâm về, nhưng với Xuân Hương đấu bôi vôi cũng mắt rồi Ngàn vàng khôn chuộc,
có đem ngàn vàng ra mà chuộc cũng không chuộc lại được mối tỉnh ấn
nhân thứ hai cũa Hồ Xuân Hương sau Tổng Cóc là Phủ Vĩnh
ảnh làm lẽ, mà Hồ Xuân Hương đã từng “chém”, nhưng hôn
nhân tình yêu đường như không dành cho Hồ Xuân Hương và một lần nữa bà lại
khóc chồng Ông Phủ Vĩnh Tường ắt yêu chiêu Hồ Xuân Hương và coi trọng bà là bạn văn chương Tuy nhiên hạnh phúc ngắn ngủi với ông Phủ Vĩnh Tường chẳng
kéo đài được bao lâu
Vay là cuộc đời của con người tải hoa bạc mệnh Hỗ Xuân Hương lại gặp sóng gió khi ông Phủ Vĩnh Tường đột ngột qua đời sau khi kết duyên với bà vồn ven được hai mươi bảy tháng Cái chết của ông Phủ Vĩnh Tường để lại cho HỖ
"Xuân Hương một nỗi thương xót khôn nguôi Bà đã làm bai thơ Khóc ông Phủ Vĩnh
“Tưởng với lồi lẽ chân thành, nh nghĩa, tếc nuôi
Trăm năm ông Phi Vinh Tum i Cai no ba sinh data 8
(Chin chat văn chương ba thước đất
"Tung hề hồ tỉ bổn phương tời
“Cấn cân tạo hóa rơi đâu mắt
"Miệng túi cần khôn khép lạ tồi Ham bay tháng trời đã my chốc
“Trâm năm ông Phũ Vĩnh Tường ôi
(Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường- HỖ Xuân Piương)
“Cuộc đời của Hồ Xuân Hương là một cuộc đồi thứ thách,
*u tranh tự tưởng khi uôi mới lớn, ba lần Tấy chẳng rồi ở giá, nhưng Hỗ Xuân Hương là một phụ nữ nhay cảm, dễ nung động và luôn trên hành trình tìm kiểm tỉnh yêu nhưng cảng tìm lại cảng rơi vào bì kích tỉnh yêu cho nên nữ sĩ rơi vào một trang thi chai i vi ngang nganh, cả cuộc đời Hồ Xuân Hương dang tim kiểm cho chính mình đổi tượng, tình yêu mà xung quanh bà vẫn trồng không và phủ phiểm
Trang 292.1.2 Dé tat vé thin phận người phụ nữ
“Thân phận người phụ nữ Việt Nam rong xã hội phong kiến là một đỀ tải được tắt nhiều nhà thơ, nhà văn lựa chọn lâm đề ti sáng tác cũa mình Nền văn học Việt Nam thể kí XVIH — XIX đề cập đến người phụ nữ cí
đau của họ Vì vậy các nhà thơ Nôm Đường luật thế ki XVIII ~ XIX
là Hỗ Xuân Hương ở thể kỉ XVIHI viết về đề ải này, thân phận người
phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương mang nỗi đau làm lẽ, chồng chung, chữa hoang,
muộn chồng chồng chết và trong những nỗi đau này có những nổi đau của Hồ
“Xuân Hương, nên hơn a hết viết về để tải này Hồ Xuân Hương viết với tắt s sự
thành, lồng xúc động xót thương và thương cho cả chính bản thân mình
cchéng gai, sóng gió Nhưng dù khó khăn đến đầu, ở họ vẫn luôn ánh lên một vẻ
đẹp của nhân cách, của tỉnh yêu thương, của niềm lạc quan, niềm tin vào cuộc
Mà em vẫn gi tắm lông son
(Bảnh rồi nước ~ Hồ Xuân Hương) Người con gi ở đây tự cảm nhận được vẻ đẹp của mình, yếu tổ tự sự là nhà thơ kể về thân phận của mình “Than em vira trắng lại vừa tròn Bảy nỗi ba chìm với
“ước non” là những người đẹp về cả ngoại hình và tâm hồn Đầu ti „ đó là những người con gái trong trắng, xinh đẹp Thể nhưng, họ cũng giống như hình ảnh của chiếc bánh trôi nước: ba chìm bảy nỗi
`Yếu tổ trữ ình thể hiện ở chỗ nhà thơ Hỗ Xuân Hương bộc lộ tỉnh cảm, cảm xúc trước cuộc sống, họ phụ thuộc vào quá nhiều diều, quá nhiều người Họ không
có quyền tự quyết định cuộc sống của mình Chỉ có một thứ họ có thể tự quyết định,
Trang 30đồ cho khó khăn vắt vã đến đầu, họ vẫn quyết tâm giữ tắm lông son sắt, thủy chung, của mình
Phan ánh nỗi dau khổ, ủi nhục mà người phụ nữ phái chịu đựng nhưng qua chùm thơ “ 7 Tình ”, người đọc cũng có thề hình dung ra được thân phận đau khổ
và bi kịch về
inh duyên của nhân vật trữ tỉnh:
Đếm khuya vãng vắng trồng canh đôn,
“Trợ cái hồng nhan với nước non
CChến rượu hương đưa say hạ inh, Ving trăng bóng xế khuyết chưa tran, Xign ngang mặt đất rêu từng đám,
‘Dm toae chin may, dé my hon Ngắn nỗi xuân di xuân li hi,
‘Manb tn san sé ti con con!
(Tự Tình II — Hỗ Xuân Hương) Voi thể thơ Thất ngôn bát cũ Đường luật được viết theo ngôn ngữ Nom thuần Việt bài thơ viết về cuộc đời của chính bản thân mình, Đó cũng là số phận
"hối đương thời Một âm trang buồn dau, oán hân, cô độc, lẻ loi trong màn đềm vắng lăng Cùng với sw bé bằng, túi hỗ Duyên phân họ thất him hiv, banh phúc ít i, tuổi xuân tồi qua mà banh phúc không trọn vẹn như tăng xẾ mà vẫn khuyết, Qua thơ bà ta thấy thân phân lẻ mon, tình yêu bị hỉa năm xẻ bảy chỉ còn tí con con, nghe thật xót xa đến tội nghiệp Hồ
"Xuân Hương vẫn luôn thể hiện sự mạnh mẽ của mình là hình ảnh người phụ nữ biết vượt lên số phận, không để nỗi đau lâm mình gụe ngã mà vẫn
Xiên ngang mặt đấ rêu từng đảm
chung của những người phụ nữ trong
"âm loạc chân mây đã mấy hôn
(Ty tinh I~ Ho Xuân Hương)
"Viết về nỗi khổ của người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã viết được những điều
"mà không mỖy ai viết được Nhà thơ chưa nói đến toàn bộ nỗi khổ của họ mà chủ yếu bà đi sảu vào những nỗi dau tỉnh duyên lận đận mà suốt cuộc đồi vẫn mãi di tìm Nhưng những bài thơ trên của Hồ Xuân Hương đã hỏa vào tiếng nói chung của văn học đương thôi để nối lên tếng nối về cuộc đời đầy bắt hạnh của người phụ nữ:
26
Trang 31Cam chịu là nét cơ bản rong phẩm chất của người phụ nữ thời phong kiến, nhưng tong thơ Hồ Xuân Hương viết về thân phận người phụ nữ, bà đã dám tiên phong đứng lên đẫu tranh vì lẽ phi và vì muốn thoát ra những rằng buộc khắc khe
của lễ giáo, họ không còn bị bó hẹp trong Khuôn khổ chật hạp của Luật Tam tông cột chất người phụ nữ vào thân phận bị phụ thuộc vĩnh viễn “Tại gia ông gu, uất giả tổng phu, pẫu tử tông tử” Những quan niệm khắt khe, cỗ hũ Ấy đã tước đoạt điều quý giá nhất là được tự do sống đúng với con người mình và đáng sợ hơn
là nó biến người phụ nữ thành bóng mờ nhạt rong suốt cuộc đời của mình mà Không thể thoát ra được, Nhưng Hỗ xuân Hương muỗn thay dỗi và khẳng định thân phân của mình một cách táo bao, người phụ nữ muỗn thoát ra khôi quy định khất nghiệt của lễ giáo
Ge mic wong ngang thy bang treo Kia đến thi thi ding cheo leo
Vi đây đôi phận làm tri được
Sự nghiệp anh hùng há bẫy nhiều
(Đề đền Sằm Nghĩ Đắng- Hỗ Xuin Heong)
"Nhưng mặt khác, nó cũng thể hiện nhu cầu đổi phận, không chịu an phận
cia Hồ Xuân Hương, bà muỗn vượt ra khuôn khổ chật hẹp tủ túng để tung hoành thể hiện mình, bà tự cho mình có thé lim gắp nhiề lẫn, so với sự nghiệp của Sằm, Nghĩ Đồng
"Bà chúa tho Nom kể về độc đáo thì đứng vào bậc nhất trong văn học trung
cđại Việt Nam, mà lại hai lần độc đáo, vì đó là một phụ nữ đã dám “Ví đây đổi phân
làm trai được ", và Xuân Diệu cho rằng thực sự nàng đã làm tr rồi, ngay tong chế
phong kiến khiến thân phận người phụ nữ luôn bị phụ thuộc và bị coi thường Hồ
“Xuân Hương đã đáp trả lạ thôi đồi trọng nam khính nữ đó, bà đã dùng ngôi bút để tổ sáo tiệt để những bất công của xã hội không chơ người phụ nữ được tự quyết định cuộc sng của mình mà ph lệ (huộc và khẳng dịnh bản thân có thể thay dồi số phân Dương Quảng Hàm cho rằng * Vì có số phận him hiv, thin thé long dong, nén
a
Trang 32trong thơ của bà hoặc có ý lắng lơ, hoặc có giọng mia mai, nhưng bài nào cũng chan
ứa tình tự ”[21, tr5- 6 ]}
“Thân phận người phụ nữ hiện lên trong tho Nom Duong luật của Trần TẾ
“Xương cũng vắt và, gian nan nhưng cách thể hiện có khác Hỗ Xuân Hương, với Hồ
“Xuân Hương bà trự tiếp nói đến thân phân mình và thân phân cho những người phụ nữ cùng cảnh ngô, nhưng ở Trần Tổ Xương là chính nhà thơ tư nói lên thân phận của người phụ nữ đồ với sự đồng cảm chân thình nhất và hình ảnh mà Tú
“Xương biểu lộ tỉnh cảm là người vợ của chính mình như là một lời tí ân, nịnh vợ Với Trần TẾ Xương, ông đứng ở khía cạnh một người đàn ông, cảm thông, thương xöt cho số phận của người phụ nữ bị đối xử bắt ông, luôn chịu eo eve gian train nhưng không dám phân kháng Họ luôn sắng cam chịu, hỉ sinh cho chẳng con:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
'Nuôi đủ năm con với một chẳng
Lăn lội thân cò khi quảng vắng
o sẻo mặt nước buổi đỏ đồng Môi duyên bai nợ, âu đành phân [Nam nắng mười mưa dám quản công
“Cha mẹ thi đời ăn ở bạc C6 ching hữ hững cũng như không
(Tương vợ - Trần T Xương) Nhà thơ sử dụng chất liệu ca dao, các hình ảnh “ln đới
quần vắng", “buổi đồ đồng ” đồ là thận phận của người phụ nữ trong xã hội phong,
“eo sto”, “Khi
kiến không quản ngại khó khăn, vật lộn với cuộc sống để mưu sinh, nuôi chẳng con Người phụ nữ xưa khi về nhà chồng phải chịu sự rằng buộc của lễ giáo phong kiển, chấp nhận Không kêu ca, oán thân Hình ảnh bà Tú chính là chân dung cña một người phụ nữ không quản khó khăn vì chẳng vì con, là một hình ảnh tiêu biểu của
người phụ nữ Việt Nam
“Thuong vo” cia Tú Xương, a thấy bà T đang tuần theo bổn phân làm vợ,
bà làm tắt cả vì chồng con mà không than thổ, có lề cũng xuất phát từ ỉnh thương,
yêu dành cho chồng con ở bả hiện lên vẻ đẹp truyền thối
Vigt Nam, Đó là sự dim đang, chịu thương, chịu khó và đức bỉ sinh âm thầm vì chẳng con Đồng thôi đây
Trang 33Đó là hiện thân cho những khổ đau của thân phận người phụ nữ trong xã hồi xưa và đô cũng là kết tinh của những đức ính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, bit hi sinh, cam chịu nhưng đồng thời cũng bit vươn lên vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp từ túng để có cuộc sống hạnh phúc mà mình hằng khao khát
2.13 Đề tài về tiên nhiền
Sơn thủy hữu tỉnh là cảm hứng của thơ Nôm Dưỡng luật giải đoạn này, sự
hiên ong thơ Nôm Đường luật chứng tô thiên nhiên là đề ti
trong thơ để thể hiện những tâm sự, u uẫn nổi lòng và thiên nhiên
‘qua thign nhiên các nhà thơ thể hiện ấm lòng của mình với quê hương, đất nước
Dé tai thiền nhiền giai đoạn thé ki XVIII ~ XIX phi kể đến đầu tiên đồ là
Nguyễn Khuyến Nhà thơ Xuân Diệu với công trình nghiên cứu “Các nhỏ thơ cổ
điên Tiệt Nam" đã gọi Nguyễn Khuyến là: “Nhà thơ của quê hương, ng cảnh Viết Nam” Nguyễn Khuyến nức danh nhất trong thơ Nôm Đường luật viết về thiên nhiên là chum thơ thu Thu điểu, Thu vịnh, Thư di
-Ao thụ lạnh lo nước trong veo, Một chiếc thuyỀn câu bể êo eo
Sống biếctheo làn hơi sơn,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vào
“Tầng mây lơ img tr xanh ngắt
"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gỗi êm cần lâu chẳng được
“Cá đâu đớp động dưới chân bèo
(Thu điểu- Nguyễn Khuyến)
Trang 34Bài thơ Thư Điển đã thể hiện tắm lòng của nhà thơ với thiên nhiền Cảnh sắc mùa thu quê hương được miều ả bằng những gam màu đậm nhạt, nhưng nÉt về xa,
gn rất nh tế và gợi cảm Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “nẻo” trong làn gió thụ, tiếng cả "đớp động” đưới chân bào ~ đó là iếng thu dân dã tong trạng thấ tỉnh lạng của mùa thu, Kay động để ni nh là đặc sắc trong, “chim de thu "của Nguyễn Khuyến, cảnh sắc dân dã là đặc trưng mùa thủ của đồng quê vùng Bắc Bộ và đỏ là iếng lòng của nhà thơ với quê hương đắt nước
[Nam gian nhà nhỏ thấp lele,
"Ngõ tối đêm sấu đóm lập lo
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Lin ao lóng lánh bóng trăng lo
Đa tời sỉ nhuộm mà xanh ngất,
"Mắt lo không viễn cũng đô học Rượu tiếng ng hay hay chẳng mẫy
Độ năm ba chến đã say abe
(Tu Ấm - Ngoễn Khyến) Thụ Âm là thù trong mắt người uống rượu Nhà thơ một mình đối điện với
bu rượu trong đêm thu vắng với tâm trang buôn bã, day dứt không nguôi rước vận
‘nude rbi ren, đành mượn vài chén rượu giải khuây, nhưng cảng uống lại cảng thấy nỗi niềm đó hiên ra rõ rệt hơn, làm lão đảo đến cả cảnh vật đêm thu Cảnh sắc thiên nhiên trong bài thơ bình đị, dân đã và sự im ìm của cảnh vật đã thể hiện được tâm
tư nhà thơ tu năng trước cảnh đất nước bị lũ giác ngoại xâm giày xéo
Trời thu xanh ngất mấy tằng cao,
Cn toe to pho gió hắt hi
"Nghĩ ra lại then với ông Đào
(hu Vịnh - Nguyễn Khuyẩn)
"Nhân hứng cũng vừa toan c
30
Trang 35Đĩ là cảnh sắc thiên nhiên về mùa thu của Nguyễn Khuyến, cơn cảnh sắc
thiên nhiên về mùa hè của Nguyễn Khuyến cũng cĩ sự khác biệt, cĩ vẻ rộn rằng hơn
với iết rồi ọ bức, tiếng dễ kêu hit tha:
Tháng tư đầu mùa bạ,
it tai giả, Tiếng để kêu thiết tha, Đàn muỗi bay tới
"Nỗi Ấy ngơ cũng ai, CCảnh này buồn cả dạ
Bing nhap nam canh chày,
Ga da sim give gia
(Tan màn hè Newén Kinwén )
“Cảnh ngày hè nĩng bức, với tiếng để kêu thết tha vi din muỗi thì bay tơi t
“Tiếng kêu ấy là tắm lịng rao rực bắt an của nhà thơ về đất nước cảnh một đêm hè
bố
"hình ảnh thiên thiên để nĩi lên tâm trạng của con người trong cơng cuộc chiến đầu
nĩng nực, ở nơng thơn Nhưng đĩ là cách nĩi của Nguyễn Khuyến, mượn
chống thực dân Pháp trên đắt nước ta khi ấy cũng đang nặng nẺ, tăm tồi và nĩng bức như cảnh mùa hệ vậy
Trong thơ Hồ Xuân Hương, thiên nhiên được thể hiện khá nhiều, cảnh thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương trở nên tươi ấn, đậm đà pha chút phong vị trào
„ cảnh thiên nhiên tong thơ Hồ Xuân Hương chỉ là những cảnh bình dị, hình khối, mẫu sắc, âm thanh, cây cối, trăng,
phúng, hơm hình, Bà rất yêu tiên nh
giếng nhờ tắm lịng yêu thiên nhiên mà Hồ Xuân Hương mang đến cho thiên chất xúc tác đễ rồi cảnh thiên nhiên bình dị đĩ bằng lên một cách lạ thường
"Một đèo, một đềo, lại mat dé,
nhỉ
Khen ai khếo ạc cảnh cho leo
Cita con dé lot tim hum née, ion a xan ì lún phún rêu Lắt lo cảnh thơng cơn giỏ thốc,
"Đầm địa lá liễu giọt sương gic
Hiển nhân quân từ si là chẳng
Mơi gối chồn chân vẫn muốn trêo
(Bio Ba Dj
— Hồ Xuân Hương)
31
Trang 36“Thiên nhiên trong bài thơ là hình ảnh về vàng đất Bim Sơn được mỡ ra trước mắt người đọc oàn cảnh là đèo “Một đềo, mội đềo, lợi một đềo” Nhà thơ ngạc nhiên bởi tiên nhiên ban tạng cho con người cảnh sắc bình đị nhưng ắt tuyệt vời
Không gian mênh mông, bu quanh cảng
“Non xanh nước biắc nh tranh họn để
làm cho lòng nữ sĩ buồn bã cô đơn Nhưng cũng chính nơi heo hút, mênh mông, đo
Ốc, cheo leo Ấy đãthôi thúc người nữ thi st muốn được tro lê và khám phá, chỉnh phục phong cảnh thiên nhiên đẹp mà tạo hóa đã ban tăng cho con người Đ rồi khẳng định, nhấn gửi với mọi người
Hiền nhân quân từ si là chẳng Mỗi sối chồn chân vẫn muốn trẻo
Hình trợng trăng cũng xuất hiện trong thơ viết về thiên nhiên của Hồ Xuân Hương và với cái nhìn của người yê thiên nhiên thì trăng cũng rất ngon lành như trái cây chí đỏ:
Môi trái ring thu chin mom mom,
‘Nay vimng qué d6 do 16m lom
Gitta in che bich khusn cin méo
'Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm
Get mat ke trin dua xói mốc Ngứa gan thẳng Cuội đứng lom khom,
Hữi người bẻ quê rằng ai đó
"Đồ có Hằng Nga ghé mit dom
(Hồi trăng — HỖ Xuân Hương)
“Cảnh vật trong thơ Hồ Xuân Hương tuoi tin, dim di va khoế mạnh, Cơn
“Cũng như thơ Đường, cảnh thiên nhiên trong Bà Huyện Thanh Quan mang
phong vị buỗn nhưng cũng rất dễ khơi gợi được ình cảm của con người
CChiễu ời bảng lăng bóng hoàng hôn, Tiếng Ốc xa đưa vắng trồng đồn
2
Trang 37“Gác mái, ngư ông vẻ viễn phố, (G8 sừng, mục tử lạ cô thôn Ngân mai gió cuỗn chìm bay môi Dặm liễu sương sa khách bước dồn, Keo nn Chương Dài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kế nỗi hài
(Chiều hôm nhớ nhà ~ Bà Huyện Thanh Quan] Bài thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ Hai chữ “bảng king"
Mặt nước mênh mông nỗi một hòn
"Ni giả nhưng tiếng vẫn còn non,
"Minh cây thưa thớt đầu như trọc,
“Ghnh đá long lanh ngắn chữa mòn,
Một lá về đâu xa thẳm thắm,
[Nghin nha trồng xuống bé con con Diu gid da hin hon ta chữa?
“Chống gây lên cao g6i ching chént
(Vinh nid An Lio)
Bài thơ gợi cho người đọc phong cảnh ở tim cao va kl
g gian bát ngất của
an Lao, một phong cảnh kì thú mà tao hóa ban tổng
“Thiên nhiên trong thơ Nim Dung lust th kỉ XVIHI ~ XIX rắt nhiễu nhà thơ Triệu tả những danh lam thắng cảnh của đắt nước: Đảo Ngơng, Đảo Ba Di, đo Hải
ăn, thành Thăng Long chùa Trấn Bắc, đầi Khám Xuân Tắt cả nhằm thể hiện cảnh và tĩnh hỏa nhập tao nên dư vĩ của cuốc sống và vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người, đây là yếu tổ không thể thiểu tong đồi sống con người
3
Trang 38‘Tho viết về thiên nhí
vinh vật để tiến đến mơ tả một bức tranh thi
ở giải đoạn này đề thốt ra khơi lối thơ vĩnh cảnh,
nhiên da dạng từ đồi sống sự kết hợp các yếu tổ tự sự và trữ tỉnh của thơ Nơm Đường luật giả đoạn này đã gĩp phần tạo nên sự đa dạng cho thơ viết v thiên nhi trong thơ trung đại Việt Nam
214, Dé ai thé se
"ĐỀ tải nỗi bật trong tho Nm ug, ust thé ki XVIII ~ XIX 1a vin ménh dit
tước và vận mệnh con người, gắn với vận mgnh din te, DE tii th sự thu hút sự
“quan âm của nhiều nhà th
* Giai đoạn nửa cuỗ thể kỉ XVIHI đến nữa dầu thể kỉ XIX, cuộc sống đầy biến đơng, con người đứng trước những vẫn đề hỗt sức lớn lao thuộc về vân mệnh
của mình và của xã hội Văn học khơng thể ngủ yên trong những để tài cũ nhỏ bé,
"mà phải đội mới, phải vươn lên những thể tải mi” (32, 23)
"Để ải phân ánh thể sự xuất hiện sĩm trong thơ Nơm Nguyễn Trãi đặc biệt là trong Quốc đm thị tập nhưng số lượng vẫn chưa nhiều Đến thơi Hồ Xuân Hương, Nguyễn Cơng Trữ về sau thì để tải này cảng được phát iển, rong thơ Nơm của
úp úp mở mỡ, nĩi bồng nĩi giỏ xã gần mà ơng nhì thẳng nồi thẳng vào cuộc sống,
xã hội và con người
Với cảm hứng r tỉnh đậm nét nhà thơ Tá Xương thường xuyên phân ảnh cuộc sống đời thường của con người, một xã hội nhỗ nhăng dỗi bại, bịp bợm của x
hội thực dân nửa phong kiến:
Nhà nước bạ năm mỡ một khoa,
“Trường Nam th lẫn với trường Hà
Tơi tơi tử vai đo lọ,
‘Am og quan trường miệng thết loa Long cắm rợp trời quan sĩ đến,
`Vấy lê quết đất mụ đầm ra
"Nhân tải đất Bắc nào ai đồ, 'Ngộnh cổ mà trồng cảnh nước nhà
(La swing danh khoa thỉ Định Đậu - Tí Xiơng)
4
Trang 39
th cử là của vua, của tiểu định nhằm mục dích kén chọn người tả gối
để giúp vua, giáp nước Nhưng thời dại bấy giờ dắt nước đã thục dân Pháp thông, trị, nên việc th cử trở thành nhồ nhãng, đồi bai trong tay bon thực dân Nhà thơ nói lên tâm trang đau đón, chua xót trước hiện thực dau buỗn, nhồn nháo, nhồ nhãng Đẳng sau tiếng cười châm biểm mang ý nghĩa xã hội sâu xa là tiếng Khóc ngậm
ng, mudi iếc cho đất nước và con người trước hiểm họa xâm lãng Trong thơ ông
số hình bóng con người và xã hội phong kiến cũ đã bị dực đâm hóa, và có hình bồng những vật mới những sinh loạt mới - sẵn phẩm của xã hôi thục din nữa phong kiến Thơ Tú Xương là tếng nói đã kích, chẩm biém sâu sắc và đỡ đội vào các đối tượng mà ông căm hết đó là bọn thực dân, bọn tay sai, phê phần khoa cứ, phê phán thể lực đồng tiền, lên án những thôi hư tắt ắu của thời đi, Tắt cả th hiện tắm lông của nhà thơ với cuộc sống con người, vận mệnh đất nước và cả con người nghèo khó trong xã hội
"Người đói, ta đây cũng chẳng no,
“Cha thăng nảo có, tiếc cho không !
Ho diy dog mai dan cay cube,
hề với người ăn xin- Trần Tế Xương) Tắm lòng của nhà thơ đồng cảm với nỗi khổ của người nghèo tong xã hội
"Đọc thơ Tú Xương ta tẤy được cái dau xót ê ché của người có tải không gặp thời vân, đồng thời cũng thấy phần nào nổi dau của dân tộc những năm cuối thể KY XIX
đầu thể ky XX - thời kỳ đất nước ta hoàn toàn mắt chủ quyền Con người Tú Xương
là con người ưu thời mẫn thé, mang tâm trạng u tắt của kế mắt nước, vì thể ông luôn trăn ở, day dứt, nỗi u hoài trước dất nước xã hội rối ren, con người lắm than sơcực
Văn học Việt Nam giai doan thé ki XVIII - XIX có sự lấp lai những đề ti của các thể kí trước, trước hết là để tà lịch sử, nhà thơ viết về đề tải lịch sử là để nói lên nổi lòng của mình trước cảnh tượng đất nước rồi ren đồng thời qua đô phản ánh cuộc sống xã hội và con người, phản ánh chiến tranh phong kiến và
những tai họa của chiến tranh mà con người đặc,
lệ là những người dân võ tội 35
Trang 40phải gánh chịu Qua thơ nhà thơ đã thể hiện một tái tìm yêu nước, gắn bó máu thịt với quê hương:
Tan chợ vừa nghệ iếng súng ây Một bản cờ thể phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
ổ bầy chim dio dic bay
(Chạy giặc ~ Nguyễn Bink Chiéw)
ng đồn ngàn dặm ngựa Tiêu Sương,
Âm đứa gian mưu nghĩ khá hương
“Giảm vó chẳng màng ăn cô Tổng,
“Quay đầu lại hí nhớ tàu Lương Ching cho chi khác ngôi lưng cổ,
“Thả chịu vua ta nắm khớp cương Ngưa nghĩa còn cưu nhà nước cũ, Lâm người bao nỡ phụ quê hương!
(Ngựa Tiêu Sương- Nguyễn Đình Chiếu)
"Nguyễn Khuyến là nhà thơ của nông thôn, ông viết về nông thôn với tư cách
"người trong cuộc nên ông viết xŠ nông thôn rất chân thực và mang dầu Ấn riêng
CCây sức cây đu nhiều chị nhún,
tổng nhấp năm canh chủy, gà đã sớm giuc giả”, nỗi lo lắng
36