1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam: Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn ký hiệu văn học (qua tranh Van Gogh mua để đốt)

100 21 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam: Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn ký hiệu văn học (qua tranh Van Gogh mua để đốt)
Tác giả Lê Thị Thanh Thủy
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hường
Trường học Đại học Đà Nẵng - Trường Đại học Sư phạm
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 23,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn ký hiệu văn học (qua tranh Van Gogh mua để đốt) nghiên cứu lí thuyết kí hiệu học văn học, khảo sát mã nhân vật, hệ chủ đề và nghệ thuật kể chuyện (qua chiến lược trần thuật, tổ chức kết cấu, tạo mã không - thời gian, kí hiệu ngôn từ và biểu tượng - một dạng kí hiệu đặc biệt) trong tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua để đốt của Hồ Anh Thái.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PH

LÊ THỊ THANH THỦY

TIEU THUYET HO ANH THAI TU GOC NHIN

ki HIỆU HỌC VĂN HỌC

(QUA TRANH VAN GOGH MUA DE BOT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VAN HQC VIET NAM

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

Ki HIEU HOC VAN HOC

(QUA TRANH VAN GOGH MUA DE DOT)

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn với đề tài: "Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn kí hiệu học van hoc (qua Tranh Van Gogh mua để đổi)” do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Cô giáo TS Lê Thi Hường

Tôi xin chịu trích nhiệm về nội dung khoa học trong công trình này

“Tác giả

wo

Lê Thị Thanh Thủy

Trang 4

“Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu

sắc đến cô giáo TS Lê Thị Hường, người đã tận tình hướng

trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người

thân và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Trang 5

TIỂU THUYẾT HỖ ANH THÁI TỪ GÓC NHÌN KÍ HIỆU HỌC VĂN HỌC

(QUA TRANH VAN GOGH MUA DE DOT)

Nginh: Văn học

Hộ tên học viên: Lê Thị Thanh Thủy

'Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hường,

Cơ sở đào tạo: Dai hoe Da Ning - Trường Đại học Sư phạm

“Tóm tắt: Kí hiệu học được coi là phương pháp luận chung cho toàn bộ khoa học xã

hội và nhân văn Việc vận dụng kí hiệu học để phân tích, giải mã tác phẩm văn học à rất cần thiết, đặc biệt trong sự đổi mới dạy học các tác phẩm văn học hiện đại Với đề tả Tiểu duyói

Hỗ Anh Thái từ góc nhìn ki higu học văn học (Qua Tranh Van Gogh mua để đối) sẽ giúp phát

hiện thêm những nét độc đá, ái đẹp, ái tính tế của nôi bút đây ải năng Hồ Anh Thái Từ lí thuyết kí hiệu học văn học, chúng tôi khảo sát mã nhân vật, hệ chủ đề và nghệ thuật kể chuyện trong tiễu thuyết Tranh Vam Gogh me để đấ Đặt các mã và biểu tượng rong hệ

thống qua đó khai thác nội dung, phát hiện ra ý nghĩa hàm ẩn, thông điệp mà nhà văn gửi gắm

sau mã cũng như các biễu tượng đó, nhằm khẳng định sự sáng tạo, không ngừng nỗ lực cách

tân trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Kết quả nghiên cứu của để tài còn góp

thêm một hướng khám phá tác phẩm, cũng là một hướng tiếp cận tác phẩm văn học ở trường, phổ thông cần được chủ trọng Lugn văn đề xuất một hướng tiếp cận tiễu thuyết Hồ Anh Thái,

cũng như tiểu thuyết Việt Nam đương đại, qua đó có thể giải mã những tằng sâu tư tưởng, thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Luận văn cũng gợi mở một hướng tìm hiểu,

nghiên cứu tác phẩm văn học rong nhà trường the cách tip ein tie phim dựa vào kí hiệu học

Từ khôn: Kí hiệu học, Mã nhân vật, Mã thẳm nỉ, Hồ Anh Thi, biể tượng

“Xác nhận của giáo viên hướng dẫn 'Người thực hiện đề tài

Trang 6

‘Training institution: University of Education - Danang University

‘Abstract: Semiotics is considered to be the general methodology for the entre social science

‘and humanities Applying semioties to analyze and decode literary works is very necessary,

‘especially in the innovation of teaching modern literary works With the research of Ho Anh

‘Thai's novels from the perspective of literary notation (Via Van Gogh's paintings purchased |

10 burn), it will help to discover more unique features, beauty, and sophi

talented writer Ho Anh Thai From literary semiotic theory, we surveyed the character codes,

‘thematic systems and the art of code generation in the novel Van Gogh's paintings purchased |

10 burn Place the eodes and symbols inthe system thereby exploiting the content,

the hidden meaning, the message sent by the writer behind the codes as well as the symbols

‘Thereby, it isto affirm the creativity, constantly trying to innovate in the art of novel writing

by Ho Anh Thai, The research results also contribute to a work discovery direction, as well as can approach to literary works in high schools that should be focused on The thesis proposes

‘an approach to Ho Anh Thai's novels, as well as contemporary Vietnamese novels, through Which itis possible to decipher the deep layers of thought and aesthetic thatthe writer sends

in the work The thesis also suggests a way of leaming and researching literary works schools in the way of approaching works based on semiotics

Key words: Semiotics, Character code, Aesthetic code, Ho Anh Thai, symbol

Supervisor's confirmation Student

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

3 Đối tượng và phạm vĩ nghiên cứu 7

4 Phuong pháp nghiên cứu 8

5 Đông góp của luận văn 8

6 Bố cục của luận văn 8 NOLDUNG 9 Chương 1: DAC DIEM TIEU THUY

KÍ HIỆU HỌC VAN HOC

T HỖ ANH THÁI TỪ GÓC NHÌN

1.1 Giới thuyết một số thuậ

1.1.1 Kí hiệu học và kí hiệu học văn học 9 1.1.2 Kí hiệu vả mã văn học 12

1.1.3 Kí hiệu và biểu tượng

1.2 Khái lược tiễu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn kí hiệu học văn học

2.1.1 Tên nhân vật được kí hiệu hoá

2.1.2 Kiểu nhân vật được mã hóa 28

2.2 Hệ chủ đề

2.1 Chủ đề tôn giáo tín ngưỡng, 4 2.2.2 Chủ đề văn hóa nghệ thuật 36

“Chương: NGHỆ THUẬT KE CHUYEN TRONG TIEU THUYET TRANH VAN GOGH

Trang 8

3.2.2 Không - thời gian mê cung, rỗng 48

3.4.1 Ngôn từ giễu nhại

3.4.2 Biểu tượng - kí hiệu ngôn từ đặc thủ 6

Trang 9

MỞ ĐÀU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Lý thuyết về kí hiệu học khởi đầu từ giữa thể kỹ XIX và bất đầu nhận được

sự quan tâm từ những năm 80 của thể kỉ XX Hiện nay, lý thuyết về kí hiệu học không

còn xa lạ với thé giới, nhưng ở nước ta, việc nghiên cứu vận dụng lý thuyết kí hiệu học

vào khám phá tác phẩm văn học mối chỉ bắt đầu Có thể thấy, bên cạnh các hướng phê bình đã và đang tổn tại như phê bình phân ánh luân, phê bình thị phấp học, phong cách học, phân tâm hoc, phé bình sinh thái, phê bình nữ quyền .thì phê bình kí hiệu học là một trong những hướng nghiên cứu văn học giàu tiềm năng, đăng được quan tâm Vige vận dung kí hiệu học để phân tích, giải mã tác phẩm văn học là rất cằn thiết, đặc biệt trong sự đổi mới dạy học các tác phẩm văn học hiện đại Trần Đình Sử cho

rằng: “Nền tảng lý thuyết dé dạy học đọc hiểu trong nhà trường hiện nay là lí thuyết

hình tượng nghệ thuật bắt nguồn từ lí luận văn học Xõ Viết Ngày nay chúng ta đã thấy lí thuyết ấy có hạn chế và ngoài việc khẳng định văn học bắt nguồn từ đời sống xã

hội ra, lí thuyết ấy ít có khả năng lí giải các vẫn để cốt từ của văn học và nghệ thuật ( ) Nhiệm vụ bây giờ là muốn đổi mới phương pháp dạy học văn, chúng ta cần đưa

kí hiệu học vào môn đọc văn ở nhà trường” [S1] Theo ông, học tiếng Việt, học ngữ

học, học văn học thực chất là học sử dụng kí hiệu, giải mã kí hiệu, biết qua kí hiệu mà nắm bắt thông tin, sắng tạo nghĩa, chiếm lĩnh văn hóa

"Nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định kí hiệu học là "công cụ hữu hiệu để giải quyết những vấn để này sinh trong việc dạy học tích hợp ngữ - văn - văn hóa trong nhà trường theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp, năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản, năng lực thẳm thấu - chuyển hóa những giá trị thẩm mĩ thành giá trị sống cho người học”

1.2, Hồ Anh Thái là một cái tên không còn xa lạ với bạn đọc và giới nghiên cứu

'Ông thành công ở khá nhiều thể loại trong đó phải kể đến tiểu thuyết Với bề dày hơn

10 tiểu thuyết, có thé xem Hồ Anh Thái là "một tiểu thuyết gia lực lưỡng”, một "nhà văn dang viết Mỗi tiểu thuyết của Hồ Anh Thái là một sự làm mới, làm lạ và khác

Để làm được điều này Hỗ Anh Thái đã không ngừng sắng tạo đồng thời luôn có thái

độ nghiêm túc và nỗ lực hết mình khi cằm bút Vì thế các sáng tác của ông không lặp lai, cũng không theo một khuôn mẫu nào Tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn có sự va tương hỗ giữa các kí hiệu thẩm mĩ Nói cách khác, tiêu thuyết Hồ Anh Thái luôn

có một kí hiểu quyển (Louan)- *Ký hiệu phải được hình thành trong một ký hiệu quyền Trong bằu khí quyền đó, ký hiệu mới có nghĩa và có thể được tiếp nhận, có thể lâm phương tiện giao tiếp” Chính vì vậy, vận dụng kí hiệu học văn học để thông diễn tiêu thuyết Hồ Anh Thái sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần giải mã những khoảng trồng nghệ thuật trong văn bản

Trang 10

"Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tải Tid shuyét Hé Anh Thái từ góc nhìn kí liệu học văn học (qua Tranh Van Gogh mua để đá) đề nghiên cứu Vận dụng lí thuyết

kí hiệu học vào việc nghiên cứu Tranh Van Gogh: mua để đốt nói riêng và tiểu thuyết

Hồ Anh Thái nói chung sẽ giúp phát hiện thêm những nét độc đáo, cái hay, cái đẹp, cái tình tế của ngòi bút đầy tải năng này Kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp thêm một hướng khám phá tác phẩm, trong thời gian tới đây cũng là một hướng tiếp cận tác

phẩm văn học ở trường phổ thông cần được chú trọng

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Vấn đề dịch và vận dụng lý thuyết kí hiệu học trong việc nghiên cứu văn

học Việt Nam

* Những công trình được dịch thuật giới thiệu ở Liệt Nam

Kí hiệu học vẫn hỏa của lu M Lotman, do các dịch giả Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trin Đình Sử dịch từ nguyên bản tiếng Nga Cuỗn sách là tuyển tập các công

phái Tartus — Moskva (một trường phái khoa học nhân văn nỗi tiếng ở Liên Xô những năm 60 - 80 thế kỷ trước), nhà văn hóa học và kí hiệu học nỗi tiếng thế giới Công trình gồm 29 bài tuyển dịch, tập trung xoay quanh các vấn đề lý thuyết và lịch sử kí hiệu học văn hóa Theo quan điểm của M Lotman, “Ki higu hoe văn hóa không phải ngôn ngữ, không phải kí hiệu, không phải cầu trúc, không phải đối lập nhị phân, không phải quy tắc củ pháp mà văn bản mới là trung tâm trong hệ thống quan niệm của n [36 tr.10-11} Ong đã đề xướng khái niệm *kí hiệu quyền” làm nền tăng để mô tả các tiến trình kí hiệu học,

Thụy Khuê rong cuốn Phế bình văn học thể kỉ XX (Nhã Nam xuất bản năm 2018) một chương *Phê bình kỹ hiệu học- Umberto Eco” (chương 16) để giới thiệu một cách hệ thống những vẫn đề cơ bản của kí hiệu học, sự diễn giải và lập thuyết về kí cùng với Roland Barthes “la hai khuôn mặt khi hiệu học ở Âu châu” [39, tr646] Thụy Khuê mạnh vai trò không nhỏ của phê bình kí hiệu học: * giúp cho người phê bình

<a những phạm vi khảo sắt của mình đối với tác phẩm nghệ sâu mỗi khía cạnh, đ vào chỉ tết: từng câu, từng chữ, từng dấu hiệu, từng kí hiệu nằm trong văn bản” [39, tr480),

* Những công trình, bài bảo vận dụng li thuyét ki hiệu học văn học

Ở nước ta, lý thuyết kí hiệu học đã được dịch ra tiếng Việt từ thể kỷ trước và người đầu tiên van dụng lý thuyết kỉ hiệu học vào nghiên cứu văn học là cổ giáo sư ~

Trong công trinh Tit ki

t ban năm 1997), tác giả đã giới thiệu sơ lược về kí hiệu học, quan hệ giữa kí ap dung một thì pháp học gần gũi với kí hiệu học để lý giải thơ, ca dao, tục ngữ Việt Nam Tuy với sự "bùng nổ” việc dịch các công trình về kí hiệu học, gần đây công trình của

Trang 11

vận dụng lí thuyết kí hiệu học để thông diễn văn bản văn học là điều khó khăn

"Từ năm 2015 trở lại đây, một số công trình về lý thuyết kí hiệu học cũng đã được xuất bản Trong công trình Từ kí hiệu đổn biểu tượng (Trịnh Bá Đĩnh - chủ biên), các tác giá đã hệ thống các vấn đề lí luận, định nghĩa các khái niệm cơ bản thuộc về kí hiệu học như: kí hiệu và kí hiệu học, đề cập các vấn để liên quan đến biểu tượng nghệ thuật Trong nghiên cứu các kí hiệu, các tác giả chỉ ra mỗi liên quan, có lúc tương đồng giữa kí hiệu và biểu tượng; sự cằn thiết khi soi chiếu biểu tượng dưới góc nhìn kí hiệu, biểu tượng được xem như một dấu hiệu, một loại biểu tượng đặc biệt, biểu tượng nhìn từ kí hiệu học văn hóa v.v.; đồng thời vận dụng lí thuyết kí hiệu học để giải mã một số tác phẩm văn học đương đại

Tiếp theo phải kẻ đến Phể bình ký hiệu học ~ Đọc văn như là hành trình tái thắt ngôn ngữ (Nxb Phụ nữ, năm 2018) của Lã Nguyên Đây là một trong những công trình

vận dụng lý thuyết kí hiệu học vào nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại và

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, trong Lời bạt của cuốn sách đã [Bing những bài nghiên cứu táo bạo, công phu, Lã Nguyên đã trình làng một hướng phê bình mới, phê bình kí hiệu học Chúng tôi vui mùng tin tưởng, xằng khuynh hướng này sẽ nhanh chóng được bén rễ, lan tỏa trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam, làm cho bức tranh nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thêm đa dang” (45, tr405]

Có thể thấy phê bình kí hiệu bọc có tính bao trùm, phát triển thành nhiều nhánh,

hệ thống kí hiệu thay đổi theo thời gian Anh Thư trong bài viết Đđi điều vẻ phé bình kí hiệu học ở nước ta cho rằng: *Nghiên cửu kỹ hiệu học có nhiều nhánh Các khuynh hướng nghiên cứu bây giờ đều trêu nền tăng của ký hiệu học Nếu có một điều

gì đảng kể, theo quan sát của tôi thì có lẽ phải bắt đầu từ những năm 90 của thể kỹ trước trở lại đây, ta sẽ thấy những khuynh hướng phê bình trên thể giới nó không được soi tên bằng những cái tên rất rừu tượng, ví dụ như chủ nghĩa cầu trúc, chủ nghĩa hình thức, phân tâm học Mà đúng là thời đại giải thể đại tự sự, thì các lý thuyết thường gắn với nội dung rất cụ thể, thâm chí dường như phê bình gắn liễn với các chủ đề nữa

Mà đã là phê bình chủ đ

ký hiệu như thế nào và quan trọng hon là các quy tắc để kiến tạo lên n

én ứng dụng trong nghiên cứu và đạy học Ngữ văn (Ki yêu Hội thảo khoa học Quốc gia của khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, do nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2016) nghiên cứu lĩ thuyết và ứng dụng, học trên nhiều lĩnh vực: Ki hiệu học văn hóa, kí hiệu học văn học, kỉ hiệu học ngôn cũng như khả năng tương tác c iêu học với các khuynh hướng nghiên cứu khác Đây là Hội thảo kí hiệu học đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam đã đi sâu, làm

xõ "nên tăng lí thuyết kí hiệu học, ịch sử nghiên cứu kí hiệu học và khuynh hướng cân kỉ hiệu học trong nghiên cứu văn học ~ ngôn ngữ - văn hóa ở Việt Nam; các bài

Trang 12

"Việt Nam và văn học nước ngoài, ở trường đại học và phổ thông”

"rong công trình Ký điệu và liên ký hiệu, Lê Huy Bắc tập trung làm rõ các vẫn đề

lý thuyết liên quan như kí hiệu học ngôn từ, mặc định học kí hiệu, liên kí hiệu, vô thức của kí hiệu ngôn từ, tính đối thoại, nh đa văn hoá của kí hiệu ngôn tử và vận dụng

lý thuyết kí hiệu học để phân tích, giải mã tác phẩm văn học (chủ yếu là những tác phim trong Sách giáo khoa), giúp người đọc có thể thực hành lý thuyết và vận dụng nó Vào thực tiễn

Một số bài viết khác dẫu không thành hệ thống như đã hướng đến lí thuyết kí hiệu học và hiệu quả của nó trong nghiên cứu, phê bình văn học Mai Thị Hồng Tuyết với bai Van hoc dưới góc nhìn kí hiệu học (sỗ 5/2016, Tạp chí Khoa học, Đại học thành phố Hồ Chí Minh) cũng đã nhắn mạnh: *Kí hiệu học văn học là một trong những khuynh hướng nghiên cứu văn học giảu tiém năng, đáng được quan tâm hiện nay Day

là khuynh hướng bám sát vào ngôn ngữ tác phẩm - điều mà phản ảnh luận - khuynh hướng đang ngự trị trong nghiên cứu văn học hiện nay còn hạn chế Song dù bám sắt vào ngôn ngữ, vào cấu trúc tác phẩm, khuynh hướng nghiên cứu này cũng không phủ nhận sự ảnh hưởng của bồi cảnh giao tiếp đối với vin dé nghĩa của tác phẩm Vì vậy,

nó cho phép người đọc đi sâu vào tắt cả các quan hệ cơ bản của văn học với hiện thực, với nhà văn, với bạn đọc và với chính bản thân nớ” [68, tr.103]

Lê Thị Hường trong bài Mùi hương - kí hiệu thẩm mỹ trong văn xuôi để tài lịch

sứ, quan niệm: "Bắt kì một văn bản văn học nào cũng đều được dan dệt bởi một hệ thống kỉ hiệu chẳng chit, từ kỉ hiệu ngôn từ đến kí hiệu văn hóa, từ kỉ hiệu của đời sống đến các kỉ hiệu thẩm mữ Nỏi cách khác, mỗi tác phẩm sẽ có một ki liệu quyén (lu M Lotman) riêng” [28]

Các công trình, bãi báo tuy không nhiều nhưng là nền tảng lí huyết và ứng dung

ơi dẫn chúng tôi thực hiện luận văn nay

2.2 Những công trình, bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Anh

thuyết kí hiệu học văn h

xử của nhà văn trong cuộc sống với bạn bê, với văn chương, với dư luận Thể nhưng, cho đến nay, chưa có công trình, bài báo nào nghiên cứu tiêu thuyết Hỗ Anh Thái nói

Trang 13

chung và Tranh Van Gogh mua dé dét noi riêng từ lí thuyết kí hiệu học văn học Tuy

vậy, dầu không gọi tên, nhưng một số bài báo đã hướng sự phân tích tác phẩm của Hồ

“Anh Thái theo góc nhìn này

“Tác giả Nguyễn Đăng Điệp rong bài /fồ Anh Tiái - người mê chơi cấu trúc chỉ ra những yếu tổ tạo nên sức hấp dẫn trong sáng tác của Hồ Anh Thái: "Sức hút của văn phong Hồ Anh Thái còn nằm ở chỗ anh biết phủ lê thể giới nghệ thuật của mình những,

màu sắc tượng trưng, siêu thực và gắn với nó là khả năng tổ chức nhiều kiểu giọng điệu

khác nhau: khi hài hước, khi châm biểm, khi lạnh lùng soi xét, khi u tất tu buổn vượt qua cái lỗi miêu tả hiện thực giản đơn, Hồ Anh Thái đã tạo được nhiều biểu tượng, nhiều én du nghệ thuật nhiều sức gợi Cũng bởi thể văn anh có độ mở, gây được dư âm lâu đài tong lòng người đọc” [12] Cũng trong bài viết này, Nguyễn Đăng Điệp chú ý đến tính biều tượng (một dạng kí hiệu đặc biệU Theo tác giả: "Hỗ Anh Thái có ý thức tạo dựng một thể giới vừa giống thực bằng những chỉ tết ngỡ nhật được từ đời sống Ôn

y những biểu tượng Thông điệp của nhà văn không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thắm đây chất áo” [12]

"rong bài Bước chuyén Carnaval héa trong tiéu thuyét Hé Anh Théi, Phan Trọng Hoàng Linh đề cập các yêu tổ như tiếng cười, sự giễu nhại, huyền thoại, biểu trong kết hợp làm nên hiện tượng carnaval hóa tư duy tiêu thuyết Hồ Anh Thái “Tư duy ấy chỉ phối quyết định đến cấu trúc của tắt cả các sáng tác ở giai đoạn thứ hai, cho dẫu cường độ tiếng cười có dao động mạnh yếu ở từng tác phẩm riêng biệt Chắc chắn, bộ phận văn học carnaval hóa không phải là toàn bộ giá trị trong sự nghiệp sáng tạo của

Hồ Anh Thái, nhưng cần phải khẳng định, sự tác động của tư duy camaval hóa đã tạo

xa những giá trị căn bản nhất [31]

Hai tác giả Bủi Thanh Truyền - Lê Biên Thủy lại đặc biệt đề cao ngôn ngữ trong những tác phẩm của nhà văn Hồ Anh Thái: “Theo chúng tôi, điều làm cho văn anh không thể lẫn với bắt kỳ ai chính là thứ ngôn ngữ anh dùng, khâu khí, giọng điệu được anh lựa chọn, tái cầu trúc thành một "gam” riêng ~ một sự co rút tối đa về dung lượng con chữ, sự nén chặt về hiện thực đời sống Trong đó, ngôn ngũ đời thường, ngôn ngữ

gu chất thơ và ngôn ngữ mới lạ vỀ giọng điệu là những động hình iêubiễu, góp phản quan trọng tạo nên vị thể Hồ Anh Thái nói riêng tiêu thuyết đương đại nói chung” [70 Trần Thị Hải Vân, trong bài Một chiếm nghiệm “cõi người” của Hỗ Anh Thái, nhân xết:"Cồi người rung chuồng tân thế được viễt với một giọng điệu một văn phong tất hiện đại, rất "Tây”, gọa, chính xác, lạnh làng, thâm chí có về như dữ

“Thế nhưng an chita trong đó là một tư tưởng, một thông điệp mang đậm bản sắc của tâm linh phương Đông ác giả ác báo, gieo gió git bao” [73]

'Về kí hiệu liên văn bản trong tiêu thuyết Hồ Anh Thái có nhiều bài báo

“Trong bài Hiểu cấn tính dân tộc qua Năm lá quốc thư, Phan Trần Thanh Tũ giới thiệu khái quất: “Người kể chuyện đứng ở điểm nin toàn trí kể về trải nghĩ

“An” theo suốt hành trình của năm lá quốc thư với biết bao thing trim,

Trang 14

tan Xuyên suốt câu chuyện, tác giả liên tục cấy ghép vio nhiều văn bản ở các thé

loại khác, từ điện ảnh, thi ea, dm nhạc đến võ đạo, báo chi, tiéu luận Do vậy, cuốn sách là một sắng tạo nghệ thuật nhưng đồng thời cũng dung chứa một vốn trỉ thức tuyên bác về nhiều lĩnh vực” [67]

Ngoài ra, có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu tiểu thuyết Hỗ Anh Thái từ nhiều góc nhìn như: Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Hỗ Anh Thái, Hình tượng nhân

vật và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết HỒ Anh Thái, Tiu thuyết Hà Anh Thái

dưới góc nhìn liên văn bản, Kĩ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết HỖ Anh Thái, Nghệ

thuật trào tiu trong tiểu thuyếy Hỗ Anh Thái, Thủ pháp nhạt trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái; Yêu tố Phật giáo trong Cồi người rừng chuông tận thể và Đức Phật, nàng Saviri và tôi NhÌn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu đồng thống nhất ở một điểm: Ghỉ nhận đóng góp của Hồ Anh Thái trong việc đổi mới văn học; khẳng định tải năng của ông đặc biệt ở thể loại tiều thuyết Tranh Van Gogh mua dé đắt là tác phẩm được vi

vây tỉnh hình nghiên cứu chưa nhiều, chỉ có một số bài viết ngắn hoặc giới thiệu sách Trong bài báo Tranh Van Gogh mua để đốt thách thức độc giá, Thu Hoài nhẫn mạnh sự tài hoa, độc đáo ở Hồ Anh Thái từ việc đặt tên cho tác phẩm, xây dựng nội dung sách cho đến cách kế chuyện đẩy cuốn hú Theo tie git: “Chin dung bac st Gachet la bức tranh nhỏ, Hồ Anh Thái trong tác phim Trank Van Gogh mua dé đắt muôn bản đến khung cảnh to hơn: bức tranh cuộc đời Xoay quanh chuỗi sự việc mua tranh - đốt tranh - cứu tranh, những mảnh đời cứ thể biện lên như những mảnh, ghép khác nhau của bức tranh bàng trăm, hàng nghin minh” [26] Ngudi viết cũng chú

Ý giong điện tiên thuyết Hồ Anh Thái: “Trong nghệ thuật biểu hiện, giọng điệu quen thuộc nhưng không kém phần độc đáo là giọng bì - hải Tranh Van Gogh mua dé đất bên cạnh chủ đề mới lạ thì còn được hấp dẫn bởi chính cách xây dựng cốt truyện tải hoa của tác giả Đánh lạc hướng độc giả bằng lỗi kế hôm hình chỉ rong một cấi chớp mắt, Hồ Anh Thái đổi ngữ điệu và để họ rơi vào cái hồ đầy bi kịch Chính hai sắc thái Bì - Hai xen kẽ, bổ sung cho nhau đã mang đến cảm giác như bị chơi

án trách lại vừa khâm phục của người đọc” [26]

Phan Trọng Hoàng Linh, trong bai Khi bức œanh bị đốt (Báo Văn nghệ số 12/2018 nhận định: "Đặt tên cho sách là một nghệ thuật Và Hỗ Anh Thái thuộc số nhà

ý tưởng tai boa trong việc gọi tên những cuốn sách của thuyết mối nhất của ông không phải ngoại lệ: Tranh Van Gogh mua để đổi” Theo tác giả bài báo: "Sự kết hợp nghịch dị ngay từ nhan đề Tranh Van Gogh, một biểu tượng có tính nhân loại của đời sống nghệ thuật" Dù chưa để cập nhiều đến

kí hiệu, biểu tượng nhưng Phan Trọng Hoàng Linh cũng đã chỉ ra nét đặc sắc trong nghệ thuật viết tiểu thuyết này lã: “Việc kết hợp nhiều âm sắc tư tưởng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái không phải điều lạ Với Tranh Van Gogh mua để đắt, sự chủ đạo của sắc thái bài hước hay được hòa điệu trong những khoảnh khắc lắng đọng của cấi

Trang 15

đọc trong giọng kế hóm hinh, rồi đột ngột thay đổi tiết tấu và âm sắc, khiển họ lọt thỏm vào một khoảng không buồn Giữa trạng thái phức điệu Ấy, theo tôi, vẫn có thể phân giới một cách tương đối ba âm sắc tư tưởng dựa trên ba mẫu chuyện tiêu biểu:

“Chuyện đặt tên tranh (cái hài) ~ Chuyện đời Sép (cái bì hài) ~ Chuyện đời chàng Kỹ sư (cdi bi)” Tác giả gọi đây là "phức điệu trong âm, [32] Tác giả khái quát

*Tranh [an Gogh mua để đối, với kỹ thuật viết đã đạt đến cảnh giới tự nhiên, mang đến

cho người đọc những trải nghiệm thú vị về trạng thái phức điệu của cuộc đời” [32] Trong bài viết Tranh Van Gogh mua để đắt (la trên báo Tiền Phong, ngày 19/11/2018), ở phần mở đẳu, Phó Minh Châu khái lược: “Tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn da dạng về ngôn từ, độc đáo về cốt truyện và tài hoa trong việc xây dựng nhân vật cùng nghệ thuật đặt tên cho tác phim Tranh Van Gogh mua để đất là cuỗn tiêu thuyết mới nhất của ông, một lần nữa kéo người đọc vào một mê cung phức tạp của những mảnh ghép, những số phân nhân vật, những câu chuyện lạ lùng và những trò chơi đầu trí tắt cả đều bắt đầu bằng việc đốt bức tranh Van Gogh 82,5 triệu đô la” [9]

Gần đây nhất, tác giả Lê Thị Hường trong bài viết Sự vơ đập kí hiệu thắm mỹ trong tiéu thuyết của Hỏ Anh Thái đã cỏ những phân tích khá cụ thể về tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua 4é dds Theo tác giả tài báo, “với Tranh Van Gogh mua để đá,

Hồ Anh Thái gây ấn tượng về sự lạ mới ngay từ nhan đề”, bài viết cũng chỉ rõ "Sự và

sống Ding sau số phân của

Như vậy, "Hồ Anh Thai nói chung và tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua dé đắt nôi riêng, cho đến nay, chưa hé được một cá nhân nào nghiên cứu dưới nền tăng kí hiệu học

‘Anh Thai trong việc cách tần tiểu thuyết Việt Nam trong xu thể toàn cầu hồ

3, Đối tượng và phạm vĩ ng

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tả là tiêu thuyết Tranh Vam Gogh mua để đắt của

Hỗ Anh Thái từ góc nh kí hiệu học văn học

Trang 16

Pham vi nghiên cứu của đề ải là từ lí thuyết kí hiệu học văn học, khảo sát mã nhân vật, hệ chủ đề và nghệ thuật kể chuyện (qua chiến lược trần thuật, tổ chức kết cấu, tạo mã không- thời gian, kí hiệu ngôn từ và biểu tượng- một dạng kí hiệu đặc biệt) trong tiêu thuyết Tranh Van Gogh mua để đối của Hồ Anh Thái

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp liên ngành

“Trong luận văn, chúng tôi đã vận dụng kiến thức ngành văn hóa học và xã hội học để giải thích ý nghĩa của hệ thống kí hiệu thẩm mĩ, biểu tượng văn hóa và các mã dưới góc nhìn kỉ hiệu học văn học

4.2 Phương pháp hệ thống - cầu trúc

Đặt các mã và biểu tượng trong hệ thống qua đó khai thác nội dung, phát hiện ra

ý nghĩa hàm ẩn, thông điệp mà nhà văn gửi gắm sau mã cũng như các biểu tượng đó

4.3 Phương pháp thống kê, phân lo;

“Chúng tôi tiền hành khảo sát ~ thống kê tằn số xuất hiện của các kí hiệu thẩm mĩ trong tiểu thuyết Tranh: Van Gogh mua để đốt; từ đó phân loại để có cái nhìn cụ thể và giải mã thông điệp của nhà văn

4.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu

So sánh tiêu thuyết Tranh Van Gogh mua để đắt với những tiêu thuyết trước đó của Hồ Anh Thái, cùng với một số tiểu thuyết của các nhà văn cùng thời để định phong cách tiểu thuyết Hỗ Anh Thái - sự thống nhất và đa dạng trong lỗi viết của nhà

5 Đồng góp của luận văn

5.1 Qua việc giải mã tiểu thuyết của Hồ Anh Thái từ góc nhìn kí hiệu học văn học, luận văn khẳng định sự sắng tạo, cách tân và tính đa nghĩa trong nghệ (huật viết tiêu thuyết của Hỗ Anh Thái

5.2 Đề xuất một hướng tiếp cân tiêu thu

'Việt Nam hiện đại, qua đó có thể giải mã những

văn gửi gắm trong tác phẩm

5.3 Gợi mở một hướng tìm hiễu, nghiên cứu tác phẩm văn học trong nhà trường theo cách tiếp cân tác phẩm đựa vào lí thuyết kí

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mỡ đầu, Kết luận va Tai liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm bạ chương:

chuyên rong tiễu thuyết Tranh Van Gogh mua dé dét

Trang 17

Chương 1: DAC DIEM TIEU THUYET HO ANH THAT

TỪ GÓC NHÌN KÍ HIỆU HỌC VĂN HỌC

iới thuyết một số thuật ngữ liên quan

1.1.1 Kí hiệu học và kí hiệu học văn học

'Kí hiệu học dù manh nha lâu đời song thực tế sự xuất hiện và phát triển chỉ bắt

đầu từ thế kỉ XX, rằm rộ hơn là từ những năm 1960 trở lại đây Kí hiệu học (semiotics)

là khoa học nghiên cứu về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động của kí hiệu và hệ thống kí hiệu Ferdinand de Saussure (1857 - 1913) và Charles Sander Pierce (1839 - 1914) được xem là những người đặt nền móng cho ngành khoa học này

Saussure - nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, người được coi là cha đẻ của ngành ngôn ngit hoe thé ky XX, quan niệm ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, mỗi kí hiệu ngôn ngữ có hai phương diện không thể tách rời nhau như hai mặt của một tờ giấy Đó

Tà cái biểu đạt và cái được biều đạt, Cái biểu đạt là mặt hình ảnh ~ âm thanh còn cái được biểu đạt là mặt khái niệm của kí hiệu Saussure cho rằng nghĩa nảy sinh trên cơ

sở mỗi quan hệ cái biểu đạt và cái được biểu đạt chứ không phải nảy sinh bởi sự quy chiếu đến đối tượng có trong hiện thực khách quan bên ngoài hệ thống ngôn ngữ Cụ thể, cái được biểu đạt là quan niệm của chúng ta về sự vật Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ quan niệm ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu (sign) nhiều tầng được người bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, biễu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng Ông đặc biệt quan tâm đến thể lưỡng phân của ngôn ngữ gồm: năng biểusở biểu, tính có nguyên dofnh võ đoán, ngôn ngữilời nói, đồng đạiịch đại, trục kết hợp/ưrục liên tưởng, ngữ trgng/chuyén bin Nếu mô hình: kí hiệu (sign) = cái biểu dat (significr) + cái được bigu dat (signified) của Saussure được xem là mô hình nhị phân thì Charles Sander Pierce - là một trí mô hình kí hiệu theo tương quan ba mặt gồm những yếu tố tồn tại trong sự tương tác lẫn nhau: đối tượng (object), ki higu (sign), si diễn giải (interpretaions) được gọi là mô hình tam phân

“Theo C Pieree, một kí hiệu luôn là

cái gì đó trong quan hệ hoặc khả năng nào đó” và nó là "mọi thứ để xác định một thứ

gì khác” để ám chỉ đến một đổi tượng m nó được quy vào”

Nhu vay, néu Saussure xem một kỉ hiệu được tạo thành trong mỗi quan hệ của nó với các kí hiệu khác rong một hệ théng thi Pierce xem một kí hiệu được tao thành trong mỗi quan hệ của nó với đối tượng được thay thể

(Cé thé thay ca Peirce, lin Saussure du chon một đơn vị nhỏ nhất, không thé chia lầm đơn vị khởi điểm, có ý nghĩa nền tăng Với Peirce, don vi nhd nhit nay la ki hiệu Theo ông, kí hiệu không thể phân rã thành các thảnh phin nhỏ hơn và mang tỉnh thiết yêu từ góc độ kí hiệu học Những kí hiệu riêng lẻ giản đơn có thể tạo thành các tổ hợp kí hiệu phức tap hơn, thành các phát ngôn mà tổng thể của nó sẽ tạo thành ngôn

Trang 18

ngữ Cho nên, kí hiệu là thành tổ quan trọng hơn rắt nhiều so với ngôn ngũ: việc miêu

tả chính xác các kí hiệu và quy tắc cú pháp của chúng sẽ tự động đảm bảo cho việc miều tả ngôn ngữ đúng đắn Còn Saussure lấy cặp đổi lập ngôn ngữ và lời nói làm nền mồng xây dựng lí thuyết Trong hệ thống lí thuyết này, hành vỉ giao tiếp riêng lẻ - sự trao đổi thông tin giữa người gửi và người nhận - được chọn làm đối tượng nghiên cứu như là nhân tổ khởi nguyên và là mô hình mẫu của mọi hành vi kí hiệu học Như vậy, hoạt động giao tiếp kỉ hiệu của cá nhân được xem là mô hình ngôn ngữ tự nhiên, những mô hình của các ngôn ngữ tự nhiên thì được xem là mô hình kí hiệu bọc tổng hợp, còn bản thân kí hiệu học thì được diễn giải như là sự ứng dụng mở rộng các phương pháp ngôn ngữ hoc vio những đối tượng không thuộc phạm vỉ ngôn ngữ học truyền thống

"Ngoài Saussure va Pierce thi Roland Barthes vi Umberto Beo cũng được biết đến như những nhà kí hiệu học nổi tiếng

Roland Barthes la một nhà lí luận văn hoe,

Được xem như một trí thức hàng đầu ở Pháp thập niên 1960-1970, các

ông đã có ảnh hưởng sâu rộng lên các lĩnh vực trong ngôn ngữ học như

cả nhân chủng học và đặc biệt là kí hiệu hoe Roland Barthes, tng hap những khái niệm ngữ học và kí hiệu học từ đầu thế kỹ đưa vào phê bình, tạo ra một cái nhìn khá toàn diện về các ngành nghệ thuật, và ngoài nghệ thuật Dưới con mắt Barthes, mỗi hệ thống kí hiệu, đ đối tượng khảo sát của phê bình Ngoài ngôn ngữ viết, cở

có các hệ thống kí hiệu khác như ngôn ngữ máy móc, ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ truyền hình, ngôn ngữ vi tính v.v Như vậy, phê bình kí hiệu học thực sự đi vào mọi kẽ ngách của đời sống hàng ngày, trở nên một thực thể lưỡng diện, vừa bác học, qua cách phân tích, lý giải, vừa bình dân, vì đối tượng của nó là những sinh hoạt của đời sống

Lủi xa hơn trong bức tranh học thuật sôi động néi trên, Umberto Eco, mét triét gia, nhà văn, nhà phê bình và một nhà ký hiệu học người Ý, từng quan

ý thuyết kí hiệu học của Peiree luôn có ý thức gắn lý thuyết kí hiệu học với triết học nhân văn Vấn đề mà Peiree từng day dứt đặt ra: "Con người là gì? Con người phải chăng là một kí hiệu?” đã được Eco tiếp tục tìm cách trả lời qua hệ thống lý thuyết kí hiệu học của mình: Con người là một động vật có tín ngưỡng; Con người luôn mang trên mình bai tín hiệu gắn với cãi xấu và cái đẹp; Con người là một cỗ máy sản xu hiệu khéng Id Theo Eco, tin higu phải gắn với sự diễn giải Đó là một sự pht triển cao nhất quan điểm mã văn bản của Barthes (ma văn hoá, mã giải thích, mã tượng trưng, mã ký hiệu, mã trằn thuật Chính trong kha năng diễn giải, ý nghĩa kỉ

sản sinh Tôm lại, đồng góp của Eco có tính đột biển đối với khoa nghĩ

"Nếu R Barthes đồng vai trò là người xây dựng phân môn kí hiệu học,

Tả người có công phát triển và đổi mới căn bản

Trang 19

Ngày nay, văn bản được nhiễu nhà kí hiệu học xem là đối tượng nghiên cứu trung tâm Các nhà ngôn ngữ học định nghĩa văn bản như là chuỗi kí hiệu trên câu, là một chỉnh thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Họ chủ yếu đi sâu vào các dạng văn bản ngôn ngữ thuộc các phong cách chức năng khác nhau Trong khi đó, các nhà cấu trúc - kí hiệu học đi sâu vào vấn đề "nghĩa”, coi

“nghĩa” như là Ốt lõi của văn bản Văn bản nghệ thuật cũng là trung tâm

nghiên cứu của cả trường phái Taru-Moskva mà người đi đầu là lu M Lotman Bản

thân Lotman đã đưa ra những quan niệm hết sức hiện đại về vẫn dé nay

lu Lotman (1928 - 1993) đã phát triển quan điểm kí hiệu học dựa trên truyền thống kí hiệu học ngôn ngữ khởi nguén tir Saussure, Lotman cho rằng: *Kí hiệu học văn hóa là bộ môn khoa học có nhiệm vụ khảo sát sự tương tắc giữa các hệ thống kí hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vénh lệch, không đồng bộ tự bên trong của không gian kí hiệu học, nghiên cứu sự cằn thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hóa hiệu học 36, tr.142] Vì thế, kí hiệu học có mỗi quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ với văn hóa Trong ngôn ngữ học cấu trúc của Saussure, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, là trung tâm của mọi mô tả học, Còn với kí hiệu học văn

trừng tâm trong quan niệm kí hiệu học của nó, Kí hiệu học văn hóa nghiên cứu các văn bản

‘Vain ban văn học sử dụng ngôn ngữ văn học nên nó là một hệ thống kí hiệu phục

vụ cho giao tiếp Đó là sự giao tiếp giữa tác giả và bạn đọc Nhưng hơn thể nữa, nếu

ngữ của nó,

Ở Việt Nam, cho đến nay, công trình lí luận về kí hiệu học không nhiều Các nhà

lí luận quan tâm đến kí hiệu học đều tìm cách định nghĩa

tông này

“heo Từ điển thuật ngữ Văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): “Ki higu học là khoa học về các kí hiệu và hệ thống kí hiệu (semiology) nghiên cứu mọi phương thức giao tiếp (truyền thông tin) bing các biểu trưng, Ki hiệu học khảo sắt sự gián tiếp của động vật, của con người và các quan hệ trong hệ thống "người - máy” Những khách thể nào có thể khảo sát được như những ngôn ngữ đều là đối tượng của kí hiệu học” [21, tr.165] Theo các tác giả việc *Vận dụng kí hiệu học vào văn học nghệ thuật cho phép nhìn nhận phương diện bắt biến của

Trang 20

chúng như những ngôn ngữ độc lập: "ngôn ngữ ba lê”, "ngôn ngữ xiếc”, "ngôn ngữ phim câm”, "ngôn ngữ kịch nói”, *Ngôn ngữ các thể loại” Kí hiệu học cũng chú ý đến các đặc điểm cá nhân ở văn bản Nếu trước đó văn bản chỉ được coi như sự thực hiện các mô hình ngôn ngữ thì lúc này nó được nghiên cứu trong sự sung đột với ngôn ngữ

~ như kẻ tham dự trở chơi *thực thì - không thực thi” ede quy tắc cấu trúc Qua chức

ig nay, van ban hiện diện không chỉ như vật truyền thông tin thụ động mả còn như nguồn phát thông tìn, văn bản trở thành kẻ tham dự tích cực vào một hệ thống năng động: ngôn ngữ - tác giả - công chúng Mặc khác, kí hiệu học cũng tương quan giữa văn bản với ngữ cảnh văn hóa rộng” [21, tr 166]

‘Trong công trình Từ kí hiệu đổn biểu tượng, Trịnh Ba Binh cho ring: “Ki hiệu học trước hếtlà kí hiệu văn hóa ”; *Văn học có thể coi là một hình thái văn hóa bởi vì các thành phần của hệ thống văn hóa như các hệ thống kí hiệu khác nhau” 14,

ký hiệu ngôn từ, mặc dù nó cũng thừa nhận sự hiện diện nghĩa phi ngôn từ trong văn học” (6, tr.101] Từ đó, Lê Huy Bắc nêu một cách hiểu: Kí hiệu học văn học “la mot dang siêu ký hiệu học, vì nó không chỉ nghiên cứu ký hiệu ma nghiên cứu chính chủ thé tao sinh ký hiệu trên cả ba bình diện: người phát — thông điệp ~ người nhận” [6, {1.106} Vi vay, nghiên cứu một tác phẩm từ kí hiệu học văn học bao gồm các mỗi liên

hệ Nhà văn - Tác phẩm - Người đọc

1.1.2 Kí hiệu và mã văn học

Kí hiệu luôn nhận được sự quan tâm của cả ngành khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội Bản thân kí hiệu vẫn luôn có sự vận hành và thay đổi không ngừng cùng với sự thay đôi của xã hội, chính vì thể chưa có một định nghĩa cuối cùng nào cho kí hiệu

Có giao tiếp là có kí hiệu Cụ thể hơn, kí hiệu được hình thành tong giao lếp, được "mã hóa” và "giải mã nghĩa” từ một hệ thống, ngữ cảnh nhất định Saussure cho rằng, kí hiệu chính là cái mà con người ding để giao tiếp (nói hoặc viế) Đó là

uy ude của con người về sự vật hiện tượng, dùng làm phương

quan tim đến kí hiệu học văn học cũng

Khải niệm mã Lê Huy Bắc, định nghĩa: "Kí hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, được con người săng tạ, mã hóa, đễ chuyển tải thông điệp, phục vụ giao tiếp thông qua một "bệ nghĩa” nhất định trong từng bối cảnh eu thé” (6, tr12] Từ đó, tác giả giới thuyết: "Mã là những quy ước nghĩa của kỹ hiệu, là *điễm nỗi” nghĩa giữa cái biếu đạt và cái được biểu ạt Khi được smi ha vé nghĩa thì ký hiệu mới là kỹ hiệu [6, t1], Có thể thấy mỗi quan hệ tương ứng giữa mã và kĩ hiệu “Trong giao tiếp, mã được xác định à sự trao đổi nghĩa được

khái niệm kí hiệu

Trang 21

đại diện bởi kí hiệu Mã là quá trình biểu nghĩa trong một hệ thống nào đó Người nói

mã hóa nghĩa vào trong dạng kí hiệu đặc thù như âm thanh, kí tự hay điệu bộ, người nghe giải mã nghĩa từ hệ thống kí hiệu mà họ nhận được Do vậy, mã là một tổ hop hay một hệ thống luật và sự tương thích, nối kí hiệu với nghĩa” và "mỗi quan hệ giữa nghĩa và kí hiệu là ngẫu nhiên, tùy quy ước mã Điều quan trọng là cả người phát và người nhận đều có chung một cách dụng mã nào đó thì kí hiệu đó mới có thể hiểu

được" [6, tr.18] Như vậy, với Lê Huy Bắc thì “Mã là những quy ước về nghĩa, ngằm

ẩn hoặc công khai giữa người phát và người nhận trên một loại kí hiệu nào đó” [6, trl9|

Theo Trần Đình Sử, *mã như là quy ước đầu tiên được nhận biết qua việc làm mật mã, tức là ám hiệu” Trong văn học “miêu tả các hiện tượng đời sống trước hết

kí hiệu đã mã hóa ý nghĩa rong đó Sáng tác văn học chính là sáng tạo một bức tranh thể giới được mã hóa Một câu chuyện, một nhân vật, một chân dung, một phong cảnh, một chỉ tiết đều là những hình ảnh đã mã hóa ý nghĩa trong đó” [50] Theo Trần Đình Sử, “việc phân tích hình ảnh, câu chữ là giải mã Tra từ điển tim nghĩa từ chưa biết cũng là giải mã So sánh các chỉ tiết với chỉ tiết tương tự trong tắc phẩm

hóa thông tin nghệ thuật dựa trên những quy tắc về mã chất liệu, mã hình tượng, mã

a mã biểu tượng Diều đặc biệt của hoại động mã hóa thông tin trong văn bản nghệ thuật là ở chỗ thông tin ở đó bao giờ cũng mang tính chất da nghĩa, mơ hỗ, khó xác định chứ không phải là những thông tin mang tính cụ thể, chính xác như trong các văn bản pháp luật, văn bản kinh tế Quá trình mã hóa trong văn học chính là quá trình tạo ra những khả năng giải mã khác nhau Do đó, ở quá trình này, bóng dáng người đọc đã xuất hiện trong tư duy thấm mĩ

ý đồ nghệ thuật của nhà văn

Hiện thực hay đời sống mà nhà văn hướng tới khi sảng tạo văn học là một thể giới kí hiệu, trong đó bắt cữ hiện tượng nào cũng được mã hóa một ý nghĩa nào đó

“Sang tic van học chính lã sảng tao một bức tranh thể giới được mã hóa” Nhà văn khi sáng tác vẫn sử dụng các mã thông dụng nhưng do đặc trưng của nghệ thuật, tắc giả phải tiến ảnh lạ hóa sử dụng các biên pháp la hóa dé lap ma Dé “doc” được tác phẩm, thì người đọc phải su va phải biết "giải mã", Không phải quá trình giải mã nào cũng chuẩn xác tuyệt đối bởi sẽ trường hợp giải mã chưa tết hoặc sai Cũng có trường hợp người đọc giải thêm hơn nhiều mã bằng kinh nghiệm của riêng mình mà khi viết nhà văn có thể không hoặc chưa nghĩ đến Người đọc đồng

Trang 22

sing tgo để mở rộng nội dung tư tưởng của tác phẩm, những tác phẩm như thể sẽ tồn tại lâu bồn và lúc nào cũng mới mẻ, tạo những giá trị lâu bền trong lòng độc giá 1.1.3 Kí hiệu và biểu tượng

Kí hiệu là một hiện tượng bên ngoài có tính chất cổ định của sự vật hiện tượng trong hoạt động lao động và nhận thức của con người Qua lớp vỏ này, con người nhận được những thông tin mà sự vật, hiện tượng này muốn biểu đạt như đền giao thông, tiếng trống vào học, kí hiệu toán học Nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đỉnh nói về kí hiệu trong ngôn ngữ như sau: *Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ có hai phần: cái biểu đạt (le signifian) và cái được biểu đạt (le signifi) Cái biểu đạt là một hình ảnh thính giác, cái được biểu đạt là một hình ảnh khái niệm Không có mỗi liên hệ ắt yếu nào giữa ký hiệu với vật được chỉ định, hay như người ta thường nồi, liên hệ giữa chúng là võ đoán” [14, 20}

Trong công trình Từ ki higu dén biéw ương, Trịnh Bá Đĩnh xem "kí hiệu và các

hệ thống kí hiệu là cơ sở của văn hóa” Từ đó tác giá nêu quan niệm *biễu tượng cũng

là kí hiệu, bay nói cụ thể hơn, là một dạng đặc biệt của kí hiệu” [14, tứ 11]

XXết theo nghĩa từ nguyên, "biễu tượng” trong tiếng Hán được cắt nghĩa như sau: biểu” có nghĩa là bầy ra, trình bày, dấu hiệu để nhận biết một điều gì đó; “tượng” có nghĩa là hình tượng, "Biểu tượng” là một hình tượng nào đó được phô bảy ra dé ts thành một dấu hiệu, kí hiệu tượng trưng nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng, Còn trong tiếng Anh, ,biễu tượng” là symbol Thuật ngữ "symbol” được bắt nguồn từ Hi Lạp là *Symbolon” Nó có nghĩa là kí hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng

C6 thể nói, trong quá trình cố gắng cắt nghĩa, lý giải biểu tượng, các nhà nghiên nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau ở việc biểu tượng mang bản chất ký hiệu, nỗ gồm hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt “Cái biểu đạt của biểu tượng

số thể là một vật, hành vị, hình ảnh trong nghệ thuật, đấm rước, lễ h

đđạlà nội dung (ý nghĩa, khái niệm) hàm chứa trong đó Nội dung ấy có tính bao quát, tinh chung, tính quy luật” [14, tr21]

Vay 66 sự khác nhau nào giữa kí hiệu nói chung tong đời sống con người với kí hiệu trong tác phẩm văn chương? Trước hết, cần phải khẳng định, tác phẩm văn học là loại kí hiệu hướng tối chính nó Đặc điểm này của kí hiệu nghệ thuật mâu thuẫn với việc sử dụng kí hiệu thông thường, loại kí hiệu luôn hướng tới cái gì khác bên ngoài, tới đối tượng mã nó biểu thị "Đặc trưng của kí hiệu thẳm mỹ lä không nói đến sự việc nào đó của thể giới mà là nó khắc họa các sự việc; với kết cầu song hành, tương ứng,

1 goi ra cai ấn tượng không liên quan cụ thể đến điều gì cả nhưng buộc người đọc phải liên hệ đến Tác ph 15, n6 không phản ánh

giúp cho chúng ta có cái Ấn tượng và hình thức đồi sống để nhờ đó chúng ta cổ thể bi được về xã hội thế tục" Nói cách khác, văn bản văn học chính là “một hệ thống kí hiệu thứ ai" ngôn ngữ văn chương là "ngôn ngữ phái sinh” từ ngôn ngữ tư nhiên

Trang 23

Đẩy la dang tinh ty của ngôn ngữ Nói cách khác, đó là kí hiệu nghệ thuật của kí hiệu,

“la sq thing hoa ngôn từ mang đậm cảm xúc cá nhân”, Vì vậy, có thể đi đến kết luận,

từ kí hiệu rong đời sống thường nhật đến kí hiệu nghệ thuật là cả một bước tiền lâu dài, phải đạt đến "nhãn quan thẩm mỹ” nhắt định thì mới có kí hiệu nghệ thuật

Các nhà kí hiệu học đã căn cứ theo chất liệu cái biểu đạt để chia ra các loại kí hiệu khác nhau như: kí hiệu tự n iệu biểu hình, kí hiệu - biểu tượng Trong,

đó kí hiệu - biểu tượng được hiểu là dạng kí hiệu không những chỉ định một vật nào đó

mà còn mang ý nghĩa rộng hơn Nếu kí hiệu thuộc loại khác chỉ liên quan đến các sự vật của thể giới hiện thực, đến đời sống, tâm lý cá nhân, thì kí hiệu - biểu tượng còn hướng đến các giá trị cộng đồng, như quốc kỳ, quốc ca biểu thị cho sự độc lập của một quốc gia Nhà kí hiệu học văn hóa nỗi tiếng người Nga lu Lotman thì

lêu tượng (Symbo]) là một trong những từ nhiều nghĩa n

học về ký hiệu” Điều đó cũng có nghĩa là không dễ dàng khu biệt nội hàm nghĩa của gọi là "biểu tượng” và đôi khi chúng ta cảm giác được một âm thanh, hình ảnh, ký

tự nào đó là biểu tượng nhưng chúng ta lại không thể cắt nghĩa được một cách tường mình Đúng như J Chevalier đã nói: "Không cách gì định nghĩa cho được một biểu tượng Nó giống mũi tên bay mà không bay, đứng im mã biến do, hiển nhiên mà không nắm bắt được Ta sẽ phải dùng các từ ngữ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của biểu tượng nên phải luôn nhớ rằng, các từ không thể diễn đạt được hết ý nghĩa của biểu tượng” Phải chăng chính sự mơ hỗ, biển ảo đó đã khiến cho biễu tượng có sức mạnh biểu đạt mạnh mẽ và với các nhà văn nó trở nên phủ hợp hơn cả để họ nói về một bức tranh thể giới nhiễu tằng, nhiều lớp, đầy hỗn độn, phi lý, ngẫu nhiên

Trong văn học, nói đến biểu tượng, người ta thường chủ ý đến hai dấu hiệu nhận biết: biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực; biểu tượng không chỉ mang nghĩa đen, nghĩa biểu vật, nghĩa miều tả mã biểu tượng còn là hiện tượng chuyển nghĩa Vi biểu tượng nghệ thuật được xem là kí hiệu thẩm mỹ đa nghĩa, là sự mã hóa cảm xúc, ý tưởng của nhà văn Biểu tượng mang trong,

kí hiệu thông thường ở chỗ nó tích đọng trong mình những ý nghỉ

công đồng giai cấp, dân tộc, nhân loại thừa nhận, nó luôn hướng về một nghĩa cổ định

ảo đó, nhưng đồng thời lại tiém ân khả năng mở ra những ý nghĩa khác trong sự cảm nhận của con người Biểu tượng là phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn Việc nghiên cứu, khám phá, giái mã biểu tượng giúp ta hiểu sâu hon ban chit sing tao nghệ thuật, góp phân triên khai thêm hướng nghiên cứu thì pháp hình tượng, đem lai những khám phá mới mẻ và lý giải quá trình sáng tao của nghệ sĩ Biểu tương nghệ thuật không hề chết cứng qua thời gian mà luôn có xu hướng tái sinh về mặt ÿ nghĩa, cho dẫu thời đại phát sinh nó không cùng hiện hữu Điều này là bởi ngoài môi trường thời đại, biểu tượng nghệ thuật côn tồn tại trong một môi trường không bao giờ mắt đi: chỉnh thể tác phẩm Những nét nghĩa truyền thống là mẫu số chung nhưng không hoàn kết, cũng có nghĩa là biểu tương nghệ thuật luôn luôn có xu hướng cách tân

Trang 24

Coi biểu tượng như một dạng kí hiệu đặc biệt, mà "cái được biểu dat” (hinh anh,

sự vật, sự việc) gợi người đọc đến một nội dung khác ngoài nghĩa hiễnlộ trực tiếp Nội dung khác này đa nghĩa, mo hd, xa la, ting ẩn, chỉ với lí trí không thể nắm bắt và diễn

tả hết được Nhìn tổng quát, văn chương là một dạng kí hiệu Nghiên cứu văn chương thực chất là nghiên cứu kí hiệu ngôn từ, một dạng kí hiệu đặc thù, kí hiệu thẩm mĩ liên văn hoá, đa tằng bậc Từ việc sử dụng kí hiệu ngôn ngữ như một phương tiện để giao tiếp thì biểu tượng cũng phát triển theo Biểu tượng hiểu một cách đơn giản chính là những hình ảnh, sự vật hiện tượng trong thể giới khách quan được lưu lại trong nhận thức của con người khi sự vật hiện tượng đó không còn nữa Có th nói, biểu tượng là hình thức cao nhất của trực quan sinh động xuất hiện trên cơ sở của sự hiểu biết, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và do tri giác đem lại Kí hiệu thường đơn gián, dễ hiểu, có thể thay đổi tùy mục đích còn biểu tượng lại mang tính khái quát cao hơn, ngoài sự trí giác còn cần có sự phân tích, tổng hợp một cách tỉnh tế và sâu sắc

"Nhiều tác giả thể hiện những đánh giá khác nhau khi định nghĩa về khái niệm biểu tượng Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thể giới (Jean Chevalier), "Biểu tượng

cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt

và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một năng lực hoạt động tổ chức” [37, t.19]

Với Từ điển Tiếng Việt 2011 (Hoàng Phê), "Biểu tượng là hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng; là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật

cn git Iai tong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta di cl

Biểu tượng còn là kỹ hiệu bằng bình đồ họa trên màn hình máy tính, tượng trưng cho một chương trình, một file dữ liệu, người sử dụng có thể kích chuột vào đây để chon một thao tác hoặc một ứng dụng phần mễm nào đó” [46, tr26]

“Theo Từ điển thuật ngữ vấn học, "Biêu tượng như là thuật ngữ của mỹ học, lý luân văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng, nó có

hẹp Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật Đặc,

hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thể giới, làm cho con người và cuộc sống hiện lên

y như thật Nhưng hình tượng cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thể giới hoàn toàn mang tinh biểu tượng Cho nên, theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phan ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hep, biểu tương là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa kh quất được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một trấết lý sâu xa về con người và cuộc đời” [21, tr.24] Là một phương thức chuyển nghĩa của lồi nói, biểu tượng có quan hệ gần gũi với ẩn dụ, hoán dụ Tuy nhiên, nếu Ấn dụ, hoán dụ tạo ra những mỗi liên hệ lâm thời, rời rạc, những quy ước đơn giản giữa cái biễu đạt và cái được biểu đạt, có tác dụng biểu nghĩa thì biểu tượng

Trang 25

tạo được sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Chính những hình ảnh của sự vật, hiện tượng của th giới xung quanh trên cơ sở các cảm giác và trì giác đã xảy mm trước là yếu tổ tiền đề hình thảnh biểu tượng trong ý thức, tư duy của con người

"Những sự vật tưởng chừng rất đơn giản nhưng lại Ẳn chứa nhiều ý nghĩa và giá trị khác nhau Do đó, nếu nhìn từ đặc trưng phản ánh hiện thực bằng hình tượng của văn học nghệ thuật, có thể xem tác phẩm văn học như là một biểu tượng, một chỉnh thể thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp Từ đó, việc giải mã biểu tượng góp phần giúp độc giả xút ngắn được khoảng cách với người sing tác đẻ thấu hiểu được những giá trị sâu xa của tác phẩm cũng như những bút pháp đặc sắc, độc đáo của tác giả Như vậy, biểu tượng chính là toàn bộ những đặc điểm bản thể của đối tượng có khả năng gợi lên một

ý nghĩa rộng hơn trong nhận thức của con người ở cả cl võ thức và sự soi tỏ của ý thức Bản thân biéu tượng văn học luôn là biểu tượng phi vật thể Khái niệm và ý nghĩa của biểu tượng không bao giờ tồn tại như một hằng mà là một dòng chảy bắt tân trong suốt chiều dài của lịch sử

Trong dòng chảy văn học hậu hiện đại, văn chương đã kịp cắp thêm nét nghĩa mới cho những biểu tượng cũ đồng thời cũng khởi tạo ra những biểu tượng mới Trong hầu hết tiểu thuyết của Hỗ Anh Thái, hệ thống kí hiệu được nhà văn xây dựng tạo sự cuốn hút và mang tính kích thích cao Kí hiệu lúc này đã trở thành một hệ thống biểu tượng đa nghĩa, gợi mở và đồng sáng tạo Những biểu tượng này được sử dụng như một ân dụ cho trang thái tỉnh thần của con người trong một xã hội không ngừng biến đội

1.2 Khái lược tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn kí hiệu học văn học

Hỗ Anh Thái được xem là một “tiểu thuyết gia lực lưỡng” Ngoi truyện ngắn va tan văn, cho đến nay, nhà văn đã liên tục sáng tác hơn 10 tiểu thuyết, mỗi tác phẩm là một cách viết khác nhau La nha văn tâm huyết với nghề, luôn trăn trở tìm để tránh lặp lại lối mòn, Hồ Anh Thái đã đóng góp không nhỏ cho văn học đương đại nói chung và thành tựu của tiêu thuyết nói riêng Nhìn một cách tổng quát, từ góc nhìn kí hiệu học văn học, tiểu thuyết Hỗ Anh Thái gây ấn tượng đặc biệt từ hệ thống nhan đề chất liên kí hiệu

1.2.1 Mã nhan đề

“Từ góc nhìn kí hiệu học, nhan để là mot "mã” đặc biệt, thông tin ới nghệ thuật của một tác phẩm Nhìn chung, khi nhà văn khi đặt tên một tác phẩm đồng nghĩa với việc tao mã, và người đọc khám phá văn bản bằng cách giải mã qua các kí hiệu

kết nhau ở nhan đề "Trong hầu hết các văn bản, nhan đề là kí hiệu kết

kí hiệu thấm mĩ khác và là kí hiệu trung tâm, châu tuần mọi lớp nghĩa được biểu đạt, nghĩa tiềm én của tác phẩm”; "là yếu tổ dẫn đất, gợi mỡ các quá trình khám phá văn bản, "nhan để là một kỉ hiệu thấm mĩ quan trọng”

để đồng nghĩa với việc nắm chìa khóa mỡ lỗi vào ngôi nhà nghệ thu

Trang 26

Hồ Anh Thái là nhà văn rất có ý thức đặt tên, tạo mã nhan đề cho tác phẩm Sự

nghiệp văn chương của Hồ Anh Thái thật đồ sộ, gồm nhiều thể loại Dẫu viết truyện ngắn, tạp văn hay tiểu thuyết, nhan để tác phẩm của nhà văn luôn lạ, hàm nghĩa, hấp dẫn Với tiểu thuyết Hồ Anh Thái, việc mã hóa nhan đề gợi dẫn nhiều liên tưởng Ở mỗi nhan đề là một dụng công về mặt nghệ thuật, qua đó thể hiện tư tưởng của nhà

Sau nhiều truyện ngắn, Người đàn bà trên đảo là tiêu thuyết đầu tay của Hồ Anh

“Thái Với tác phẩm này, Hồ Anh Thái bắt đầu định hình một lỗi viết mới, lạ về đề tài hậu chiến Các kí hiệu ở ngay nhan đề đã gợi ý niệm về thân phân người phụ nữ, những số phận đàn bà đơn độc, với những sang chắn nặng n về thân xác lẫn tỉnh thần sau chiến tranh

Năm 1986, Hồ Anh Thái xuất bản tiêu thuyết Người và xe chạy dưới ảnh trăng, Sau đó là tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, tiếp tục mạch cảm hứng về đề tài

đi sâu vào số phận con người Năm 1996, với tiều thuyết Cồi người rung chuông tận thế cái tên Hồ Anh Thái thật sự gây Ấn tương, tạo nên “biện tượng Hỗ Anh Thái” và gây những cuộc tranh luận sôi nỗi trên văn đản Ln đầu tiên có một cuỗn tiểu thuyết viết về cái Ác và đẫy cái Ac đến tận cùng Cuốn tiêu thuyết khai thác thành công môtip "tội ác và trừng phạt" với tinh thần cảnh báo thể hiện ngay ở nhan đề "Cöi người rung chuông tận thế” Có thể

„ tên tác phẩm hảm chứa một quan niệm, một cách nhìn, một chiêm nghiệm cuộc đời, về nhân sinh của nhà văn Từ những kí hiệu ngôn ngữ ở nhan đề cuốn tiễu

nhận ra „ Ki Tô giáo và Phật giáo trong cái nhìn của một nhà văn vấn am hiểu sâu sắc về văn hóa phương Đồng, Nhan đề cuốn tiểu thuyết viết

Š có & đã thu tôm được nội dung, thông điệp nhà văn muốn truyền din “Ci người”

chơi vô độ của một bộ

phân giới rẻ thời mở cửa "Tôi" - huyền trường tàu viễn dương, là một người bị sa ngã và đồng phạm với cái ác nhưng lại có một hành trình sim hỏi, hành tình hướng thiên đã góp phần làm nên “tếng chuông cảnh bảo” của Hỗ Anh Thái vẻ một xã hội

bu nhiễu nhương Không dừng lại ở đồ mà nhà văn côn truyền dẫn quan niệm về

p về sự tận -huông chủa rung thing thé Su cụ đã bị cướp mắt bình yên Chuông giản dữ đổ ap vio không gian Củ côi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập trân kũm loại” Như nhận định của Nguyễn Thi Minh Thải về

th của nhân vật "tối" trong tiều thuyết này "nhà văn Hỗ Anh Thái đã nứng được một hồi chuông cảnh báo, để con người hãy tránh xa cái ác như trắnh xã ngày tận thể, Tránh xa cải ác, có thể chỉ bằng cách đến với cái Đẹp, như ai đỏ đã n

sống, cảnh tỉnh con người Đằng sau những kí hiệu thẩm mĩ là thông

diệt, khi cái ác ngự trị "BỊ

Trang 27

sẽ cứu chuộc thế giới Vì vậy, mặc dù viết về cái ác, thanh điệu chủ đạo nhất trong

thuyết vẫn là thanh điệu tình cảm, hay gọi là giọng điệu tình cảm Cho nên, gắp cuỗn sách lại ta thấy lòng bằng an” [59]

Không dừng ở đó, Mười lẻ một đêm được xem là một cái mốc đánh dấu sự chuyển đổi tong lỗi viết của Hồ Anh Thái, chuyển sang hệ hình hậu hiện đại Tính chất giễu nhại, một phương diện của hậu hiện đại, đồng thời cũng là một yếu tổ làm nên phong cách Hồ Anh Thái, thể hiện ngay ở nhan đề tác phẩm (nhại tên và lối kể chuyện của Ngàn lẻ một đôn)

Là nhà văn *lúc nào cũng đang viết”, hàng loạt tác phẩm ra đời liên tiếp, mỗi tác phẩm khai thác một mảng đời sống rong cái nhìn liên văn hóa, liên văn bản, biểu hiện

sự đa dạng và thống nhất trong phong cách Hồ Anh Thái (Đức Phat, ndng Savitri va tối, SBC là săn bắt chuột, Những đứa con rải rác trên đường, Tranh Van Gogh mua dé đối, Dắu về gió xóa, Năm lá quốc the ) Không ngừng trăn trở cho sự đôi mới, Hồ

‘Anh Thai quan niệm: *Một nhà văn thực sự có phong cách là có nhiều phong cách cần thay đôi phong cách của mình cho phù hợp với từng đề tài và từng tác phẩm!

“Theo ông “tải hiện đời sống con người mà chỉ dùng mỗi công cụ hiện thực là không

đủ, như th là tự làm nghèo trang viết của mình” Từ quan niệm đó, trong hầu hết tiểu thuyết của mình, nhà văn sử dụng một hệ thống kí hiệu, một "rừng biểu tượng” Sự tương hợp và va đập giữa các kí hiệu thẳm mĩ đã làm nên tính đa nghĩa của thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái Đặc biệt là nhan đề tác phẩm của Hồ Anh Thái thường là sự kết hợp liên kỉ hiệu

Từ nhan đề Đức Phật, nàng Saviri và tối thấy rõ quan niệm về tôn giáo và thị tục hóa, quan niệm giải thiêng của nhà văn Nhan đề tác phẩm lạ với sự xuất hiện đồng, đẳng các nhân vật trong câu chuyện lẽ ra thiêng liêng về Phật sử Hỗ Anh Thái đặt

“Đức Phật" thiêng liêng bên ạnh "ti" ~ trần tục, đây không bản là “giải thiêng thần tượng” mà hơn httác giá muốn xó đi lớp sương mà huyền thoại để cổ cái nhĩn chân thật hơn với những “thin tượng” Nhân định về

tàng Savitri vị Long trong bai “Một thành tựu đáng n

la mà hợp lý giữa ba góc nhìn: ning Savitri, Toi (du khách) và người-kế-chuyện: tắtcả luân phiên nhau rọi chiếu vào lịch sử Đức Phật Nhân vật Savitri đặc biệt là một sáng tạo có tỉnh quyết định cho để tài khó viét nay, Savitri li chia khóa mở cánh cửa Tịch sử một cách thân tình phù hợp với thuyết luân hỗi của Dao Phat, Savitri cng chia tiền kiếp với Savimi- người hướng dẫn du lịch - bậu thân là một gạch nối hợp lý qua khứ với hiện tại Giong điệu vừa quyền uy, vừa trữ tình nữ tính của nhân vật này phả lên câu chuyện một không khí huyền thoại mà không xa cách, đời thường mà không dung tục lâm nên diện mạo cuốn sách” [34] Cuốn tiêu thuyết

đánh giá cao trên hành trình sắng tạo của Hỗ Anh Thái: "Đức Phái, nàng Savitri vi toi

u thuyết quan trọng nhất của Hồ Anh Thái, đồng thời nó sẽ giữ ngôi vị

là tiêu thuyết duy nhất trong văn học Việt lẫy cuộc đời giáo chủ Phật giáo lâm

Trang 28

nguồn cảm hứng” [34] Chính vì vậy, một số nội dung của cuốn tiểu thuyết này còn được lưu giữ ở những cuốn tiêu khác của Hỗ Anh Thái Savit là một biểu tượng Nữ

“Thần Đồng Trinh còn xuất hiện trong tác phẩm Tranh Van Gogh mua để đốt như một chiến lược trần thuật độc đáo

XSBC và săn bắt chuột với những kí hiệu ngôn từ được nhà văn sử dụng như "mật ng” vừa có ính chất tình thám, vừa giả tính truyện thông báo chí Ngay cái nhan đề của tác phẩm đã là một sự nhại *SSC, ba chữ viết tắt này vốn đã mặc định trong nhiều người đọc hình ảnh một lực lượng trắn áp tội phạm nổi danh trong xã hội hiện đại Nhung SBCs đây lại là sn bắt chui, một công việc bình thường đến mức tằm thường của đám "bách tính lê dân”, Nhại, trong trường hợp này là nhại phong cách: đối tượng được / bị đưa từ phong cách cao xuống phong cách thấp” [44] Từ những

"Nhan đề cuốn tiểu thuyết Đầu vẻ gió xáa mang rõ nhân sinh quan Phật giáo với quan niệm vô thường dẫu Hỗ Anh Thái không viết về một tôn giáo duy nhất Xây dựng một không gian đa dạng là vậy nhưng âm hưởng của tác phẩm xuất phát từ nhan

tranh, có nhà tù, có những câu chuyện bí mật nhưng mọi câu chữ của Hồ Anh Thái cuối cùng cũng tập trung thể hiện rõ âm hưởng thiền Có thể thấy, trong tiểu thuyết Du về gió xóo thiền Phật giáo đã len lõi tới cả những nơi tưởng như xa nhất vả triết lý về vũ trụ qua âm hướng thiên đã mỡ ra một giá trị mới cho tác phẩm, làm nó trở nên đặc biệt hơn Mặc khác, đẳng sau những kí hiệu ở nhan dé lại là lồi cảnh báo về sự hủy diệt đạo đức sinh thái: “Tai họa rồi Tận số rồi Đảo chìm .quá tả vì tôi lỗi của con người Trời đất trừng phạt

“Năm lá quốc thự là cuốn tiều thuyết đầu tiên viet về giới ngoại giao với nhan đề giàu sức gợi Năm lớ quốc ri là hình ảnh an du về năm vị đại sứ thuộc các thể hệ khác nhau Lấy điểm tựa ngoại §

nhức nhối của toàn xã hộ

Trang 29

kiểu tí thức Khuôn mặt bác sĩ Gachet trong bức tranh nỗi tiếng (có nguy cơ bị đốt trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái) là nguyên mẫu Nhưng từ góc nhìn kí hiệu học, đó chính là phác họa chin dung Van Gogh Hon thể nữa, khuôn mặt đau khổ, cô độc trong tranh mang nỗi đau thời đại Van Gogh Suy cho đến cùng, đó là thời đại phi lí, chuẩn mực cái đẹp, chuỗn mực đạo đức bị đảo lộn Con người trở nên cô độc, xa lạ với tha ni lồng với chính mình

1.2.2 Tính chất liên Kí hiệu

'VỀ khái niệm liên kí hiệu, theo Lê Huy Bắc: “Lién ký hiệu là thuật ngữ phê bình văn học nhằm chi trong văn chương (và cả trong đời sống giao tiếp) mọi ký hiệu đều là liên ký hiệu Đặc biệt, trong lĩnh vực văn chương, không có ký hiệu ngôn từ nảo tồn tại

tự thân mã bao giờ cũng mang trong nó vô vàn lớp lớp ký hiệu và hướng đến nhiều ký, hiệu khác” [3, tr 137] *Ký hiệu tồn tại như một sự tổng hòa các mồi quan hệ văn hóa Khong thể có bắt cứ ký hiệu nào năm ngoài văn hóa Theo đó, ký hiệu không hề và không thể tồn tại như một thực thể độc lập tuyệt đối, mang một nghĩa tự trị đơn nhất Một ký hiệu, vì thể đã trở thành một tổ hợp ký hiệu trước và sau nó Vì vậy nó luôn là một liên ký hiệu” [5,t 137]

“Thật ra, tác phẩm văn học là một *kí hiệu đa văn hóa” [7], Hồ Anh Thái là nhà văn am hiểu các nền văn hóa thể giới, đặc biệt là văn hóa các nước phương Đông, Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái giàu tính khái quát Ngay cả những tác phẩm dường như chỉ phản ánh một vùng hiện thực nhưng bên trong là sự dung hợp các vùng miền văn hóa

“Tính chất liên văn hóa trong tác phẩm Hồ Anh Thái thật đậm nét Trong tiêu thuyết Hồ

‘Anh Thái, tính chất liên văn hóa gắn liên với liên kí hiệu Từ góc nhìn kí hiệu học văn học, tiểu thuyết Hỗ Anh Thái là sự liên kết kí hiệu, một tổ hợp kí hiệu

Trong tiêu thuyết Tranh Van Gogh mua để đối tính chất liên kí hiệu bị

chỗ nhà văn trích một đoạn trong tigu thuyết Đức Phat, nang Savitri va t6i thanh mét chương ở văn bản

*Anh đứng dậy rút một cuốn sách trên giá, một cuốn sách cũng mầu vàng đỏ và tên sách bằng nhũ vàng ( )

Đây cũng là cuốn sách

Savitri vi (i, tiéu thuyét, Hồ Anh Thái

‘Anh dua cuốn sách cho cổ, ra ý bảo đọc thử Cô mỡ luôn đến trang năm, đọc Muôn |5ä, tr.144]

Đọc luôn những dòng chữ đầu tiên của chương đầu

"Người tạ bảo có là một Kumari " (53, t.145]

Trong rất nhiều cuỗn sách trên giá sách thể nhưng cuốn não cũng chỉ là giấy trắng, cô gấi diễn vi

chương cho anh giám đốc truyền thông nghe khiển anh không khỏi bắt ngỡ Sách: vần vào đời ((ên chương sách trong tiêu thuyết Tranh Van Gogh: mua để đối), liêu tằng cô

Trang 30

gái ấy có phải nữ thần đồng trình tại xứ sở nảy Viết về sách, về ý nghĩa của sách, nhà

văn dẫn li nhiều trang trong *văn bản gốc” Đức Phái, nàng Savitri va tot

"Người ta bảo cô là mot Kumari

Kumari chỉ có nghĩa là đồng trinh Nhưng không ai gọi bắt cứ một bé gái nào trước tuổi dậy thì là kumari Đã được gọi là Kumari thì chỉ có thể hiểu đó là Nữ Thần Đồng Trinh Chỉ có một Không ai hiểu khác

Những trang sách gốc được ghỉ lại ở văn bản sau chính là một hệ thống liên kí hiệu biểu hiện những suy ngẫm về nhân sinh Nêu trong Đức Phat, ning Savitri vi ti,

Nữ Thân Đồng Trinh có khả năng nhìn xuyên qua đêm tôi và xuyên qua sương mi (một mình nàng sáng trong cõi vô minh), thi trong Trank Van Gogh mua để đái, cô diễn viên, cô gái H"Mông, thấy chữ là chóng mặt, cũng đọc vanh vách những trang giấy trắng (giữa cõi vô mình duy nhất chỉ cô là sáng):

`'Chuyện trong sách vận vào chuyện đời thật Cũng là một đêm nào đầy,

viên đã lần mò qua những giá sách để tự mình phát hiện ra cá một kho sách

hóa ra chất chứa rất nhiều chữ nghĩa Cô phát hiện ra năng lực đọc sách gi

mình, Liệu cô có phải là một Nữ Thần Đồng Trinh nữa, không phải bên Ấn Độ bên 'Ngpal, mà ở ngay giữa xứ này” [S7, tr 148]

Biểu hiện liên kí hiệu còn nằm ở sự liên kết các motif, cdc biéu tượng đặc thủ, lip di lip lại trong nhiều tiểu thuyết của Hỗ Anh Thái Liên kí hiệu chữa đựng chủ đì tôn giáo lấp lại trong Đức Phật, nàng Savii và tôi, Cồi người rung chuông tôn thế, Déiu vé gió xóa Là nhà phương Đông học, nhà văn được xem la sing tác đưới áng Phật giáo, Hé Anh Thai cho ring: “Tinh bao trim của giáo lý Phật giáo rộng lớn

độ cham đến mọi vin đề của đời sống Bạn cứ thử đưa ra một vẫn đề gì đó tưởng,

là mới mẻ mà xem, ngắm nghĩ kỹ thì mới thấy là bơn 2500 năm trước, Phật đã nói

"Nhiều trết thuyết sau này cũng thừa hưởng ít nhiều của Phật giáo Chuyện hận thủ và báo thủ của đạo sư Bà La Môn, của Saviti, chuyện yêu thương với đồng loại, với mọi chúng sinh, đều không ra ngoài vòng triết thuyết và giáo lý của Phat” ( ) Véi quan

43 đức tin tôn giáo cứu rỗi con người, thuyết nhân quả được nhã văn biểu hiện qua một số kí hiệu lặp di lip lai biểu dat modi tội ác và trừng phạt Cuộc đấu tranh thiện ác và thuyết nhân quả xuyên suốt nhiều tác phẩm của Hỗ Anh Thai (Cai người rung chuông tận thế, Mười lễ một đềm, Trong sương hỏng hiện ra) qua một hệ thống kí hiệu xuyên văn bản (cái chết, nghiệp báo, cứu chuộc ), nổi tiếp từ tiểu

Trang 31

thuyết này đến tiêu thuyết khác, trở thành cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết Hồ Anh

“Thái *Tội ác và trừng phat” mang tinh thin nhân quả là một kí hiệu văn hóa trở đi trở lại trong nhiều tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Trong truyện cổ dân gian, đặc biệt là các truyện cổ tích, mỗi câu chuyện đều thể hiện quan niệm sống của nhân dân ta Đó là *Õ hiền gặp lành”, "ác giả ác báo”, Trong bản thân mỗi người vẫn luôn phải đầu tranh với chính mình, vượt qua những cám dỗ cho chính bản thân mình tự tạo ra chứ không chỉ những cám dỗ ngoài xã hội để không phải dẫn vặt, ân hận về tội lỗi của mình rồi chờ đợi được sắm hối Trong tiêu thuyét Ca người rưng chuông tận thể hành trình hướng thiện của nhân vật tôi làm người đọc phải suy nghĩ Hành trình mang đúng tỉnh thần

"Phật giáo, hướng con người đến cái thiện, ái tốt đầy nhân văn Trong cõi người, cái ác

và cái thiện vẫn luôn tổn tại song hành Biết kiềm chế để cái ác không bing phát không phải là điều dễ dàng Những bài học nhân quả luôn cảnh tỉnh con người, để con người thấy đó mà xa lánh cái ác, thấy cái ác mà tự soi mình, khuyên mình trắnh xa

là thông điệp mà truyền dẫn trong các tác phẩm của mình

“Thông điệp về sự trừng phạt cũng lặp lại ở nhiều tiểu thuyết, cảnh báo về cái ác,

về đạo đức nhân văn, đạo đức sinh thai:

"Chuông rung hoảng loạn Sư cụ đã bị cướp mắt bình yên Chuông giận dữ đỗ ập vào không gian Không còn là đồng thuỷ tỉnh vỡ lanh canh Lần này là cơn mưa loàng xoảng của mảnh gang mảnh thép Cả cõi người sụp xuống dưới một cơn mưa kim loại người bị nhẫn chỉm trong một trấn hằng thủy ngập tran kim loại

(2)

Những mảnh vụn kim loại vẫn bay mii mit trong không gian” [56, t.237- 238] Néu trong Coi người rưng chuông tận thể là lời cảnh báo về hủy diệt sinh thái

thông điệp này cũng xuất hiện ở những tiễu thuyết sau

*Tai họa rồi Tân số rồi Đảo chìm quá tả vì tội lỗi của con ngườ

(Dấu về gió xóa)

"Cả thành phổ như đang chim trong lửa

Cơn giận dữ của Đức Chúa đang ở trên thành phố,

(2)

Cả một biển lửa đang trùm lên khắp thành phố, khôi làm dân chúng ngạt thở,

ời ta ngất đi hoặc lao vào lửa vì đã hóa điên ” (57, tr232]

Hồng thủy kim loại, biển lửa là những kí hiệu thẩm mĩ mang tỉnh thần cảnh báo về sự tận diệt

Liên kí hiệu Tranh Van Gogh/mua/dé dét gợi dẫn một chủ đề khác của tác phim

Tà bị hài đời sống, bí hải kịch hội họa (rong thời đại Van Gogh và rông hơn là trong

Trang 32

đời sống đương đại) Số phận bức tranh Chẩn đưng bác sĩ Gacker trong thực tế và

trong hư cấu tiểu thuyết có sự tương đồng lẫn khác biệt; tranh Van Gogh và những bức

tranh toàn mâu trắng của cô gái không tên, bị tẩy trắng Những liên quan về bức tranh Bắc sĩ Gachet của Van Gogh, về người Nhật mua tranh, về cô gái đọc được những trang sách trắng và vẽ những bức tranh trắng được nhà văn mô tả bằng những kí hiệu, đặc biệt là kí hiệu trắng, Trắng trở thành một liên kí hiệu đa nghĩa Từ những trang sách trắng, qua cái nhìn tường minh của cô gái diễn viên, là những câu chuyện đời trong quá khứ lẫn trong hiện tại Từ một bức tranh trắng nhân bội lên nhiều bức tranh, toàn trắng nhưng mỗi một bức tranh trắng lại mang nhiều ý nghĩa “Tring, Tổng hop của tắt thay các mẫu trên thế gian này Lả màu của mọi màu Là ánh sắng của mọi ánh sáng, Cảm xúc của mọi cảm xúc Lời của mọi lời Vua của mẫu sắc Vua của thị giác 'Vua của cảm giác Vua của ngôn ngữ” Kí hiệu ngôn ngữ "rắng” lặp di lip lai trong tic phim: “Nhung ai cũng chỉ thấy đấy là những bức tranh trắng Trắng tỉnh Trắng xóa Trắng bạch Trắng muối Tring héu Trắng nhởn Trắng mù như sương Trắng nhờ nhờ như khoảng sáng trước bình mỉnh " Chính nhà văn đã giải mã tô hợp kí hiệu này bằng glong gifu nhại, trảo lồng “Những bức tranh lên lượt đi

bức vai ba cái tên Thêm Giao hưởng trắng, Khỏi trắng, Những cuộc tình màu trắng Nhiều trắng quá Giả sử mở một cuộc triển lãm, tên triển lãm sẽ là Trắng Một chữ thôi Trắng Trién lim đã tên là trắng rồi, những bức tranh không nên cái nào cũng có chữ trắng” |57, tr291] Từ chuỗi trắng (sách trắng, tranh trắng) đâu là chuyện đời, đầu là tiêu thuyết, đâu là câu chuyện của quá khứ, đâu là chuyện của ngày hôm, nay, khó phân định Sự liên kết các kí hiệu đã mỡ ra những bỉ hài cuộc sông

có tên, Có

Trang 33

“Chương 2: MÃ NHÂN VẶT VA HỆ CHỦ ĐÈ TRONG TIÊU THUYẾT TRANH VAN GOGH MUA ĐỀ ĐỘT TỪ GÓC NHÌN Ki HIỆU HỌC VĂN HỌC

3.1 Mã nhân vật

Macxim Godd khi bàn về văn học đã nhắn mạnh đến vai trò của nhân vật Ông từng nói: Nghệ thuật bắt đầu từ nơi mà người đọc quên tác giả, chỉ có trồng và nghe

thấy những con người trình bày trước người đọc Có thể nói tải năng, quan điểm,

phong cách của một nhà văn luôn gắn liễn và được nhận điện qua những nhân vật mà

họ đã sáng tạo ra Tư tưởng nhà văn gửi gắm khó có thể tách rời khỏi nhân vật, do đó nhân vật cũng được xem là một kí hiệu đác biệt cần được giải mã

Peirce li nhà nghiên cứu gắn lý thuyết kí hiệu học với triét học nhân văn Ông đặt ra vấn đề *Con người là gỉ? Con người phải chăng là một kí hiệu?” Câu hoi đó

học của mình: Con người là một động vật có tin ngưỡng; Con người luôn mang trên mình hai tín hiệu gắn với cái xdu

i dep; Con người là một cỗ máy sản xuất tin hiệu không lồ Theo cách hiểu này, thong tinthong digp cia tiéu thuyét được nhà văn biểu đạt qua nhân vật như những kí hiệu thẩm mĩ,

Mã là yêu tổ không thể thiểu trong hoạt động truyền thông tỉn Truyền tin qua không gian và thời gian đồi hỏi phải có vật mang thông tin, có kí hiệu Mã là mỗi liên

hệ giữa vật dùng làm kí hiệu và thông tia” 52] Từ góc nhìn kí hiệu học văn học, nhân

rất mang thông tin, có kí hiệu”; nhân vật chính là mã thâm mĩ, ẩn chứa quan niệm cũng như ý đồ nghệ thuật của nhà văn Tính kí hiệu từ nhân vật ắt rõ rong nhiều

lò Anh Thái, đặc biệt qua cách gọi tên nhân vật và qua hệ thống nhân

2.1.1 Ten nhân vật được kí hiệu hoá

Hình tượng nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống, vừa phản ánh đời sống vừa là hiện

trong giao tiếp Nếu bản chất của hiện tượng kí hiệu mang tính cổ định

“Tên nhân vật là một trong những yếu tổ tạo nến nhân vặt Nó thể hiện phần nào

đó cá tinh cia nhân vật Nhân vật cũng giống như những đứa con mả nhã văn sinh ra, chính vì thế việc lưa chọn những cải tên cho chúng là một việc làm không hề ngẫu nhiên, uỷ tiện Nguyễn Du rất thành công trong việc đặt ên cho nhân vật của mình Mỗi cái tên rong tác phẩm Truyền Kiểu không chỉ gắn với một tính cách mã côn li dai diện cho một hạng người, một lớp người Theo dòng thời gian, những danh từ riêng trong Truyền Kiểu đ vào lời nói thường ngày của nhân dân và trở thành những danh tử chung như Hoạn Thự, Tú Bả, Sở Khanh, Kiều Trong văn học hiện đại, chúng ta bit

Trang 34

đến những cái tên đã thành điển hình như Xuân Tóc Đỏ trong sáng tác của Vũ Trọng

Phụng, Thứ, Chí Phèo, Thị Nở của Nam Cao, Mị của Tô Hoài v.v Trong văn học đương đại, với cảm quan hậu hiện đại, phi trung tâm, nhân vật không còn đầy đặn ngoại hình, nội tâm, tính cách, kể cá việc có một cái tên Đặc biệt, trong tiêu thuyết Hồ

‘Anh Thái, tên nhân vật chỉ là những kí hiệu: là A, B, C; là Giáo sư 1, Giáo sự 2; là Cá xấu 1„ Cá sấu 2, Đại sứ ông, Đại sứ bả, là SÉp, Vip Đến nay, trên văn đản Việt Nam hiểm có tác giả thành công trong việc biến nhiều tên nhân vật của mình thành tên chưng của một lớp người như Hồ Anh Thái

Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, mỗi cái tên mà nhân vật đang mang thể hiện được cá tính của nhân vật, vừa có tính đại diện cho một kiểu người; qua đó thể hiện quan niệm của tác giả về con người, nhất là những cái tên của những nhân vật "có vẫn

“Tác phẩm của Hồ Anh Thái thường gây Ấn tượng bởi những cái tên mà không ai

"nghĩ đó là tên Trong các tiễu thuyết của ông là hàng trăm nhân vật không tên, không

khai sinh cho họ” bằng nhiều hình thức trong phù hợp với nghề nghiệp, địa vị, chức tước Trong

tên Chỉ là Đại sứ 1, Dai sit 2, Dai sứ 5, Trong SBC lä săn bắt chuột là trang thái không trọng lượng của bảy nhân vật, Đại Gia, ông Cép, Ching, Nàng, Thư Ký của Cốp, Luật Sư, Giáo Sư Bức biém hoa nhân vật ông Cốp được khắc họa rất khôi hài Xuất thân từ ving quê nghèo khó, từng có mơ tước làm diễn viên đoàn văn công Con đường thăng tiến của ông bắt đầu khi người anh

có kế hoạch tắn công cơn gái của viên tướng và trở thành rẻ, Từ người làm nghề kiếm lâm,

hước nhất là chỉ tết gương mặt được tô về do bàn tay của vợ ông - một người đản bà vữa vụng về, vừa quê kiếng: "Sơn vẽ kể biển cho mình chấn lại quay sang trang điểm cho chẳng Đặc biệt là từ khi chồng lên sếp trưởng một vụ, lên thứ trướng rồi tiếp tục lên Quan Cốp, quan Víp không thể da chỉ mặt tái môi thâm Cứ 6 dẫn dà quen với việc sáng ra được tướng bà sơn vẽ kẻ biển” [S6, t.191] Ông cốp chỉ người giỏi hoạt ngôn, ninh mãnh chứ không có tài cán gì Sự tha hóa của ông Cốp thé biện qua chỉ tiết mất trọng lượng, bay lơ lùng Có thé thấy, xã bội hiện nay đời

é ức sống của con người cao hơn nhưng nhân cách, đạo

dạng và ích kỹ rất đăng chế trách

Cũng vớ các cây bút đương đại khác, Hỗ Anh Thấi cũng coi tắc phẩm chỉ là một

“sin phim của trò chơi ngôn tì” Anh không chủ trọng việc miễu tả noi hình hay

tính cách nhân vật Nha văn xứ Nghệ cũng không côn đi tìm một điểm khởi điểm kết thúc cho nhân vật, không còn hướng tới việc tìm đến một sự logic trong tinh cách và hành động, cũng không tìm kiểm những câu chuyện hay nhằm đến một chủ

Trang 35

đích nào cả Tất cả đều bỏ ngỏ, đều vô nghĩa lí như chính những ngã rẽ cuộc đời mà

các nhân vật đã trải qua

Có thể nhận thấy “hệ thống biệt danh trong tiểu thuyết Hỗ Anh Thái mang bản chất tếu táo, vui nhộn, lưỡng tính của văn hóa trào tiều dân gian” Bakhủn gọi chúng là

“hệ thống danh xưng carnaval” ma ng tim thay rit niu trong sing tée cia Francois Rabelais, kiéu như *Hồi các ấm giả rất trứ danh, và các ngài, tìm Ta rất đáng quý

"Những danh xưng Vip, Cép, Kénh, Dai Gia, Giáo Sư vừa khẳng định đẳng cấp xã hội rất cao của nhân vật, vừa bao him trong nó cả sự giều nhại, bỡn cợ Chúng phủ lên cơ thể nhân vật chiếc áo thùng thình, xiên xẹo của những ông hoàng camaval.” 133] Trong Trơnh Van Gogh mua để đốt, các nhân vật được gọi theo đặc điểm nghề nghiệp mà ho đảm nhiệm: Sép, anh, chị bếp, chú cần vụ, ông Nhật (ông tỉ phú người 'NhậU, cô gái H’méng, cô diễn viên, chú lái xe, ông Cốp, Ti

bị xóa nhòe lại lich Họ xuất hiện lần lượt, tự nhiên, không xuất xứ, hệt như bị vô tình ném ra giữa cuộc đời - chung chung đến mức nhiều khi đọc tác phẩm ta thấy mình na

ni họ, hoặc họ na ná một ai đó ta đã gặp đâu đó trong cuộc sống thường ngày Cách định danh như thể lâm cho con người vốn rất đỗi bình thường có khử là phổ quát trong

xã hội hiện đại Qua các nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, chúng ta cũng sẽ không thể tìm thấy những lời phát biễu, những tư tưởng, quan niệm của nhà văn được đóng khung rong tác phẩm như các nhà văn trước đây Như vậy, có thể thấy họ là đại diện cho số đông, bổ sung vào bộ sưu tập nhân vật tha hóa của Hỗ Anh Thái Ông Cắp

là người có chức, có quyền nhưng ông lại chẳng khác nào con rồi trong tay người khác Ông đi đến đâu, làm gì đều có một e kịp rình rang, vạch sẵn những việc sẽ làm

và việc của ông là chỉ diễn Trước cảnh lũ lạt, nước đảng lênh láng, người dân phải ngồi đợi trên mái nhà chỉ để chờ phóng viên đưa ông Cốp đến lam từ thiện rồi chụp hình đăng báo Ông Cốp đã rơi nước mắt nhưng những giọt nước mắt ấy không lâm ai xúc động mã ngược lại qua đỗ ta thấy được đỗ lã sự di tr, vo tam của lòng người Duy Anh là một cái tên quen thuộc đổi với bạn đọc yêu văn chương, với các bút danh: Chủ Quý, Lão Ta, Quy Anh Li một nhà văn viết sung sức, trung thực với

é sy 'hay đổi", thay

n sich lại có một cuộc đời riêng có với cách cầu

vật Giống với Hỗ Anh Thi, ác nhân vật trong sing tc cia Ta Dây Anh

cũng không được định danh, các nhân vật được gọi với các cái tên như: iến sĩ N, nhà báo, Cả Tạ Duy Anh và Hỗ Anh Thai giữ khoảng cách nhất định, cụ thể là

nhân vật ra khỏi mình, cho nhân vật được tư do đ có thể tìm thấy nhĩ

Nghĩa là Hồ Anh Thái đã tạo ra sự tự do trong lỗi viết, dân chủ trong cách đọc, sự đối

phong phú Người đọc tuyết nhiên không còn nhận thấy những mỗi dây chẳng chí

mặt của cuộc,

Trang 36

mĩc nối giữa một bên là tư tưởng của tác giả và một bên là nhân vật, tức là khơng thể tìm thấy những ý nghĩa của tác phẩm thơng qua khuơn miệng hay hành động của nhân vật nữa Nĩi cách khác, nhân vật khơng phải là cái loa phát ngơn cho tư tưởng, quan niệm của nhà văn Nhân vật chỉ là những kí hiệu ẩn chứa những thơng điệp của tác phẩm,

“Thơng qua cách gọi tên của nhân vật trong tiểu thuyết Trank Van Gogh mua dé đốt nhà văn tỏ ra dững dưng như khơng và xem đĩ là hiện tượng phổ biển, khơng hề

xa lạ Các nhân vật trong tác phẩm khơng hề cĩ tên cụ thể, khơng cĩ ngoại hình, cũng khơng cĩ tính cách Chúng tổn tại đầy nhưng thực ra là vắng mặt Phải chăng Hỗ Anh

“Thái muốn thể hiện sự vơ danh phổ quát trong cuộc sống của con người và từ đĩ nhà văn thể hiện một cái nhìn khác về cuộc sống, khẳng định rằng: mong muốn cĩ một cuộc sống thuần nhất, vẹn tồn sẽ chỉ là ảo tưởng và vơ cùng bài hước Nhà văn dùng cách đơn giản hĩa về lại lịch, ngoại hình và đời sống nội tâm để làm mở hĩa nhân vật 2.1.2 Kiéw nhân vật được mã hĩa

Nhân vật bị tray đuơi

Giải mã kiểu nhân vật bị truy đuổi trong tác phẩm ta khám phá ra bi kịch của người tr thức bị o ép, bị ruồng bỏ Chung quanh kiểu nhân vật này là những kí hiệu, liên kí hiệu lặp lại với tần suất cao để định dạng nhân vật

"Ngay từ đầu tác phẩm, xoay quanh bức tranh của Van Gogh, nhà văn đã tạo tỉnh huồng truy đuổi với một chuỗi kí hiệu của truyện trình thám như nghỉ phạm, điều tra, tao hiện trường, Người mua bức tranh - sếp vi muốn bước chân vào nghị trưởng, sợ

lơ số tài sản khơng lồ phải kê khai nên đã quyết định đốt tranh (giá hơn B0 triệu đơla)

"Nhưng khi sếp phát hiện ra bức tranh chưa bị hủy cảng lo lắng và tìm mọi cách để dị xét, tra khảo những người tỉnh nghỉ, mà nghỉ phạm chính là nhân vật "anh”: *Anh vơ tinh dính vào cái vụ lớn bằng trời ấy Cĩ khi phải trả giá bằng sinh mạng, biết đầu đây

‘Vet lén mét nan nhân vừa bị một kẻ khác nềm xuống sơng, cứu được một mạng người, nhưng cĩ thể người đi cứu phải đương đầu với kẻ đã ném người xuống sơng kia Sớm muộn gì sếp cũng suy luân ra va thu hẹp diện nghỉ vấn Anh ở trong cái ving thu hep

ấy [57,tr49|

Anh đã cứu bức tranh, cứu một tác phẩm nghệ thuật giá trị nhưng "Cứu được người rồi mà phải bỏ chạy để cứu lấy cái mang mình Cứu được bức tranh cĩ khi cũng hải bỏ chạy, khơng bỏ của nhưng cũng phải chạy lấy người Sếp cĩ tay chân ở khắp nước, lực lượng bảo vệ an ninh tập độn cũng ở khắp đất nước Thốt cho được khỏi vịng truy nã của sếp là cả một vẫn để” [S7, tr49),

“rước khi đến lâm giám đốc truyền thơng theo lời mời của sếp, anh tổng biên tập

đã khơng biết bao nhiều lần thuyên chuyển Bản thân anh ý thức được lý do mình bỉ cho dùng cuộc chơi, điều mà ngay từ đầu anh đã biết kết quả Trong lần cứu bả cụ trong mủa nước lũ thốt chết, bình ảnh của anh cụ thể là hình ảnh giọt nước mắt được đặt bên cạnh giọt nước mắt của ơng Cép, đây trở thành điều bắt lợi cho anh “Tit vi tri

Trang 37

là tổng biên tập lúc này vừa hết kì hạn năm năm cho một lần ra quyết định bổ nhiệm

tổng biên tập mới LẨy cớ cơ quan chủ quản không bổ nhiệm thêm năm năm nữa, người ta không lấy ÿ kiến cơ sở mà vội vàng kí xoèn xot mấy cái quyết định, trong đó

có quyết định chuyên anh đi, sang làm phỏ cho một cái ban mới được dựng lên theo thời vụ, ban tổ chức kỷ niệm bảy mươi năm thành lập ngành Tạm thời lập ra, kỷ niệm ong sẽ giải tần cả ban Xong Giải tán rất gọn” [S7, 119] Anh chính là người đã viết bài phản đối việc xây dựng thêm một kênh truyền hình, cũng chính vì bài báo dy mà

nh làm phat ling các vip cốp kểnh và các tiều vip tiéu ebp tiéu kềnh Động đến cả đảm nô tì nô tài giai nhân quây bọc xung quanh các tiểu các đại Hứng đồn hội chợ là chuyện tắt nhiên” [S7, tr 119] Trước sau, sớm muộn gì anh cũng phải tự rút lu, tự mình phải bỏ đi Thực tế đúng như thể: *Nhanh Rất nhanh Anh quyết định đi Lâu

bên tập đoàn ấy đã có ý chào mời anh về làm giám đốc truyền thông cho anh ta”, Thé là từ một tổng biên tập làm việc trong cơ quan nhà nước anh chuyển sang làm giám đốc truyền thông cho một công tư nhân Anh đã rời đi mà không cần suy nghĩ boi giữa anh và sếp vốn đã có cơ duyên từ trước Sếp đã giúp anh trong dy án “5 centimet chiều cao” cho trẻ em vùng sâu ving xa

Khắc họa kiểu nhân vật bị truy đuổi, bị o ép, nhà văn sử dụng hình tượng/kí hiệu hiệu quả để triết lí về lš đời, *Một người ngay thẳng bao giờ cũng để hở sườn Không

hở sườn thì cũng có gót chân Asin cho kẻ khác đánh vào”; hoặc "Bảy chú lùn giá mà một chú ăn phải bột nở lớn cao thêm vài phân

đầu xuống để cho thấp bằng họ Những nơi bùn lầy nước đọng ao tủ thưởng là chỗ lí tưởng cho các lại có dại ghen ghết để ky” Lúc này đây, khi nghĩ phạm bị khoanh vũng, sếp cho người giám sát "anh” từng lúc, từng nơi Là người đã lấy bức tranh -

“cứu tranh”, anh giám đốc truyền thông lúc đầu đã nghĩ đến việc chạy trồn Trong đầu đánh vạch ra hàng loạt các dự định sẽ trồn ở "chốn đồng người hay vắng người” tự vạch

tự bảo chữa cho mình trên hãnh trình trốn chạy: “Bỏ chạy, trốn truy nã”, “anh

Trốn thì phải trốn đến chỗ đông người Khu du lịch chẳng hạn, lớp lớp người

› lớp lớp người đi ( ) Cả nghìn cả vạn cặp mắt nhưng trong mắt ai thì ai cũng

võ danh,” [57, 59-60], Ai cổ thể nhận ra anh kia chữ? Phương án này có về không khả th, tác giá lại đề ra phương án khác để trao đổi với nhân vật: "Vậy anh có thể theo đường số một xuyên Việt mã vào Đà Nẵng Miễn là đừng có râu ria hoang đã quá áo quần bô nhễch quá." Nếu vẫn không ổn thì "hay là vào Nha Trang, Vũng Tâu Những bãi biển người ta chỉ nhìn thấy da thịt trắng lôm lốp chứ không nhìn mặt người” [S7, tr60) Không dừng lạ ở những phương án ấy, tắc giả + người kể chuyên vẫn tiếp tục đưa ra các địa điểm để nhân vật lẫn trốn, nhũng nơi sau cảng đặc biệt hơn những dis

Trang 38

điểm mà tác giả đã đề cập trước đó: “Hay là ra Côn Đảo, Phú Quốc, những hòn đảo

như vậy vừa cách biệt lại vừa đông đúc trộn lẫn” Nếu vẫn không phủ hợp thi “vio Sai Gòn ", "Hay là lên Đà Lạt Thành phố cao nguyên sương mù Trời tạnh ráo còn chẳng nhìn ra ai nữa là sương mù che phủ” [S7, tr60-61] Tác giả rất nhiệt tỉnh để thuyết phục nhân vật đến những địa điểm mình đã vạch ra, "đã có bao nhiêu thương nhân doanh nhân làm ăn đỗ vỡ trốn truy nã, chỉ loạnh quanh mấy nơi ấy mà hing năm trời chẳng cơ quan nào tìm ra” Tác giá lại hồi thúc nhân vật anh lên đường: "Vậy thì hãy lên đường Trước mắt là đi Sa Pa Sau đó đi đâu rồi sẽ tính toán tiếp” [57, tr62] Anh luôn nghĩ sếp đã nghỉ ngờ mình, chính vì thể dù bị điều đi công tác ở nhiều nơi, anh luôn trong tâm trạng có người đang theo dõi, chực bắt anh Cao trào, anh tim cách trấn chạy, tìm về nơi giấu bức tranh, có nhiều đoạn tác giả viết rắt gây cắn Tắt cả hiện ra trước mắt người đọc như một đoạn phim trinh thám không kém phần hồi hộp Anh đã từng có ý định đem trả tranh, nhưng *đem trả như vậy khác nảo mang nộp cho dao phủ một người vừa vượt ngục Bức tranh sẽ bị xử tử, lần này không si được nữa Không một ai” |57, tr 100] Cứu tranh đồng nghĩa với việc gìn giữ những giá trị nghệ thuật đã được công nhận Ai có thể làm tốt điều này hơn anh, bằng mọi anh sẽ cứu lấy bức tranh, chính lúc này anh cũng nhận ra rằng, bản thân anh sẽ luôn phải đối đầu với nguy hiểm, sẽ luôn phải lo sợ, đối diện với "ngọn lửa hỏa thiêu cứ bập bùng trong tâm trí" Anh lại suy tính cho cuộc “bd ra” hay "rốn chạy”, bởi giống như hun khỏi lũ chuột, dù có trốn ở ngóc ngách nào cũng phải bò ra bằng hi

trốn chạy sao? “Ông sư có chạy thì cũng tinh đến chuyện khiêng được cả

củng chay Mà chay đi đâu bây giờ Mắy cái nơi thoáng nghĩ đến xem ra cũng không phai la viing dit dia” (57, tr.100] Thoáng qua trong tâm trí anh lúc này là vùng nước

văn tái hiện nó bằng ngòi bút điêu luyện, với cái nhìn tỉnh tế Dòng suy tư của nhât

tuôn chảy suốt chiều đã

những suy tưởng đan cải, chẳng chéo phúc tạp Tác giả đặt nhân vật vào những hoài nghỉ kh nhìn thấy đồng lửa đang cháy mã sếp bảo chỉ bắp đốt “lửa đang cháy cả

kia mà chỉ bếp bỏ đi đâu Chị đang ở trong bếp chăng Ở trong bếp và mặc cho đồng

lứa ngoài vườn đang chấy Chị không đúng cạnh côi đồng cảnh lá lên để nó chiy cho nhanh Không đứng cạnh nhỡ có cơn gió mạnh thốc tới thôi tung đồng lửa khắp xung quanh, có mà chấy cả trang trú” [57, tr], Cứ như thể mỗi hỗi nghỉ trong anh ngày cảng đây lên ao, tong đầu anh lúc này thêm nhiễu mỗi băn khoăn Chính lúc này đây cũng là lúc anh phát hiện ra điều khác thường "Cãi gỉ thể kia nhi Tưởng chỉ là đốt ric với cảnh lá khô thôi chứ Bên cạnh đồng lửa lạ thấy mấy tập hồ sơ giấy tờ GIẦy tờ nào thể, sỉ bảo chỉ ấy đem đi đốt” (57, r7] Thực tẾ sếp có th tự cho i hủy tả liệu để tiêu hủy nhưng lý do gì sếp lại cho chỉ bếp mang đi đốt ý nghĩ ấy khiến

Trang 39

anh dù đã quay lại bản, đã ngồi xuống trước cái máy tính xách tay Ngồi một lát mới biết chưa thể get di hình ảnh những ngọn lửa nhảy nhót và mấy tập hỗ sơ đặt bên canh lửa Lửa cứ cháy như thể nó tự cháy mà không en ai nhen lửa, không cần ai canh lửa, không cằn ai đứng bên cạnh cời cho nó cháy to hon” [57, tr.9] Thực tế cho thấy, lửa, đốt, tiêu hủy ám ảnh nhân vật trên con đường bị truy đuôi an chứa triết lí phận người

"Ngoài nhân vật anh - giám đốc truyền thông thì người cha của sếp - một trí thức

số tải, có tâm cũng thuộc kiểu nhân vật bị truy dudi, bj rudng bỏ Cha sếp ~ chẳng kĩ

sư sửa đầu máy hơi nước tốt nghiệp ở Đông Âu khi về nước ngoài tắm bằng và đống

sách chuyên môn thì tải sản không có gì gọi là đáng giá "Đáng giá nhất là chiếc xe cuốc” (S7, tr242 Sống trong sự dồm ngó, bình phẩm, chê bai, đè biểu của những người xung quanh *Một trăm sinh viên du học Đông Âu chỉ có một Kẻ vô tâm vô tính

lơ ngơ nhất thì khi về nước cũng phải có vài cái xe đạp, vài cái tủ lạnh, dăm ba cái phích đá, chục cái bản là, dãm đôi giày, vài chục bộ quần áo Tắt cả những thứ Ấy sẽ chuyển thành lương thực thực phẩm nuôi cha mẹ anh chị em Đẳng nảy anh kĩ sư mới tốt nghiệp còn không bằng kẻ vô tâm nhất Không biết tỉnh toán, không biết buôn bán như bạn bè” [57, tr243] Được gửi đi du học trời Tây, con người tải năng Ấy mang theo biết bao hoài bão về một ngày được trở lại phụng sự quê hương *Việc của mình sang đây sáu năm là để học, về nước thì mang sách về, có công cụ làm việc, làm việc

à đồng góp xây dựng đất nước, nước mạnh dân giầu thì ai cũng có phần trong

1.242], vi thé “Ong ôm mộng về nước chế tạo đầu máy xe lửa kiểu mới, thay thể bằng những cái đầu máy hơi nước phì phò từ thời mỗ ma thực dân Pháp.” [57, tr245] để tồi vỡ mộng và rơi vào nỗi cô đơn, bị bỏ rơi trên chính quê hương mình “Khéng có chỗ cho anh chàng chế tạo đầu máy xe lửa kiểu mới Thể là tổ chức tổng anh vào một đoạn đầu máy tỉnh lẻ, kĩ sư lăn lưng vào lâm công nhân Kĩ sư đầu máy hiện đại giờ lâm anh thợ sửa chữa đầu máy hơi nước Va viu théo lip tin dụng phụ tùng chỉ máy Đổ dầu bôi mỡ kiểm tra lò than bãi than” 57, 246] Không dừng lại ở đó, "sau đoạn đầu máy, tổ chức tự dưng thấy nên chuyển anh về một trường cao đẳng day nghề” [57, tr.247] Trường ở trên cao nguyên "cách Hà Nội chỉ vải trăm cây số, nhưng vừa qua chiến tranh, đường hẹp bên vách ni, toàn & gàŠ trâu 6 voi, vai trim cây số ô

tô khách đi mắt một ngày ( ) trường như ở một nơi cách ly biệt giam cắm cổ” [57, tr 249] Trong môi trường mới, gặp những con người mới những lại bị rằng buộc bởi vô

số những quy định bà khắc, người người soi mói nhau những cuộc họp với biên bản, bản kiểm điểm chất thành đồng “Ở trên trường sống giữa bay si cắn xé, anh âm thẩm cắn răng coi là đang chịu nghiệp” [57, tr.256] Cuộc đời cứ thể truy đuổi anh đến tân cũng, trong một lần din sinh viên đĩ thực tập, xe khách đường đãi bị hằng một cái xuống cải ổ trâu, mẫy chục người ngồi trên xe không ai bị gỉ chỉ có anh "liệt luôn Nim luôn tại chỗ hơn một năm trời” [57, tr258] Cuộc đời còn lại của anh là chuỗi ngày bỂ tất, mệt mỗi, phải trông cây vào sự giúp sức của vợ con Niềm tin, hoài bão

Trang 40

trong anh tan biến, anh buông xuôi, chắn chường như Xiu trong truyện Chiếc lá cuối cùng của O Hen - rí Cuộc đời như ngọn nến, lúc muốn cháy hết mình, lòng đầy nhiệt huyết nhưng “ngọn nét nảy không muốn cháy nữa [S7, tr260] Cứ nghĩ, những viên ngọc thanh khiết miễn nhiễm bụi trần nhưng nó mãi mãi bị bụi trần che phủ, không được ló dạng dưới ánh mặt trời Người cha rong tiêu thuyết đã tự thôi tắt toàn bộ giấc

mơ lớn nhất, cũng là sinh mệnh đời mình Có thể nói "Hồ Anh Thái có sức hút rất trong cái khiểu di đồm, nhưng những trang viết đẹp nhất của ông lại dành cả cho việc miễu tả nỗi buỗn”, hình ảnh người con (nhân vật Sép) là sự kế thừa những phẩm chất

ưu tú của người cha (chàng kỹ sư), nhưng đã thay đổi ở cách nhìn về thể giới *năm ấy

‘mudi tắm tuổi, anh chàng quyết chí ra đi cứu nước cứu nha Lai sang Đông Âu của cha ngày trước Nuôi chí quyết tâm hẳn hoi, như một sự phục bận, cái hận người cha về nước tay tring” (57, tr243] Anh không chip nhận nỗi cô đơn trong bi kịch sinh bắt phùng thời Có lẽ với một thời thế khác, anh ta sẽ lựa chọn lối đi khác Nhưng hình ảnh người cha, dù vẫn được lưu giữ trong anh như một gid tr tran quy,

không thể trở thành bài học về phương châm sống Nếu mẫu hình con người lạc loài được khắc họa tựa như nét đẹp quá vãng, thì mẫu hình doanh nhân thời hiện đại lại hiện lên trong sự pha tạp mầu sắc thẳm mỹ của con người tiểu thuyết hiện đại

"Từ cuộc truy đuổi trong thực tế dẫn đến sự truy bức tỉnh thẳn Người đã cứu bức tranh, rơi vào trang thái luôn lo âu: lo âu về vị thể của mình, về sự an nguy của vợ con, phân của bức tranh đã qua từng bước thăng trằm của danh họa Hà Lan chính từ kiểu nhân vật bị truy đuổi, ý nghĩa sâu xa của tác phẩm là vấn đề nhân vị, là chủ đề thân phận của triết - mĩ học hiện sinh Con người mắt niềm tỉn, lo âu, xa lạ với tha nhân, hoài nghỉ các chân giá trị

Kiểu nhân vật bị đánh vắng

"Nhân vật bị đánh vắng, bị bôi xóa là kiểu nhân vật của cảm quan hậu hiện đại Kiểu nhân vật này thường không tên gọi, không ngoại hình, lai lịch, tính cách nhân vật chỉ được đoán định qua những kí hiệu kèm theo Nhân vật này xuất hiện khá sớm trong tác phẩm của Phạm Thị Hoai (Thién sử) và ngày càng phô biến trong văn xuôi thé ki XXI với những nhà văn tiêu biểu Thuận (7 mất tich), Nguyễn Bình Phương

, Nguyễn Việt Hà (Ba ngôi của người), Đỗ Phin (Rudi la rudi) Đặc biệt, với Hồ Anh Thái đây là kiểu nhân vật xuyên suốt toàn bộ truyện ngắn thuyết của ông Nhân vật bỗng dưng biển mắt không có lí do, hoặc bị đánh tráo, ngôn ngữ, tôn tại cũng như không Giải mã kiểu nhân vật này ta nhân ra thông điệp nha văn gửi gắm là thân phân bé nhỏ của con người Trong Tranh Van Gogh mua để đốt, cô gái Hmông lai Tây là kiều nhân vật như thể La cô gái - người chỉ điên, "Chính là cải cô được tuyển về làm diễn viên đồng cái vai nữa Mông nữa Kinh Cũng chí cô được vợ chồng sếp tuyển vào làm con gất nuôi; chính là người không đọc được kịch bản, hễ nhìn thấy chữ là lên cơn đau đầu Cũng ct cái cô phát hiện ra cả mấy giá sách không chữ, những cuốn sách không chữ đã lôi kéo

Ngày đăng: 01/09/2022, 12:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
Nguyễn Thị Huế, “Truyện ngắn Hồ Anh Thấi từ góc nhìn liên văn bản”, 'hdp:/avww:.sachhay.org/diem-sach/ChíTieU 1560/ruyen-ngan-ho-anh-hai-u-goc-nhin-lien-van-ban, truy cập ngày 21/07/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Hồ Anh Thấi từ góc nhìn liên văn bản
Năm: 2019
Phan Trọng Hoàng Linh, “Khi bức tranh bị đốt”, htps/www.nxbtre com vn/diem- tiwkhi-bue-tranh-bi-dot-34126.himl, truy cập ngày 21/07/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi bức tranh bị đốt
Nhà XB: nxbtre com vn/diem- tiwkhi-bue-tranh-bi-dot-34126.himl
Năm: 2019
Phan Trọng Hoàng Lĩnh, “Tiểu thuyết Caraval hóa của Hồ Anh Thái nhìn từ hình tượng nhân vật nghịh đi”, - hdp/Aapchisonghuongcomvniin- ue(p0/eT/n2234/Tieu-thuyet-Carmaval-hoa-cua-TIo-Anh-Thai-nhin-tu-hinh-tuong-nhan-vat-nghich-di. htmi, truy cập ngày 21/07/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Caraval hóa của Hồ Anh Thái nhìn từ hình tượng nhân vật nghịh đi
Năm: 2019
1. Lại Nguyên Ân (2005), 150 thudt ngit van học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
Lê Thị Hường, Mùi hương - kí hiệu thẩm mỹ trong văn xuôi dé tai lịch sử, Tạp chi Van nghệ quân đội, 909910, tháng I-2/2019 Khác
Lê Thị Hường, Sue va dip kí hiệu thắm mỹ trong tiểu thuyết của Hỗ Anh Thái, Tạp chí Nhà văn, số tháng 6/2020 Khác
#ioi/30-nhung-goe-nhin-van-hoa/10982-buoc-chuyen-carnaval-hoa-trong-dieu- thuyet-ho-anh-thai, truy cập ngày 21/07/2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w