Với đề tài “Tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư từ nhãn quan văn hóa” tác giả mong muốn góp thêm một cái nhìn về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nói chung, tiểu thuyết Sông nói riêng ở một phương diện gần gũi và mang tính tâm linh của người Việt. Mặc khác, cũng mong muốn khám phá tác phẩm của chị ở phần nhân bản của con người trong xã hội hôm nay - con người trong dòng chảy của văn hóa.
Trang 1TIEU THUYET SONG CUA NGUYEN NGQC TU"
TU NHAN QUAN VAN HOA
LUAN VAN THAC SI
KHOA HQC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Da Ning - 2019
Trang 2
DAI HOC DA NANG
TRUONG DAI HQC SU PHAM
TRAN TH] CAM
TIỂU THUYÉT SÔNG CỦA NGUYÊN NGỌC TƯ
TU NHAN QUAN VAN HOA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HQC XA HOI VA NHAN VAN
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI BÍCH HẠNH
Đà Nẵng - 2019
Trang 3Lời đầu tiên tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến cô hướng dẫn khoa học - Tiền
sĩ Bùi.Bích Hạnh đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua với sự tận tâm và nghiêm
túc Ngoài ra, tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các thẦy cô Khoa Ngữ văn Trường
Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ, có nhiều ý kiến đóng góp quí báu
cho tôi
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến Ban giấm hiệu và các Cô giáo tổ Ngữ văn
“Trường THPT Hòa Vang đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
"Dù rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sốt, kính mong sự đóng
óp ý kiến của các nhà khoa học để luận văn được hoàn thiện
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình tìn hiểu, nghiên cứu của riêng tôi, không
sao chép Mọi thống kê, các ý nghĩa biểu tượng, các giá trị được rút ra trong luận văn
là kết quả tôi đã tìm hiểu nghiên cứu và chưa công bổ ở các công trình khác Nội dung luận văn có sự tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tả trên các
trang web, tạp chí theo danh mục tham khảo của luận văn Nếu sai sót, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm
_Đà Nẵng, tháng 10 nim 2018
Tác giả luận vin
an nh
‘Trin Thi Cảm.
Trang 5‘Tén dé tài: Tiểu thuyết Sóng của Nguyễn Ngọc Tư từ nhãn quan văn hóa
Ngành: Văn học Việt Nam
Là một nhà ăn rẻ, sinh và lớn lên vàng đắt mũi Cả Mau, Nguyễn Ngọc Tư đã ti linh hẳn văn hóa
người niỄn Nam vào tá phẫm S0ng —tiễu tuyết đầu ty của chỉ
Dược iết năm 2012, là ễu thuyết đầu iê vã cũnglàễu thuyết duy nhất của nhà vấn Nguyễn Ngọc
"Tư — tính đến thời điểm này - Sóng đã mang đến cho người đọc nhiều ải nghiện côa người tr sống
iữ lần ranh văn hóa tuyển hông và ign
X38ng là câu chuyện ngược dồng sông Di của một nhóm bạn tr lên Ân, Xu, Bi đễ im kiểm bản ngĩ
mình tong đồng chảy cuộn xiết của cuộc đồi đẫy rẫy định kiến Dọc theo hành tình của họ, Nguyễn
[Nene Tư đã mở ra thế giới ng của con người miễn Nam thời đi hôm may, vẫn mang trọng mình tâm thúc
ănhóa truyền thống nhưng cũng luôn chảy trổ theo dòng của đời sng hiện đại Đó là vẻđẹp của không giàn
ăn hóa Nam BO pling pit cn in của ngời miễn Nam Đó là những định kiến của sơn người v giới và
Khát vọng muôn đời của con người tong xã hội hôm nay là khao khát được sốngl chính mình lã khao khát
được ở vẻ bản thé uyên nguyên thông qua những biện pháp nghệ thuật đc c
`Vithế để tài *iễu thuyết SØng từ nhấn quan văn hỏa” là một góc nhìn tuy không mới nhưng là góc nhìn
tác phẩm ở một phương điện khác để góp phản khám phá tác phẩm một cách sâu sắc và toàn diện
“Từ khốa: (văn hóa, Nguyễn Ngọc Tư, văn hóa truyền thông và hiện đại, tiêu thuyết Sông, đồng chây
văn hóa )
“Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người thực hiện đề tài
Trang 6‘Name of thesis: Song novel from cultural vision
Major: Vietnamese literature
fran Thi Cam
Full name of Master student:
Supervisors: 1, Ph D Bui Bich Hanh
2,
institution:
Abstract:
As a young writer, born and raised
people’ cultural soul into her first novel ~ Sing
\Writen in 2012, the first and also the only novel by writer Nguyen Ngoe Tu - up to this point - Sting
has brought the reader lot of experience of young people living in the lines of traditional and modem
the land of Ca Mau Cape, Nguyen Ngoc Tu blew the Southern
culture
‘The river isthe story of the river Di upstream of group of young people named An, Xu, and Boi to
find their ego in the curling steam of life full of prejudices Along their journey, Nguyen Ngoe Tw
‘opened the living world of the Souther people today, still earying them the traditional cultural
‘consciousness but always following the lines of modem life That isthe beauty ofthe Southern cultura
space withthe Southern people ‘s identity Those are human prejudices about the gender and the eternal
aspiration of people in society today that aspire to be themselves and aspire to return their original sel
‘thanks to featured artistic methods,
‘Therefore, the thesis "Song novel from cultural vision" is a perspective that is not new but is a
perspective of the work in a different way to contribute to discovering the work in a deep and
comprehensive way
Key words: culture, Nguyen Ngoe Tu, traditional and modern culture, Song novel, cultural flow,
Trang 7
1 Lido chon d
2 Lịch sử vấn đỀ nghiên cứu
3 Đổi lượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
'XUÔI VIỆT NAM ĐẦU THÍ KĨ XXL 222222 Zc2£ZZcZ22ZZZ222Zz2.cx 1.1 Văn xuôi Việt Nam đầu thể kỉ XI những xu hướng "la hóa 6 11.1 Đổi mỗi trong quan niệm nghệ thuật về con người 6
12 Nguyễn Ngọc Từ và hành trình sáng tạo văn xuôi 4
1.22 Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tự - dòng riêng giữa nguồn chung 20
CHUONG 2 SONG CUA NGUYEN NGQC TU NHÌN TỪ TÂM THỨC VĂN
2.1 Mach ngudn van hóa Việt - cốt lỗi văn hóa truyền thông, 2
2.1.2 Văn hóa ứng xử và căn tính của con người Nam Bộ + 2.2 “Dang chay văn hóa” Việt qua sự biến động của thời đại 2
2.2.2, Con ngué với khát vọng tim vé bain thé uyén nguyên 37 2.2.3 Bi thogi véi quan niệm truyằn thống về cái chất 4
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC BIÊU HIỆN TÂM THỨC VAN HOA TRONG
32.2 Giọng mắt "những giá tị nhân tỉnh
32.3 Giọng giéu nhại - hoài nghỉ về những chuẩn mực bị "đánh trio”
Trang 8-131 áp biẫu tượng về khát vọng tìm kiến bản ngũ
3.3.2 Láp biểu tượng tùm vẻ bản thể uyên nguyên
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐÈ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 9
MO DAU
1 Lí do chọn đề tài
Van hoe, nghé thuật cùng với tôn giáo, tết học, phong tục là những bộ phận hợp thành cấu trúc văn hóa Nếu văn hóa là toàn bộ các giá r vật chất và tỉnh thần thé hiện cách nhìn nhận, cách sắp xếp hệ thống các giá tr thì văn bọc lại là hoạt động lưu giữ
toàn bộ những giá trị ấy một cách sinh động và đặc sắc nhất Như vậy giữa văn hóa và văn
học có mối quan hệ rắt sàu sắc Văn hóa không chỉ đơn thuần là những biểu hiện trên bé
mặt mà có tác động mạnh mẽ đến cả chiều sâu đối với văn học, nhất là trong tâm thức của
nhà văn Thực tế đã chứng mình tác phẩm văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học viết đã lưu giữ văn hóa Việt Nam một cách thắm thía và sâu sắc Để tìm hiểu lịch sử
văn hóa một dân tộc thì việc khảo sát những tác phẩm văn chương là điều cần làm, nên
ầm, và đáng làm nhất trong các thao tắc thực hiện của các nhà nghiên cứu Bởi tác phẩm văn chương không c nối chủ quan của cá nhân tắc giả mã còn chứa dung chiều său văn hóa dân tộc, chiều sâu nhãn học văn hóa
Là một nhà văn trẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên tiếng vang trong văn chương
từ những năm đầu thể ki XXI bởi các truyện ngắn, tản văn, tạp bút mang hơi thở của văn hóa Nam Bộ Để giữa cái xôn xao của thị thành tấp nập, giữa cái đa dạng nhiều chiều trong xu hướng tiếp nhận văn chương đương thời, tác giả đã thổi một luồng gió phương Nam vào văn học bằng chất giọng đặc trưng của miễn Tây sông nước, đẻ độc giả giật mình thắng thốt: trong cơn dư chắn của nền văn hóa truyền thống bị lung lay dio Ion, Nguyễn Ngọc Tư đã vực đây văn hóa bằng cách nào
“Sống là tiêu thuyết đầu tay của chị Một cuốn tiểu thuyết được thai nghén qua Tớp trầm tích của rất nhiều tân văn, truyện ngắn Lớp rằm tích phủ màu sắc văn hóa phương Nom nổi riêng, văn hỏa Việt Nam néi chung qua cái nhìn đa chiều, sâu sốc, nhạy cảm của một phụ nữ đủ chín muỗi với trải nghiệm đa đoan đời thực Nhà văn thổi vào Sóng linh hồn văn hóa Việt, linh hồn cội nguồn Việt của những con người trẻ tuổi
12 6 thai dai mới với bao trải nghiệm trái ngang của cuộc đời Từ đó, di xuyên qua
“Sông, người đọc sẽ quan sắt văn hóa dân tộc Việt một cách khách quan và khoa học những không kên phần đa dạng và thấm thía Hiểu mình, hiểu người, thấy sự vận đông, đổi thay từng ngây từng giờ trên trang đời sống xã hội hiện đại của người Việt người ta côn lưu giữ gÌ? Người ta quên mắt gì? Người ta nuỗi tiếc gi? Người ta mong ti? Người ta khao khát những gì?
Vi những lẽ trên mà trong luận văn này, chúng tôi chọn đề tài “Tiểu thuyết
“Sáng của Nguyễn Ngọc Tư từ nhãn quan văn hóa” với mong muốn tiếp cận tác phẩm ở
Trang 10Nêu mỗi biển có là một sợi len, người ta có thé dét thảm cho cả sân bóng” [41] Ching tôi lấy một câu văn trong chính tiều thuyết Sống đề bắt đầu cho việc tìm
kiếm của chúng tôi về lịch sử nghiên cứu tác phẩm này Nguyễn Ngọc Tư được xem là
“một hiện tượng đặc biệt trong làng văn học nước nhà” bởi sự xuất hiện đột ngột của chi va hơi thở văn chương chị thôi vào các tác phẩm của mình Bắt dầu bằng các tân văn, tạp bút rồi đến truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đã có “sự bức phá” khi cho ra đời tiểu thuyết Sông
Ngay từ lời giới thiệu, Nhà xuất bản Trẻ đã gây Ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc: Đẹp Đáo để Trần tục và hư áo Đó cũng là Ii do dé tiéu thuyết Sông khơi nguồn eho các nhà nghiên cứu phê bình, các nhà báo, các bạn đọc trẻ tuỗi, Chính những câu
chuyện đời thường gần gũi; thắm dẫm nỗi đau nhân tình; thắm đẫm sự cảm thông của
những con người nhỏ bé, lặng lẽ, nhọc nhẫn trong kiếp mưu sinh giữa bốn bé sông nước; thắm dim ea su thấu hiểu tân tâm can những khát vọng rất Người, mà Nguyễn 'Ngọc Tư đã khiến độc giả thấy bóng dáng mình trong các nhân vật của nhà văn
"Nghiên cứu về sắng tác Nguyễn Ngọc Tư ở góc nhìn văn hóa, Trần Hữu Dũng
có bài viết Nguyễn Ngọc Từ đặc sản miễn Nam nhắn mạnh phong cách riêng của nhà văn trẻ từ vùng sông nước Cà Mau Đồ là một “cây bút trẻ đã tạo được một chỗ đứng khu biệt cho mình” bằng cách sử dụng dim đặc "nồng độ phương ngữ miễn Nam”,
“đó là những từ dân đã, lấy thẳng từ cuộc sống chung quanh” và “Nguyễn Ngọc Tư đã
trung thành một cách khó giải thích với cái "tình tự” Nam Bộ của quê hương cô” [49] Hay trong loi tựa tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắi, Nguyễn Quang Sáng đã từng nhận xét về giọng điệu của Nguyễn Ngọc Tư, “giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời thường” [42] Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một không khí rắt tự nhiên
sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của TỔ Quốc - mii Cà Mau, của những con
của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông diy công Khai phá Qua ngôi bút của Nguyễn Ngọc Tu, những con người lam 1a, giản dị, bộc trực ấy chứa đựng bên trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu, vừa tỉnh tẾ qua cách nhân xử thể Chu Lai cũng khẳng định rằng: Nguyễn Ngọc Tư là cây bút tiêu biểu của miễn Tây Nam Bộ, một tải năng hiểm có của văn học Việt Nam hiện nay Huỳnh Công, cũng gọi Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn Nam Bộ và nhận xét: “Nhân vật trong tác phim cia chi là những con người Nam Bộ chân chất kiểu Nam B6 Ving dit va ccon người trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ
và văn phong nhiều chất Nam Bộ” [59] Nguyễn Trọng Bình là người nghiên cứu khá nhiều về Nguyễn Ngọc Tư, với Tuyện ngắn Nguyễn Ngọc Từ dưới góc nhìn vẫn hóa [65] Nguyễn Trọng Binh đã di vào tìm hiểu vốn văn hóa trong các truyện ngắn
"Nguyễn Ngọc Tư, đó là văn hóa làng qué Nam Bộ thấm đầm trong hầu hết các truyện ngắn, từ đó ông khẳng định ý thức giữ gìn truyền thống văn hóa bit nguồn từ niềm tự bảo của nhà văn về những phẩm chất và giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu
Trang 11sâu khai phá những vẻ đẹp ẳn tàng rong các sáng tác của chị
Bai sức nóng của ngồi bút Nguyễn Ngọc Tu mà ngay từ khi mới ra đời, tiểu thuyết Sóng đã có sức hắp dẫn đặc biệt với các nhà nghiên cứu, các cây bút phê bình
và bạn đọc, Trần Hữu Dũng trong Nguyễn Ngọc Ti vả Sóng đã khai thắc Sóng ở yêu tổ địa danh Đồ là những địa danh hư cầu: "bằng cách đưa ra những địa danh hư cấu, có
lệ Nguyễn Ngọc Tự không muốn cho người đọc iền tưởng đến những gi dinh iu din những địa danh có thật Cô muốn bứng rễ người đọc để đưa vào khung cảnh táo bạo câu chuyện" [S0] Với phê bình về Sóng: Sóng - NNT, tea twa sue that tác giả Nhị Linh đã nhìn thấy một thể giới trong Sóng, đó là thể giới chênh vênh giữa hai bờ hư - thực, đồng thời tác giả bài viết cũng đề cập đến yếu tổ văn hóa qua lời bàn: "Không khí đặc trưng của miễn Tây vẫn tế tục rõ nứt trong Sống” [51] Kỳ thục con sông chỉ 1à bối cảnh, để những kỉ niệm, câu chuyện hiện lên Mai Anh Tuần trong Tiểu rhuyết Song - Khảo sắt i
viết du khảo Cứ mỗi nơi nhân vật đi qua đều để lại tên người, tên đất Con người dẫn thía trước còn những địa danh lùi lại phía sau Sông Dĩ vì thể có thể coi là một thực thé vùng miền Nhưng mặt khác, sông Di cũng là con sông tâm tưởng Nhân vật xuôi theo dòng sông thực thé nung lại đĩ ngược con sông tâm tưởng Ở bài viết này Mai
“Anh Tuấn cũng đã chạm góc văn hóa “Với Sóng, trong cách đặt tiêu đề ngắn gọn đến tưởng như trệt hạ mọi phông doán vươn tới một địa danh cụ thể (điề lí ra rất dễ bộ phiếu di kèm nếu chiều theo tiểu thuyết này, như Sông Di chẳng hạn), Nguyễn Ngọc
Tư cảng cho thấy mình là người tận lực với cơ địa văn hóa vùng miễn, bởi xét rộng hơn, phần lớn những không gian nỗi bật, những hình tượng nghệ thuật vươn tới biểu tượng tong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, một cách chủ ý đều đắp dính sông nước và những hit bóng của nó như lời ăn tiếng nói” [60] Tác giá Tiểu Quyên lai cho
à độc đáo, đầy tính thời sự mà cũng si thơ Nguyễn Ngọc Tự nói chỉ không có chủ dích “hoạch định chỉ tiêu” hay lập tình tác phẩm cho từng năm, từng chủ đề, chỉ viết bằng "sự mơ mộng, tưởng tượng vỀ một thể giới chưa từng tới, về những con người chưa từng thấy, những con người chưa từng gặp hoàn toàn không vi một trải nghiệm nào Hành tình di tim lại con người thật của Ân, khao khát hạnh phúc của Xu, sự nỗi loan của San, vẻ buông xuôi của Tú
và niềm riêng của biết bao nhiều con người trong tác phẩm cũng có thể là của chung cho những thân phận trong thé giới phẳng này” [54] Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, một trong số ít người tiếp cận bản thảo Sóng sớm nhất, rong một vải cuộc nối chuyện cũng từng có nhận xét rằng: Trong tiểu thuyết Sóng, vẫn là không gian sông nước quen thuộc “Sông là chuyển động, là đồng chảy Với vi
đã men theo đồng sông, Tư đã làm được bai việc: vừa phản ánh hiện thực, kể, tả về những vũng đất dọc hành trình vừa men theo dòng chảy âm trạng để nhân vật bộc lộ mình:
Trang 12
Sức hấp dẫn của Sóng còn được khảo sát ở hàng loạt các bài báo Đó là bài viết
của tác giả Kim Dung Nhỏ văn Nguyễn Ngọc Từ đưa “đồng tính” vào tiểu thuyết đầu
4ay Nguyễn Ngọc Tư cho rằng chị đã “tiếp cận mảng đó về mặt tỉnh thần, về nội tim con người, về những suy nghĩ và dần vặt của nhân vật chứ tôi không hoàn toàn khai
thác những gì thuộc về thân xác và nhục cảm Tôi nghĩ rằng những vin đề đó các tác giả khác đã làm rất ốt rồi” [47] Cao Việt Dũng trong bài viết Nguyễn Ngọc Từ và những cuộc bỏ đi cho rằng "Sóng là rắt nhiều câu chuyện nhỏ ghép thành, nhưng nó chỉ xoáy sâu vào một điều: sự bô đỉ” [48] Cũng viết về Sống, tác giả Phương Thúy lại nhìn nhận ở phương diện thể loại “Tôi nghĩ Sóng đặc biệt với Tư bởi cô đã bước ra
khỏi vùng quen thuộc của mình Vùng quen thuộc của cô là truyện ngắn Một vùng
cquen thuộc khác là tân văn” [S8]
Nhu vay, dường như tắt cả các bai báo giới thiệu về tiểu thuyết hay các bài phê
bình đều hướng đến sự thay đổi về thể loại sang tác của Nguyễn Ngọc Tư, từ đó nhìn nhận cách chuyển mình trong lối viết của chị Đặc biệt, các tác giá cũng đồng thời nhắn mạnh đến “sự bỏ đi”, “sự biến mất” của các nhân vật, chú ý đến cuộc du khảo sông Di thực chất là cuộc hành trình tìm kiếm bản ngã của các nhân vật Chỉ có nhà văn Mai Anh Tuần đã dừng lại về yếu tố văn hóa trong tiêu thuyết này ở góc nhìn bao
“quát nhưng còn khá chung chung, chưa đi vio cu thé
Dựa trên tắt cả những nguồn tư liệu mà chúng tôi khảo sát được dễ nhận ra một
điều rằng Sông đã được khám phá ở khá nhiều phương diện, nhưng ở góc nhìn văn
hóa, chưa thật sự có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu Trên tỉnh thần kế thừa
và tiếp thu những thành tựu mà các nhà nghiên cứu, các tác giả đã khảo cứu được, trong luận văn này, chúng tôi mong muén tiếp tục khảo sát “Tiểu thuyết Sáng đưới góc nhìn văn hóa” đễ từ đồ góp thêm cái nhìn về tác phẩm ở một khía cạnh gằn gũi nhưng sâu sắc và ý nghĩa
3, Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
- Đối trợng nghiên cứu:iểu thuyết Sóng - Nguyễn Ngọc Tư (Nhà xuất ản Trẻ, 2017)
- Phạm vi nghiên cứu: nhãn quan văn hóa trong tiểu thuyết Sóng của Nguyễn 'Ngoe Tư nhìn từ các phương diện tâm thức văn hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: giúp đi sâu phát hiện nhiều những biéu hiện
cụ thể của vẻ đẹp văn hóa truyền thống cũng như những biểu hiện về sự xói mòn văn hóa truyền thống trong dong chảy của xã hội hiện đại
- Phương pháp so sánh, đối chiều: đặt Sóng bên cạnh những sáng tác khác của
"Nguyễn Ngọc Tư để thấy chiều sâu văn hóa tong tác phẩm và cả sự tiếp biến van hóa của con người trong thời đại mới
Trang 13~ Phương pháp loại hình: nhằm lí giải những phương thức biểu hiện tâm thức
văn hóa trong Sống của Nguyễn Ngọc Tư trong hệ thống đặc trưng tiểu thuyết và
khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết Việt Nam di thé ki XI
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: sẽ giúp có cái nhìn soi chiếu các biểu hiện vvin hóa trong tác phẩm ở nhiều góc độ, nhiều phương diện
5, Đóng góp của đề tài
Một tác phẩm văn chương ra đời ít nhiều đều chuyên chở những nỗi niềm sâu
kín của người cằm bit Quá trình thai nghén và sản sinh một đứa con tỉnh thần là quá
trình nhà văn đắm chìm trong thế giới muôn màu của hiện thực xã hội mà họ sinh ra,
lớn lên hay có những ấn tượng đậm nét Sóng đã chảy trôi mai miét trong lòng độc giả
hàng chục năm qua bởi dầu ấn văn hóa vùng sông nước miễn Nam bảng bạc trong suốt câu chuyện Với đề tài "Tiểu thuyết Sóng của Nguyễn Ngọc Tư từ nhãn quan văn hóa”
chúng tôi chỉ mong muốn góp thêm một cái nhìn về săng tác của Nguyễn Ngọc Tư nối chung, tiểu thuyết Sóng nói riêng ở một phương điện gần gũi và mang tính tâm linh của người Việt Mặc khác, cũng mong muốn khám phá tác phẩm của chị ở phần nhân bản của con người trong xã hội hôm nay - con người trong đồng chảy của văn héa
6 Bố cục cũa luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chương
“Chương 1 Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam dầu
thé ki XX
“Chương 2 Sông của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ tâm thức văn hóa
“Chương 3 Phương thức biểu hiện tâm thúc văn hóa trong Sóng của Nguyễn Ngọc Từ
Trang 14
VĂN XUÔI NGUYÊN NGỌC TƯ TRONG DONG CHẢY VĂN XUÔI
VIET NAM DAU THE Ki XI
1.1 Vin xudi Việt Nam dầu thể kỉ XXI những xu hướng
1.1.1 Đắi mới trong quan niện nghệ thuật về con người
Macxim Gorkitimg cho ring “Van hoc la nha hoc” Quan nigm này đã khẳng định con người là đối tượng chủ yêu và là đối tượng trung tâm mà văn học phản ánh
'Tuy nhiên xét về mặt triết học, thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sản phẩm sáng tạo của Chúa Trời; từ thời Phục Hưng đến Khai Sáng thì con người
được xem là sản phẩm của tự nhiên; đến thể kỹ XIX con người được xem là sản phim 'vừa của tự nhiên, vừa của xã hội Vì thế, với sứ mệnh của mình, văn học phải phản ánh son người ở chiều sâu nhân bản, mang toàn thể những ý niệm của đời sống xã hội phân chiếu vào từng cá thể riêng biệt Do đó, không phái cứ viết về con người sẽ trở thành một sắng tác văn học Chỉ có nhimg sing tic dem đến cho người đọc một khẩm phá, giải, phát hiện mới mẻ về con người mới được xem là một sắng tác văn học ĐỂ
lâm được điều này yêu cầu mỗi người cằm bút phải có quan niệm nghệ thuật về con
người Mà theo Trần Đình Sử quan niệm nghệ thuật về con người “là sự lí giải, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành những nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học tạo nên gi tr nghệ thuật và thắm mĩ cho các hình tượng nhân vật đố" Hay "thực chất đó là vẫn đề tỉnh năng động cũa nghệ thuật trong việc phân ánh hiện thực, bằng các phương tiên nghệ thuật, giới hạn vị pham vĩ chiếm lĩnh đời sống của một hệ thông nghệ thuật, là khả năng xâm nhập của
nỗ vào các miễn khác nhau của đồi" [32] Như vậy, quan niệm nghệ thuật người chính là sự khám ph vỀ con người Nó phân ánh cấu trúc của nhân cách con người và các hình thức phức tp trơng ứng rong quan hệ con người đối với thể gi
“Quan niệm nghệ thuật vỀ con người ắt nhiên cũng mang dẫu ấn sing tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn lền với cái nhìn nghệ sĩ Suốt chiều dải của lịch sử dân tộc, con người Vigt Nam qua tim thức của các nhà văn, nghệ sĩ là con người của đắt nước, của vận mệnh dân tộc Từ thể ki XX trở về trước, Việt Nam từng là dân tộc oằn mình trong sự nhân chim và xâm l
của văn hóa Trung Hoa, vì vây ở đó, ta thấy bóng dáng của con
con người có ý thức cá nhân
người vũ trụ, con người đạo đức, con người đắng bậc
“Tuy vây, cái on người cá nhân rong văn hoe Trung dai luôn gắn với tư nh
chuin mực đạo đức, với các nghĩa vụ đối với xã hôi theo quan niễm Nho giáo, quyển lợi cá nhân chưa được chú ý
Thể kd XX là th kỉ nhiều biển động của đất nước Việt Nam, sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây ở ạt đã khiến xã hội chao dao tr quan niệm xã hội lên hình thái xã hội Văn học đã nhanh chóng bắt nhịp cũng thời đại, phân ảnh thời dại
xã hội, phản ánh tâm thức con người qua chảy dòng mãnh liệt của xã hội Trong văn
Trang 15học Việt Nam từ sau thé ki XX con người đã lên tiếng nói bày tỏ khát vọng thành thực
tắt đời và rất người Đỏ là tiếng nói của cái tôi cá nhân dám bày tỏ công khai mọi niềm
‘vui nỗi buồn, công khai mọi nỗi đau khổ bắt tận của con người Con người tự cảm thấy
"bé nhỏ cô đơn bơ vơ lạc lồng giữa xã hội đầy rẫy những bắt công tàn bạo mà chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến dang ngự trị Cách Mang tháng Tám thành công, một chân trời mới mở ra cho đất nước Việt Nam Đứng ở một tầm cao mới, quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người lại có bước chuyển mình mạnh mẽ Ta thấy bóng dng của con người anh hùng, con người sử thỉ, con người của vận mệnh dân tộc Cả một thời gian dài, tiếng nói của con người cá nhân bị khuất lắp, nhường chỗ cho tiếng
nói của con người tập thể, con người cộng đồng Cả dân tộc cùng hòa giọng mình
trong khúc ca hào hùng của dân tộc, cả nước ra trận, mọi nỗi dau của cá nhân con
"người dành nén li, đành bỏ qua Văn chương lúc này làm nhiệm vụ mà đất nước giao
phố: tuyên truyền vận động, con người trong dòng thác cách mạng trở nên “lớn” hơn, oai vệ hơn, kiên cường và mạnh mẽ hơn
“Công cuộc cách mạng hoàn tắt, thời gian đủ để con người ta say trong niềm vui chiến thắng Khi đến lúc con người nhìn nhận lại lịch sử, nhìn nhận lại hiện thực va c: nhìn nhận lại chính mình thì cũng là lúc văn bọc bung vỡ tiếng nói của cái tôi cá nhân đích thực Đầy không chỉ đơn thuần là con người cá nhân lên 8, di quyền tự do hạnh phúc mà văn học đã din than vao con người với bản ngã đích thực
Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã hướng vào cái tôi nội cảm con
người, khám phá con người ở mọi phương điện, góc độ Vi thé, quan niệm nghệ thuật
về con người đã có sự chuyển biển mạnh mẽ Nhà văn, hơn ai hết đã khám phá con người ở mọi gốc độ, mọi ngã rẽ trong đời sống tâm lí phức tạp giữa một xã hội đầy bit trắc Hơn ai hết, nghệ sĩ đích thực nhận ra rằng, mỗi con người là một thể giới thu nhỏ, một tiểu vũ trụ Hành trình sống của con người là hành trình con người di tim kiếm chính mình trong một xã hội bĩ n
những định kiến khắt khe, những trào lưu Âu - Á mỗi ngày thâm nhập vào đời sống xã hội Con người mỗi ngày phái đấu tranh với chính mình, phải dò dẫm đối mặt với rắt nhiều những ngã rẽ của bản ngã mình mà hoàn thiện chính mình
Nguyễn Minh Châu được đánh giá là một trong những "nhà văn mở đường tỉnh anh va tai năng nhất” của văn học Việt Nam sau 1975 bởi những quan niệm nghệ thuật
on người mới mẻ và tiến bộ Con người của thời đại mới không xuôi chiều, đơn giản Vì thể nhìn nhận, khám phá, đánh giá con người cũng cần có cái nhìn đa diện, nhiều chiều; cần đi sâu khám phá đời sống nội tâm của nhân vật để thấy bản chất của con người, bản chất của văn chương nghệ thuật Nguyễn Minh Châu đã mỡ đường cho độc giả nhận ra chính
thú, con người thức tỉnh, con người sảm hồi, con người với bản năng tính duc Con người luôn vươn tới khát vọng của chân thiện mĩ, hoàn thiện nhân cách để sống mỗi
Trang 16
ngày là một hành trình đích thực : Chiếc chuyển ngoài xa, Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành, Khách ở qué ra
Nếu Nguyễn Minh Châu là "nhà văn mở đường tình anh và tài năng” của văn
học Việt Nam những năm tám mươi của thế kỉ XX thì Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn
có cái nhìn vô cùng “táo bạo” về con người trong những năm cuối của thể ki XX diu thể kỉ XXI Có thể nói Nguyễn Huy Thiệp làm nên những sáng tác "vang bóng một
thời” bởi quan niệm nghệ thuật về con người trong các tác phẩm: Tướng vẻ hưu, Phẩm
tiể, Vàng lửa, Sang sông Với giọng điệu lạnh lùng đến mức ngỡ như tàn nhần, sắc lạnh, Nguyễn Huy Thiệp dường như đã dào xới mọi ngóc ngách, mọi mảng tối, mọi
sóc khuất của đời sống xã hội để có thé soi roi phẩn sâu kín của con người Vì thế, các
nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp như đau đáu với nỗi đau, chìm lắp với nỗi đau, sống
trong nỗi cô đơn, sự dẫn vặt đến tận cùng, đễ rồi ông lại chỉ khép hờ kết thúc của tác
phẩm, để mỡ ra suy nghiệm cho người đọc khám phá về con người
Hành trình Ấy cồn tiếp tục với sự nở rộ qua các tác phẩm viết về con người trong các sáng tác của các cây bút trễ tạo nên cơn “dư chấn” và làm nên một “cú bích” juan niệm nghệ thuật trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XI Trước hết là sự góp mặt của đội ngũ sáng tác nữ, Với các tên tuổi như Nguyễn Ngoc Tu, Đỗ Hoàng Diệu,
Y Ban, Sương Nguyệt Minh, Trần Thùy Mai tếng nói nữ giới đã thôi một luồng gió mới vào văn chương Việt Nam Đó là tiếng nói nữ quyển thôi thúc Với các nhà văn
nữ, nhân vật trong tác phẩm của họ không còn là những người din bà trong cơn túng bắn của đời sống vẫn cam chịu, nhẫn nhịn, đau đầu những khao khát rắt riêng mà âm thằm bung vỡ Những nhân vat trong các sáng tác của các nhà văn nữ dám sống, dám yêu, đám bây tỏ thành thực lòng mình dù định kiến xã hội vẫn bủa vây không ngưng nghỉ Đó là người dan ba trong cơn túng bắn của lòng, trong nỗi cô đơn dẫn xé, trong thấm sâu sự thấu hiểu, đã lầm lạc đời mình trong / am dan bả ( Y Ban) Đó không phải
Ti tiéng nói của thân xác mà là tiếng nói của lương trí, của tỉnh người trỗi đậy Người dan bà thủy chung cam chịu sự cô đơn vốn được mặc định là vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam không còn nữa Mà là, tiếng nói cất lên từ thắm sâu lòng người: tính dục là nho cầu thiết yếu rong đồi sống côa con người
Sự đóng góp lớn của các nhà văn nữ là sự góp mặt của cái tôi da diện, là sự xuất hiện của cái tôi đa ngã Nhờ đó mà quan niệm nghệ thuật về con người được các nhà
t nghia, Ii giải ở nhiều góc nhìn, ở nhiều bình điện Không chỉ là a giới, không chỉ là tiếng riêng đầy khao khát, mã ở đó, người đọc bắt gặp nhiều hiện thực rộng lớn, “đại tự sự” qua góc nhìn của nữ giới trong một thể giới phẳng, ở đó người phụ nữ có quyền cắt tiếng nói cá nhân, giải mã mình, tìm hiểu mình, khám phá mình, đồng thời, khám phá thể giới bằng cảm quan duy mĩ lẫn lí tính Y Ban - một trong những cây bút nữ thể hiện quan niệm nhân sinh của giới mình từng nói rằng:
“Tôi muốn xã hội hãy đọc tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân
Trang 17
mình” Bên canh đó, độc giá vẫn bắt gặp những câu chuyện lịch sử được nhìn từ góc nhìn giới, nhân vật lịch sử được chiêu tuyết hay kết tội đều từ điểm nhìn bên rong (ruyện ngắn lịch sử của Trin Thủy Mai, Trần Thị Trường, tiểu thuyết lịch sử của Võ
“Thị Hảo ) Người đọc cũng có thể bắt gặp đâu đó những tiếng nói phẫn nộ, búc xúc, Xót xa trước những tiêu cực, tha hóa của xã hội thời hậu chiến trong các tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan, Có những bức
tranh xã hội rộng lớn được các nữ nhà văn lựa chọn thể hiện bằng tiều thuyết (như của
Vo Thi Hao, Dạ Ngân, Thủy Dương, Thuận ) Đặc biệt, trong các tân văn - thể loại vốn khá gần gũi với các nhà văn nữ - độc giả có thể nhìn thấy rõ hơn nhân sinh quan
của các nhà văn nữ thông qua cách quan sát, cách tái hiện đời sống bằng các chỉ tiết
nghệ thuật, bằng cách xây dựng các hình tượng nhân vật mang màu sắc hậu hiện dại mang (âm thức giới (Các tản văn của Dạ Ngân, Bích Ngân, Thảo Hảo, Trần Thanh
Hà, Nguyễn Ngọc Tư )
Thé ki XXI la thé kỉ của công nghệ số, của thời đại 40, thời đại của
phẳng, nhờ sự phát triển vượt trội của công nghệ số mà con người có th kết giao rộng
để dàng hơn Nhưng hệ luy của nó lại không hề nhỏ, con người cảm thấy bắt an trong một xã hội mà mọi thứ dường như không còn là một bí mật, mọi thứ có thé bung vỡ, đổ sụp bắt kì lúc nào Sự chồng xếp của nhiều nền văn hóa khác nhau lên một quốc gia, sự tiếp nhận nửa vời văn hóa của một dân tộc không dủ căn cước giữ lấy
hn via minh khiến xã hội lung lay, đảo lộn Con người cũng vì thể mà đầy những âu 1o Con người trong cơn túng bắn của lòng di m bản ngã chính mình đã nhiều lần pho thác mình cho “định mệnh”, cho “số phận” như là cách ứng phó một cách bắt lực với thực tại Ta bắt gặp trong sắng tác của Nguyễn Huy Thiệp những câu chuyện về sự vô
"nghĩa của cuộc đời, sự bê tha nhéch nhac của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp, Phạm Thị Hoài, là câu chuyện về một thể giới vô hin ri it su gin gui mang tinh người, về những cuộc chia ty Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh người độc bởi sự khủng hosing niễm tin của con người, của nhà văn vào con người và cuộc đời,
sự đỗ vỡ của những trật tự đời sống xã hội và gia đình, sự ngắc ngoái ngưng đọng của đời sống, sự đánh mắt bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo dức, sự đau đón bơ
vo, tinh trang bit an của con người Một đời sống hỗn loạn, đỗ vỡ là những gì người đọc nhìn thấy từ tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Văn chương Tạ Duy Anh là nỗi khắc Xhoải di tim bản ngã, tìm một giá trị thật sự nhân bản trên cái đồi sống đỗ nát, điều tan,
là sự loay hoay lí giải, hoá giải những nỗi doa đầy con người từ tiền kiếp Nhìn đời 1g nhu những mảnh vỡ, tiểu thuyết Hồ Anh Thái thể hiện tỉnh tế những nỗi hoang mang về con người Nhãn vật trong tác phẩm của anh phần đông là những con người đđa cực, bắt bình thường Mỗi người với nhiều ngã rẻ, ai cing mai mé di tim cho minh một điểm tựa, m cho mình một chốn nương nấu,
Nội tôm lại, nếu ở những thể kỉ trước, các nhà vẫn quan niệm con người là một tiêu vũ trụ, là một cá nhân đơn lẻ bơ vơ giữa xã hội, rồi đến một cá nhân nhân danh
Trang 18công đồng thì bước sang thé ki XXI, các nhà văn lại cho rằng mỗi con người hiện diện
giữa cuộc đời là một "nhân vị” Hành trình sống là một hành tình dài cam go, luôn luôn đau đầu tìm kiếm minh, trả lời một câu hỏi lớn muôn đời “Ta la ai? Ta đến từ đâu? ” Vì thể, tìm hiểu khám phá mỗi một "nhân vị” ấy, yêu cầu mỗi nhà văn trước thết phải là một “nhân vị”, phải on mình sống giữa rất nhiều những bắt trắc của cuộc đời để có cái thể khám phá và tái hiện con người một cách chân xác và sinh động 1.1.2 Cách tôn trong ki thud vier
“Tiểu thuyết có thé xem là một thể loại khá mới mẻ của văn xuôi Việt nam trong
dòng chảy của văn học thế giới và khu vực Tổ Tám của Hoàng Ngọc Phách có thể
được xem là tiêu thuyết đầu tiên của văn học nước ta Từ thể kỉ XX tiêu thuyết Việt 'Nam đã có bước tiền đài trên hành trình tự khẳng định vị thể của mình Để làm được
điều này là sự chuyển mình, sự lột xác của rất nhiều nhà văn tài năng và tâm huyết,
uôn đau đầu trăn trở cho nền văn học nước nhà nói chung, cho tiểu thuyết nổi riêng
"Đó không chỉ đơn thuần là sự thúc tỉnh trong tr duy nhận thức mà còn là sự thức tỉnh trong tư duy thể hiện Tiểu thuyết không chỉ đổi mới về nội dung mà còn thay đổi về hình thức thể hiện, bởi không thể có một nội dung nằm ngoài hình thức Đó cũng là lí
do các nghệ sĩ, đặc biệt là các cây bút trẻ luôn trăn trở, dẫn vặt để định hướng phong cách, khẳng định tên tuổi thông qua việc nỗ lực cách tân kĩ thuật viết
Van học đương đại Việt Nam từ sau năm 1975 có một giai đoạn được gọi là
“tiền đổi mới” Đây là giai đoạn nền văn học phát triển theo “quán tính” của nó, nghĩa
Tl các tác phẩm văn học giai đoạn này còn mang đậm tính sử thì và lãng mạn của văn học cách mang Tuy nhiên, bởi sự đổi mới trong tư duy cùng với tài năng cũng như tăm huyết muốn thay đổi, muốn “lâm mới” nền văn học nước nhà đã giúp cho một số nhà văn - di bước ra từ cuộc chiến, đủ còn bị trì nu của một quan niệm cũ - vẫn “vượt thoát” chính mình để làm một cuộc búc phá cho văn học Việt Nam giai đoạn này
"Nguyễn Minh Châu được đánh giá là một trong những nhà văn mỡ đường tỉnh anh và tải năng nhất của văn học thời kì đổi mới bởi những cách tân của ông Một trong những cách tân đó là sự đổi mới kĩ thuật viết Không chỉ là sự xuất hiện của khá nhiều cây bút trẻ thuộc thể hệ 7x, 8x với sự thể nghiệm những cách viết hoàn toàn mới mã ở
6, còn có sự góp mặt của thể hệ của truyền thống đã im thầm góp nhất những kĩ thuật viết biện đại để kip sinh cũng thời dại Vì vậy, có thể nói rằng, sư đa dạng, phong phú của tiểu thuyết hiện đại, nếu nhìn từ phương điện nghệ thuật có thé thay hai xu hướng chính: làm mới tiểu thuyết trên nền truyền thống,
và hướng cách tân theo tỉnh thần hiện đại
'Ở xu hướng thứ nhất các tác giả chủ yếu vẫn bám sát khung thể loại truyền thống nhưng đã có thêm gia tăng, sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, sử dụng yết huyền áo, yếu tổ trào lộng Xu hướng này vẫn thu hút được đông đảo độc giả bởi nó
có những cách tân thú vị mã lại không gây nhiều khó khăn cho sự tiếp nhận của bạn đọc Thuộc xu hướng này có nhiều cây bút thuộc các thể hệ da sing tác từ trước 1975,
Trang 19trong đó có nhưng cây bút đã từng định hình tên tuổi trong các sáng tác từ trước Cách Mạng như: Tô Hoài, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng, các nhà văn trưởng thành từ thời kì kháng chiến chống Mỹ và sau khi kết thúc chiến tranh như Lê Lựu, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Bảo, Lê Văn Thảo, Tô Nhuận
V9, Nguyén Quang Ha
"Thứ hai là xu hướng cách tân theo tỉnh thần hiện đại Những nhà văn thuộc xu
hướng này đã đổi mới hình thức thể loại bằng cách vận dụng những kĩ thuật tự sự hiện
đại phương Tây, trên cơ sở đổi mới quan niệm về tiểu thuyết Khởi đầu của xu hướng
này là Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Ndi buổn chiến tranh của Bảo Ninh, xuất hiện ở
chặng đầu thời kì đổi mới (nếu không kể hiện tượng các tiểu thuyết Cổng tỉnh, Những
ngã tư — Những cột đền của Trần Dần với nhiều tìm tòi, thể nghiệm táo bạo từ trước
1975, gần đây mới được công bổ)
Tuy vậy, xu hướng nảy dường như chững lại trong khoảng hon 10 năm ở thập
kỉ 90 của thể kỉ XX Sang đầu thế kỉ XI cho đến nay, chúng ta mới chứng kiến sự bùng nỗ thật sự của xu hướng đổi mới cách viết này,
"Những năm i XXI, van din Việt Nam thực sự sôi động bởi sự xuất hiện của hàng loạt tiểu thuyết mới và lạ về cách viết như Thoat ki thiy, Ngi của Nguyễn Bình Phương, Di tim nian vật, Thiên thân sóm hỏi của Tạ Duy Anh, Khải Juyén muộn của Nguyễn Việt Hà, Người sông mẽ của Châu Diên Một số cây bút
người Việt định cư ở nước ngoài cũng thể hiện khát vọng d¿ iêu thuyết, trong đó
din tong hon ca la Chinatown, Pari 11 thắng 8, T mắt tích của Thuan, Va khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng Dẫu rằng những tiêu tiểu thuyết kể trên không phải là những tác phẩm kết tính nghệ thuật đạt định cao và gây chấn động dư luận như một số tắc phẩm trước nhưng rõ rằng đã tạo được sự chú ý, thậm chí phân lập bạn đọc một cách sâu sắc Phần lớn các tác giả kể trên đều là những cây bút dang ở độ sung sức và đã có
độ chín nhất định trong tư duy nghệ thuật Với những sắng tác độc đáo v
nghệ thuật, họ góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và tạo cho mình chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc
Bau không khí sôi động của văn đàn Việt Nam được ghỉ nhận một cách tích cực bởi những đổi mối trong tư duy Các nhà văn hiện đại đã thực hiện cách viết phi tuyển tính để trình bảy những “cầu chuyện” Họ không ding con mắt thường để quan sắt và tái hiện hiện thực như những lớp nhà văn trước đó là sử dụng những “tỉa X” để có thể soi thấu tân những vùng sâu thẩm và phi Ii của nội tâm con người Thậm chí biện thực được phản ánh không phải là hiện thực ngoài cuộc đời với những chỉ tiết, hình ảnh cụ thể, rõ rằng làm nên hiện thực trong tác phẩm mà là nhiều hình ảnh xuất hiện từ rất nhiều phương hướng khác nhau, chồng chất, dan chéo, trộn lẫn vào nhau, đó là một hiện thực vỡ vụn Tuy vậy, hiện thực ấy được tái hiện như th nào lại phụ thuộc vào kĩ thuật viết của từng cây bút, bởi mỗi cá nhân có một kĩ thuật riêng, thậm chí ở mỗi tác phẩm có một kĩ thuật riêng trong việc xử lí hiện thực cuộc đời trở thành hiện thực
Trang 20
trong tác phẩm văn chương Do đó, các nhà lí luận văn học hậu hiện đại cho rằng, mỗi
tác phẩm nghệ thuật hư cầu như một tr chơi tự trình bay cách chơi của nó và mời gọi
độc giả vào trò chơi ấy Trong trò chơi ấy, độc giá không chỉ đơn thuẳn thưởng thức vẻ
đẹp của ngôn từ mà các nhà văn trình diễn mà phải cùng tham gia giải mã cả cấu trúc của nó, kể cả những cấu trúc vỡ vụn
Vay sự đổi mới về kĩ thuật viết được thể hiện ở những phương điện nào?
Thứ nhất, sự thu hẹp về quy mô tác phẩm là đặc điểm dễ nhận ra đầu tiên về
mặt hình thức Trước đây, những tiêu thuyết phải là những tác phẩm có dung lượng dài, phải trên năm trăm trang viết, là những "đại tự sự” về ch sử, xã hội, con người
| luận văn học, một trong những điểm phân bit giữa truyện ngắn và tiê th
dung lượng của chúng Nếu truyện ngắn chỉ là một lát cắt của cuộc sống thì tiểu thuyết
phải là sự tái hiện toàn bộ tiền trình cuộc sống của nhân vật từ khi sinh ra cho đến khi mắt di Đây là một yêu cầu đổi mới nhằm phủ hợp hơn với văn hóa đọc của bạn đọc hiện dai mà nỗ còn là ý đồ đổi mới của các cây bút trẻ, Tiểu thuyết không chỉ lâm nhiệm vụ tát hiện toàn bộ đời sống, các nhà văn không chỉ quan tâm đến nội dung câu chuyện mà côn quan tâm đến cách kể câu chuyện: làm thể nào để có thể tr
nghệ thuật của nhà văn
“Thứ hai, là sự dung hợp các thể loại trong một tiểu thuyết Khi mới xuất hiện,
tiểu thuyết là một lối truyện kể đơn tuyến, theo hình thức tự sự, kết cấu đơn tuyến theo
trình tự không gian, thời gian hay diễn biển tâm lí nhân vật Trong văn xuôi hiện đại, những tác phẩm tiểu thuyết khiến độc giả đôi khi không thé phân định rạch rồi các thé loại trong chính nó Người đọc sẽ thấy sự kết hợp giữa truyện kể, bức thư, môt tác phẩm sử thị, tự truyện, nhật kí, thậm chí một tân văn Tu chết của nhà văn gốc Việt Linda Lê là một mình chính cho su thu hẹp về qui mô tác phẩm và dung hợp thể loại trong tiểu thuyết Chỉ vỏn vẹn 200 trang giấy, Linda Lê đã khiến người đọc không rời mắt ngay từ trang đầu của tác phẩm Người ta có thể xem day là một bức thư, cũng có thể là một truyện dài hoặc là một tiểu thuyết Sau cái chết của người cha nơi quê nhà, nhân vật tôi (có thể là chính tác giả) gởi cho người bạn là Sirius một bức thư - đói toàn bộ nỗi đau đớn ging xé của nhân vật tôi Sống lưu vong tại Pháp hơn 20 năm, đến một ngày, nhân vật tôi được tin cha qua đời, cô quanh trong căn nhà nơi ông sống
võ võ một mình từ khi vợ con ra đi Bức thư bộc lộ niềm hỗi hận khôn nguôi của một đứa con mãi mãi thất húa không về bên cha như đã hẹn, lòng thương nhớ cha day đứt tân tâm can “Tôi tự cho mình thời gian trong khi người không còn thời gian nữa
“Chúng ta luôn ti rằng chữ “Quá muộn!” sẽ không bao giờ vỗ thing vio mat minh Cha t8i có đôi môi bợt trên giường bệnh Tôi đã không ở đó để thổi sự sống vào người” -
ê thấy, tác phẩm là sự kết hợp giữa một bức thư lẫn một cầu chuyện kể,
"nén chặt tâm can hồi hận của nhân vật chính Ở Thu chết không phải là sự tấ hiện toàn bộ hiện thục rộng lớn của nước Pháp thời hiện tại và Việt Nam những năm sau giải phóng
mà tác phẩm chỉ là “tiểu tự sự” về nội tâm và khát vọng con người
Trang 21“Thứ ba, sy đổi mới trong kĩ thuật viết còn được thể hiện ở hiện tượng “ngoại dé
"hóa" hay hiện tượng "phi tâm hóa” truyện kế và sử dụng đậm đặc lỗi tự sự phân mảnh 'Nếu nhìn lại các tác phẩm văn học giai đoạn trước chúng ta sẽ thấy một điều rờ rằng cái gọi là “ngoại d&” hay “tri tình ngoại dé” luôn được xem là phần thứ yếu, là phần phụ, được chêm xen dé bay tỏ quan diém, thai độ của người viết Nó không có chỗ đứng trong phần chính, hay là kết cầu chính của một tác phẩm Ví như trong Dấu chẩn người lĩnh (Nguyễn Minh Châu), Mẫn và rồi (Phan Tứ), Cita biển (Nguyên Hồng)
‘Nhung trong các tiêu thuyết đương đại hiện tượng ấy đã bị đảo ngược lại, theo thuật
ngữ của hậu hiện dại là cái ngoại biên đã tiến dần vào trung tâm, thậm chí tiến sát làm
một cuộc "đảo chính” ngoại mục, thay dần vị trí trung tâm, đồng vai trò cốt lõi trong
việc thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn Trong nhiều tác phẩm, người đọc bắt gặp giữa dòng tự sự là các đoạn trữ tình ngoại đề chiếm lĩnh, tạo nên dòng chủ lưu cho
tác phẩm, thể hiện rõ quan niệm nhân sinh của tác phẩm, thậm chí tạo nên những khoảng trắng mênh mông cho tác phẩm nhằm thôi thúc người đọc cùng dim chim trong thể giới của nhân vật, buồn, vui, đau khổ, khóc cười cùng nhân vật Ví như trong Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương: “Trôi ở giữa những đụn khói, aĩ cũng lẫn vào nhau Tắt cả đền mờ Trăng không xuống được tóc, chỉ lơ lửng trên đầu Trăng cười, vàng sắp thành đen rồi Cứ nở mãi, nở mãi giữa những đụn khói đặc quánh” Một đoạn văn ngắn, những câu văn ngắn Mọi thứ như mờ nhỏe, đứt đoạn Mọi thứ của chung quanh hiện thực như xa vắng, mênh mông, vô định, khuất lắp Trăng vốn là biểu tượng của cái đẹp, cái lãng mạn, nhưng ở đây, trăng như lẫn khuất, như dau dav, tring
bi chim lấn bởi những đụn khói đặc quánh Nhưng chính đoạn văn có vẻ như không ăn nhập với nội dung chính lại là đoạn văn thể hiện rõ nhất phần “chính thất” của tác phẩm Rất nhiều khi độc giả bị dẫn dụ, đánh lừa, thậm chí bị ném vào “đường bay của các mê lô” (chữ dùng của Ngô Tự Lập) từ đó các tác giả bắt độc giả làm việc cật lực với những tự sự mang đậm tình thần hậu hi
Thứ tư, một thủ pháp “lạ hóa” trong kĩ thuật viết của các nhà văn thế kỉ XI chính là lối cắt dán phân mảnh Nó không xuất phát từ ý đồ người sắng tác mà là một lối tr duy mới của cả một thể hệ chịu ảnh hưởng của tư duy hậu hiện đại Nó được xem lã một trong những “trỏ chơi” của con chữ, là cách "làm xiếe” ngôn từ của nhà văn Từ đó các nhà văn của thế kỉ XXI đã thiết lập một mô hình tiểu thuyết mới —
ơi “chính cuộc đời thực, trở nên rõ rằng hơn trong hình thức những mảnh vỡ” Cùng với sự rit ngắn dưng lượng tóc phẩm, phá vỡ kết cầu tác phẩm, tạo nên một liên văn
bn trong một tác phẩm, bằng lối cắt dán phân mảnh, các nhà văn đi đến cũng đã hình thành nên quan niệm mới về tiêu thuyết: Tiểu thuyết không căn lã những đại tự sự vẻ hiện thực đời sống mà chỉ là các tiểu tự sự về nội tâm và khát vọng của con người
“Trong một thực tại xã hội vụn vỡ với diy ry bit trắc, với các nhà văn, phận người mới là cái đáng bản Vậy lối cắt dân phân mảnh được các nhà văn thé kỉ XI vận dụng như thể nào? Nếu các nhà viết tiểu thuyết theo khuynh hướng truyền thống quan niệm
Trang 22
một tiểu thuyết bay, có giá trị, thu hút độc giả là bởi nó phải được xây dựng một cốt
truyện nhất quán theo trật tự tuyến tính và độc giả tìm đến tác phẩm bởi cách tác giả giải
quyết mà cốt truyện đặt ra Khi các cây bút trẻ phá vỡ trật tự tuyển tính, xây dựng cốt
truyện đứt đoạn, phân mảnh tạo nên sự “bối rối” đầy hứng thú cho người đọc Ta có thể
bắt gặp lối cắt dán phân mảnh này trong rất nhiều tác phẩm: SSC là săn bắt chuột (Hồ
‘Anh Thai), Di tim mhdin vat (Ta Duy Anh), 7hoại kỉ hịp (Nguyễn Bình Phương),
"Như vậy, khát vọng làm mới tiểu thuyết đang ngày càng thu hút nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau, đặc biệt là lớp người viết trẻ Cùng với tư duy nhạy bén,
người viết trẻ có điều kiện tiếp xúc và vận dụng nhiều hơn kĩ thuật viết mới vào tiểu thuyết, tuy không phải trường hợp nào cũng đạt được sự nhuần nhuyễn và độ chín
hin chung, xu hướng cách tân đã góp phần đáng kể làm thay đổi diện mạo của tiểu
thuyết Việt Nam ở đầu thé ki XI, ngày càng thu hút được sự chú ý của bạn đọc, đồng
thời cũng ít nhiều lâm thay dỗi thị hiểu tiếp nhận của công chúng Trong nhiều tác phẩm, người đọc bắt gặp giữa dòng tự sự là sự thiết lập một mô hình tiểu thuyết mới
"ơi “chính cuộc đời thực, trở nên rõ rằng hơn trong hình thúc những mảnh vỡ” Vì vậy, có thể nối rằng: với việc đổi mới kĩ thuật viết, văn chương Việt Nam thể kỉ XI mang d của chủ nghĩa hau hiện dại, biểu hiện ở “chủ trương phi tâm hóa, chấp nhận sự kết hợp
xếu tổ ngoại biên, là sự khủng hoảng của tính nhất quán và là sự nở rộ của tính di bi
sự thoái ị của tính hệ thông và sư tháng hoa của tính đa tạp" [53]
1.2 Nguyễn Ngọc Tư và hành trình sáng tạo văn xui
1.2.1 Nguyễn Ngọc Từ nhà văn của thời đợi mới
Trong sự xôn xao của cánh đồng văn chương Việt Nam đầu thể kỉ XXI, Nguyễn 'Ngọc Tư xuất hiện như một “cơn giỏ la” tạo nên một "đư vị" mới Nguyễn Ngọc Tư sinh ra tai Bim Doi - Ci Mau - ving dit eve nam của tổ quốc Cuộc sống của một cô gái sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, phải bỏ học giữa chững sau khi tốt nghiệp cấp bai, chỉ là quản quanh bên ngôi vườn, bẾp lửa, con lạch bên nhà Sẽ chẳng
s một nhà văn Nguyễn Ngọc Tư hôm nay nếu chị bằng lòng với cuộc sống rung vườn quấn quanh, lấy chẳng, sinh con, vi ắt tức mơ chữ nghĩa của mình Là chính
người cha, bằng tỉnh yêu thương con, bằng sự thấu hiểu ước vọng của con đã nỗ lực
tạo điều kiện cho chị đến với con chữ, đến với nghề iết bằng lời khuyên đạm bạc: hãy viết viết bắt kỉ thứ gì con nghĩ Và, những tản văn đầu tiên đến với bạn đọc bằng siong điệu mộc mạc, chân chất, đậm màu sắc Nam Bộ Những trăng
chị đẫm màu sắc cuộc sống ruộng vườn, sông nước, dim những giọt mỗ hôi của những
ning din nghèo Là những trang viết dim chit thơ, lãng đăng bồng chiều hắt lên đồng kênh quê mẹ Là những câu hò hắt bồng vũng văn hóa Nam Bộ Rồi sau đó là hàng loạt truyện ngắn ra đời, Dẫu lẤy chồng từ rất sớm - là một anh thơ bạc rồi sinh con, song cuộc sống của một phụ nữ với nhiễu lo toan vụn vặt đời thường đã không lấy
Trang 23
.đi nhiệt huyết của chị với những con chữ Chị viết sung sức Hàng loạt truyện ngắn ra đời Lần đầu tiên, một vùng văn hĩa miễn Nam với những giọng điệu rất riêng đã bước
ta khỏi phạm vi nhỏ hẹp vùng miền, bước vào một vùng văn hĩa rộng lớn hơn Chị đã
*xuất khẩu” văn hĩa Nam Bộ đến với nhiều nước trên thế giới qua những tác phẩm thắm đẫm văn hĩa Nam Bộ, văn hĩa Việt Nam Tiếng nĩi trong tác phẩm của chỉ
"khơng chỉ là tiếng nĩi của một cá nhân dơn lẻ, đau khổ, hồi nghỉ trước cuộc dời mà là tiếng nĩi đại diện cho một lớp người oằn mình sống giữa một xã hội với quá nhiều trắc, cạm bẫy Họ là những ạ? Là dứa bé mỗ cơi, là người đàn bà bị chẳng đánh đập, là người đàn ơng cĩ vợ ngoại tình họ đi vào những trang viết của Nguyễn 'Ngọc Từ một cách tự nhiên như cây cỏ, một sự thật trần trụi khiến người đọc cĩ
cảm giác chị đang bĩc mẽ đời sống này
'Quả như vậy, bởi cĩ những câu văn đọc lên, tự dưng độc giả phải lắng lặng thời dài Đời người như dịng nước chây xuơi, nếu phẳng lặng êm trơi liệu đi cĩ đủ đẫy ÿ nghĩa? Mọi sự diễn ra trong các tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện cĩ thực, nĩ là hiện thực được lấy từ chính cuộc đời rất thực của những người xung quanh chị Hằng ngày, họ sống, làm việc, ăn ngũ, uống rượu, yêu đương, hen tuơng, mọi sự vẫn diễn ra theo như đúng lịch trình mà tạo hĩa xếp đặt Tại sao lại cĩ những thước phim buồn bã, chậm chạp mà Nguyễn Ngọc Tư nhìn, ghỉ lại, tái hiện lại da điết đến như thể Cĩ những câu chuyện_ người đọc chợt lặng lẽ giật mình con Cộc - một nhân vật đặc biệt trong Cánh đẳng bắt rận - đã khiển người đọc ngỡ ngàng cho những sáng tao của Nguyễn Ngọc Tư trên nền hiện thực cuộc sống Người
ta ngỡ như, Nguyễn Ngọc Tư sẽ bị vùi lắp ở ving sơng nước Nam Bộ nếu như chi khơng viết gì khác ngồi cuộc sống và con người nơi đây Người đọc lo ngại cho sự can kiệt về dé tai ma Nguyễn Ngọc Tư đang khai thác Chi cĩ bị lặp lại minh khơng? Chị cĩ bị lãng quên khơng?
“Câu hồi đã cĩ lời đáp khí hơm nay, chi sống ở thành phố Hồ Chí Minh, vừa làm biên tập báo, vừa viết văn Chỉ dĩ chuyển liên tục qua nhiều địa phương khác nhau trên
cả nước và cả nước ngồi Chị di dự hội thảo văn học, giới thiệu sách, gặp mặt độc giả, nhận giải thường Cuộc sống của chị đã bước sang một trang mới với nhiều ánh đền tực rỡ, song chị vẫn vậy Chị vẫn là một Nguyễn Ngọc Tư
ngâm kiệm lời trong mọi cuộc trỏ chuyện tiếp xúc, vẫn khiêm tốn trước mọi lời khen của độc giả và giới phê bình Chỉ khơng chỉ là một nhà văn, một người con của miễn
‘Tay sng nước mà chị đã bước vào một gia đình lớn Tác phẩm của chị là tiếng nĩi của
Trang 24Dẫu vẫn giữ nét mộc mạc, nét duyên không lẫn vào đâu được của mình, chị cũng ý thức rất rõ yêu cầu cách tân kĩ thuật viết dé mình không lạc thời, tác phẩm mình không
bơ vơ giữa dòng chảy cuộn siết Nguyễn Ngọc Tư viết tập truyện ngắn đầu tay Đổi
thay in trén Tạp chí Văn nghệ Cả Mau nhưng chị được biết đến với tập Ngọn đèn không tắt (2000) bởi giải thưởng của Hội Nhà Văn TP HCM Sau đó chị cho ra đời hàng loạt truyện ngắn: Nước chảy máy mới (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tie (2008), Giao thừa (2005) Với Cánh đẳng bắt tận (2005) Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng
định tên tuổi của mình bởi ngay sau tiếng vang của Cánh đồng bắt tận chị tiếp tục cho
ta đồi Tạp văn Nguyễn Ngọc Tí là tập hợp các bài viết của chị trên khá nhiều các bài
báo Và hành trình vật lộn con chữ của chị đã tiếp bước khi hàng loạt các tác phẩm ra
đời Với chị, hoạt động nghệ thuật là một hoạt động lao động nghiêm túc, không
ngưng nghỉ Với hàng loạt các tập truyện xuất hiện sau đó: Ấỗi buổn đắt lạ, Lý con sáo
sang sống, Chuyện của Điệp, Ngỗn ngang Sầu trên đỉnh Puman (2007), Ngày mai của những ngây mai (tạp bút, 2001), Giỏ lẻ và 9 cầu chuyện khác đập truyện ngắn, 2008), Biển của mỗi người rạp bút (2008), Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009), Khói trời lồng lẫy (tập truyện ngắn, 2010), (i nhau ngồn ngôn ra đời Một thời gian
im vắng, độc giả nghĩ chắc chị đã cạn dòng, thể nhưng khi tiểu thuyết Sóng (2012) Gáy người tỉ lạnh (tân văn, 2012), Bánh trái mùa xưa (2012), Chẩm (thơ, 2013), Đảo
(tập truyện gắn,2014), Trdm tich (tập truyện ngắn, 2014) Đong tắm lỏng (gồm hơn 30 tản văn) ra đời, một lần nữa chị đã bước lên bục vinh quang nghệ thuật cao nhất
“Củng với Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, chị đã đưa văn chương miễn Nam lên một tim cao mới như một nhận định: “Có Nguyễn Ngọc Tư, nền văn chương Nam bộ nối tiêng cao lên được mẫy thước!”
“Chỉ là sự liệt kế không đẩy đủ nhưng cũng đủ thấy độ sung sức trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, quá trình làm việc nghiêm túc của chị với nghề viết Sức nóng của Nguyễn Ngọc Tư còn được mình chứng bởi những tác phẩm của chị được xuất ban va tdi bản liên tục, có mặt trên rắt nhiều quốc ga, thậm chí Nguyễn Hữu Dũng cồn lập một trang riêng về những sing téc của chỉ Hay như, chị đã trở thành nhà văn của thời đại bởi những điều tưởng chừng đơn giản, nhỏ nhật đời thường đi vào tác phẩm của chị đã trở thành nỗi ám ảnh, là sự thể hiện chiều sâu nhân bản con người
"Những điều chị viết dẫu không xa lạ nhưng lại chạm đến phần sâu thẩm nhất của con người, để những người xa quê, luôn ngóng vọng Qua tác phẩm của chị, họ được sống lai phan hồn trong trẻo, mộc mac, binh di chén quê nhà Bên cạnh đó, những trang viết ccủa chị chạm đến phần rất riêng, rất sâu thẳm của con người nên độc giả sĩ cũng bắt gặp mình trong đó để hiểu mình, hiểu người để sống
"Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu bằng những tân văn được ïn trên Tạp chi văn nghệ C‡ Mau, đó là những ngày dẫu chị xem việc viết văn như là một nhu cầu của cuộc sống như là thổ, là ăn uống, sinh hoại Chị viết những điều giản đi xung quanh cuộc sống của chí những thứ quen thuộc hằng ngày di vào tâm thức của chỉ Đó là cuộc sống
Trang 25
của những nông din lam lũ chạy đồng mưu sinh, là những đứa trẻ bị bỏ rơi, là người đản ông đã nhẫn tâm thuê người giết vợ của mình, là người đàn ông đau khổ chim khuất trong hận thù khi vợ bỏ đi, là cuộc mưu sinh đẫm mùi trần tục của các cô gái qua thời xuân sắc tất cả họ hiện lên sống động giữa một không gian đậm màu sắc Nam
Bộ, đó là không gian sông nước, kênh rạch, cánh ding Ho sống một cuộc sống phong trần, trải đời, rất khí khái, đôi khí bắt chấp nhưng cũng rất sâu nặng nghĩa tỉnh đúng kiểu người miễn Nam Vì lẽ đó mà Nguyễn Trọng Bình đã có lần khẳng định giá
ác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư: “Ở phương diện nào đó, đây là những lời quãng bá
và "tiếp thị” bằng văn chương rất độc đáo Nguyễn Ngọc Tư về những nét đẹp của văn
hóa làng quê đồng bằng sông Cửu Long” [45] Văn của Nguyễn Ngọc Tư là văn của lời nói, cách ngắt câu của chị là cách ngất âm điệu, nó trần tình, thản nhiên, mộc mạc,
như chính con người Nam Bộ,
Không chỉ dùng lại ở đó, trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, ta còn thấy chỉ không chỉ đề cập đến những chuyện tỉnh yêu lứa đôi lãng mạn, chuyện tinh dep nhưng luôn bất trắc tan vỡ mà còn chạm đến những vấn đề xã hội gay gắt, đã viết những truyện phân ánh sinh động hiện thực của vùng sông nước Nam Bộ đến k truyện tư tướng; và từ việc chị khai thác vốn sống, vốn hiểu biết, những trải nghiệm của cuộc đời chị đến việc sáng tắc truyện hư cấu cần nhiều đến tài năng Nói một cách khác, Nguyễn Ngọc Tư dang đi về phía nghệ thuật hiện dại, dang chuyển từ cách
viết thiên phú (cách viết bản năng) sang cách viết của một ý thức sáng tạo có chiều sâu
nhân bản
"Những chuyện tỉnh yêu lúa đôi ở miễn quê Nam bô trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có nết riêng ở chỗ nhà văn chỉ kể chuyện tình, mà không mẫy khi đặt ra những vấn đề xã hội Đồ là những cuộc tỉnh tay ba đở dang, để lại nhớ thương khôn nguôi, những ám ảnh dẫn vặt Mỗi con người trong cuộc tỉnh ấy đều sống trọn nghĩa vẹn tỉnh Họ sống với tình yêu được giữ gìn trong tâm tưởng (Tiêu biểu cho những, trường hợp nay la Phi trong [ý con sáo sang sảng, HẾt trong Hiu hiu giỏ bắc, ông giả Chín Vũ rong Cuối mùa nhan sắc, Lương trong Bến đồ xám Miễu, Quy trong Giao thừa, Trọng trong Một mổi tình, Tự Nhớ trong Chiéu vắng Dẫn những câu chuyện tỉnh yêu trong truyện ngắn của chị qué mia, thô kệch nhưng đó lại là những cầu chuyện tỉnh côn lưu giữ được những điều thiêng liêng và cao quý bao đồi của cha sông VỀ sau, các tác phẩm văn xui t diu phan ánh trực điện những ví
xã hội: con người sống với nhau bằng sự thờ ơ, lãnh đạm, vô tư, hồi hợt, chuyện đẻ thuê, đồng giới Sự căng thẳng, quyết liệt của vấn đề xã hội thay cho dư vi ling man của tỉnh yêu thăng hoa, Nguyễn Ngọc Tư tỏ ra một ngồi bút có bản lĩnh Chị xông thẳng vào thực tại gai góc, không né tránh vấn đề, nhưng chị đã giải quyết những bi kịch bằng cái nhìn nhân hậu Cánh đồng bắt tận không chỉ là sự bắt tận của những lam
Ni vất vã cực nhọc trong cuộc mưu sinh của cha con Nương và Điển, không chỉ là cánh đồng bit tn những cô đơn, lẻ loi, thiếu vắng tinh yêu thương của chị cm Nương và trì
Trang 26Điền mà nó còn là cánh đồng thù hận của người cha khi mẹ Nương ăn nằm người đần
ông bán vải rồi bỏ nhà đi Khi người ta sống và trải hết lòng cho tình yêu duy nhất và
bị phản bội tình yêu trong họ biến thành sự thù hận.Và người ta làm mọi cách để trả đũa, làm mọi cách để xoa dịu sự thủ hận trong họ, bằng cách gieo rắc nỗi hận thủ cho tắt thây những người bên canh Lời độc ác của người chẳng (một quan chức) cũng đã giết chết người vợ trong Gió lẻ Người đàn bà ấy đã phải treo cỗ để lại đứa con mới
sáu tuổi Đứa trẻ ấy sau này di bụi Và cô gái câm đi bụi ấy lại trở thành nguyên nhân
cho người ta giết nhau Khi đã thành con ma, nó vẫn tự hỏi "Sao người ta có thé dem
chuyện giết nhau làm trò đùa” Nguyên nhân cũng vì tình yêu? Trong Kñói trời lộng:
chuyện tình yêu là chuyện ngậm ngùi, bởi hậu quả của nó là những đứa con hoang,
“ôi đi không tăm tích gữa cuộc đời này”
Nguyễn Ngọc Tư viết nhiều về những đứa con hoang, dứa con lạc mắt ngay
trong gia đình mình, những đứa trẻ trôi dạt với một số phận bắt định, đơn độc, vô vọng, giữa côi người Có một mối đồng cảm, một mỗi bận tâm canh cánh trong truyện của 'Nguyễn Ngọc Tư, bởi biết trích ai bây giờ? Bởi làm sao để bù đắp cho mắt mát không thể bù đấp được là tinh người, tỉnh thân? Nương và Điền trong Cánh đẳng bắt tân cũng là những đứa trẻ hoang đã Mẹ bỏ di, bai đứa theo cha trôi dạt Chúng phải tự học tất cá, và đã phải trả giá Bảy Trầu trong Khối mời lộng lẫy cũng là một đứa con hoang Cha bỏ mẹ đi lúc cô bốn tuổi, sau đó mẹ bị tai nạn chết Tại sao Nguyễn Ngọc
“Tự lại viết nhiều về những, con người bị thất lạc ngay trong gia đình mình, dễ rồi lạc mắt giữa cuộc đời? Nguyễn Ngọc Tư không hễ có lời nào phiền trách những người cha những người mẹ ấy, cũng không quy kết vào những nguyên nhân xã hội? Hơn thể cũng không đặt ra giải pháp nào để cứu lấy số phân những con người đáng thương kia? ,Câu trả lời có thể lả, Nguyễn Ngọc Tư canh cánh mối ưu tr ấy và nâng vẫn đề xã hội lên thành chủ để có tỉnh tr tưởng Những đứa con hoang ấy là hiện thân cụ thể nhất cho thân phận con người đơn độc, rồi đạt và lạc mắt giữa cuộc đời này, không thể níu giữ bắt cứ cái gì
n thực vỀ một vũng sông nước min Nam với
đầy đủ mọi biển thiên của thời đại mới, Nguyễn Ngọc Tư đã tiếp tục hành trình nghệ
thuật của mình
1g những câu chuyên mang tằm tư tưởng, thể hiện tiết lỉ đi
mang đậm cảm quan hiện đại Thực tế, dẫu không theo một trật tự sắp xếp nào những
những câu chuyện kể của chỉ đã mang tằm tư tưởng từ những chỉ tết ngỡ rằng tất đời thường Tư tưởng về sự trừng phạt nhân quả được tô đậm trong Cin déng bat tân Người cha đã hành xử ác với bao nhiều là phụ nữ thì chính nhân vật này phải chứng kiến sự trừng phạt của cái ác trên thân xác đứa con gái của mình, không thể
vợ bắt tân còn dự báo nhiều sự trừng phạt khác mà người đọc có thể cảm nhận được, bởi đỏ là ánh đồng của sự căm thủ, bởi “những cánh đồng đó đã
ủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đân vi9”.Tuy vây, hình tượng trong Cánh đẳng,
"bắt tận chưa phải là hình tượng tư tưởng Có chăng Nguyễn Ngọc Tư thể hiện cái kinh
Trang 27nghiệm này của dân gian, rằng “đời cha ăn mặn, đời con khát nước” Nguyễn Ngọc Tư
để cho Nương, một cô gái hiền lành, giàu tình nghĩa, rất mực nhân hậu lại phải trả giá
cho cái ác của người cha Cũng có thể, bằng sự đớn đau của thể xác và linh hồn, ít nhiều lương tâm và trách nhiệm của người cha đã được đánh thức Nếu quả vậy, Nguyễn Ngọc Tư đã đặt ra một quan niệm: cái giá của sự thức tỉnh con người chẳng bao giờ là rẻ
Gió lẻ là một tư tưởng khác, ấy là “cõi người là nơi của dối trá và bạc ác” Tư tưởng này được thé hign trong hình tượng cð gái câm (Mỹ Ái) bỏ nhà đi bụi, từ chối
nói tiếng người Từ đẫy mỗi lần nghe con người nói lời dối tá em lại nôn, nôn thốc
ôn tháo Tiếng nói con người đã giết chế tắt cả những gì yêu thương Cô gái câm ấy
đã nhìn thấy, ở đâu con người cũng bạc ác và dối trí, Cô nhận ra mình không còn tồn
tại trong cði người này nữa nhưng trong linh hồn cô vẫn khao khát tình yêu
thương Trong Giỏ lẻ, tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư đã nhuốm màu bỉ quan nếu không nói là tuyệt vọng về cõi người Cô gái cảm ấy từ chối trở về nhà mình, từ chối nồi tiếng người và sau cùng chết dữ đội, không cưỡng lại được Trong côi người, em 1g trong câm lặng Ở cõi ma, em bằng bằnh trong bóng tối vô tận Nguyễn Ngọc Tư không tìm thấy con đường nào hé lộ một chút ánh sing cho nhân vat cia minh, Khdi trời lộng lẫy lại chìm đắm trong một tư tưởng khác “Con người phải mang lấy thân phận cô đơn, trôi dạt giữa cuộc đời này” Không thể níu giữ được bắt cứ cái gì, giống như "làm sao giữ được vẻ đẹp lộng lẫy này của khói ” Không có gì là vĩnh viễn Tự tưởng ấy được tô đậm bằng một cầu trúc nhiều lớp truyện Đồ là sự biến mắt của thiên hiên mà “Viện di sản thiên nhiên và con người” không sao giữ được, bởi “không con
"ảo tần phá gây bại như con người, dĩ tới đầu thiên nhiên lụn bại tới đố
Rõ rằng Nguyễn Ngọc Tư dang đi về phía viết truyện tư tưởng, loại truyện vượt lên rất xa cách viết bản năng Để thực hiện cuộc “ra đi” này, Nguyễn Ngọc Tư
đã chuyển hóa triệt truyện của mình Ở những truyện tỉnh quê, Nguyễn 'Ngọc Tự viết là để phân ánh hiện thực Truyện được kể theo cấu trúc truyền thống Mỗi truyện đều có một cốt truyện rõ rằng, mạch truyện phát triển theo tuyển thời gian, xoay quanh những đột biến củn số phận nhân vật Giọng kể là giọng côa quần chúng Nguyễn Ngọc Tư đem nguyên văn ngôn ngữ, giong điệu, cách nói năng diễn dạt và cảm xúc của quần chúng vào truyện Nhưng khi chuyển sang kiểu truyện hư cầu thé hiện tư tướng, thì nhân vật không còn là nhân vật hiện thực (chẳng hạn trong đời thực
sẽ chẳng thể có cô gái nào nghe người khác nói mà nôn như Mỹ Ái) Nguyễn Ngọc Tư nhập thân vào nhân vật để kể (Nương, Mỹ Ái, Bảy Trần) Giọng van bây giờ là giọng của nhân vật, giọng buôn, bởi thân phân họ buôn và câu chuyện họ kể là chuyện buồn,
cảnh đời sống hiện thực chỉ còn là bóng mờ Cầu trúc truyện được xáo trộn triệt để, Thật khổ lần ra một cốt truyện có đầu có đuôi Người đọc phải vừa đọc vừa đoán chừng, vừa ráp nối, xâu chuỗi sự việc lại theo một logic
ảo đó để hiểu cỗ mà hiểu Vì thể Giỏ (ẻ và Khối trởi lộng lẫy không dễ đọc Nguyễn
kĩthuật vỉ
Trang 28
'Ngọc Tư trộn lẫn cảnh hiện tại với những hồi tưởng, những hồi tưởng không theo thir
tự thời gian, trộn lẫn thực tại với những giắc mơ Trong Gió lẻ, góc trần thuật thay đổi
liên tục giữa nhân vật Em, Dự rồi ông Buồn Nỗ lực "ra đỉ” trên con đường sắng tạo của Nguyễn Ngọc Tư thật đáng trân trọng Những gì chị đã viết được đủ khẳng định một tài năng, và tài năng ấy còn nhiều hứa hẹn Nguyễn Ngọc Tư đã viết được những, truyện hư cấu, những truyện tr tưởng, đặt trong những kiểu cấu trúc tác phẩm khác nhau Nguyễn Ngọc Tư đã vượt lên trước so với nhiều tác giả trẻ cùng thời
'Chính vì những lẽ trên, Nguyễn Ngọc Tư từ một nhà văn của vùng đắt mũi xa
xôi đã từng bước di vio hành tình của một nhà văn thai dai mới Không ngưng nghĩ
và bằng lòng với những điều mình có chị đã đóng góp cho văn chương hiện dại Việt 'Nam bằng những thành tựu nghệ thuật đặc sắc, bằng sự tĩnh lặng vốn có của mình Đứng như Goethe timg chia sẻ: "Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thảnh trong bão tấp"
1.2.2, Văn xuối Nguyễn Ngọc Ti ~ “đồng riêng giữa nguồn chung ”
“Thực tế khi Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện, văn học Việt Nam đã dạt thành tru rực
rỡ từ cuộc cách tân mạnh mẽ ở nhiều phương điện Những quan niệm mới trong văn học từ quan niệm nghệ thuật về con người đến sự thay dỗi trong kĩ thuật viết, nội dung, phản ánh trong văn học đã khiến nền văn học thể kỉ XI như một rừng hoa nở rộ
"Nếu không phải là một cây bút tài năng với một giọng điệu độc đáo, Nguyễn Ngọc Tư
đã nhanh chóng chìm khuất trong vô vàn những bông hoa rực rỡ đó Dẫu rằng với chị, chưa bạo giờ là một bông hoa rực rỡ, chị cổ thể xem như một bông hoa dại, tỉnh khiết, nhỏ bé, mộc mạc nhưng thời gian và các chướng ngại không làm nó phai hương sắc
“Thế kỉ XI, người ta bắt gặp trần lan những tác phẩm văn chương đầm mùi tính due, nó như một “mode” thời thương Đến nỗi, người đọc có cảm giác các nhà vẫn, đặc biệt là các nha văn trẻ sử dụng yếu tổ tính đục như công cu dé thu hat ban đọc hiện đại bằng lỗi viết táo bạo đến thô tục Ở Nguyễn Ngọc Tư chị hiểu sex - tinh đục - điều hiểu nhiên rắt đời, rất người khi các trang viết chạm đến đời sống của con người hiện đại Nhưng chỉ không sử dụng yếu tổ Ấy như một công cụ câu khách, thu hút độc, giả trẻ Chị đã viết về sex, về khát vọng sex nhưng thắm thía ý nghĩa nhân bản, bởi
"Nguyễn Ngọc Tư đã soi rọi được chất người vào những hành vi bản năng mã đưới gốc nhìn đạo đức, sex luôn bị phê phán, chỉ trích Là một nhà văn tr, bằng trải nghiệm của người đàn bà tuổi 40, chỉ hiểu những khát vọng và cả những tham vọng của con người
"Nhưng điều níu giữ Nguyễn Ngọc Tư để chỉ luôn là một cây bút tỉnh tẾ, bản
chiều sâu là bởi tâm hồn chị được hun đúc bởi một chiều sâu văn hóa Nguyễn Ngọc
“Tư gợi trong lòng người đọc những nghĩ suy rất tỉnh khôi về sex, không phi qua lãng kính dao dite, cũng không qua chủ nghĩa sex phương Tây Khát vọng yêu thương
‘va dai hoi tinh dục của cả bà và cháu trong Rượu: mrắng là những ngọn lửa nằng cháy Nhưng hoàn cảnh đã phủ lấp lên những khát vọng ấy Tỉnh cảnh của cả hai ba chau đáng thương xiết bao Người đản bà trong Mi chuyện hẹn ñỏ bơi xuồng đến
Trang 29
nơi hen trong cơn mưa bão Sau những phút vui ngắn ngủi với người tình, mặc cảm
đạo đức đã vùi lắp chị trong lòng sông giông bão Chị chấp nhận chết với tình yêu, bắt
chấp những kẻ “miệng nói đạo đức, chê mấy truyện trái gái là hạ tiện tục fu, nhưng với bạn tình vẫn háo hức" Truyện Của ngày đã mắt là truyện của ông thầy 69 tuổi đi 4u khảo với cô học trò 20, Cô ta thích thầy, và thầy luôn ý thức mình giả để từ chối tỏ tinh, Ông thầy đã trải nghiệm cái thực tế này, sex là sự sống Ông dang mắt dẫn sự sống Trong Cánh đẳng bắt rộn, Nguyễn Ngọc Tư đã migu tả tình cảnh thật đáng thương của Điền khí cậu ta phải "chối bỏ niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ” Là điều gì đã khiến Nguyễn Ngọc Tư đã thốt lên những lời đau đớn đó? Chị
hiểu rằng, sex là nhu cầu thiết yếu của một bản năng không thể chối từ, là bản thể của
sự sống, nhưng Bign, vi những ám ảnh trẻ thơ mà quên mắt mình, quên mắt khát vọng thành thực của mình để rồi tự vùi dập sự sống của chính mình
Thể ki XXI, người ta cũng bất gặp các tác phẩm văn xuôi với việc sử dụng ngôn ngữ khá độc đáo, da dạng và khá nhiều giọng điệu từ nhiều điểm nhìn trần thuật
để thể hiện tr tưởng, chủ đề tác phẩm Trong dòng chảy ấy, Nguyễn Ngọc Tư cũng tự biết minh âm thẩm khi sử dụng thứ ngôn ngữ rất riêng của nơi mình sinh ra và lớn lên
để chạm khắc tiếng nói vùng miễn vào lịch sử văn học Đó không chỉ là việc vận dụng, thứ ngôn ngữ khẩu ngữ Nam Bộ với đúng khẩu khí miền Nam mà chỉ còn vận dụng
thứ ngôn ngữ đã được trau dỗi qua thời gian, được chất lọc qua tư duy nhận thức của
eon người thời đại mới Đó là ngôn ngữ biến tấu từ ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ tính dục - thứ ngôn ngữ của thôi đại nhằm phản ánh chiều sâu nhân bản con người Ở tản văn là thứ ngôn ngữ mượt ma bước ra từ đời sng, diễn tả những cảm xúc bằng khuâng, những nỗi niềm trăn trở của con người trước thiên nhiên và thực tại Ngôn
"ngữ tính dục đây đặc trong các truyện ngắn và tiểu thuyết, trần trụi phơi bây một thực tai biến thiên theo vòng xoáy xã hội Bên cạnh ngôn ngữ, chị luôn làm nên nét dấu ấn cho riêng mình ở những trang viết qua giọng điệu Cũng vẫn là những giong digu triét
|i, hoài niệm, hay chất giọng điểm nhiên trước thực tại xã hội Nhưng 6 chi, la một sắc slong không thể nào trộn lẫn Giọng điệu Nam Bộ phả ra trong từng hơi thở của nhân vật, là kiểu cốt cách khí khái của người niềm Nam, là cái thâm trầm của người đần bà miễn Nam trải qua nhiều oan trái cuộc đời, là Nương, là BÉ, la Hinh như, chị không,
đi đâu xa quá khỏi đồng sông, cánh đồng, khỏi những len lách của các con rạch để nói
ên tiếng nói thắm đẫm nghĩa tỉnh, x6t xa cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống miền
êu đương, dau đầu lòng những giá trị sống tích cực, hướng con người đến chân, thiện, n
Đồ còn là cách chị đặt các biêu tượng nghệ thuật ở những nơi đắt địa nhằm mới trường liên tưởng, chồng xếp nhiều tầng ý nghĩa cho tác phẩm của mình Tắt
cả các biểu tượng nghệ thuật Ấy đều bước ra từ cội nguồn văn hóa Nam Bộ với chiều dài lịch sử, ừ cội rễ con người trong quá trình thích ứng và giữ gìn truyền thông Cũng như các nhà văn cũng thời, xây đựng biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn
Trang 30chương là một xu hướng Nguyễn Ngọc Tư vận dụng nhằm lí giải cho mọi căn nguyên
cảm xúc con người Nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã không hòa mình hoàn toàn trong dòng
chảy ấy, chị luôn có tiếng nói riêng, luôn có cách trình bày riêng bằng việc sử dụng liên hợp chồng xếp nhiều những biểu tượng nghệ thuật bước ra từ đời sống thô mộc
ccủa người nông dân Nam Bộ gắn với môi trường sông nước, với những cánh đồng bạt ngàn Đó là những dòng sông, cánh đồng, kênh, rạch, hồ ao; là những thuyền, ghe, cquách là những vật gần gũi hằng ngày trở thành biêu tượng lĩnh thiêng: cái cậy, bức, tượng, con dao Đặc biệt, hình tượng con vịt tên Cộc - một loài gia cằm trở thành
một biểu tượng trong cánh đồng bắt tận Có người xem nó như biểu tượng cho nỗi đơn côi, bơ vơ của kiếp người, có người cho nó như là biểu tượng đại diện cho nhà Phật
(Stefan Jonsson)
“Tóm lại, Nguyễn Ngọc Tư là một nghệ sĩ có chân tài trong nền văn chương hiện
đại Việt Nam Tác phẩm của nhà văn mang tính hiện thực sâu sắc vì đã phản ánh được chân dung đích thực với tâm tư, nguyện vọng và tỉnh cảm của lớp người lao động nghèo khó ở Đồng bằng sông Cửu Long Bằng một phong cách nghệ thuật tiêu biểu cho lỗi viết chơn chất mà cô đọng của những người cằm bút ở phương Nam chỉ đã luôn biết cách chảy ôi theo dòng, nhưng luôn biết mình không hòa lẫn vào dòng chảy
y, để khẳng định mình
Trang 31
CHUONG 2
SÔNG CỦA NGUYÊN NGỌC TƯ NHÌN TỪ TÂM THỨC VĂN HÓA
2.1 Mạch nguồn văn hóa Việt - cốt lõi văn hóa truyền thống
221.1 Không gian văn hóa đâm chắt Nam Bộ
Sinh m và lớn lên ở huyện Bim Doi Cà Mau, tuổi thơ Nguyễn Ngọc Tư thắm đẫm không giam văn hóa Nam Bộ Đồ là do người ta gi inh win ong sng ie văn chương của chị là hình tình không gian "từ cánh đồng đến dòng sông” Một điều hiển nhiên mà các nhà lí luận phê bình văn học đều nhận ra rằng, trong quá trình sáng
tác, mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình một không gian nghệ thuật, một vùng thẩm mĩ
mang những tín hiệu riêng để biểu đạt những thông điệp mà mình gởi gắm trong tác phẩm Không gian nghệ thuật đó là sự kết tinh đặc trưng văn hóa của quê hương sứ xở
ơi nhà văn ấy sinh m và lớn lên, nơi nhà văn gắn bó, yêu thương và am hiểu sâu sắc Chính vùng thâm mỹ đó, không gian văn hỏa đồ giáp người đọc nhân ra diện mạo Không gian văn hóa của cả một thời đại của một vũng đất ĐỂ chứng thực một điều ring, vin chương góp phần lưu giữ văn hóa của một vũng đất, một quốc gia
'Nguyễn Ngọc Tư và các sáng tắc của chị đã ít nhiều lưu dấu Ấn văn hóa Nam
Bộ trong tâm thức độc gi Văn chương chị đã khiến không ít những kẻ tha phương dau đâu nhớ vỀ, đã khiến bao con người đang chơi vơi giữa lẫn ranh văn hóa li căng chợt giật mình tháng thốt bởi những dấu ấn, những tâm thức văn hóa Nam Bộ trong Séng neo đâu lòng người Chị là nhà văn đã đưa vũng đất Nam Bộ đi vào thể giới phẳng, thể giới sống của những con người trẻ cần chốn nương nấu tâm hồn, Dù rằng, không như vũng văn hỏa Bắc Bộ hay vũng văn hỏa Trung Bộ vốn hình thành từ xã xưa với những căn nguyên thâm sâu lưu dẫu ấn con người Việ: Người ta gọi Nam Bộ
“vũng đất mới" bởi văn hóa Nam Bộ được hình thành như kết quả một sư dung hợp giữa các nên văn hóa Việt với các yêu tổ tip bin từ văn hóa Chăm, Khmer, Hoa và văn hóa phương Tây sau này Do đó, giao thoa văn hóa trở thành đặc trưng của văn hóa Nam Bộ và không gian văn hóa Nam Bộ là một không gian văn hóa đặc bi với không gian văn ha của các vùng khác trên cả nước bởi sự phong phủ, đa dạng và phúc tạp của nó,
Nam Bộ có gì khác hơn, cổ ì đặc biệt lưu đấu ấn với con người ngoài không gian những cánh đồng bát ngất trời xanh, là những con sông, kênh, rach
quặng phủ sa, là những khúc ca thắm đẫm nghĩa tình vọng lên từ ghe thuyền chạy dọc đôi bờ những con kênh xanh thẩm, là những phong tục tập quán, những tín ngưỡng
dân gian vữa gần gũi vừa xa la với người đọc Tắt cả những vẻ đẹp ấy đã đ và vào các trang viết của Nguyễn Ngọc Tư một cách dưng dị nhưng không kém phin hip din
`Với tiêu thuyết Sóng, cũng như nhiều tản văn và truyện ngắn trước đó của chỉ, người đọc thấy mình như rồi di và đắm chim trong một không gian thắm dim bản sắc văn hóa miễn Nam: đó là Không gi bắt ngất của sông của kênh của rạch, là những thức
Trang 324in mang đậm dấu ấn miền sông nước, là những tín ngường, phong tục dân gian được 1e dẫu từ hàng trăm năm trước là những làng nghề truyễn thống đâu đó người ta vẫn đau đáu được lưu giữ và phát triển
Là một vùng đắt với điều kiện tự nhiên được ban tặng là vùng sông nước Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó mật thiết với dòng sông Họ sinh ra, lớn lên, trưởng thành, sinh con đẻ cái và rồi từ giã cõi đời trên sông Cá một cuộc đời, dẫu dài dẫu ngắn, dẫu vui dẫu buồn, hạnh phúc hay đau khổ, người Nam Bộ có khi chưa bước
ra khỏi một con sông, chưa biết ra khỏi một con thuyền Bởi, sông, thuyền ghe bến bãi
đã sống toàn bộ cuộc đời trên sông, đã gắn bó với chiếc ghe cả một thời trẻ lam lũ
n khi bước qua thời tuổi trẻ, bà đã luôn đau đáu với nó bằng
nhọc nhắn và rồi, để
về thé giới bên kia “Bà ngoại cậu cũng đã lẻn ra chiếc ghe nát của bà ngủ, và chết
đuối [41, 150] Bà đã không cần bắt kì điều gì khác bên cạnh mình trong gid khắc
tử giã cõi đời, kế cả con chấu, kế cả những người thân thuộc Phải chăng, con người khi sống gắn bó với một điều đã trở thành thân thuộc thì đến khi chết đi, họ cũng muốn cảng với đều thân thuộc ấy, họ sẽ cảm thấy không còn cô đơn
Nam Bộ được tự nhiên ban tặng là một vùng rộng lớn sông, h, ao, kênh, rach, củng với điều kiện tr nhiên Ấy là sự trì phú của nguồn thực phẩm sông nước dỗi đào
Đó là những tôm, cua, cá, sặc cùng với các loại rau, củ mang đậm dấu ấn vùng sông nước Bởi sự tự hào về mảnh đất này, sự tự hào về những món ăn dân đã được kết hợp
một cách khéo léo, mang đậm dấu ấn văn hóa của vùng miền mà trong hầu khắp các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc đều thấy sự xuất hiện của ẩm thực Nam Bộ Người Nam Bộ quan niệm: ăn để sống Trong Sóng, người đọc không ngạc nhiên khi trên hành trình ngược dòng sông Di, hành trình của Ân, Bồi và Xu phải trải qua rất nhiều những vùng đất ven bờ Họ đã tiếp xúc với rất nhiều người, được thưởng thức rit nhiều thức ngon bắt nguồn từ sông nước, những món ăn mà nghe tên gọi thôi cũng
đã thấy bóng dáng vùng văn hóa miền Nam Vì vậy, bảng bạc trong suốt tiểu thuyết Sang, Nguyễn Ngọc Tư đã hắp dẫn người đọc còn bởi vẻ đẹp của văn hóa âm thực
"vùng sông nước miễn Nam giản dị, dân đã qua một món ăn “canh chua bông súng và
cá sặc kho khô” rất quen thuộc trong mâm cơm của người din quê nghèo khó, lam lũ
Trang 33Môn ăn tuy dân dã, bình dị nhưng chứa đựng cả một giá trị lịch sử và văn hóa khẩn hoang của cha ông thời trước được đăn gian lưu truyền qua câu ca dao quen thuộc:
“Muốn ăn bông súng cá (mm ) kho
Thì võ Đẳng Tháp ăn cho đã thèm
(Ca dao Nam bộ)
“C6 giáo lỡ thời tên Mận lục dục nấu bữa tối cho bọn cậu Cá ngác nấu canh chua bẵn, tép bạc rang muối ớt Chị nói mit ban cũng ngon lắm” [41, tr21] “Cá bồng dira, rau cóc” [41, tr42], "món cá sạo này nấu với lõi hoa chuối ngự rất ngon” [41,
4.69], “cá cháy mà kho lạt, băm xoài sống ngâm chung là hét sy” [41, tr.123] Chi
là sự lược kế một vài món ăn những ở đó người đọc có thể thấy bóng dáng của văn hóa 'Nam Bộ, vẻ đẹp của chiều sâu văn hóa Nam Bộ qua cách mà con người dụng công và
thể hiện sự tự hào về mảnh đất quê hương của họ Món ăn được chế biến bởi các
"nguyên liệu lấy từ đồng sông, con lạch, mảnh vườn bên chai nha, Nha văn đã thể hiện niềm tự hào, ý thức giữ gin vẻ dep văn hóa quê hương minh qua những điều ngỡ như tằm thường và quen thuộc,
Một yếu tố nữa trong Sóng để thấy bóng dáng của văn hóa sông nước là cuộc sống sinh hoạt và mọi hoạt động của con người luôn gắn với dòng sông Dường như, mọi cuộc đời, mọi số nhận của cơn người đều gắn với con sông chứ không phải là bắt
kì điều gì khác Đó là cuộc đời trong những chuyển đi dài của mẹ chồng nàng dâu bán
vải mà Bồi, Ân và Xu đã đi nhờ một đoạn trên hành trình: “Mẹ chồng nàng dâu này sống chung trên một chiếc ghe chở đủ thứ trên đời Bọn cậu vẫy cái chợ trôi trên
đường nó ra Vĩnh Châu bổ bảng” 41, 37], là cuộc đời đi đọc don sông của người dan ông làm nghề chèo đồ chở hàng mà mỗi hành trình là một cuộc vui bắt tân “chỉ ghe khâm lừ những lu khạp xành côn chất thêm ba thẳng người đen đúa Nước lẽ đế mép ghe Ông chủ ghe thì quá bận rộn với những người din bả sống dọc bên bờ T41, 1.54] hay là những chuyển gin xa mà họ cing nhau trải qua trên những chuyển tàu như trôi ra từ tâm tướng “Mũi tàu chẻ dang lá rời khỏi Trung Sơn, rúc lên mấy hdi cdi ướt thưới” [4I, tr134],
Không gian văn hóa được xác lập không chỉ bởi những yêu tổ vật chất mà chiều sâu của nó côn là sự đan dệt của các yếu tổ tỉnh thần Do đó, khi nói đến không gian văn hóa người ta đặc biệt nhắc đến các tín ngưỡng tôn giáo Bởi tôn giáo là một trong những thành tổ đệt nên bức tranh văn hóa của dân tộc Nam Bộ là vùng có nhiều tín
"gưỡng tôn giáo tổn ti, điện mạo tôn giáo đa dạng và phức tạp Bên cạnh các tôn giáo lớn bên ngoài du nhập vào như Phật Giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Nam Bộ cồn là quê hương của những tín ngưỡng tôn giáo địa phương như Hòa Hảo, Cao
"Đài cùng các tín ngưỡng dân gian như thờ ông bà, thờ Thổ thin, thờ Mẫu Sức hấp dẫn của Sông không chỉ ánh lên qua vẻ đẹp văn hóa đậm chất Nam Bộ mang mau sic vật thể mà còn ảnh lên bởi sự sinh động và độc đáo của các tín ngưỡng dân gian Nhà văn đã lột tả được hết tỉnh thần và đời sống tâm linh của người Việt được gởi g
Trang 34trong các lễ hội truyễn thống, phong tục tập quán Nó độc đáo bởi chị đã không chỉ sao
chép những vẻ đẹp của văn hóa truyền thống một cách xuôi chiều mà ở đó, chị đã có
một cái nhìn "giải thiêng” những lễ hội và phong tục Chính cái nhìn "giả thiêng” ấy
đã khiến ý nghĩa của nó một phần nào đó mang màu sắc của những ám ảnh bi kịch, những bắt an và những hỗi kết không trọn vẹn
'Với nhà văn đương dại, thế kỉ XI đã bước qua một đoạn đường di
giá tị văn hóa truyền thông ít nhiều lung lay khi con người cảm thấy cô đơn, bể tc, toàn trước xã hội bị đứt gãy Vì thế, con người ta không còn cách nào khác hơn là phải vi vào những giá trị tâm lĩnh mà nương náu tim hồn, Bằng cách người ta vẫn luôn lưu giữ truyền thống thờ cúng ông bà tô tiên, luôn hướng v, ngưỡng vọng những, người đã khuất, cho dù có yêu thương gần gũi hay không, có giận hờn hay không thì
người còn sống đã luôn dành cho người đã mắt một góc nào đó trong tâm khảm, bằng
những ngày gid hàng năm (mỗi năm mẹ làm giỗ cho bà ngoại Ân), bằng mảnh khan tang đen nhỏ trên ngực áo của Cao, là những nắm mỗ cho những người đã mắt dù còn ghết họ đến đâu đi nữa (đó là những nấm mồ đôi mà người ta lập cho những người côn ôm lấy nhau) Cao đã khắc lên đó “thing chó chết” kẻ đã lấy mẹ mình Là ảnh trình của Bí Đỏ với lọ tro cốt anh tra đến được hỗ Thiên cho thỏa niềm mong, ước người anh trai khi còn sống Là một chút ăn năn, hồi lỗi, là sự tha thứ, là quên mọi
nổi buồn mà người khuất đã gây ra khi họ còn sống Những điều ấy đã khiến con người sống tử tế hơn, đã biết an bằng cuộc đời mình với cuộc đời người khác khi con
người cứ lung lay bóng mình giữa một thực tại chông chênh
"Nguyễn Ngọc Tư không xuôi chiều với cái nhìn của những phong tục tập quần tin ngưỡng truyền thống Ở Sóng, nhiều câu chuyện được đan đột, được cải vào nhau cqua nhiều lớp tín ngưỡng Người Việt với tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” nên khắp nơi trên đất nước này người ta thở nhiều loại cây, nhiều đồ vật, nhiều vật dụng đễ thể hiện
sự sùng bắi với các lực lượng siêu nhiên Đó cũng là cách ho gin git va trấn an tâm hồn mình Điều này lí gidi vì sao nhóm người đồng tính mỗi năm một lần họ đến quay trở lại khẩn vái thành tâm trước cây Bi-ia thần thánh “mỗi năm về nước vải ba tháng đi xuyên Việt hành hương” [41, r2], “bữa nay đi viếng ông Bi-ia chín dot”, “Bi dịa, thân suông không nhãnh, hay mọc chơi vơi ở sườn đôi hay giữa đồng, đơn độc và kiêu hãnh Cây Bi-ia nỗi tiếng này thì tám lẫn bị sét đánh, mỗi lần như
nó lại tách ra [41, tr83], "cái migu ne nép đứng cạnh gốc Bi-ia ba trấm năm tuổi cũng
để thờ cây Đó là lí do Quý bà đưa bạn bé đến đây chiếm bai” [41, t.83] Ay thé nhưng “Cậu ngôi trên cái ghế đá người ta cũng dường cho miều, đầu lơ mơ nghĩ đắt nước này thực sự từng có mình chủ không, hay người din chỉ biết chạy đi chạy lại giữa bọn quá tệ và bọn (tưởng rằng) ít tệ hơn Mắt cậu vẫn dõi theo nhóm Quý bà bay biện bánh trái ra khấu diu khdn vai, Bang dưng thấy hơi cô đơn, đồng loại đúng là chẳng ích gì Cậu côn đủ tỉnh táo để không cầu xin cái cây ban phép màu cho thời gian quay lai Xu cũng đứng dung, anh ta nói mình vô thần, bởi nếu có, hẳn họ đã nghe anh
Trang 35ta cầu khẩn suốt một thời thơ ấu côi cút” [41, tr85] Bao nhiêu tâm niệm đã đổ sụp
xuống qua lời trần trình của Ân và Tú Hằng bao năm, người Việt vin vào những điều
linh thiêng để gởi gắm bao ước mơ của họ, là nơi họ có thể giãi bày, chia sẻ những tâm
sự thẳm kín, họ cầu mong sự bình an, cầu mong được phủ hộ độ trì để vượt qua những sóng gió đời người Cây Bi-ia trở thành biển tượng cho sự sống bắt diệt cia con người, trở thành thần bởi sau tám lần gánh chịu cơn cuồng nộ của trời vẫn nghiễm nhiên sừng
sững giữa đời Đến lượt Nguyễn Ngoc Tu, chi thang thét hay ngờ oan về những đình
in miễu mạo Chị chợt hoang mang hay dang chỉ trích con người tin một cách mù
quáng vào những điều không có thực giữa cuộc đời Hay là, đấy là cách chị để cho
nhân vật thể hiện một nhân sinh quan mới, bày tỏ sự hồ nghĩ về xã hội thực tại
Không gian văn hóa trong Sóng còn được tạo nên bởi những câu chuyện vẻ các làng nghề truyền thống Khi mọi thứ trong xã hội đã được hiện dại hóa, công nghiệp
hóa, người ta đua nhau sản xuất và sử dụng những thứ nhanh, tiện lợi, phủ hợp Người
ta quên mắt dân tộc Việt Nam đã “lớn lên”, đã ít nhiều khẳng định mình với
bằng nhưng cái đẹp giản đơn, thuần hậu nhưng rắt tỉnh tế Đó là vẻ đẹp của những làng
nhiều, trong Sóng, Nguyễn Ngọc Tư đã phục dựng lại lang nghề đềo gỗ bằng tay “Cuốn sách Những làng nghề thủ công hau thổ sông Di mà cậu ém được của thư viện viết rằng nghệ nhân đầu tiên sáng tạo ra nghề déo chi bing
gỗ son là Út Hết, vào năm cậu ta mười ba tuổi Cánh tay cho người chị gái” [41, 47]
theo trong Sóng không chỉ đơn thuần là chị đang phục dựng, tự hào, hay nuối tiếc về một làng nghề truyền thống đang bước vào ngõ tối mà chuyện ông tổ của nghề Đó là tình yêu thẳm lặng, trái ngang, đau đón của đứa em trai đành cho chị gái của mình “Nó muốn chị có một vòng tay tròn khi về trong những giắc chiêm bao, dé ôm nó chặt đến nghẹt thở Và chỉ
sẽ không mặc cảm khi đứng trước những hồn ma trai trắng” [41, tr49], Chị của Út Hết
đã chết một cách đau đớn, oan ức Da ling im cam chịu bởi thân phận bề mọn của kẻ
ăn người ở, của kẻ nghèo người hèn Và con dao ấy nhuếm máu tang thương năm mạng người nhà Hưng Phát Lộc “Con dao nhỏ để đẽo cánh tay cho người chị dân Tân 'Quới đặt trên một gian thờ của đình, Xu nà nỉ xin chạm vào nó nhưng ông từ giữ đình cương quết lắc đầu Ông bảo là vật thiêng, không chay tịnh thì con dao lại nhuém máu.” "Con dao mắc vớt đó là vật tổ của nghề déo chỉ gỗ của Tân Quới” [4I, 49)
ø, nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã khiến người đọc thốn thức về một cầu chuyện cuộc đời, một câu chuyện về phận người, về nỗi đau một thời xa xưa của dân tộc Trong bao nhiêu nước mắt của con người, có sĩ không khóc cho một vẻ đẹp truyền thống bị mắt di? Cé bao nhiều người xót xa cho một câu chuyện đẳng sau nó Do đó, sức ám ảnh của Sóng không phải nằm ở những cầu chuyện tín ngưỡng phong tục, mà chính là những câu chuyện ma Nguyễn Ngọc Tư đạn cải rong các tín ngường phong tục đó để gởi đến một quan niệm nhãn sinh của chỉ
Trang 36Không chỉ phục dựng lại những làng nghề hay những tín ngưỡng để gởi gắm thông điệp nhân sinh, Nguyễn Ngọc Tư trong Sông còn tái hiện lại một lẽ hội truyền
thống Đồ là chợ tình Xưa nay, chợ tỉnh được ghi nhận ở miễn Bắc, đó là chợ tình Khâu Vai Chợ tỉnh Khu Vai là chốn của những lứa đôi thiết tha một thời trẻ song lời
dỡ tình duyên Họ tìm về chốn ấy mỗi năm một lần trong múi tiếc, luyễn thương Nhà văn đã mang chợ Khâu Vai vào miền Nam và nó mang một cái tên khác: chợ Thương
“Thương” - chỉ cách gọi tên cũng đã mang hơi thở miền Nam, đã mang cái tha thiết
lòng người Hẳn ở chợ Thương, người ta cũng tìm đến nó với khát vọng về một tình
yêu tha thiết bị bỏ đỡ, người ta mang bao nhớ nhung tha thiết của thời gian nhung nhớ
Người ta đến với nó để tìm về với mình, với bao mong ngóng đợi chờ Song chợ
Thương không chỉ là nơi gởi gắm những lời tâm sự đơn thuần, là nơi chia sẻ nỗi niềm nhung nhớ đơn thuần Ở đó, người ta mang đến bao khát vọng trần tục, rất đời và rất
người Chợ Thương gắn với lễ hội tắm lu: “Ho dang nhắc về hội Tắm Lu ở chợ
“Thương, diễn ra vào rằm thing Hai những năm chin, Hang trim lu mái được mang ra đặt dưới vườn phượng trắng Người ta gánh nước sông Dĩ đỗ lưng lửng lu, rồi từng đôi người trèo vào tắm rửa kỳ cọ cho nhau Họ là những người yêu mà không lấy được, thích mà không dám nói ra” [41, tr122] Và “Bà giả đội khăn kẻ trắng xanh nói hội tim năm nay chắc tỉnh của tôi chỉ còn ngúc ngoắc được mỗi ngón chân cái thôi, từng tuổi này chim chéc xiu đi rồi” [41, tr.121] Nhưng hành trình đến với chợ Thương của
“Ân lại không hề đơn giản Bởi câu chuyện qua lời kể của những người đã không không son sắc, không cồn thanh xuân để tận hưởng tỉnh yêu trở thành như một câu chuyện của kí ức Nó côn không nữa Nó biến mắt Những khát vọng âm thim bao năm của những “bã già đội khăn kẻ trắng xanh”, của “ông già mặc áo vết xám tro” đã không cồn chốn bung tỏa “Chợ Thương dẫn rõ nét dưới mặt trời Hoàn toàn không giống như cậu hình dung qua những thêu đột mồm mềm của mẫy ông ba già trên xe”, “Còn
Tế hội, cái lễ hội mà tôi phải ky cóp tiền mười năm mới về với nó được, đầu? Đâu? Sao mọc cái trung tâm thương mại chỉnh ình chỗ này?” [4I, 125] Nghĩa là, người ta không còn tìm thấy chợ Thương của họ nữa, cái chợ Thương trong họ đã tôi rất xa trong vòng xoáy của xã hội hôm nay Dau hai năm mới diễn ra một lần nhưng nó không đơn thuẫn là nơi người ta trao gi tâm tỉnh Mà nó trở thành nơi trao đổi mua bán hàng hóa Chợ Thương, cái chợ mà những người đã đi qua thời trẻ mong nó trở thành “quốc lễ cho những người chịu trái ngang hẹn hò”, cho nó có “chất người” giờ không còn nữa Xã hội đã bước những bước chân “vạn dim” vé đời sống kinh tế thì dời sống tỉnh thần, đời sống tỉnh cảm đã hoàn toàn biến mắt Con người đã hoàn toàn không nhớ gi, không tiếc gỉ những ân tỉnh đã qua, những con người đã qua, đã từng gắn bó thiết tha một thời tuổi trẻ Tiếc nuối chăng? Phái chăng khi con người lạc lông giữa một xã hội đút gay, người ta cảng mong mỗi được yêu thương thì yêu thương cảng xa vắng Phải chăng ngay cả nơi người ta mong môi dé quay về được sông trọn ven những giờ khắc ngắn ngủi của khát khao, thì nơi đó mọi thứ đã được thương mai
Trang 37
hóa? Nguyễn Ngọc Tư muốn phan ánh một thực tại của hôm nay hay muốn gi những
tiếng nói khát khao được sống với tình yêu, được sống là chính mình trong một xã hội
dù phát triển nhưng còn đây rẫy định kiến
Sóng - cũng như những truyện ngắn hay tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, ngay từ đầu đã thấy bóng dáng của một không gian văn hóa dâm chất Nam Bộ Một không gian văn hóa mà ở đó chị đã thắm nhuằn trong từng hơi thổ, trong từng lời nói, trong
cả cái cười và chớp mắt Tuy vậy Nguyễn Ngọc Tư không phải là người sao chép lại văn hóa vào trong tác phẩm của mình mà chỉ phóng chiếu nó trong cái nhìn vừa tự hào vừa đối thoại Sóng nhờ đó mà chảy trôi mãi migt trong lòng bạn đọc bởi cái nhìn nhân bản của nhà văn
2.1.2 Vain héa ứng xử và căn tính của con người Nam Bộ
Nam Bộ là vùng đất mới với lịch sử hình thành khoảng 300 năm Ngoại trừ những dân tộc bản địa lâu dời sinh sống thì gần như tắt cả người Kinh đều có gốc gác
tử miền Bắc xa nhất là từ khi những người Việt đầu tiên theo chân bà Ngọc Vạn vô xứ Đồng Nai những năm đầu thé ky 17 Bên canh đó, Nam Bộ cũng là mảnh dit hào phóng đối với các dân tộc khác như Hoa, Chim, Ma, Vé di
Bộ là vùng đất vốn được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho một điều kiện vô cùng thuận lợi cho đời sống sinh hoạt Với những điều kiện ấy con người Nam Bộ trong quá trình
định hình và phát triển vùng đất này đã thể hiện cách ứng xử một cách hài hòa với
thiên nhiên và con người, từ đó bật lên căn tính của người Nam Bộ,
XXã hội đã bước những bước chân vội vã để bước vào thể kỉ XXI, trong dòng chảy đồ con người miễn Nam đường như cũng ít nhiều bị cuốn vào sự xô đẫy của nó
"Đầu vậy với đặc tính là mảnh đất vốn luôn biết dung hòa giữa cái mới và cái cũ, con người miễn Nam ở thời đại mới vẫn luôn giữ được căn tính của mình dủ biết thay đổi cho phủ hợp với đời sống xã hội Tiểu thuyết Sóng theo lộ trình sáng tác của Nguyễn 'Ngọc Tư vẫn tiếp tục câu chuyện về cuộc đời, về thân phận người, những con người sinh ra và lớn lên giữa mênh mông sông nước Cà Mau Sống vẫy gọi người đọc bởi vẻ đẹp trong cách ứng xử của con người Nam Bộ, để thấy rằng dẫu dòng dời có biến thiên cđâu bể, người miễn Nam di dâu, ở dâu, dù bị vùi dập bởi những định kiến xã hội nặng vit minh đến cạn kiệt để sắng thì trong họ cái căn tính miễn Nam vẫn như dòng huyết đỏ, chây xuôi muôn đời
Trong Sống ta thay bóng dáng những con người mang tính cách đặc trưng của người miễn Nam Đó là đạo lý, tỉnh nghĩa - đặc trưng trong ứng xử của con người 'Nam Bộ, Giữa cái mênh mông của đầm lầy, của rừng ngập mặn, của sông nước, con người cần phải nương tựa vào nhau Họ sống độc lập trong nhà, nhà là những ghe, thuyền quanh năm di trú ở con lạch này ra con sông khác Họ đã cũng nhau nương tựa bởi cái nghĩa tình, cái tử tế tong đối xử với nhau để mà sống, mà tồn tại Đồ là cầu chuyên mà Ân và những người bạn đồng hành đã nhìn thấy trên hành trình của mình
Là nghĩa tỉnh thủy chung, là sự đôn hậu, là sự tứ tế của cỗ con dâu với bà mẹ chồng
Trang 38trên chiếc ghe bán vải Lã sự bao dung, cảm thông, thấu hiểu của mẹ chẳng đành cho
cô con dâu Cô con dâu (Bề - tên của chị) đã bước qua tuổi thanh xuân, bao nhiêu lần chị khao khát về một hạnh phúc, bao lần khao khát sự che chở của một người đàn ông,
bao Lin ngéng vong theo chiếc ghe chở người đàn ông nào đó buông lời tán tỉnh mình
"Nhưng chị luôn biết giật mình đúng lúc khi nhìn mẹ chẳng nằm trong khoan thuyền ho săng sic mỗi đêm khi ghe cho diy vai, Me chồng nàng dâu luôn đố
bằng những lời cay đắng, nhưng trong sâu thẳm họ luôn tử tế với nhau; họ cứ nhìn cuộc đời người kia để mà khuyên răn, mà an ủi, mà khao khát người kia hạnh phúc Bà
mẹ chồng bao lần khuyên cô con dâu hãy bước thêm một bước nữa bởi anh con trai bà
đã biệt tăm tích từ rất lâu Và sự chờ đợi của bà đã trở thành tuyệt vọng “Đó là những, năm BÉ còn son trẻ, và ngơ ngác Bà giả cảng xua “bây thấy ai được thì cứ sang ngang cho rồi ”, “Lần quẫn với má hoài thì con chất giả " [41, t 38] Có người đàn bà nào trong sự mắt mắt tột cũng nhìn con nước cuỗn trôi người chẳng của mình vào đáy
thấp thom ngồng trồng đứa con trai duy nhất ra đ không tr ve, li mong môi chỗ đựa duy nhất là cô con dâu "sang ngang” để hưởng cuộc đời hạnh phúc tuổi trẻ Nguyễn Ngọc Tư đã thấu tận tâm can lòng người mẹ gid mua khắc khổ già đã lm mọi cách chứng mình có thể sống một mình được, Bà chèo chống, xô kim,
tư đánh giỏ mỗi khi cảm cúm Trong cái đáng bà bưng è thúng gạo từ vựa xuống ghe
là một lời tuyên bố đồng đạc, bà giả này còn khỏe lắm ” [41, tr.3§] Cô con dâu tên BE bởi còn trẻ, bởi chưa bén hơi chẳng, bởi người đần ông mà chỉ gọi là chồng đã đi nhanh quá chưa kúp "cấy vào bung vợ một mim sng” nén thing buông những tiếng thở dải kh những chic ghe của mẫy ty thơ mộc rồi ngang Mỗi ngày chị nhìn người dân bà già nua cô đơn và ôi nghiệp kia “Có lão đảo lâm rơi thúng chăng qua la “tron quá nên vụt tay” Lâm cá đứt tay thi do sơ sẵy chút thôi, mai mốt lạ lành”, vị
«qua dit kim có hơi trầy tật hàng giờ chẳng qua “mắt không tỏ vì bụi vướng vỡ sảng chứng mình cho việc tự xoay xở được BE càng thương” [4I, tr38], Hay "bà ho làm Bế rầu mà không cười với may tay thợ mộc” 41, tr37] Là phụ nữ, Nguyễn Ngọc
"Tư cảm thấu cái cô đơn vò võ, cái tha thiết ngóng trồng của những người đần bà xe chẳng Chị cảng thấu hơn ai hết những khát khao thằm kín của người đàn bà trẻ bằng những tếng thờ dài của Bề, Bé đã không vỉ ti trẻ cô đơn, không vĩ niễm hạnh phúc tuổi trẻ, không vì sự giây xéo ám ảnh của khát vọng thầm lén rất người mã rời bỏ bà già tôi nghiệp kia Chỉ đã sống một cuộc đời buôn tế trong khao khát, trong đợi chờ thim lang, đợi chờ đến tuyệt vong nguồn cơn, để an vui, để ấm lòng người mẹ gi tôi
nghiệp côi cút Ở Bề lòng thương, sự hi sinh, hay đơn giản, chị đã dùng cái lòng tử
‘Nam để đối đi với mẹ giả Không chỉ mỗi quan hệ Ấy người đọc mới thấy sự tử ế giữa người với người
Đi đọc Sóng, người đọc còn thấy biết bao câu chuyện thắm đượm tỉnh người tha thiết
Ân để lại bộ máy tỉnh cho cậu sinh viên khi Ân quyết định tim đến sông Di, câu muốn tăng cho con gai người đồng nghiệp đã mất một món qua La cach Ân đối đãi với Mai
Trang 39“Triều - đó là tông giả cô đơn trên con đường không lối chân” [41, r.162] Đó là khi
bọn cậu “quẩy túi giúp ông già, cả ba đổ dốc chùn cả gối Xu nói không cần phải cảm
ơn đâu” [41, tr172] Đó là cái tình của chị San đối với Ân, nó không đơn thuần là
niềm mong mỗi có một người đồng hành cùng mình trong nỗi cô đơn, mà đó là cái thiết tha được sống một cuộc đời từ tế với người khác Hay là Ánh - người đồng nghiệp di trước của Ân - người phụ nữ với khát vọng chứng thực mình dễ rồi rời bô
cuộc đời giữa Sài Gòn náo nhiệt, lẫn khuất đâu đó dọc bờ sông Di để khẳng định nhân
vị mình Luôn luôn cái tử tế của những con người bước qua bao sóng gió cuộc đồi, trải
qua bao cuộc đời của người khác dé sống, để hiểu, để chán nan cing cực mà ra đi Họ
vẫn thơm thảo lòng mình cho đến khi họ còn hiễn hiện "Chia khóa tủ tôi nhét trong cái bình hoa rỗng, hỏi Doanh vì Doanh vẫn hay lén lén lục lọi ăn cắp tư liệu của tôi Nợ
căng tin hình như bảy phần ăn sáng, trừ vào tiền nhuận bút cuối tháng, còn thửa thì
cho chị Ba tạp vụ Khoản thưởng quý tôi chưa nhận xin gởi về cho ba mẹ tôi ” Ngỡ như người đàn bà với vẻ ngoài mạnh mẽ, phot doi kia cing phot luôn cuộc dời của người khác Nhưng không thể, Nguyễn Ngọc Tư đã để cho nhân vật mình những nét
kh phai bởi căn tính địu dàng của phụ nữ, sự quan tâm ngay cả những điều nhỏ nhặt của phụ nữ, là tắm lòng luôn nghĩ về người khác, hướng về người khác Là sự từ
tẾ với mọi người xung quanh ngay cả khí mình sẽ mặc nhiên không bao giờ tồn tại ở nơi ấy nữa
Người miền Nam vốn được biết đến là những con người với tính cách ngay thẳng, bộc trực Điều ấy thể hiện ở cách mà họ đã đối đãi với nhau một cách rắt trượng nghĩa, cư xử một cách phóng khoáng và hảo hiệp với tất thấy mọi người Mọi yêu ghét giận hờn đều thể hiện qua lời nói, hành động Họ không chấp nhận cái xấu cái ác hiển nhiên tồn tại, họ không lặng lẽ nhìn người khác hoạn nạn Họ là những con người ma
"Nguyễn Đình Chiều từng ca ngợi “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” (Luc 'Vân Tiên) Họ hảo phóng, cởi mở với tất thấy mọi người Họ sẵn sảng cho người khác
tá túc nhà mình khi người khác sa cơ Trong hành trình của Ân và đồng bon, không ít lần họ được dĩ nhờ ghe của những người họ gặp trên đường: là mẹ con BÉ, là ông chở hàng “Bọn cậu quá giang ghe chớ hàng dĩ lên Bình Khê, Ông chủ ghe quá năm mươi, cái mũi lớn quá khổ so với đường nết còn lại của khuôn mặt xương, tóc tụt khỏi định đầu, xởi lời nói khôi tiễn bạc gi hét, tui may đi chung cho tao nghe có hơi người”
II, tứ 50] Hay sự phông khoáng cới mỡ của những con người họ gặp trên hành trình đọc sông Di Là ông chủ quán com “chủ quán biết khách từ xa đến, liền bắc ghế ra ngồi đưa chuyện” [4I, tr31] Là sự nóng giận của Xu khi chứng kiến người din ba đánh vợ, Xu đã ra tay với gã đản ông khi người bà chấp chới trong dau đón, tuyệt vọng Với Xu “cit thay quân phan boi thi ghét” [41, t.112] La cách mà Ân và Tú đã tim moi cach báo về cô gái có tên Bí Đỏ ngây thơ và thờ ơ trước cuộc đời Bọn cậu luôn chấp nhận những lần chạm mặt bằng vũ lực để giải nguy cho người khác, để chống lại cái xắu, cái ac lan tran, nhẫn chim con người trong sự tha hóa “Khi xông vào
Trang 40
căn phòng, Xu cũng dính đòn vì bắt ngờ Bọn cậu không nghĩ là chúng đông vậy” [41,tr.192]
Ngay cả những cô gái sống đời sống vá víu, tạm bợ vào cuộc đời của những gã thương hỗ như cô gái ở quán Tầm Sương ( tên Hường), như mẹ Cao (Diễm), như ca sĩ
Kiều Mĩ Lê, Đài Trang Lé trong thim sâu tâm hồn, họ mang trong mình những nỗi dau và những khao khát rất thực, giản dị Cô Diễm yêu con, tình yêu không đo đếm được bằng ời Thất vọng vì đứa con không bình thường như những đứa rẻ khác, cô chip nhận cuộc đời của kẻ buôn hương, hay cũng bởi cuộc sống bắp bênh đẫy con người vào ngõ cụt như những cô gái khác ở chợ Yên Hoa “quê nghẻo, cuốn bằm đồng sâu, cọ lọ dưới sông hát ngêu ngao rồi có người nhặt lấy tiếng hát vàng ” [41, tr 28] Không mẫy ai biết mồi quan hệ của mẹ con Cao “Cô Diễm thường cho tiễn và xoa nhưng bao gi ôm thẳng nhỏ” 41, 29, Cao mang ỗi cô đơn của thân phận lạc loi, nỗi đau cũa đứa trẻ thiếu vắng hơi ấm của mẹ, nỗi đau trong sự ghẻ lạnh của cha suốt một thời trẻ dại Cao vẫn tử tế với những người sinh thành, vẫn yêu thương, đau đầu về sự hao sẫy của mẹ “Cao lơ đăng nói má ốm hơn lần trước, con đo eo thấy hụt mắt một gang tay Rắt cân nhắc nó không biết cỏ nên nói đôi vũ mẹ đường như đã nhẽo hơn một chút rồi” [41, tr29] Cho đến khi trưởng thành, đủ đau đón với cuộc đời của mẹ, Cao vẫn lạng lẽ táng chung mẹ và một người đàn ông xa lạ,đù trên mộ anh đề rằng "thẳng chó chết” bên cạnh tên của mẹ [4I, tr26]
Dẫu trên hành trình cuộc đời mình, An cũng gặp và chứng kiến nhiều những diều xắu, nhiễu những con người sống kiếp đời như "ruỗi bu rác”, những con người vỉ nghèo khổ lam lũ, thất học đói khổ mà trở nên cộc cần tần nhẫn, những con người v đồng tiền khuất lắp mắt lòng thương (những đứa chấu của người đền bà với tiếng thanh âm uiểa uia mang ra phi ngoài nắng) hay những kẻ mang trong minh khát vong trần tục vượt thoát cả nhân tính đã hãm hiếp cô gái Bí Đỏ tội nghiệp Đâu đó xung quanh Ân còn biết bao con người vẫn mang trong mình đòng máu nồng đỏ tươi của người mién Nam từ ngân đồi nay vẫn chảy To đã sống một cuộc đời với bao yêu thương, hờn gin, dau khô hay hạnh phúc, họ vẫn vì người xung quanh mình mà sống,
vì người bên cạnh mình mà hi sinh, Ho rén rng trin tue nhưng rất đỗi chân thành lo
tụ lẫn vào nhau, sống lẫn vào sông để trong đồng chảy bt tân của sông, họ vẫn ngời lên vẻ đẹp của người Nam Bộ Nhũng con người ân nghĩa, thủy chưng, mộc mạc, hồn
âu và rất chân thành
2.2 “Dang chiy văn hóa” Việt qua sự biển động cũa thời đại
-32.1 Quan niệm định kiến của con người vẻ giới
Trên thể giới cũng như ở Việt Nam, văn học đồng tỉnh trong quá khứ đã tải qua một thời gian đãi bị coi là đề tải cắm ki, Thé nhưng công với những cuộc đầu tranh về quyền con người, về bình đảng giới cũng là lúc văn học đồng tính bắt đầu uất hiện công khai Hiện nay, đồng tỉnh không phải là một câu chuyên xa la, không phải là một vẫn đề nóng bỗi cỏ tính thời sự như nhũng năm đầu th kả XIX nhưng nó