1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam: Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 (qua Tuyển tập truyện ngắn 1975 - 1995)

103 17 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 24,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 (qua Tuyển tập truyện ngắn 1975 - 1995) là một công trình hệ thống hóa tương đối đầy đủ vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam ở một thể loại (truyện ngắn) trong một giai đoạn (1975-1995). Luận văn chỉ ra quá trình phát triển từ nữ tính đến nữ quyền biểu hiện qua truyện ngắn nữ 1975-1995.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRUONG DAI HQC SU PHAM

LE TH] THUY HANG

TÊN ĐÈ TÀI LUẬN VĂN

VAN DE BINH DANG GIOI TRONG

TRUYEN NGAN NU VIET NAM SAU 1975

(QUA TUYEN TAP TRUYEN NGAN 1975 — 1995)

LUAN VAN THAC Si VAN HQC VIET NAM

Trang 2

LE TH] THUY HANG

VAN DE BINH DANG GIOI TRONG

TRUYỆN NGAN NU VIỆT NAM SAU 1975

(QUA TUYẾN TẬP TRUYỆN NGÃN 1975 — 1995)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ

VAN HQC VIET NAM

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Khắc Sinh

ĐÀ NẴNG - NĂM 2017

Trang 3

Công trình được hoàn thành tại TRUONG DAI HQC SU PHAM - DHDN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYÊN KHAC SÍNH

Phân biện 1: TS Lê Thị Hường

Phản biện 2: TS Bùi Bich Hanh

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ Văn học Việt Nam hop tại Trường Đại Học Sư Phạm - ĐHĐN vào ngày tháng năm

(Co thé tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin ~ Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trang 4

dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Khắc Sinh Những nội dung nêu rong luận văn là trùng thực và chưa từng được công bổ rong bắt cứ công trình nào trong và ngoài

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Da Nang, ngdy 01 thang 10 ndm 2017

“Tác giả luận văn

Lê Thị Thúy Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

3.2.1 Trong văn học Việt Nam nói chưng

2.2.2 Trong các công trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn nit

3 Đổi tượng và Phạm vỉ nghiên cứu

VAN DE BINH DANG GIOI TRONG

"TRUYỆN NGAN VIET NAM SAUI975

1.IGIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM s55555<5ssseseeeeeee TT

1.1.2 Đặc điểm về nữ tính, nữ quyền trong văn học Việt Nam

1.2 BỨC TRANH NỮ TÍNH NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

1.2.1 Hig

thực đất nước, con người sau 1975

1.2.2 Nữ tính, nữ quyền trong truyện ngắn Việt Nam sau1975

1.3.2.1 Nỗi đau của số phận người phụ nữ sau chiến tran!

1.2.2.2 Tình người và những mối quan hệ nhiều chiều

Trang 6

NHÌN TỪ PHƯƠNG ĐIỆN KẾT CÁU VÀ TÔ CHỨC NHÂN VẬT 40 2.1, NHUNG YEU TO TAC DONG DEN SANG TAC CUA NHA VAN NT 18N QUAN DEN BINH DANG

2.11 Suephit trién manh ma, đồng đều về đội ngĩ

3.1.2 Những đỗi thay căn bán trong tư duy nghệ thuật

3.3 TÔ CHỨC KÉT CÁU TRONG TRUYỆN NGẮN N

3.2.1 KẾT cẤU tâm trạng -.-.«-«s«eseeeeeeeeeeeeeeereerererererer đổ

3.3.3 Kắt cầu mảnh vỡ

2.2.3, Két cầu mở

23 TÔ CHỨC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGAN NI

2.3.1 Dạng nhân vật "trải nghiệm giới tinh nie”

23.2, Dang nhân vị

2.3.3, Dang nhân vật với những nỗi niềm riêng không dễ nói ra

Chương 3

BINH DANG GIỚI TRONG TRUYỆN NGAN NO VIET NAM SAU197%

'NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ VÀ GIONG DIEU TRAN TH

3.1 NGON NGU TRAN THUẬT

3.1.1 Ngôn ngữ của người trần thuật mữ

3

trải nghiệm tình yêu nữ gi

4.13 Ngdn mit thin thể và hệ ừ thông tực

3.2 GIONG ĐIỆU TRÀN THUẬT NỮ GIỚI

3.2.1 Gigng dim say, ngọt ngào

-3:22 Giang đau đón, điên dại

3.23 Gigng lank lùng, tỉnh tá

snes 8S

Trang 7

.32.4 Giọng hoài nghỉ, chất vẫn

KẾT LUẬN

Trang 8

1 Dù phương Tây hay phương Đông, dù trước đây hay bây giờ, tuy mức độ

có khác nhau, sự biểu hiện cũng không giống nhau, nhưng nhìn chung vin dé bink

đẳng giới vẫn chưa đi đến giới hạn cuối cùng Tư tưởng "trọng nam khinh nữ” hay

"bắt bình đẳng giới nói chung vẫn còn tồn tại trong quan niệm xã hội, cho dù xã hội

ấy là văn mình hiện đại hay dã man Văn chương viết về thân phận người nữ trong lịch sử văn học thế giới khá nhiều song thường là do nam giới viết về nó chứ không,

nhiều lắm việc ne nd viết về mình Bởi vậy không thể tránh khỏi cái nhìn từ “trên

xuống”, từ “ngoài vào”, chủ yếu là ngợi ca vẽ đẹp ngoại hình hoặc bộc lộ cái nhìn

thương cảm về số phận như một sự "ban ơn” Thang hoặc có những tiếng nói bênh

"vực thì cũng chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay và cũng thường mới dừng lại ở lòng trắc Ấn Rất hiểm khi xuất hiện các nhà văn nữ viết về hiện thực đời sống bình đẳng giới hay viết về chính thân phân mình kiểu như Bronthy (Anh), Elftiede Jelinek

(Ao), Julia Kritéva (Bulgarie, Pháp), Marguerite Duras (Pháp), hay Đoàn Thị Điểm,

Hồ Xuân Hương, Đoàn Lê, Dạ Ngân ở Việt Nam Phải đến thời kỳ hiện đại (từ

cuối thể kỹ XIX), đội ngũ nhà văn nữ mới xuất hiện một cách rằm rộ và tiếng n của họ mới có vị rệt trên văn đản mỗi nước Nhưng sức mạnh của tiếng nẹ cũng ở mức độ khác nhau tùy theo nền văn minh của mỗi quốc gia, dân tộc

2 Ở Việt Nam, trong lịch sử văn học có sự vênh lệch khá lớn giữa nhà văn

nam với nhà văn nữ Nằm trong quan niệm phương Đông, đặc biệt là ảnh hưởng,

Nho giáo của Trung Quốc, thân phận người phụ nữ luôn là thân phận "kẻ dưới” (từ cca dao Việt với motif “than em” cho đến nền văn học viẾt, tình hình cũng không được cải thiện hơn là bao) Mãi đến thời kỳ 1945-1975 trong thể chế đời sống mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, người phụ nữ mới thực sự được giải phống, được tham gia vào mọi lĩnh vực công tác xã hội, bộc lộ năng lực cụ thể và đồng góp tắt lớn vào công cuộc giải phóng đất nước cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội trên một nửa nước Từ đó, xã hội mới hiểu hơn vai trò của người phụ nữ là không thể

"không ghỉ nhận Trên mặt trận văn nghệ, nễn văn học cách mạng Việt Nam cũng đã khẳng định những đóng góp to lớn của văn học viết về giới nữ nói chung, đặc biệt là ccủa chính các nhà văn nữ viết về đất nước, con người, sự nghiệp cách mang và cảng

về sau cảng thể hiện tiếng nói v số phận của chính mình Lịch sử văn học, theo đó,

đã hình thành đông đảo các thé hệ nhà văn nữ, tạo nên một lực lượng hùng hậu chiếm lĩnh văn đàn không thua kém nam giới: Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc

Tí, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Trang, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh 'Nhân Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử bây giờ (cả nước đánh “bai để quốc to” là

thực dân Pháp và để quốc Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miễn Bắc) và đặc điểm

lịch sử văn hoc (nén “van học sử thị”) nên chủ yêu vẫn là ngợi ca *tính nữ” Chỉ đến

Trang 9

2

sau 1915, với các thể hệ của những Võ Thi Hao, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thanh Song Cam, Doin Minh Phượng, Lý Lan, Phong

Linh việc phản ánh Binh đẳng giới mới biểu hiện đầy đủ và rõ rệt hơn

3 Vin đề bình đẳng giới trong văn học Việt Nam đã được nói đến khá nhiều

và khá lâu Chung quy, thuật ngữ này đề cập đến hai phương diện lớn: *z# dính - là thuộc tính của giới nữ gồm, ngợi ca vẻ đẹp bên ngoài (vóc đáng mềm mại, duyên ding, mai te đen mượt, làn môi đỏ thắm, làn da trắng hồng) và phẩm chất cao quý

'bên trong (sự dịu dàng, thủy chung, nhân hậu, tính vị tha, nhường nhịn và khi cần

cũng hết sức quyết liệ) Các hình tượng văn học như chị Sứ (Hỏa Đắt - Anh Đúc), Nguyệt (Mánh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu), Phước (Hoa rừng - Dương,

“Thị Xuân Quý) là những biểu hiện sinh động Tuy nhiên sau năm 1975, nhất là từ

1986 đến nay, hiện thực đất nước, con người đã thay đổi; văn học nước ta cũng chịu ảnh hướng ca các quan niệm, ý (huyết du nhập, rong đó có lý thuyết Mỡ guyỏn Judi, din đến sự đổi thay của những quan niệm giá trị khiến cho khái niệm "tính nữ” cũng không còn giữ nguyên nội hàm như cũ mà đã có những dịch chuyển, biển đổi theo hướng khai thác sâu hơn vào thể giới bản nguyên để thể hiện những góc canh, cung bậc cảm xúc cũng như những khát vọng, đồi hỏi có thực và đích thực của người nữ, đồng thời đấu tranh giảnh bằng được những quyền của giới mình, trong đó có những quyển về chính trị, kinh tế, sắc tộc, giới tính, tự do hôn nhân, tự

do than thé Đây chính là biểu hiện của phương diện "nữ guyển” trong thực tế và trong văn học của các cây bút nữ Việt Nam và trở thành đối tượng nghiên cứu rất được quan tâm, đặc biệt là nửa sau thể ky XX ở trên thể giới và từ sau 1986 ở Việt Nam

1975 - 1995) làm luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu

-21- Cúc nghiên cứu lý thuyết “nữ tính”, “nữ quyền” nói chung - Trong trảo lưu Chứ nghĩa giải cấu trúc, nhất là khuynh hướng

trúc cánh tả" với các tên tuổi lớn như Jacques Demida, Jacques Lacan, Julia Kristeva bén canh những đồng góp về mặt lý luận (“giải" những bể tắc, hạn chế của Chủ nghĩa cấu trúc trước đó) thì một trong những đóng góp to lớn của khuynh hướng này đưa ra khái niệm “Phê bình nữ quyền” và đòi hỏi phải giải quyết rốt ráo

nó Các nhà nữ quyền này, một mặt, bảo vệ luận đề về bản chất “trực giác”, “nữ: tính” của "sự viết” (văn học) khi khẳng định sự viết không phục tùng “logic nam tính”; phê phán những *khuôn thước” được gọi là *tâm thức đàn ông”

thống trị trong văn học (1), mặt khác, họ mạnh mẽ khẳng định "vai trò đặc bì

“quyền của phụ nữ trong việc tạo lập cẫu trúc ý thức con người (2), từ đó đề xuất nguyên tắc một phê bình mang tính nền tảng lúc bẩy giờ rằng: sẽ là một “văn hóa sai lầm” nếu lấy tâm lý học đàn ông làm luận điểm nỗi trội hơn tâm lý học phụ nữ! [(1va 2), 33]

Trang 10

và chú trong đến diễn ngôn thân thể thông qua kinh nghiệm dục tinh nữ (điều mà sau này các nhà văn nữ Việt Nam rất ưa chuộng khi vận dụng nó vào thể loại tự sự

"hư cầu hay tiểu thuyết tự truyện) Rất nhiều nhà nữ quyền luận là các nữ triết gia,

nữ lý luận gia, nữ luật gia đã nêu lên những tuyên ngôn về giải phóng nữ giới thông qua các hoạt động và viết các tác phẩm như Julia Kristéva (Tinh nữ và lối viế, 1977), Béatrice Didier (Lối viết nữ giới, 1981), Hếlène Cixous (Giữa lối viế, 1986) đã nói lên tỉnh thần đó

“Nit GS, Judith Lorber trong bai viét Sie da dang của chủ nghĩa nữ quyền và những đóng góp vào sự bình đẳng giới, 39] đã lược thuật và phân tích cụ thể 3 giai đoạn của phong trào nữ quyền trong lich sử Theo ba, “Dot sóng thứ nhất" của phong trảo này la thé ky XIX khi châu Mỹ nói chung, Hoa Kỷ nói riêng chỉ thừa nhận quyển bình đẳng thuộc về đền ông, còn đản bà được xếp chung véi din ông nô 1g, đầy tớ nam là những kế không được hướng quyền bình đẳng Vì thể họ đấu tranh đời các quyền này, cụ thé là quyền đi bỏ phiếu, quyền “sở hữu thân thể” của người dan ba “Dot séng thie hai” xuất hiện thời Hậu chiến (1949) khi phong trào nữ quyén đã mang tên gọi hin hoi: Phong rrảo giải phóng phụ nữ, cõ lãnh tụ phong

trào (S de Beauvoir), có tuyên ngôn, có những quyén cụ thể đòi hỏi, có sách xuất

"bản nội dung của phong trảo: cuốn sich Gidi thir hai (Le Deuxiéme Sexe) cia S.de Beauvoir vạch rõ sự bit eng cia nhit mide d5i vi phy nit Lic niy các nước phương Tây vẫn giữ lập luận: dàn ông là người thiết lập những tổ chức và giá trị còn đàn bà là kể Khác (the Othe), đàn ông là người hành động còn đần bà là kẻ phản ứng và vì thể, đản ông là "giới thứ Nhất” còn dan bà là "giới thứ Hai” Simone de Beauvoir kich ligt lén án quan niệm vô lý này Bà cho rằng việc sinh ra “đản ông”,

“dan ba” không phải là hiện tượng sinh học mà chỉ là sự “sáng tạo” (!) của xã hội:

*Người ta không sinh ra làm đản bà mà đúng hơn trở thành đàn bà” [69] Thời kỳ đương đại (những năm 90/ XX lại nay) được coi là "Đợi sóng thie ba’, con gọi là giai đoạn Hậu - nữ quyển: Giai đoạn tiềm ẫn những áp chế ngằm đối với phụ nữ từ

những chiến lược chính trị của chủ nghĩa thực dân, để quốc, các mưu đồ toàn cầu

hóa (vấn đề chủng tộc, sắc tộc ngay trong từng nước) Trên tông thể, từ thập kỷ 90/

XX Iai nay, những cuộc đâu ranh nữ quyển, ngoài ấp tục những vấn đề cũ chưa được giải quyết triệt đễ, đồng bộ ở các nước, thì đã bước sang “tập trung đặc biệt vào tính vật chất của thân thể, coi bản sắc giới chỉ như là một sự trình diễn, đồng thời có một sự chuyển dẫn từ nghiên cứu phụ nữ

đồng ính và nghiên cứu giới” (GS Chris Weedoa, Lý do! và phế bình nữ quyền

từ 1980 đến nay, Tạp chỉ Sóng Huong, 6 320) Trong cing rin cia minb, Judith Lorber cũng đã có lập luận tương đối thống nhất với nữ GS này khi bà cho ring:

“Một số trong những lý thuyết nữ quyền bây giờ đang được gọi là đợt sóng thứ ba”

Trang 11

4

là các vấn để về tắnh dục (sex), dục tắnh (sexuality) va giới tắnh (gender) va sy giao

thoa đã phúc của nó

- TS, Trần Huyền Sâm trong chuyên luận Nữ quyển luồn ở Pháp và tiểu

thuyết nữ Việt Nam đương đại đã dành 136/ 276 trang để tông quan vấn đề nữ

quyén ở Pháp trong suốt chiều dài lịch sử của nó Chẳng hạn, các chương: Dẫn luận

về phê bình nữ quyền và lối viết nữ giới, Simone de Beauvoir va phong trào giải phóng nữ giới ở Pháp; Phê bình nữ quyền hậu cấu trúc ở Pháp Cuối cùng, chuyên Tun vận dụng những lý thuyết Ấy 48 soỉ chiều tình thần nữ quyền trong tiêu thuyết Việt Nam đương đại, từ hai góc nhìn: dạng thức trần thuật, và, phương diện diễn ngôn Đặc biệt, chuyên luận dành khá nhiều trang cho các nha Nữ quyền luận tiêu bigu Simone de Beauvoir, Julia Kristéva, Héléne Cixous Nhìn chung, chuyên luận

của Trần Huyền Sâm là một sự tổng quan đầy đủ và chọn lọc vẻ lịch sử nữ quyển ở

phương Tây, cụ thể là ở Pháp Đặc biệt, trên cơ sở lý thuyết này, tác giả chuyên luận đã vận dụng để làm sáng tỏ hơn phương thức trần thuật và diễn ngôn của tắ thuyết nữ Việt Nam gần đây Có nhiều chỗ trong chuyên luận được tác giả viết rất táo bạo mà xác đáng: "Simone de Beauvoir là một người dân bà ngoại cỡ: ngoại cỡ

về tư tưởng nữ quyền, ngoại cỡ về tình yêu - khoái lạc Đàn bà trên cõi đời này hiểm ai có thể đạt đến tầm vóc của bà Tuy nhiên, thái độ hiện sinh của Simone de 'Beauvoir là bài học cho bắt kỹ phụ nữ nào muốn vươn đến tự do, bằng việc xác lập

một vị thé ty chủ trong cuộc sốngỢ [68, tr 74]; hoặc: "Điều đáng trân trọng là các

nhà văn nữ sinh trước 1975 luôn có ý thức vượt thoát sự kìm hầm của hoàn cảnh, họ tranh đầu, dắn thân để được sống là chắnh mìnhỢ, *Viết với các nhà văn trẻ được xem là một thái độ hiện tồn, một cuộc chơi, một cuộc phiêu lưu để "chứng tỏ bản thân" Ho sẵn sàng din thân vào những chủ đề nhạy cảm như tắnh dục, đồng tắnh luyền ái [68, tr 151]

~ Trong tiểu luận Bình đẳng đối với nữ giới ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp của học viên Hồ Vũ Linh Dan (Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL, Đại học

Cần Thơ) cũng đã giới thiệu tương đối đầy đủ (về mặt xã hội học) các vấn đẻ: Giới

và bình đẳng giới, Bắt bình đẳng giới, Nguồn gốc của bất bình đẳng giới, Rao cin trong việc nâng cao vị thể và vai trồ của phụ nữ Đồng thời, công trình cũng nêu lên

thực trạng về bắt bình đẳng giới trong các lĩnh vực chắnh trị, kinh tế, giáo dục đào

tao, khoa học công nghệ, văn hóa, y tế, gia đình Nhưng có lẽ do quy mô một tiêu oận nên công trình chua để xuất được giải pháp nào để khắc phục thực trạng bắt bình đẳng giới ở Việt Nam

Nói về nghiên cứu nữ tắnh và nhất là nữ quyền trên thể giới và ở Việt Nam, còn phải đề cập tới những công trình khác nữa như: đắ ẩn nữ tắnh của Bety Friedan; 1ý thuyết và phê bình nữ quyền: từ phê bình xã hội đắn phân tắch dién ngôn của Davidow Ellen Messer; Phé bình nữ quyển cia Selden Raman; hoe Phẩm hạnh:

"người đòn bà; Chức vụ người đòn bà của Bam Phương nữ sĩ

Trang 12

Bắt bình đẳng giới, dù hiện nay đã gần hai thập niên đầu ở thế kỷ XXI, nhưng vẫn còn nhiều nhức nhối Quả là ngạc nhiên khi chỉ nhìn một mặt thôi (nạn hiếp dâm) trên thể giới đã thấy danh sách 10 nước có tỷ lệ hiếp dâm cao nhất mà

đứng đầu dang là các nước có nền văn minh tiên tiến! Thứ tự xếp hạng: Mỹ (99%),

Nam Phi (chi trong năm 2012 đã có 65.000 vụ cường hiếp), Thụy Điển (tháng 4 năm 2009 tội phạm tình dục đã tăng S8% trong khoảng 10 năm), Ấn Độ (bình quân

22 phút có 1 vu hãm hiếp), Anh (hàng năm có 85.000 phụ nữ bị hãm hiếp ở Anh và Xit Wales), Đức (chỉ riêng thống kê năm 2013 đã có 6.507.394 ca hãm hiếp), Pháp (có bình quân 75.000 vụ cường hiếp trong 1 năm), Canada (tổng số trường hop ghi nhận bị hãm hiếp tới 2.516.918), Sri Lanka (14.5% số phụ nữ từng bị bầm hiếp trong cuộc đời họ, 96,5% đàn ông tham gia hãm hiếp mà không chịu hậu quả pháp

lý nio), Ethiopia (gin 60% phụ nữ đã bị bạo lực tỉnh dục)! (sguỏn: PNNews, (05/7/2017) Rõ rằng là nhức nhối và khủng khiếp! Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn cũng như khan hiểm của tải liệu nên chúng tôi tạm dừng ở các công trình nêu trên

2.2 Các công trình nghiên cứu về “nữ tỉnh”, “nữ quyỄn ” trong văn học Vigt Nam

2.2.1 Trong văn học Việt Nam nói chung ~ GS, Hoàng Ngọc Hiễn trong bài viết "Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi khi "đánh giá” những nhân vật nam trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

“hầu hết là đồn mại, chí í là những kế bất đắc chí, vô tích sự, nói chung là không ra gi”, đã đành một doan rit dai viết về các nhân vật nữ (nàng Bua, ning Sinh, chỉ

“Thắm, Xuân Hương ) Ngược lại với các nhân vật nam, "trong các nhân vật nữ, có những con người ưu tú, nhiều người đáng gọi là liệt nữ Nó là sự hiện thân của

"nguyên tắc tĩnh nữ hoặc thiên rính nữ” [23, tr23T] Từ đây GS đã vạch ra rắt nhiều những "tiêu chí” của thuật ngữ "tính nữ”

~ T§ Lê Thị Hường trong bài viết "Khuôn diện tiểu thuyết của các nhà văn

nữ Việt Nam thập niên đầu thể kỹ XXI nhìn từ một số lý thuyết hiện đại” (in trong

Kỳ yêu Hội thảo quốc gia ấn học Việt Nam trong xu hung toàn cầu hóa, NXB TT&TT, 2016) cho rằng: “Trong xu thể hội nhập, một hiện tượng nỗi rõ, dễ nhận dang là sự hình thành dòng văn học nữ, tập hợp được nhiều thế hệ nhà văn với những phong cách độc đáo” ( 192) Từ nhận định: "Các lý thuyết hiện đại xâm nhập vào cảm thức, sáng tác các nhà văn nữ bởi sự đón nhận, đồng thuận trong c: nhìn v con người, trong quan niệm viết”, tác giả bài viết vận dụng thuyết Phan tam

‘hoc cia Sigmund Freud soi chiếu vào sáng tác của các nhà văn nữ VỞ cái viết (viết như là sự thăng hoa vô thức; viết là ném một tiếng goi: viết- sự hiện sinh của xác

thit), Vé than phận (cảm thức về cô đơn/ lưu đày, với tiểu thuyết nữ Việt, vấn đề

thân phận được đặt ra rốt ráo, thẳng thắn mà cũng lắp lánh nhân tình)

- Cũng trong bài viết “Vấn xuối nữ lưu đầu thể lụ XX nhìn từ một số phương diện của trân thuật học (khảo sắt qua 3 tác giả: Dam Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hoa, Phan Thị Bạch Vân)” (1d, tr794), TS, Trần Văn Trọng nhìn nhận từ 3

Trang 13

phương diện của lý thuyết ẩn thuật học (Ngôi kể, điểm nhìn; Xây dựng nhân vật,

“Cốt truyện, kết cấu) để khảo sát văn xuôi 3 tác giả nữ đầu thể kỹ XX, từ đó rút ra luân: "về mặt nghệ thuật, các cây bút Đam Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phan Thị Bạch Vân này chưa có nhiều đổi mới như các nhà văn nam giới cùng thời

mà đóng góp của họ chủ yếu ở mặt nội dung tư tưởng và ý nghĩa phong trào” (803), - Trần Huyễn Sâm trong hai công trình mang tính chuyên biệt về giới nữ: Chuyên luận Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương dai, NXB Phụ nữ, 2016 [63] và bài viết "Vấn đề chối bỏ thân thé trong tiêu thuyết nữ Việt Nam - Nhìn từ lý thuyết phê bình nit quyén” (tldd) đã dành rất nhiều trang viết công phu về lịch sử Nữ quyển luân, đặc biệt là về việc nhà văn nữ Việt Nam dưới tác động của thuyết Nữ quyền luận ra sao từ phương diện dạng thức trần thuật và diễn ngôn Chuyên luận đành sự khảo sắt hàng chục nhà văn nữ ở ong nước cũng như

trung chú ý vào sự khảo sát một số tác giá viết tự truyện: Lễ Văn với Lé Van yêu và sng, Nguyễn Song Thanh Cầm với Cánh chim trong bão rổ, Dạ 'Ngân với Gia đình bé mon, Đoàn Lê với Tién định Tuy nhiên, do tỉnh mục dích của công trình nên tắc giả chỉ tập trung vào thể loại sự zruyn Ở bài viết "Vấn đề chối

bỏ thân thể trong tiêu thuyết nữ Việt Nam - Nhìn từ lý thuyết phê bình nữ quyền”, túc giã tập trung chú ý vấn đề nữ quyền trong một trạng huống cụ thể ở người nữ:

vấn để chối bỏ thân thé (nạo thai) Sau khi phân tích khá nhiễu vẻ: Phê bình nữ

quyén và cuộc chiến chồng thuyết độc tôn dương vật, Quan niệm của Ki-tô giáo giáo về việc nạo thai ở phụ nữ, Diễn ngôn vẻ nỗi đau "chối bỏ thân thể”: v tao thai trong tiêu thuyết nữ Việt Nam đương dại, ác giả đi đến: “Có thể khẳng, định rằng, phần lớn văn bản nữ giới luôn hần sâu những sự kiện vừa nêu Nỗi sợ hãi

“mắt phẩm tiết” và sự sim thân thể của mình đã trở thành cảm thức xuyên suốt trong sing tác nữ giới Đây là một trong những nội dưng quan trọng mà lý thuyết nữ quyền quan tâm ( ) Bi với Việt Nam, quan điểm minh tiết gắn liễn với phẩm tiết thì “quyền” của phụ nữ chỉ dừng lạ trên những văn bản của luật lệ” [đd, r.347] Đồng thời tác giả cũng không quên khi nhắn nhủ: *So với thể giới, ít ra trong tương quan với Pháp, việc nghiên cứu nữ quyền luận của chúng

ta quá hạn hep” [tldd,tr.347]

- Tác giả Đăng Thị Thái Hà trong bài Con đường chính thống hóa lý thuyắ:- phê bình nữ quyển [1T], sau khi nêu việc M Foucault khing dinh “trật tự của sự vật” (tức là sự hiện điện của diễn ngôn) đã đề cập đến hiện trạng: "Sự áp chế của nam giới trong tật tự giới bao giờ cũng kéo theo nó là loạt diễn ngôn thống trị về nam quyển, làm cho nó trở thành một quyền lực tất yếu, định hướng và ép buộc diễn ngôn về những "cái Khác” (phi-nam tính) và cuối cing, day mọi diễn ngôn của những “cái Khác” ấy ra vị trí ngoại vi” Từ đây tác giá cho rằng: “Xem xết văn xuỗi trong bối cảnh đương dại nói riêng, chính vì th, cũng không thể bỏ qua mối tương

«quan với những hệ thống lý thuyết - phê bình nữ quyển đã/ đang được hình thành và

Trang 14

- Tác giả Nguyễn Trọng Hiểu trong bai “Yếu tổ vô thức trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại” ((1đd) cũng đã nhìn nhận: *Là những cây bút nữ, nên điều mà họ quan tâm nhiều nhất trong sáng tác của mình là thân phận của những người cùng giới được đan cài trong những câu chuyện (hưởng ng những vấn đề về tỉnh yêu, gia đình, tính dục, và đặc biệt là yếu tổ vô thức ( ) Phần lớn truyện ngắn của các nhà văn nữ hướng vào cõi riêng tư, tâm linh vô thức, những cảm xúc bộc phát, những hành vỉ sai lạc, bắt ngờ, để phơi bảy bao nỗi sâu kín trong tâm hẳn, phan ánh bỉ kịch của con người dưới góc độ tâm lý, tạo nên giá trị nhân văn cho tác phẩm” (tr 347)

"Vấn đề *Tính nữ”, *Nữ quyên” được bàn đến rong lịch sử văn học và nghiên cứu văn học đã có lịch sử hàng trăm năm, đặc biệt nổi lên khoảng hơn sáu mươi năm nay (tính từ cuộc cách mạng về nữ quyền ở Pháp, khi Simone de Beauvoir viét Giới thứ lai, 1949) nên trong khuôn khổ một luận văn không thể nào điểm hết được Gần gũi hơn cũng phải kể đến các công trình của Nguyễn Đăng Điệp, "Vấn

trong văn học Việt Nam đương dai”, Tham luân tại Hội thảo quốc tế: Van học Việt Nam trong béi cảnh giao luu văn hóa khu vực và

quốc tế, 2006 Nguyễn Việt Phuong, 2012, Nhận diện chủ nghĩa nữ quyển Pháp thể

ˆkỷ XX qua một số đại điện tiêu biểu của nó, hp./phebinhvanhoc.com vn, Nguyễn

“Thị Minh Thương, Ảnh lưỡng của lÿ luận thân thể của Foucault đãi với chủ nghĩa

nữ quyền, hty//phebinhvanhoe co vn, Hồ Khánh Vân, 2010, Ý ;hức nữ quyển và sự phát triển bước đầu của van học nữ Nam Bộ trong tiễn trình hiện đại hóa văn học cân tộc đầu thể ký XX, http//khoavanhoc-ngonngu,edu.vn v.¥

2.2.2 Trong các câng trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn nữ:

Số lượng các công trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn nữ cũng khá đỗ sộ

và rất phong phú Có thể kể đến

~ Nhà văn Hồ Anh Thái có 3 bài viết về sáng tác truyện ngắn của nữ giới

[3], đó là các bai: Doan Lé “chi 164” (tr 34) viet về người phụ nữ đa tài: diễn vi múa, đạo diễn, họa si, nhà văn (mà cũng da cm, da đoan, da khổ ) Đoàn Lê

"Nhưng bài viết như là một sự ghỉ lại cuộc trò chuyện giữa Hỗ Anh Thái với tác giả, trong đó đề cập đến các truyện ngắn của chị như Giưởng đôi xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa, Lên rủi, Người đẹp xóm Chùa để kết lại "Chị là nhà văn, vẫn xuôi mới đúng la chi, đúng nhất” Bai Lé Minh Khuế - người đản bà “viễn thị" viết về

“nhà truyện ngắn” viết vất ngang hai thời kỳ trước và sau năm 1975 (tr 60) Điểm qua sáng tác của Lê Minh Khuê trước 1975 (Bạn bè tới, Những ngôi sao xa xổi, Anh

Sỹ sự đạo trước ) đŠ nổi cải “trong tréo hồn nhiên đến lạ kỳ” trong truyện ngắn Lê Minh Khuê: và những truyện ngắn sau 1975 (Tho lm méng tay, Bi kịch nhỏ, Đẳng

dé-la vĩ đại, Cơn mưa cuối mùa ) để nói về cái “tâm trạng xã hội qua những thời

Trang 15

8

kỳ khác nhau” nên trong truyện của chị gần đây "đã trở nên hơi duy lý, hơi lạnh” Bài thứ ba của Hồ Anh Thái viết về hai nữ nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và Nguyễn Thị Thu Huệ: Hai nữ văn sĩ ở một nhà (t.111) “Nit van si me” Ngoc Ti

nỗi tiếng với hàng vạn trang tiêu thuyết Đắt làng, Hạt mùa sau, Buổi sáng, Chỉ còm

canh và em 'Cuỗn nào cũng dày đặn như cục gạch trên giá sách”; đồng thời là một biên tập viên thiện nghệ của tạp chí 7ác phẩm văn học trước kia cho đến tap chi

“Nhà Lăn khi về hưu *Nữ văn sĩ con” Thu Huệ là một "cây” truyện ngắn nỗi tiếng với những Hau thién đường, Tình yêu ơi, ở đâu?, Bảy ngày trong đời, Của để đành "cũng là kể chuyện, nhưng chuyện có duyên, ngôn ngữ linh hoạt, ảo ào không tiếc lồi"; đẳng thời là biên tập viên điện ảnh, viết kịch bản phim sắc sảo, nỗi tiếng, ấn tượng,

PGS.TS Nguyễn Thị Đức Hạnh trong bài viết: “Những rác phẩm tiêu biểu

của một cây bit nie” [19, tr 209] viết về tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tú trên cả hai thể

“Tú của công trình nghiên cứu này

- Bùi Việt Thắng trong cuốn sách Bình luận truyện ngắn [74] đã có hàng

chục bài viết về nhà văn cùng các truyện ngắn của họ viết về tính nữ, đặc biệt là các nhà văn nữ viết về chính giới mình Có thể đề cập đến một số bài tiêu biểu Bài

“Trong tắm gương - truyện ngắn” khi nhận xét về giải nhất cuộc thỉ truyện ngắn do báo Văn nghệ và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tô chức (1991) trao cho truyện Kể sát nhân lương thiện của Lại Văn Long “là xứng đáng”, “Nhưng néu được quyển so sánh, liên hệ thì tôi cho rằng nếu so với Thư gửi mẹ Âu Cơ của Ý Ban ( ) thì rõ rang cái “tằm” và “tính vĩnh hằng nghệ thuật”, thấp hơn” (tr.162-163) Trong bãi

“Người đàn bà tóc trắng” (Tập truyện của Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội Nhà văn 1993), khi phân tích hình ảnh hai người dan ba Mật và Ân, cưới chồng được một ngày rồi hai người con trai ra đi biển biệt, duy nhất một lần trở về lại gặp cảnh éo le

“ông nọ bà kia” và thể là, đời họ chỉ còn chuỗi ngày tháng vô tận mi mòn chờ chồng Họ giả, li lẫn, quên hết ắt cả, chỉ nhớ duy nhất một điều: ngày tết nấu nỗi bánh chưng thật đẩy đợi hai người đản ông về ăn tết cũng, hơn 30 nấm không năm

"ảo họ quên điều đó, cũng ngần ấy năm bánh ấy phải đỗ bô Quả là “Nguyễn Quang

“Thiểu là nhà văn có ý thức chất chiu cái đẹp của đời sống Nhưng cái đẹp trong tác phẩm của anh luôn mang bộ mặt buồn” (306) bài *Năm truyện ngắn dự thị của một cây bút nữ trẻ”, Bùi Việt Thắng viết về 5 truyện ngắn dự thì và đoạt giải A cuộc thì tiểu thuyết và tập truyện ngân của NXB /f2 Nói của Nguyễn Thị Thu Huệ 'Nhận xét về nữ tác giả này, anh cho rằng "Truyện ngắn của Thu Hug hip dn rong rai bạn đọc trước hết vì giảu chất đài” (321), "Nhân vật nữ của Thu Huệ thường

Trang 16

'Ngoài ra, Bùi Việt Thắng còn là nhà nghiên cứu có nhiều bài viết khác liên quan đến việc bản về tính nữ, về nhà văn nữ như: Một giọng nữ trằm trong văn chương,

“Cô gái hoàng hôn” của Liệt Hùng, Ấn tượng truyện ngắn trẻ; Khả năng lớn của thể loại nhỏ; Mười bảy khoảnh k lũng vùng lăng của Pham Sông,

“Hằng, Một thể nghiệm mới của Lé Minh Khué; Duyên văn, Sức bền của ngôi bút

- TS Nguyễn Thanh Tú rong bài viết "Bì kịch hóa trằn thuật - Một phương thức tự sự” (hên cứ liệu Cánh đẳng Bắt tân của Nguyễn Ngọc Tư Và lí trợ bụi của

"Đoàn Minh Phượng) đã nêu lên và so sánh các dạng thức "bi kịch hóa” trong tác

phẩm của hai nhà văn nữ này như: Bi kịch hóa tình huồng, Bì kịch hóa không-thời

gian, Bì kịch hóa hoàn cánh, tâm ly, tinh cách nhân vật đề dẫn đến kết luận: "cách

kế bì kịch hóa trần thuật đã góp phần làm nên thành công của Cánh đồng bắt tân và

Và khi tro bụi Một cách kể mang đm dẫu ấn của “tôi”, nhân vật - người kể chuyện” ( 483-484)

"Những công trình trên, do tính mục dich riêng của nó, nên hoặc là chỉ bàn chuyên về lý thuyết mang tính xã hội học hoặc chỉ nhắc để

quyền” chứ chưa đi sâu vào vẫn đề cụ thể, hoặc nếu đi vào vẫn đề cụ thể thì lại chú

trọng vào thể loại khác Nhưng đây sẽ là những chỉ dẫn rất cần thiết cho luận văn

của chúng tôi trong việc nghiên cứu về sáng tác của riêng giới nữ được tập hợp trong một tuyỂn tập, trong đó dành riêng 19 truyện ngắn của nhà văn nữ Tiếp thu thành tựu ở những công trình đĩ trước, chúng tôi mạnh dạn tiễn hành đễ tải luận văn này

3, Đối tượng và Phạm vĩ nghiên cứu

3.1 Bi ucong nghiên cứu: Là vấn đề bình đẳng giới trong các truyện ngắn của tác giả nữ Việt Nam (uin văn đi sâu vào 2 phương diễn cụ thể của inh đẳng giới: nữ inh va nit quyền)

c3-2 Phạm vì nghiên cứu: Là các truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn nữ được tuyển chọn qua 7uyổn /áp truyện ngắn 1973-1995, gằm 2 tập: tip 1 (1995), tp II (1996), NXB Hội Nhà vã

Hà Nội

Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện hơn về đối tượng nghiên cứu, luận văn

tham khảo thêm một số truyện ngắn nữ in ở các tập truyện khác hoặc tiễu thuyết mà luận văn có khảo sắt truyện ngắn của họ như Dạ Ngin (Gia dinh bé mon), Đoàn Lê (Hiền định), Võ Thị Hào (Góa phụ đen), Nguyễn Thị Thủ Huệ (37 myện ngắn

"Nguyễn Thị TÌu Huệ)

- Phương pháp nghiên cứu,

Quá trình triển khai vấn đề, người viết sử dụng các phương pháp và thao tác sau dây

Trang 17

10

~ Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích những yếu tổ nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn, từ đó tổng hợp lại, đưa ra cái nhìn bao quát, đồng thời tìm hiểu các nhận định, đánh giá của giới phê bình, chuyên môn vả các nhà văn xung

quanh vẫn đề được nghiên cứ

~ Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tìm chỗ tương đồng và khác biệt trong các sing tác của nhà văn nữ trong giai đoạn 1975 - 1995 so với các giai đoạn văn học trước

và sau nó về phạm vi nữ tính đến nữ quyền trong truyện ngắn

~ Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Nghiên cứu vấn đề nữ tính đến nữ quyển trong truyện ngắn nữ từ 1975 -1995 như một chỉnh thể hoàn chỉnh

~ Phương pháp tiếp cận thỉ pháp bọc: phân tích cấu trúc bên trong của tác phẩm nghệ thuật

5 Đồng góp của luận | - ¬

- Luận vẫn là một công trình hệ thống hóa tương đổi đầy đủ vấn để bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam ở một thể loại (truyện ngắn) trong một giai đoạn (1975-1995), Luận văn chỉ ra quá trình phát triển từ nữ tính đến nữ quyền biểu hiện qua truyện ngắn nữ 1975-1995

ai liệu tham khảo hữu ích với những ai quan tim

văn

Ngoài phần Mớ đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo, phần nội dung

luận văn được triển khai thành ba chương sau đây:

‘Chuong 1: Van đề bình đẳng giới trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975

“Chương 2: Bình đẳng giới trong truyện ngẫn nữ Việt Nam sau 1975 nhìn tie phương diện kết cấu và tổ chức nhân vật

Chương 3: Bình đẳng giới truyen ngắn nữ Việt Nam sau 1975 nhìn từ phương diện ngôn ngữ, giọng điệu trằn thui

= Luận văn sẽ là

Trang 18

Bình đẳng giới là một khái niệm lớn của thể giới từ trước thế kỷ XX và ở

Việt Nam từ nửa sau thé kỷ XX, nhất là từ 1936 lại nay, gồm hai phương diện nữ tink (tinh nữ”, “thiên tính nữ”) và nữ quyển Luân văn chúng tôi cổ gắng làm rõ 2 phương điện này qua các nội dung

1,1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM

11.1 Khái niệm về nữ tính, nữ quyên

Nữ tính là một hái niệm chỉ thuộc tính của một giới - giới nữ Đứng về phương diện sinh học, từ lâu, bằng trực giác, con người đã cho rằng trong tự nhiên

có 2 “giống”: giống đực, thường có vóc đáng lớn hơn, được gán cho “sứ mệnh” phải làm công việc nặng nhọc: kiếm sống, đánh nhau, duy trì nòi giống, và "giống cái", thường có vóc dáng nhỏ hơn, được mặc định với “nghĩa vụ” giữ tổ (hang), sinh con và nuôi nắng chúng Cùng với đó, tự nhiên cũng gần cho các loài Ấy thuộc tính: cơn đực có tư chất mạnh mẽ, môn lông sặc sỡ để quyền rũ cơn cãi, còn cơn thì thường là mảnh mai, mễm mông, e ấp Trong quan hệ, tự nhiên cũng dường như mặc định con đực thường chủ động to tình, tự coi là giữ địa vị thông trị con cái Tuy nhiễn, cá biệt cũng có nhiều loài trong trong tự nhiên có hiện tượng đảo lộn vai trỏ một số loài con cãi khi sinh nở xong thi con đực có nghĩa vụ giữ con 48 con cái đi kiếm ăn (sư từ), thậm chí khi con đực ở thể bị động thì còn bị con cái ăn thịt nó (cua lột xác); thành ngữ “sư sử cái” chỉ người đàn ba hung đữ, áp chế chẳng có phải cũng từ đây sinh ra chăng”! Trong thế giới loài người, gần như là sự mô phóng, sao chép tự nhiên Từ thời nguyên thủy (đủ là chế độ mẫu hệ), đã mặc định sự phân công tong việc kiếm ăn: đàn ông di sin bit thd, dn ba hai rom hoa quả, đàn ông gắn với cung tên, đàn bà gắn với gùi, giỏ; đàn ông lo công việc lớn, năng nhọc, đàn

bà lo nuôi nắng con edi; din ông thường đi xa, din bà thưởng quẫn quanh bếp núc

“Cũng vậy, đân ông là người chủ động tỏ tình còn đàn ba 6 thé chấp nhận Tục ngữ, thành nga “Dan dng xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, hay *Trâu đi tìm cọc chứ không phải cọc đi tim trâu” là muốn nồi thể chăng?!

Từ đặc tính sinh học đó, khi đã hình thành xã hội được tổ chức từ bậc thấp

lên cao, thậm chí cho đến tin thé ky XXI nay, từ trên thế giới cho đến Việt Nam, xã

hội mặc nhiên gin cho người phụ nữ các "thuộc tỉnh nữ” mà thường gọi là nữ dính Người có nữ nh là người có các phẩm chất (phẩm hạnh) như: đẹp, dịu dàng, duyên cảng, đâm đang, chu đáo, khéo léo, mềm mỏng, thủy chung, chịu thương chịu khó, yêu thương chồng con, nặng về cảm tính; đối lập với nam rính là mạnh mẽ, quyết liệt, lạnh lùng, lý tí, rộng lượng, thô bạo Từ đó sinh ra quan niệm đàn ông thuộc inh dương- sự cứng rắn, đần bà thuộc tính âm - sự mềm mại Đời sống phải có đương có âm mới tạo ra sự hãi hôa, sự cân bằng Thể nên trong ga đình, người ta

quan niệm sinh con phải “có nếp có tẻ” mới là đẹp Ngày nay dù khoa học đã rất

Trang 19

- *Thiên tính nữ trước hết là tỉnh thin của cái đẹp”: cái đẹp ngoại hình mỗi người một vẻ nhưng tắt phải đẹp, đồng thời trong cái ngoại hình đẹp ấy là một thiên tính lâm mẹ với “tỉnh cảm hồn nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp”,

- *Thiên tính nữ còn là tỉnh thần vị tha và đức tính hỉ sinh” Từ câu nói của Sinh khi được hỏi cảm tưởng của cô khi về làm dâu nhà này: “Khổ chứ Nhục lắm

‘Vira dau đớn vừa chua xót Nhưng thương lắm”, là biểu hiện của sự vị tha nhưng cũng bộc lộ sự nhẫn nhịn, đức hi sinh,

- *Thiên tinh nữ cũng phong phú bao la như tâm hồn phụ nd”, GS Hoang 'Ngọc Hiển cho rằng "ta tin ngay cuộc đời này có thể cải tổ được, sự tỉnh này, dẫu

có ti tệ hơn nữa, vẫn có thể cứu văn được ( Đó là sự siêu thăng rong tâm linh con người" có trong vẻ đẹp của Sinh, của Hồ Xuân Hương “hiện thân của những gì quá cao lớn”, gọi là CON NGƯỜI

Voi quan niệm như thể, tác giá Hoàng Ngọc Hiến cho ring *Thiên tính nữ lớn hơn nhân loại, có khi còn cổ xưa hơn nhân loại” và “Ai đó đã từng hi vọng:

“Cái đẹp cứu văn thể giới”, đọc Nguyễn Huy Thiệp thì tin rằng thiên tính nữ sẽ cứu

văn thế giới” [24, tr240] Dù nói "đọc Nguyễn Huy Thiệp” nhưng chắc ai cũng nghĩ: đấy cũng là thiên tính nữ nói chung trong văn học

Tuy nhiên, quan niệm về nữ rính không phải là “nhất thành bất biển” Mỗi thời đại, tủy theo nền văn minh, tình hình lịch sử, nền văn hóa, tôn giáo, quan niệm giá trí sẽ kéo theo sự bỏ sung, phát triển của nh nữ Ví dụ, tính nữ trong thời đại phong kiến ở Việt Nam, dưới ảnh hưởng của Nho giáo với những luật lệ, định kiến khắt khe đã cắm đoán, bó hẹp cuộc sống của người phụ nữ, biển họ trở thành con người của gia đình với những luân lý lễ giáo và các quan niệm giá trị theo kiểu phong kiến: trong nam khinh nữ (*iất nam viết hữu, thập nữ viết vổ"), hay đạo lý

“tam tong tứ đức”, quan niệm khắt khe đến tàn nhẫn về trình tiết dường như chỉ hạn định người phụ nữ trong cái việc sinh con đẻ cái để duy trì dòng giống nhà chồng, gánh vác "giang sơn nhà chẳng”, hiểm khi được tham gia công việc lớn lao ngoài xã hội Chính những định kiến, ràng buộc này đã là những rào căn của năng

ực và khát vọng người phụ nữ Nhưng từ giai đoạn 1945 đến nay, trước quan niệm mới của một thể chế mới, trong một xã hội mới, người phụ nữ được nhỗ bỏ những tảo cán, tạo điều kiện cho họ phát huy năng lực đẻ tham gia vào công tác xã hội, đặt lên vai họ những trách nhiệm lớn lao, cao cả hơn khiến phụ nữ Việt Nam xứng đáng được tôn vinh "giỏi việc nước, đảm việc nhà” không thua gì nam giới Thâm chí, nói như bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Vi Nam: *Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ quốc gia, có những vấn

Trang 20

đề của quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ mà sự hi sinh của Huyễn Trân Cong chủa là một thực 1é° (Luu bit cia ba Trương Mỹ Hoa tại đền thờ Huyền Trân

“Công chúa - Huế) Trong thực tiễn đời sống cũng như trong văn học nghệ thuật Việt

Nam từ giai đoạn này về sau đã xuất hiện biết bao tắm gương dũng liệt và hình

tượng đẹp để vô ngần về người phụ nữ Những Võ Thị Sáu, Ngô Thị Tuyển, Trin Thị Lý, Nguyễn Thị Định (đánh giác), Nguyễn Thị Bình, Tôn Nữ Thị Ninh (chính trị), G$.Trân Hồng Văn, PGS.TS Lê Thi Kim Phung, GS.Nguyén Thi Ngọc Phượng (khoa học), Xuân Quỳnh, Đoàn Lê, Nguyễn Thị Ngọc Tú (văn chương) các hình tượng văn học chị Sit (Hon Đái), má Bảy (Gia đình má Bảy), Nguyệt (Mánh trăng cuối rùng) là những ví đụ co

"uy nhiên, khi nói nữ rính là mới chỉ đề cập đến một mặt của người phụ nữ

mà thôi Nó cho thấy hàm lượng vẻ “thuộc tính” nhiều hơn chứ chưa cho thấy một

sự đấu tranh để giành lại các "quyền” của giới mình Mữ quyển mới thực sự là một cuộc cách mạng, một sự chiến đấu quyết liệt và dai ding mang tim véc thé gi nhằm đôi hỏi sự bình đẳng trong các phương diện chính trị, kinh tế, việc làm, chế

độ hưởng thụ, tự do tôn giáo, tỉnh yêu và các quyền riêng của giới: quyền nạo thai, quyền sở hữu thân thê, bảo vệ phụ nữ và em gái khỏi bạo lực gia đình ww Lịch sử đấu tranh Nữ quyền, hay là phong trào hoạt động xí

tỉnh với nhân quyền, như đã nồi, trải qua một thời gian rất dài, được phân chia ra 3 thời kỳ (hay còn gọi là "3 làn sóng”)

Thời kỳ thứ nhắt (hế kỳ XVIHI đến nữa đầu XX), là cuộc tranh đấu đồi

“quyển bình đẳng giới trên các bình điện chính trị, xã hội, hôn nhân gia đình mà cụ

thể là các quyền được bằu cử, được tham gia công việc xã hội như đàn ông, được

học những ngành để hành nghề bình đẳng chứ không phải cắm ky, được tự do trong hôn nhân cũng như được ly dị Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tên tuổi: Théroigne

de Méricourt, Claire Lacombe, Claire Démar và nhất là Margurite Durand (1864- 1936) với Bản myền ngôn về quyển của phụ nữ và công dân; bà cũng là người thành lập báo 4 Eronde, tờ báo riêng của phụ nữ Nhờ những hoạt động năng nỗ và kiên

ết của phong trào này, lần đầu tiên phụ nữ Pháp được công nhận quyền công

Tối vì lúc này tuy đã được thừa nhận về pháp luật nhưng trong cấu trúc xã hội vẫn còn nhiều bắt bình đẳng (sự phân biệt nam - nữ trong nhà trường, trong công s, trong gia đình, trong nội các của chính quyền Charles de Gaulle) Với những nhà nữ quyền Francoise Sagan, Antoni Fouque và tiêu biểu la Simone de Beauvoir làm phong trào đấu tranh bùng cháy, nhất là khi tác phẩm Giới thie hai cia S.de

Beauvoir xuất hiện, Thời kỳ này phong trào nữ quyển dat được một sự kiện quan

trong: quyén được nạo thai (quyền mà trước đó chính quyền và tôn giáo cắm ky)

Trang 21

Như vậy, có thể thấy “Chủ ngiĩa nữ quyên (Chủ nghĩa nữ giới, chủ nghĩa duy nữ) là một tập hợp của các phong trio và ý thức hệ nhằm mục tiêu xác định,

xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bình đẳng cho

phụ nữ” [39] Những người theo chủ nghĩa nữ quyền trong các thời kỳ chính là những người kiên tr và kiên quyết vận động, ủng hộ cho quyền bình đẳng của phụ

nữ bao gồm quyền bỏ phiếu, được giáo dục, được trả lương như nhau, quyền sở hữu tải sản, tham gia các cơ quan công quyền, tự do tôn giáo, quyền sinh sản, quyền tránh thai và nạo thai, bảo vệ phụ nữ và trẻ cm gấi khỏi bạo lực gia đình hoặc quấy rối tỉnh dục, tắn công tỉnh đục Những vẫn đề trên không chỉ còn tồn tại ở các vũng, các lãnh thổ còn nên văn minh dã man, nghèo đối, lạc hậu hoặc tôn giáo hà khắc mà còn có ở ngay các nước được coi là văn minh tiến bộ như Hoa Kỳ Cho nay ở các xứ sở Hồi giáo, đần bà vẫn không được đi bỏ phiếu, không được rời

xứ sở khi đần ông chưa cho phép, không được lái xe hoi wv Dit lust Anh, Mỹ ngày nay không bắt buộc song phần đông những người phụ nữ xứ sở này vẫn đổi tên chuyển sang họ chồng sau kết hôn, bởi nếu không đổi, dư luận xã hội Mỹ vẫn coi việc họ làm là "hành vi bắt thường” Khảo sắt năm 2013 ở Mỹ vẫn có 90% phụ

nữ kh kết hôn chuyển sang họ chồng, số liệu năm 1994 ở Anh là 94% nhưng đến nim 2013 “chi” edn có 54% (Nguồn: Huf fington post, Time, BBC, Vietnam Net, 11/6/2017) Ở Việt Nam chúng ta, rất nhiều quyền về phụ nữ đã được thể chế hóa thành luật, thành chế độ nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ Tuy nhiên, đâu đó, đặc biệt là ở vùng sâu, ving xa, vùng nông thôn, phụ nữ và trẻ em gái vẫn còn chịu

nhiều thiệt thòi: iuật chưa thực sự đến với họ, chế đổ còn xa vời đổi với họ mà gần

Trang 22

"hơn với họ là nạn bạo hành, nạn thất học, nạn mua bán phụ nữ, nạn ấu dâm trẻ em

vị thành niên

Rõ ring, Phong trảo giải phóng phụ nữ vẫn còn phải tiếp tục thêm nhiều thời gian nữa trên mọi châu lục, mọi quốc gia và vùng lãnh thổ mới hỉ vọng thân phận người phụ nữ được bình đẳng trước xã hội một cách đúng nghĩa Điều này không chỉ là cuộc đầu tranh trong lĩnh vực chính trị mà còn đời hỏi rất nhiễu lĩnh vực khác chung sức tham gia, trong đó vấn hoc và các nghệ thuật khác giữ vai trỏ quan trọng,

cần thiết

1.1.3 Đặc điêm về nữ tính, nữ quyền trong văn học Việt Nam'

Nữ tính, nữ quyên được thể hiện ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau nhưng có thể nồi, do đặc trưng của nó, không ở đầu nữ tỉnh, nữ quyền được thể hiện một cách trọn vọn, có chiều sâu như trong văn học

“Trong văn học Việt Nam từ lâu đã có dầu hiệu của sự phản ánh về vấn đề bất

bình đảng giới, nhất là ở phương diện nữ tính Từ bẩy đến nay, theo tiến trình văn học, mức độ đâm nhạt có thé khác nhau, sắc thấ (“tiêu chỉ”) nữ tính có thé không giống nhau, nhưng có th nói, phương diện phân ánh vấn đề nữ tính chưa bao giờ

bị đứt gãy trong bắt cứ giai đoạn lich sử văn học nào Tiếp cận vấn đề nit tink, mit

quyén trong văn học có thể từ hai hướng: 1) Đồng đại (nêu đặc điểm của tính nữ, nữ quyển và mình chứng nó xuyên suốt qua lịch sử văn học) và 2) Lick dai (diém qua các giai đoạn trong tiễn trình văn học, ở mỗi giai đoạn nêu các biéu hiện nữ tính, nữ

“quyền được phản ánh trong văn học giai đoạn ấy) Luận văn của chúng tôi tiếp cận vấn đề theo hướng thứ 2 Cụ thể

= Trong nén vin học dén gian

"Nền văn học dân gian (Folklore) 6 bat cit din tộc nào cũng vô cùng phong

phú về loại hình, thể loại và do đặc điểm của nó (truyền miệng, nhuận sắc, dị bản) nnên những gì còn lại đến nay là những tác phẩm có giá trị bắt chấp thời gian Văn học dẫn gian ở đầu cũng sẽ là ngọn nguồn tỉnh ty, quý giá cho văn nghệ sĩ các thể

hệ học tập để sắng tác của họ thành công, bởi vậy họ không ngần ngại bộc lộ niềm

tự hào khi học tập được những tinh hoa của văn học dân gian (A.S Pushkin, S Esenin ở Nga, Nguyễn Du, Nguyễn Trải ở Việt Nam) Trong tình hình ấy, nền văn học dân gian Việt cũng không phải ngoại lệ Đặc điểm sinh nit trong van học cđân gian được thể hiện ở rất nhiều thể loại, luận văn xin đề cập đến hai thê loại sau

“+ Trong ca dao: đề tài về người phụ nữ chiếm một dung lượng khá lớn trong nhiều chủ đề cia kho tng văn học din gian Ca dao viết về người phụ nữ trước hết

Tà xgợi ca vẻ đẹp của giới này Vẻ đẹp ấy thể hiện muôn hình vạn trang: “Cổ tay em trắng như ngà/ Con mit em lige như là dao cau/ Miệng cười như thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”; "Răng đen nhoén miệng em cười/ Dẫu trời nắng nực vẫn nguôi cơn nồng” Nhưng trong xã hội cũ, người phụ nữ luôn bị xem là kẻ

"hấp cổ bé họng”, "phụ nhân nan hóa” nên chim ca dao có motiF “han em” chi thân phận người nữ cũng vô cùng nổi bậc "Thân em như cái giếng bên đăng/ Người

Trang 23

16

khôn rửa mặt người phàm rửa chân”; “Than em như hat mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng bạt sa ngoài đồng”: “Thân em như cây quế giữa rùng/ Thơm tho sỉ biết ngất Wmg ai hay” Thân phận như thể trong xã hội như thể chắc chắn người phụ nữ sẽ không được làm chủ số phận mình mà phái chịu cảnh lênh đênh “mười hai bến nước, may mắn được vào bến nào thì cũng hết sức cực khổ: “C6 con phải khổ vì ceon/ Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng” Tuy nhiên "có chồng” mà phải rơi vào phận lẽ mọn thì cảng bỉ thảm hơn: "Làm lẽ như chỗi chủi chân/ Chủi rồi lại vứt

a sâm/ Gọi mu hàng xóm có chân thì chủi” Thể nhưng dù đẹp như thế mà phải chịu khổ đau như thể thì trong bản tính "thiên tính nữ”, người phụ nữ vẫn sống vị tha, chung thủy: “Trăm năm long gin dạ ghi/ Nao ai thay nit déi khuy cũng đừng”;

“Thương nhau gặp khúc sông vơi/ Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung”;

“Nghe tin anh dau đầu chưa khá/ Em băng rừng bẻ lá về xông/ Sống sao cho trọn

nghĩa vợ chẳng/ Cơn gió nam em quạt, ngọn gió lồng em che” Tuy nhiên, "già néo đút đây”, khi bị đây vào tân cùng của chốn khổ dau, người phụ nữ vẫn không thể không cất lên riểng kê não mùng cho hân phận: Từ nhẹ nhàng, than thở:

“Ching ơi phụ thiếp làm chỉ/ Thiếp như cơm nguội đỡ khi đối lòng” đến chán chường, hờn trách, pha chút giễu nhại: "Chồng em vừa xấu vừa đen/ Vừa kém con mắt vừa hẻn chăn đi ”: “Chẳng người đi ngược về xuôi/ Chẳng em ng

b chim tro” Va trong tỉnh cảnh ấy, người phụ nữ, đủ chưa thật quyết liệt song

cũng đã lóe lên, bừng đậy nổi khát &hao rất đổi con người: "Lấy chồng chẳng biết

mặt chồng/ Đêm nằm tơ tưởng nghĩ éng ling giềng”; “Hai tay cằm hai quả hồng/ Qiia chit phần chồng quả ngọt phẩn trai/ Đêm nằm than ngắn, thở dài Thương chồng th í thương tra th nh

+ Ở truyện dân gian: bên cạnh các chủ đề như ca dao viết về người phụ nữ, truyện đến gian còn dành một khối lượng khá lớn ngợi ca rí thông mình, sắc sản ccủa giới này bằng cách đặt người phụ nữ (người vợ) bên cạnh người din ông (người chẳng), tạo ra sự đối sánh vợ - chẳng theo motif chung là vợ khôn- chồng dai, vo day- ching nghe, vợ thông mỉnh- chồng din độn! Chị nọ rit khôn nhưng rũi thay lấy phải anh chồng qua dai Dét vai xong, chi đưa chồng đi bán nhưng anh ta rao suốt ngây mà chả aĩ mua Đến tối, may mắn có người đần ông mua cho nhưng chưa trả tiễn mà bảo mai đến lấy ở chỗ "chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi tò te, chỗ cây tre một mắt” Hôm sau chẳng ngốc tìm mãi không ra, tối về nhà hỏi vợ, được vợ

“giải” cho rằng đó là ông thầy giáo day ở "trường học” (chợ đông không ai bán), trường có “đám sậy” (gió thối nghe như tiếng kèn thôi tô te), sẵn trường có trồng "đám hành” (cây tre một mắt Anh chẳng đến tìm quả nhiên gặp đúng đối tượng! T ic khen người vợ giỏi và gửi bông hoa nhài cắm trên cục phân trầu bảo chồng về đưa vợ Người vợ lập tức "giải” ra ý nghĩa món quả: vợ khôn ching dai chẳng khác gi “bông hoa nhài cắm bãi cứt trầu!”, định tự tử rồi được

cám sống cũng bằng trí thông mình Rất nhiều truyện có chung motif nhu thé (Gai

Trang 24

ngoan dạy chẳng, Vợ khuyên chồng dại ) Đó là một kiểu khẳng định vẻ đẹp trí tuệ người phụ nữ bằng lối nói hom hinh, độc đáo!

~ Trong nén vin học viết Trung đại

Đây chính là thời kỳ người phụ nữ bị trói buộc trong lễ giáo phong kiến một cách rõ rệt nhất Vì thể, biêu hiện của tính nữ trong văn học vẫn tiếp tục cảm hứng

về về đẹp và thân phận khổ đau của người phụ nữ như trong nền văn học dân gian nhưng đã mang một vải sắc thái khác,

Một điểm đáng chú ý, theo chúng tôi, văn học Trung đại đề cập đến khá nhiều hình tượng liệt nữ- những người đàn bà ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (đánh kẻ thù xâm lược, giữ trình tết thờ chồng, hi sinh vì nghĩa lớn dân tộc trở thành những tắm gương bắt hủ) Những bài thơ, phú, vẫn, truyện Nom ngoi ca các tắm gương oanh liệt, ngời sáng, truyền tụng mãi về sau, trở thành những hình tượng văn học đẹp, bất khuất của người phụ nữ Đó là những Triệu Thị Trinh với khí phách "muốn cối cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá kinh ở biển Đông”,

xé phanh thây giặc mới hả Đó là Phạm Ngọc Trần, vợ cả chủ tướng Lê Lợi, người tâm phục và yêu ông ngay tự buổi đầu, hăng hái quên mình lo chuyện lương thảo cho nghĩa quân mà, nói như người anh trai Phạm Vấn của cô là hãng say lo việc quân lương "không chỉ do lòng thương dân thương nước mà còn có sự give

trái tìm nóng bỏng tình yêu thanh nữ” [7§, tr166] Phạm Ngọc Trần muốn noi sương bà Hoàng Thái Hậu, nàng tình nguyện nhảy xuống vực Nằm nơi dòng nước sâu thắm, xoáy cuồn cuộn, nơi có lũ cá ăn thịt người đông nhung nhúc để hiển tế trong lễ xuất quân ra Bắc của Lê Lợi Đó là Ngọc Hân Công chúa với mối tỉnh đầy thi vi và lang man cùng nỗi dau thương và thủy chung với Quang Trung Nguyễn Huệ qua bài 4 sư vân bắt hủ của bà Đặc biệt là Huyễn Trân Công chúa, người phụ

‘ma su hi sinh ctia Huyén Trin Công chúa là một thực tế" Hai người phụ nữ ấy quả thật phản ánh một cách tiêu biểu phẩm giá thiên tính nữ trong đời sống cũng như trong văn học Việt Nam trung đại Cũng là liệt nữ nhưng trong truyện Nôm, mỗi người lại chọn một cách biểu hiện khác nhau: Người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử truyện) trẫm mình để tỏ nỗi oan phụ chồng; cô con gái út trong Lam 'Quận công phụ nhân lại kiên trì chỉ chồng thi cử, trải bao kỳ hong thì vẫn không nản, đến khi chẳng “đỗ thí Hội, đến khi thí Đình đỗ đầu trong hàng giáp thứ hai” mới thôi; cô ca sĩ họ Nguyễn trong Ca nữ họ Njguyễn lại có "con mắt tỉnh đời” nhìn ra cậu trai nghèo khô, tỉnh nguyện đến với chàng Xã hội lúc ấy

mà cô dám “Chàng không phụ thiếp, thiếp sẽ tự tìm đến chàng” Từ đầy cô lấy tiền

Trang 25

18

mình mua quần áo, vải lụa trân trọng tặng chang, “ett dam ba tháng một lần cô đến thăm nơi Lân ở”, *lưu lại ban đêm thi, may vá, nấu nướng giúp Lân” cho đến khi chẳng đỗ đạt, làm đến Thượng thư, tước Quận công nhưng nghe lời cha, Lan lay vo

khác Ca nương không hé trách cứ, chỉ nói “Đó là số mệnh của thiếp, đâu phải lỗi ở

chàng” Gặp lại cô trong cảnh "đất mẹ giả phiêu bạt chốn Trường An”, Lân hồi hận

"hậu tạ tiền bạc nhưng cô rất kháng khái không hẺ lấy, bởi “những thứ tiền bạc này đầu đủ phúc để tiêu đùng” v.v

‘Nita đầu thể kỷ XVIIL, inh nữ trong văn học đã bất đầu thể hiện một nét mới: sự khẳng định giới một cách mạnh mẽ biểu hiện qua sự "chọc ngoáy” những gì được coi là dạo lý trong quan niệm xã hội; đặt để vị trí người phụ nữ ngang hàng (thậm chí là hơn) vị trí người đàn ông (*Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh

hùng há bấy nhiêu”); ngang nhiên bênh vực những người đàn bà lỡ “ca né cho nén hóa đở dang”- một tội mà xã hội ấy trừng phạt rất thảm khốc và ghê tởm (“Quản

bao miệng thể lời chênh lệch/ Không có, nhưng mà có, mới ngoan”); cắt lên tiếng

thét, chửi thẳng vào cái quan niệm “truyền thống” của giai cắp phong kiến (ai năm thé bay thiếp gái chính chuyển một chẳng) tồn tại hàng ngàn năm (“Kẻ đắp chăn

bông, kẻ lạnh lũng/ Chém cha cái kiếp lấy chẳng chung”); giễu nhại lũ đàn ông ngụ đốt nhưng lại huénh hoang (“Lại đây cho chị dạy làm thơ”; “Nay này chị bảo cho

mà biết); đập thẳng vào mặt những mỹ từ giai cắp phong kiến ưa dùng để trang trí cho địa vị của chúng (thiên tử, minh quân, thể thiên hành đạo, quan phụ mẫu ),

rằng, tắt cả chỉ là “Chúa dấu vua yêu một cái này” Nói cho lắm rốt cuộc cũng chỉ là

“một cái này” thôi! Cực kỷ thâm và độc! Đây chính là 8d Chúa Thơ Nóm (chữ của Xuân Diệu) Hồ Xuân Hương

- Trong nền văn học vid tie đâu thể kỷ XX đốn 1945

Sau những chập chững ban đầu với việc "làm quen” với chữ quốc ngữ, tới khoảng những năm 30 của thể kỷ này, các nhà văn đã vững vàng trong việc sắng tác

thơ ca và văn xuôi bằng tiếng mẹ đẻ Thời gian này đã có rất nhiều truyện viết về

người phụ nữ như Triing Quang tâm sử của Phan Bội Châu hoặc các sắng tác của những nhà văn nữ Nam Bộ như Tấy phương mỹ nhơn, Nhỉ nữ tạo anh hùng, Vĩ nghĩa quên mình của Huỳnh Thị Bảo Hòa; Phụ nghĩa tảo khang, Gương nữ kiệt,

Dé thám cho hoa của Phan Thị Bạch Vân; đặc biệt là các truyện Kim Tứ Cấu, Hồng phần tương trí, Chung Kj Vinh cia Bam Phương nữ sử Mặc dù xét về các

kỹ thuật viết văn như sử dụng ngới &ể (đa số là người kế xưng *tôi” hơi đơn điệu), xây đựng nhân vật (nhân vật thường lộ rõ tính tư tưởng "nữ kiệt), "nữ hiệp”), két cấu (hường dùng lối kể tuyển tính hoặc chương hồi) hay øgồn ngữ rruyện vẫn còn

“dấu tích” Trung đại (văn biển ngẫu, sử dụng từ ngữ đôi chỗ “sáo” và ngây thơ), không thể tránh khỏi của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ Thế nhưng, những đóng góp này là không hễ nhỏ bởi tác phẩm của họ đã nồng nhiệt ngợi ca người phụ nữ với những nét đẹp truyền thống, tiếp tục cái nhìn nhân đạo sâu sắc đã

Trang 26

đành mà giờ đây truyện của họ đã lóe lên ánh sáng của nét đẹp biết quyết liệt vượt lên số phân (Bach Lan tong Táy phương m? nhom; Qué Anh trong Héng phan sương trì) Truyện của các tác giả này, dù mới ban đầu, nhưng đã đưa ra được những vẫn để bình quyền, bình đẳng, thúc dục giải phóng phụ nữ khói những thành kiến hẹp hỏi của xã hội đang tồn tại đầu thé ky XX Ho đã "lồng” vào tác phẩm

những câu văn mang tư tưởng rất tiến bộ về vẫn đề bình đẳng giới này Trong

Gương nữ kiệt xuất hiện tuyên bố: “Đương lúc nước mắt dân tàn, trông mong vào

những bực trượng phụ ra tay cứu chữa, mà cũng trông mong vào những trang nữ nhỉ

hé vai gánh lấy cái trách nhiệm chung; nước nào nam nữ giới đều có thì nước ấy hẳn không đến nỗi để cho người ngoài giảy xéo” Thâm chí có những câu nghe cứ tưởng như lời của các chị, các mẹ của thời 1945-1975: "Cách mạng có cứ gì con trai con gấi” (Giám lồ nữ hiệp)

Tiếng nói bình đẳng giới như một sự thức tỉnh có lẽ được cất lên tong khoảng thời gian văn học Việt Nam, nhờ những yếu tổ thuận lợi của văn hóa Pháp tràn vào, làm nên “Một đời đại trong thi ca” những năm 1932-1945 Thời kỳ này bên cạnh Thơ Mới với sự nồng nhiệt ngợi ca tình yêu lứa đôi trên cơ sở tự do hôn nhân của những Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, 'Vũ Hoàng Chương là các sáng tác của nhóm Tiểu tuyết thứ Bảy và Tự lực văn dod với những tên tuổi Lê Văn Trương, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch

Lam Nếu như trong thơ là dồn cảm xúc vào ngợi ca tình yêu cá nhân với tận cùng

cung bậc của nó thì ở tiêu thuyết lại nghiêng về cô vũ cho việc đập nát mẫu hình gia định phong kiến để °Đoạn tryệi” với kiểu gia đình cũ, xây dựng mẫu hôn nhân tự đảo lựa chọn hạnh phúc riêng của tuổi *Aiiø chừng xuân” với thái độ "Lạnh lùng” không khoan nhượng! Trong những truyện ngắn thời kỳ này, ngoài những thuộc tính truyền thống của người nữ nay đã phăng phất một không khi mới khi phản ánh cái tinh thần văn hóa mới về tỉnh yêu, về sự tự do Những truyện như Chân trời cũ (Hồ Dzếnh), Kadi lam chiều (Lưa Trọng Lư), Tỏa nhị kiểu (Xuân Diện), Hoa vồng

vang (Đỗ Tốn), Hoa tí-gồn, Truyện qua rồi (Thanh Châu) là những ví dụ Chỉ

thời bấy giờ mới có được kiểu suy nghĩ hiện đại nhur Ding (Doan tuyét): "Chuyện

cũng rắc rồi: nào tự do kết hôn, nam nữ bình quyền, mẹ chồng nang du, bao nhiêu thứ lôi thôi” hoặc cô đâu “Tây học” Loan dám nổi trước tòa xử

cô vì tội ngộ sát chồng: *Tôi nói cốt để chị em gái mới đến đây nghe biết rằng nếu các chị em muén được hưởng hạnh phúc với chồng cơm, th điều trước nhất, các chỉ

em phải tìm cách sống một đời riêng, một đời tự lập ( ) nhất là có vượt hẳn ra

ngoài quyền của cha mẹ chồng thì mới mong gia đình được hòa thuận” (46, tr 146) Một câu nói mà phụ nữ cuối thể kỷ XX tưởng cũng còn dé dit!

“Thời kỳ này, bên cạnh dòng văn học lãng mạn còn có dòng chủ lưu khác: văn học hiện thực với những cây bút nam lic bay giờ như Ngô Tắt Tổ, Nam Cao,

Nguyễn Công Hoan cũng đã khai thác về để tài người phụ nữ Nhìn chung, người

phụ nữ trong dòng văn học này đa phần là những người khốn khổ: chị Dậu trong

Trang 27

20

Tắt đòn của Ngô Tắt Tố, con Thanh trong Thanh! Da’, con Bs trong Phanh! Phach! của Nguyễn Công Hoan đặc biệt là những người dan bà trong các truyện ngắn ccủa Nam Cao Với bậc thầy kỹ thuật truyện ngắn, với tắm lòng nhân đạo sâu sắc đối

với những người cùng khổ sau lũy tre làng, nhất là phụ nữ và bằng một chủ nghĩa

hiện thực nghiêm nhặt, Nam Cao đã *vẽ” nên bao số phan đàn bà khốn khổ dưới chế độ này (nhưng khác với những phụ nữ trong "thân em” của ca dao): đó là my Loi trong Niza đêm, Dẫn trong Äội đảm cưới, Nhu trong Ở hiển, thị No trong Chi Phèo

Phải đến thời kỳ 1945-1975, sau khi nước ta giảnh được độc lập, khai sinh ra một chính thể mới: nước Việt Nam dân chủ cộng hỏa, mở ra một ÿ thức hệ mới, một quan niệm mới vấn đề nữ tính, nữ quyền mới sang trang mới: quan niệm nữ tính bây giờ (cái đẹp, tỉnh yêu, sự thủy chung, tình thương ) mang âm hướng của thời đại Hoàn cảnh lịch sử của dân tộc lúc này dẫn đến ý thức hệ mới: ý dưức hệ vô sản Mỗi người din déu phải dốc lòng dốc sức cho sự nghiệp cao cả nhất: đánh

thắng “hai để quốc to" là thực dân Pháp và đề quốc Mỹ, đồng thời xây dựng XHCN

ở miễn Bắc làm chỗ dựa cho cuộc chiến đầu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Hoàn cảnh dy khiến mỗi người, không phân biệt trai hay gái, là người dân của nước thì đễu phải lấy tiếu chí chung của dân tộc, đắt nước, chế độ làm mục địch cao

cả nhất, làm lý tưởng sống Hai nhiệm vụ đánh giặc và xây dựng đất nước là hai nhiệm vụ thiêng liêng, lớn lao, nặng nÈ chưa từng có trong lịch sử dân tộc, đồi hỏi phải huy động tắt cả sức người sức của và sự hỉ sinh cao nhất của mỗi người mới có thể hoàn thành Trong điều kiện ấy, con ngudi hung vé cai “chung”, cai “ta” (dn lắt nước, chế độ ) là con người đẹp nhất, lý tưởng nhất Niềm vui hay nỗi buồn, hạnh phúc hay khổ dau, đẹp hay xắu, thiện hay ác, tiên tiến hay lạc hậu, đáng trọng hay đáng khinh tất cả đều dựa trên tiêu chỉ Ấy Đẹp là phải như chị Sứ (trong tiêu thuyết /lỏn Đắi- Anh Đúc), đẹp người, đẹp nết từ vẻ ngoài của lần da

khuôn mắt sáng và phúc hậu đến phẩm hạnh bên trong, của người vợ thủy chung, là linh hồn của du kích hang Hòn, là người mẹ tuyệt vời

ái it con Thay và là người du kích kiên cường, hiên ngang đón nhận cái khốc liệt nhất, tàn nhẫn nhất trước kẻ thủ để đập tan âm mưu của chúng hong, lấy cái chết của chỉ lung lạc du kích Đẹp là phải như Hảo (Vững vời Hữu Mai), người ky su thay sản có mỗi tình lý tưởng với chàng phi công Quỳnh, đã biết nén đau thương khi nghe người yéu hi sinh trong trân đánh giáp lá cả trên bầu trời để tỉnh nguyên về vùng biển nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Đẹp phải như Mẫn (Mẫn

và tới- Phan Tứ), cô du kích vùng biển Tam-sa từ vẻ ngoài "khuôn mặt tri xoan trắng xanh, thân hình déo va thon, hơi mảnh khánh” (t.57), *mắt lóng lánh cười nhiều hơn miệng Sao Mẫn xinh vậy ta? Không, phải nói là đẹp” (177) Nhưng con người có vẽ đẹp tưởng như yếu đuổi đó lại là Bí thư chỉ bộ kiếm trường ddu kích vùng chiến sự ác liệt Mẫn yêu Thiêm tha thiết nhưng đúng kiểu tình yêu thời chiến: run sợ khi tỉnh yêu mới đến (tôi nắm tay Mẫn, nhận ra Mẫn run như sắp

Trang 28

nga”), say đắm khi đã ở bên nhau (“Những ngón tay búp măng siết tôi đến đau, lay

di ( ) Mẫn đã quảng tay 6m ghi t6i Ca người Mẫn run bắn ( ) Mẫn la trong tay tôi”) nhưng cũng thật đút khoát, kiên định mục tiêu (“Man yêu tôi mã vẫn thấy,

cái Chu-lai lù lù trước mặt”) Cách yêu của Mẫn cũng thật quyết liệt (“lỡ hết gạo

em hớt thịt trên mình xào cho anh ăn liền ( ) Đời xưa làm nỗi, em còn dám gấp

mấy kia chớ, coi như địch nó tra hay trúng mảnh pháo, dễ gt”, “Em tinh khi ndo anh

di xa, em chat cho anh một đốt ngôn tay út, bên trái này nẻ, anh đem theo làm kỳ niệm”) Ni như Thiêm “Mẫn không đùa đâu”, quả thật, “Mẫn rất dám nuôi tôi bằng thịt mình, nhưng cũng không ngần ngại xả cho tôi mươi viên đạn vào đầu nêu tôi nhay sang phía kẻ thử” (tr.481) Hoặc như chị Út Tịch (Người mẹ cẳm sim, Nguyễn Thị), chị Kan Lich (Kan Lich- H6 Phuong) déu la con người như thé

Người phụ nữ trong truyện ngắn thời kỳ này cũng có vẻ đẹp tương tự Phude (Hoa

rừng- Dương thị Xuân Quý) với "lần mi den chuyển động rất nhanh”, "cái bóng dong déng cao”, cặp mắt “rong tréo va long lanh sáng” Đặc biệt, cô giao liên này dđẻo dại đến kỳ lạ: dẫn bộ đội hành quân di mai miết không nghĩ, đến mức cả lính Tẫn chỉ huy phải kêu trời vì một, quay ra oán trách nhưng cô vẫn: "Dạ, không được”

vì đoạn đường này địch thường xuyên ném bom, bắn pháo Đến chăng nghỉ, bộ đội lin rangi ngay vì mệt, Săng ra bộ đội dậy bảnh quân bỗng lại gặp Phước dẫn đoàn

“quân thứ hai đến chặng nghĩ Lúc Ấy họ mới hồi hận, cảm phục cô giao liên nhỏ bế

‘ma anh ding này Trạm trưởng đã "giới thiệu” Phước thay lời nhà văn: Cô này

*Bom nỗ bên cạnh: cười Ngày ăn hai bữa sắn, cũng cười” B52 ném bom làm

"Phước “như chui dưới đất lên Mặt mũi, quẫn áo, chân tay lắm diy đất” nhưng nghe hồi, "cô Ấy chỉ cưới: Dạ, em đội một mớ bom mà không lãnh trái mô hết” Về đẹp này cũng có trong Nguyệt (Mánh răng cuối rừng- Nguyễn Minh Châu) Về

"ngoại hình, dù là cô thanh niên xung phong chuyên đỗ đá vá đường cho xe ra mặt trân nhưng Lãm kịp nhận ra Nguyệt một vẻ đẹp “giản đị và mất mê như sương núi tôa ra từ nét mặt, lời nói và tắm thân mảnh đẻ ( ) cô ta mặc áo xanh chít hông vừa hít, mái tóc dây tết thành hai đãi”, “khuôn mặt sáng sủa” Nhưng vẻ đẹp làm "dầy lên một tỉnh yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục” trong Lãm chính là vẻ đẹp trong chiến đấu Máy bay giặc ấp đến “bắn hai mươi ly đỏ lit, nghe rit c mặt” song chính Nguyệt lại trở thành người chỉ huy cho xe qua ngằm Đá-xanh và dập lửa cứu xe với Lam Nguyệt dẫu bị “hoi bom xô ngã dúi”, bị thương *vết máu chảy xuống 46 cả cánh tay áo xanh” mã vẫn “nhìn vết thương, cười” Vẽ đẹp của chị Số, Phước, Nguyệt chỉ có đặt trên nên của chiến trường, trong cuộc chiến đến mới trở nnên ngời sáng Còn nhiều lắm những vẻ đẹp xuất hiện trong bồi cảnh như thể: Mai (Rừng xà nụ- Nguyên Ngọc), Qué (Khdi- Anh Đức), Thu (Cñiếc lược ngà), Dụng (Chị xã đội trưởng- Nguyễn Quang Sáng), Nhật (Vợ chẳng xã đậi- Lê Khánh), Bí

"Hường (Hai giọt nước mắt của tiếu đội trướng Bích Hưởng- Bùi Hiền), Ái (Đêm vũng than ai thức- Lý Biên Cương)

Trang 29

Bảo Vân Cuộc gặp gờ tình cờ và định mệnh ở đây là gặp gỡ trong sự đổi vai Chính

Lê đã chữa cho Bảo Vân lúc cô bị sức ép và đất cát đổ ập vào mắt trong trận Mậu

“Thân Huế và sau này chính Bảo Vân lại trở thành bác sĩ chính quyền cũ điều trị cho

Lê là người "của họ” Người cũ nhận ra nhau và kết thúc truyện là cô bác sĩ thì thầm vào tại Lê: *Em sẽ đi cùng anh Đi suốt đời, ảnh Le” (45, t.636] Mot su hòa hợp của bai miễn, hai phía không thể nào đẹp hơn của tỉnh yêu lứa đôi! Truyện ngắn Thợ làm móng tay của Dương Thu Huong, Bai hat chim nhéng xanh của Ngõ

"Thị Kim Cúc cũng tượng tự như thể Nói đến nữ tính trong truyện thời kỳ này, trước hết phải đề cập đến xổï đau, sự mắt mát hạnh phúc của người phụ nữ sau chiến tranh Người đàn bà sau giải phóng mới tìm được chồng khi tuổi đã cao (Chiếc lục lạc- Nguyễn Quang Lập), may nhờ sự giúp sức của đồng đội và sự kiên

trì của đại tá Thân, cuối cùng chị cũng có thai- niễm khao khát suốt hàng chục năm

xa nhau đẳng ding của anh chị, và cũng là mong ước của các sĩ quan, chiến sĩ trong đơn vị anh Mọi sự mừng vui, thương yêu, chăm lo, hỉ vọng của anh và cả bạn bé,

thầy thuốc, đơn vị đều dồn tụ hết trong ngày chị lên bàn đẻ Đau đớn thay, chỉ sinh

a một đứa bé tật nguyễn: hai mí mắt kéo xuống che kín hết mắt, môi dài trễ xuống dính chặt vào ngực hậu quả của chất độc da cam ngắm vào người hồi chị còn ở chiến khu! Nỗi đau Ấy côn hiện lên ở Thảo (Người sót lại của Rừng Cười- Võ Thị io), 6 ba Ân, bà Mật (Hai người dan bà xóm trại- Nguyễn Quang Thiền), ở “Chị

coi kho quân lương (#fo đã rrở thành đàn ông- Phạm Ngọc Tiến), và phần nào đó là

ở cô y sĩ Quỹ (Người đản bà trên chuyển tàu tắc hành- Nguyễn Minh Châu) Bên canh nỗi đau, các truyện viết khá nhiều về đề tải ỉnh yêu với muôn vân sắc thải, cúng bậc Đó là những người đàn bà cho đến nay vẫn đành chịu số phận khổ dau trong tình yêu: Gừng (Người đàn bà róc mrắng- Nguyễn Quang Thiều), người chị đâu (Chị dâu- Hoàng Tuấn), Hạ (Chuyện vé Ha- Nguyén Thi Ngọc Tú), “Tí (Quãng đời xưa in dắu- Sương Nguyệt Minh), người thiêu phụ (Thiểu phụ s Vang) Nhưng nhiều hơn là những mối tình, từ tỉnh yêu lứa đôi trẻ trung đến tỉnh yêu không thành nhưng đẹp hay ngoài chồng ngoài vợ” của sự lỡ làng mà sao vẫn lãng mạn: Khắc đấu mạn thuyén (Bio Ninh), Mia hoa cdi ven sông (Nguyễn Quang

‘Thiéu), Nguoi đẹp bên suối (Nguyễn Mạnh Tuấn), /fiu húu gió bắc (Nguyễn Ngọc Tu), Gide mo dén từ quá khứ (Chu Thu Hằng), Thị trắn hoa quỳ vàng (Trần Thùy

Mai), Cuộc chía tay bắt thành (Vương Tâm), Gà áp bóng (Y Ban), Làm đẹp (Đoàn Lê), Trên cao nguyên mờ sương (Nguyễn Thì Minh Thái), Ngày xưa noi đấy lã cửa rừng (Sương Nguyệt Minh), Người nh của cha (Từ Nguyên Tĩnh)

“Thời kỳ này xuất hiện rất nhiều truyện ngắn mang dấu hiệu của tính nữ

phân mình của người phụ nữ nên dám chấp nhận thách thức để được yêu, được thôa mãn mà không dẫu diễm: Bước qua lời nguyễn (Ta Duy Anh), Hau (hiển đường (Nguyễn Thị Thu Hug), J'am dan ba (Y Ban); đó

là nỗi dau chối bỏ thân thể và quyền được nạo thai: Dan bd (Sương Nguyệt Minh),

“Bức tr gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban) Nêu mỡ rộng sang cả tự truyện, tiêu thuyết thì có

Trang 30

thể thấy, xu hướng này ngày càng phát triển mạnh mè: Lé Van, yéw va sống (Bùi Mai Hanh và Lê Vân), Tién định (Đoàn Lê), 4ó tim déi sim (Phan Thi Thu Quy), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân) Sau 1975, văn học Việt Nam hình thành hẳn một đội ngũ nhà văn đông dão, trong đó, các cây bút nữ là một lực lượng đáng nễ Họ, bên cạnh phản ánh muôn mặt đời sống xã hội, con người của thể giới hiện thực thì cũng dành một khối lượng không nhỏ để viết về mình, về những đặc điểm riêng của giới mình (kiểu “tự ăn mình”) trên tính thần mới Trong bài viết Vấn xuối thể hệ các nhà văn nữ sau 1973-từ diễn ngôn giới, tác gia Thái Phan Vàng Anh có nói: "Các nhà văn nữ đã cùng nhau làm nên một dòng văn học nữ giàu bản sắc, tiếp tục cắt lên tiếng nói của nữ nhân Việt Nam Tiếng nói nữ giới ấy không còn là tiếng nói cá nhân, nhỏ lẻ như những thời kỉ, giai đoạn văn học trước Tiếng nói phụ nữ trong 30

năm đổi mới đã là tiếng nói chung của giới nữ Nhờ sự tập hợp đông đảo ấy, các

nhà văn nữ sau thé hệ 1975 đã không chỉ khẳng định ý thức giới tính mà còn tạo nên một diễn ngôn của giới mang dâm âm hưởng nữ quyền” (phebinhvanhoe com vn)

1.2 BỨC TRANH NỮ TÍNH NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGAN VIET NAM SAU 1975

1.2.1 Hiện thực đắt nước, con người sau 1975

"Như đã nói, hiện thực đời sông, con người sau năm 1975 đến nay đã thay đổi mạnh mẽ Kể từ sau tháng 4/ 1975, khi miễn Nam được hoàn toàn giải phóng, tổ quốc ta sạch bóng quân thủ, Nam Bắc thống nhất, sum họp một nhà đất nước

‘mang khuôn diện khác Nhân dân cả nước hồ hởi, phơi phới niềm tin về một chế độ mới, cuộc sống mới tran đầy tương lai ở phía trước Nhưng rồi, chỉ sau một thời gian ngắn, hiện thực đất nước phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn, thách thức mà

có lẽ trước đây người ta không hình dung ra: chiến tranh ập đến ở cả hai đầu biên giới và ngoài hải đảo; tình trạng ngăn sông cắm chợ xuất hiện đã làm nơi khủng

hoảng thừa lúa gạo, nơi “mặt vàng như nghệ” vì cái đói của những năm 80; đất

nước thống nhất nhưng lòng người chưa bản đã thành một khối; biết bao nhiêu hậu

“quả của cuộc chiến 30 năm không phải ngày một ngày hai có thể khắc phục được; các thể lực bên ngoài bao vây cắm vận đất nước; toàn bộ tư duy sắc nhọn của chúng

ta dồn cả vào phục vụ chiến tranh nay tiền hành tr duy kinh tế không dễ gi ép dung được Thể nên, sau những phút giây "Đất nước tron niém vui”, con người nhận ra tất nhiều giá trị đã/ phải thay đổi: thay vì nói cái “ta” lý tưởng dân tộc chung, giờ phải nói nhiều hơn về cái "tôi” thân phận; thay vì chỉ nói cái hiện thực vĩ đại, chói loa, gid còn phải đề cập đến những nỗi đau, sự mắt mát; thay vì phản ánh cái that”, “hing hồn” được mặc định đồng nghĩa với mặt tươi sáng, kiểu "ta thắng địch thua”, giờ còn phải nói đến những góc khuất, điểm mờ của hiện thực; thay vì chỉ

hiểu các phạm trì một cách siều bình, cứng nhắc (không ta là địch, không tốt là xấu,

không cách mạng là phản động ) mà phải hiểu nó một cách linh động hơn, uyễn chuyên hơn, da dang hơn; không phải chỉ nối cái "đại tự sự” mã còn phải nói nhiều

in vat", “tiêu tiết” Cứ thể, rét nhiều giá trị được khẳng định

Trang 31

26

trước đây, nay đã bị đảo ngược Nhưng cần thấy, điều này không hoàn toàn sai và không phải thế hệ sau “hư hỏng”, quay ra phản bội thể hệ trước mà phải xem đó là biên chứng: Có cái thời đại này xem là đúng, hợp lý, là ưu điểm nhưng thể hệ sau không thể giữ nguyên giá trị cũ Nói như Lê-nin *Néu cứ kéo đài mãi cái im điểm thì sẽ trở thành khuyết điểm” Hiện thực xã hội, con người thay đôi đã buộc văn học không thể cứ phản ánh bằng cách nhìn cũ, tư duy cũ mà cần có sự nhận thức lai Bối thể, quan niệm về nữ tính, nữ quyền cũng phải chỉ đặt trên tỉnh thần ấy mới thỏa đáng Có thể nói, đến nay (sau 1975, và nhất là sau 1986) vấn để nữ tính, nữ quyền đã được quan niệm đúng mức hơn trong xã hội và được phản ánh nhiều hơn trong văn học

"Nếu như trong nhận thức của đời sống xã hội có một thời ta gọi là “quán tính

sử di” kéo đài khoảng mười năm (1975 - 198), thì trong văn học cũng có "quán tính” như thể Nếu trong đời sống xã hội, "cột mốc” đánh dấu sự chuyển giao nhận thức là Đại hội Dang Công sản Việt Nam lần thứ VI với tỉnh thin Đổi mới quyết

liệt, toàn điện, “cởi trói”, “tự cứu mình” trên nhiều lĩnh vực thì “cột mốc” trên địa

hạt văn chương có lẽ là tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lưu Hình tượng Giang Minh Sài trong tác phẩm khiển người đọc phải “nhận thức lại” các giá trị trước đây (du thuyết này thực ra cũng là kết quả của rất nhiễu những tác phẩm ký, thơ, kịch, truyện ngắn của mười năm trước) Đó cũng là lý do khi đề cập đến vẫn đề nie tink,

iz quyén, luận văn chúng tôi tập trung khảo sát những truyện ngắn trong mười năm

này và mười năm tiếp theo (1975 - 1995)

1.2.2 Nữ tính, nữ quyỀn trong truyện ngẫn Việt Nam sau 1975 `

“Bắt bình đẳng giới mà cụ thể Ìà hai phường điện nữ tính và nữ quyền đã nhận được sự quan tâm của mọi giới, mọi quốc gia và vùng lãnh thổ Trong văn học, nó được đề cập đến từ lịch sử hàng ngàn năm, trên mọi thể loại Luận văn của chúng tôi chỉ mới giới thiệu một thể loại (truyện ngắn), trong một nền văn học (văn học viết Việt Nam), ở một giai đoạn (1975 -1995) nhưng đã cho thấy một bức tranh tông lớn với muôn màu sắc Trong phạm vi luận văn, chúng tôi mới chỉ nhìn nhận

bức tranh ấy ở những mảng màu (trong truyện ngắn của cả nam lẫn nữ) như: về nỗi

dau thân phận người phụ nữ sau chiẾn tranh; về tình người và những mi quan hệ nhiễu chiều của người phụ nữ sau năm 1975; về sự đấu tranh cho khát vọng và

những “quyền” của người phụ nữ

6 tren di có đề cập, sau 1975, đắt nước chúng ta, một mặt vừa mang đến cho son người những niềm vui lớn lao nhưng mặt khác, con người cũng phải đối mặt với những đ vỡ, những sang chắn tâm lí của buổi giao thời,

mới chưa kịp hình thành Văn học thời kì này cũng là thời điểm mở đầu cho cuộc hành tình *mhận thie lai” Nguyễn Minh Châu, người đọc lời *ai điểu” cho một giai đoạn văn học minh họa, đồng thời mỡ ra một về hiện thực, con người Chẳng hạn, chiến tranh không chỉ được nhìn ở góc độ “ngảy hội”, “niềm

‘vui”, con đường ra trận không chỉ có “đẹp lắm” mà còn được nhìn từ những mắt

Trang 32

mắt hì sinh, từ “sỗï bu chiến tran” Nhà văn lúc này dám nhìn thẳng, nhìn thật

để nói thẳng nói thật Quan niệm nghệ thuật về con người cũng có sự thay đổi Không chỉ nhìn con người một cách phiến diện, một chiêu mà góc nhìn trở nên đa chiều, đa điện với những tốt- xấu, vàng- thau lẫn lộn Đặc biệt là sự trở về của ý thức cá nhân và tỉnh thần đối thoại cao, hình mẫu nhân vật tự thú, nhân vật phản tỉnh xuất hiện nhiều trong văn học Điều này thể hiện rõ trong shy cua Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo ký của Minh Chuyên, Phùng Gia Lộc kịch của Lưu

“Quang Vũ v.x Truyện ngắn là một th loại xung kích rong đội quân đông dio đó với những mảng mầu nỗi lên đáng chú ý

1-22.1 Nỗi đau của số phận người phụ nữ

Dé tai, moti này không mới, nhưng truyền n

mới và có lối viết mới Chẳng hạn, nét thủy chung chờ chẳng của người phụ nữ là

đề tài quen thuộc trong văn học ta Nhưng các nhà văn không khai thác nó nhằm

ngơi ca mà dường như là để chía sẻ, cảm thông với những tình cảnh éo le mà hậu cquả chiến tranh đưa đến cho người phụ nữ, Những ba An, ba Mat (Hai người đản

bà xóm mại- Nguyễn Quang Thiều), bà Rúm (Vui bi: con gà mồng - Nguyễn

“Quang Lập) đằng dẫng chờ chồng hàng chục năm chỉ biết đến TẾt gói bánh chưng đợi chồng về ăn Tết hoặc lấy tiếng gà gáy làm niềm vui, hoặc Hiện (Dòng sống trinh nữ - Sương Nguyệt Minh, My (Hoa gạo tháng 3- Trần Thanh Cảnh), Hai Mật (Trén mắt nhà người phụ nữ- Dạ Ngân), Nhàn (Hồi ức làng Che- Nguyễn Đức Thọ) đầu phải mong được làm hòn Vọng phu mà là những "tượng đải không mong muốn”!

“Chẳng hạn, Người sốt lại của Rừng Cười của Võ Thị Hảo [44,225] mô tả về tình cảnh của các cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ coi kho quân nhu "im lìm nếp tong vòng tay ma quái của rừng sâu Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân

ạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi” Thảo và 4 người chị sống trong cảnh xa con người, xa đần ông nhiều năm, nước suối và những rễ cây lim đã làm tóc hho rung gin hết, các chị cổ giữ cho đứa em út Thảo bằng mọi cách cũng chỉ cằm cự được một thời gian thôi Ghê rợn hơn, họ đã không còn dễ phân biệt giữa người và

ính đến lĩnh quân tang đã hết hồn tướng họ là vượn- "hình như có con vượn trắng vừa nhảy từ chỏi canh xuống và lẫn vào đám lá”, “một đối tay từ

đâu đã ghi chặt lấy cỗ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nay”, khiến

anh lính cảng bảng hoàng gắp đôi khi nhận ra con vượn trắng kia "lại là một người

vn trần truộng, tóc xỗa, về mặt bơ phờ và đang ngửa cỗ ra sau cười Xhanh khách” Kinh hoàng hơn, lúc ấy “trên sản chỏi khắp khnh, ba cô gái dang vừa cười vừa khóc, tay dứt tốc và xé quần xế áo” (.227) May mắn cho Thảo là chưa bị bệnh nặng đến múc ấy và Thảo cũng thoát được cảnh bị bọn địch giết hại đã man khi chúng phát hiện ra cái kho ấy Nhưng ai mà biết được Thảo sẽ ra sao nếu

cứ sống triển miễn năm tháng trong không gian ấy?! Quả thật, như nhật ký của Hiện, người chiến sĩ cứu họ trong cơn điên loạn ấy (và vỀ sau cũng hỉ sinh): “sau

Trang 33

28

chín năm ở chiến trường, nay tôi đã nhìn thấy Rừng Cười cái cười méo mó man dai của chiến tranh Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào chiến cuộc thật khúng khiếp Tôi sẵn sàng chét hai lin cho họ khôi lâm vào cảnh ấy” (r.231) Ta có thể tin lời Hiên bởi anh và những người lính ấy là người ong cuộc, dúng giữa thé dy

‘Tuy nhiên, số phân Thảo cũng không khá gì hơn Sau khi được trở về, trong hình hai "đôi mắt cô như mắt của người đang đi trong một giấc mộng dài Làn da tái xanh vì những cơn sốt rừng” Thành, người yêu cõ ra đón ở sin ga, gấp Thảo “vai đeo ba lô", “thân hình gầy gồ trong bộ quân phục lạc lõng, làn môi nhợt nhạt, mái tóc xơ xác” khiến anh “ngỡ ngàng đến không thốt nổi một lời” Thảo thoắt nhận ra

và “mắt cô đong đầy nước him tii” Gidy phút Ấy Thảo đã nhận ra, thể là hết, mình

sẽ không côn yêu Thành được nữa vì “anh sẽ thấy rằng yêu một người như em la hi sinh quá lớn” Và rồi, đủ được vio dai hoc văn khoa nhưng Thảo không còn được sống đời sinh viên vô tư nữa Giống như các chị trước đây, Thảo cũng phải trả

“món nợ của rừng”: "Thảo đã bị điên Esteris” trong đêm tân hôn của Thành với người con gái Hà nội cùng lớp ở đại học Tổng hợp Tháo bô di đâu biệt tích không

t cả mọi người đều khổ, Nhưng khổ nhất có lẽ là người phụ

nữ Và Thảo là người con gái trẻ nếm mùi đau khổ ấy

Hai người phụ nữ trong Hai người đân bà xôm trại của Nguyễn Quang Thi [E6,T3, tr256] lại là nỗi dau thương khác Bà Ân và bà Mặt thuở bé “đều mồ côi bố

mẹ và lớn lên lấy chồng” là hai anh Vệ quốc Chị em họ dắt díu nhau ra xóm bãi

nảy lập nghiệp, còn hai người đàn ông của họ theo đơn vị bộ đội vượt sông, chỉ k nhắn với họ một câu: "hai chỉ em dọn về mả ở với nhau Đến Tết, kháng chi thành công chúng tôi vÈ" (tr261) Lời dặn như một lời nguyễn, một niềm tin bởi chuyện ấy xảy ra khi hai cô Ân, Mật mới chừng 20 tuổi mà giờ đã thành hai bà lão

“tóc đã bạc trắng”, lũ lẫn quên hết mọi chuyện, ăn cơm với tếp mà khi ho cứ kêu là

“hóc xương cá rồi"! Nhưng chỉ có câu “Đền Tết.) chúng tôi vÈ" là trở thành ký

ức ăn sâu vào ho, Vay nên TẾt nào cũng “cả bai lại xuống bến rửa lá đong và vo

#ao Má họ rực đỏ trong giá lạnh cuối đông”, luộc bánh rồi “chọn những chiếc bánh đẹp nhất, chắc nhất để phản hai người đàn ông của họ” Mấy chục năm sau, khi không nhớ gi nữa cả, nhưng Tết đến bà lão Ân vẫn hỏi: "Thể bà định Tết này gồi bao nhiều bánh?" và bà Mật: “Cứ bảo mẹ Phấn nó mua cho đủ lá gói ba chục cái Minh thì ăn là mắy, nhưng nhỡ có ai về ” (tr270) Thử hỏi có nỗi đau nào, niềm thủy chung nào của những người đản bà chờ chẳng hon thé? Truyện ca ngợi niềm thủy chưng nhưng sao lại khiến người đọc thấy nó bủi ngùi từ phương điện bí kịch của nỗi đau khổ?! Kiểu bí kịch này còn có ở Nhàn (Hi tee lang Che- Nguyễn Đức Thọ), Ái (Sinh vào đêm trăng sáng- T “Thước), "Chị” (ffo đã trở thành đàn công- Phạm Ngọc Tiến) và nhiều người đân bà khác nữa

Trang 34

1.2.22 Tinh người và những mỗi quan hệ nhiều chiều

Hiện thực cuộc sống, con người sau 1975 có rất nhiều giá trị bị đảo lộn Theo

46, ình người cũng đảo lộn cung bậc làm cho lỗi sống giờ đây mang những gam màu khác

“Truyện ngắn sau 1975 dung chứa muôn mặt cuộc sống được/ bị phơi bày: tập thể - cá nhân (Bước qua lời nguyễn- Tạ Duy Anh, Cái bóng cọc- Bùi Hiễn, ); tình người sau chiến tranh (Giác ngủ nơi trần thế- Nguyễn Thị Âm, Con chó và vụ 1i hôn- Dạ Ngân, Dia của tao hỗa- Phạm Hoa, Tiếng Khẻn bè- Nguyễn Quang Lập, Kịch cém- Phan Thi Vàng Anh, Kẻ sát nhân lương thiện- Lại Văn Long ); những mỗi quan hệ nhiều chiều (Kiểm di- Phạm Thị Hoài, *Thúy chung”, bài ca của đàn

bả Trần Thị Trường, Người sót lại của Rừng Cười Võ Thị Hảo, Thị trấn hoa quỷ vảng- Trần Thủy Mai, Cơn mưu cuối mùa- Lê Minh Khuê, Không có vua- Nguyễn Huy Thiệp, ); vượt qua những lễ thỏi, quan niệm cũ (Mùa hoa edi ven sớm Nguyễn Quang Thiều, Xươ kia chị đẹp nhát làng- Tạ Duy Anh, Đi qua đồng chỉ

“Sơn Nguyệt Minh ); bi kịch tỉnh yêu và khát vọng bản thé đản ba (Tinh yéu oi, & đâu), Hậu thiên đường- Nguyễn Thị Thu Huệ, Bức thư gửi me du Cơ, lam đàm

Y Ban, Dan bả- Sương Nguyệt Mình, Trăng nơi đáy giéng- Trin Thùy Mai) v Như trên đã nói, đề tải, motif khong méi nhưng cách tiếp cận, lỗi viết đã khác Ví

dụ, lỗi viết đưa ngôn ngữ đời thường, thông tục hóa ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ tính dục trong các truyện cũng là một yếu tổ rất mới mà văn học 30 năm trước đó tắt Ít, nếu không muốn nói là không hề xuất hiện (Bóng đề - Đỗ Hoàng Diệu, fam đàn bà - Y Ban, Cánh đẳng bắt tận - Nguyễn Ngọc Tư, Sang sông - Nguyễn Huy

“Thiệp ) Cần phải hiểu, tính dục như một nhu cầu tắt yêu của giới nữ, nơi thể hiện những khao khát nhân bản, khẳng định nhân vị của người phụ nữ, nó cũng là phương diện biểu hiện rồ rệt của ý thức nữ quyển

Mặt khác, trong thực tiễn đời sống đã lộ diện một số giá trị từng được khẳng định trước đây (trong truyền thống và nhất là giai đoạn 1945-1975) nay trong hi thực mới đã diễn ra không còn nguyên giá tr, thậm chí trái ngược hẳn Điều đó làm cho nội hàm của tình người giờ đây không còn hình ảnh đẹp đề kiểu như thuở trước Ching hạn, nếu như trước đây con người lấy cái tình làm trọng (tinh làng nghĩa xóm, tình người ra trân với người hậu phương, tỉnh đồng đội, tỉnh yêu nam nữ )

thì nay đường như tiêu chí tình người không hẳn là tiêu chí duy nhất Ví như,

Nguyễn Thị Âm viết Giác ng nơi trân thé [44, tr261] để bộc lô nỗi đau về cái gọi

là tỉnh mẫu tir bay gid Những người đần bả mà "nghề nghiệp” chỉ là suốt ngày

“chúi đầu vào một cỗ tam cúc” và dé con chi để cho kẻ khác thuê lâm công cụ ăn xin Vì là ®công cụ ăn xin” nên nó phải được nhét Xéduxen cho ngủ li bi Khi thing

bé đang khóc ngẫn ngặt, cô gái (huê nó đã dùng nước máy công công cho uống thuốc, nước nhỗ giọt yến quá không kịp, cô ta “c ing bé Vi

trắng được tọng vào họng nó Tay kia cô vớt nước ở vũng đưới vôi máy, đưa vị

họng thằng bé Thẳng bé sặc nước, nhưng rồi viên thuốc ngủ cũng trôi vào ruột

thuốc màu

Trang 35

30

(01.25) Và rồi, cái công cụ xin ăn đấy bị ngắm thuốc, ngủ trên tay cô “như một

chiếc tã rách”, theo cô đến mọi nẻo đường, từ via hè đến ga Hà Nội trong hình hài

mẹ con nhà quê cơ nhỡ đã gây nên lòng trắc ẫn của bao nhiêu người Họ móc những đồng tiễn từ lao động của mình chia sẻ cho "mẹ con” cô: người lính già khi nghe cô

kế chồng cô cũng là lính hí sinh ở Campuchia, ở quê cô mắt mùa, gia đình bỏ mặc đã tách đôi xắp tiền của mình cho cô, năm phút sau một cụ giả đáng quê cho

cô năm nghìn, méy anh lính trẻ về phép cho cõ năm nghìn nữa Cứ thể, cõ gái mé

"mãi kiếm tiền trên thân đứa bé, trong khi trời mưa, “đùi thẳng bế bất dầu nước mưa chảy” và túi tiền cô “từ giờ đến sáng, có lề nó phải kiếm được hai trăm nghìn” (tr28) Cho đến 12 giờ đêm, quá muộn gi trả "công cụ” thì thẳng bé đã lơ mơ tỉnh nhưng nó quá mệt và đôi và ngắm thuốc ngủ, cô gãi cũng chẳng kip mua cho nó

chút cháo nhưng vẫn nói với mẹ nó là cho ăn rồi nên đương nhiên, khi trời sán

người mẹ đẻ so dén thi “Thing bé thöng thượt Nó đã chết Người nó xám đ: (tr29), nó sẽ được lên thiên đường chơi cùng bạn bởi “Hơn một năm nó sống dưới trần gian, nó toàn được ngủ!” Thiết nghĩ, không cần bình luận thêm về cái tình mẫu

tử của những kế đân bà làm “mẹ” này! Hoặc Phan Thị Vàng Anh trong Kịch cám lại bảy ra những "trò chơi” văn chương giữa mình với người cha lỡ ngoại tình bị mình tất gặp Từ đó hai cha con ký một “thông điệp” ngằm mà người sợ bãi đến nô lệ đứa con lại là người cha! Tờ giấy photocopy lời cha nó hẹn tỉnh nhân được nó giữ

kỹ rồi trao cho cha một bản và "cười một cái cười ngang hàng, không phải của con

dành cho bổ Một trật tự mới ngay lập tức được thiết lập” Nó quan sát bổ nó, ông

"Hiệu phó cấp III sáng sáng cắp cặp đến trường và mia “Di giảng dạo đức đẫy!” Nó quan sắt mẹ nó, và ý nghĩ độc địa xuất hiện “Nếu bây giờ có một dám cháy, cho mẹ cứu một người duy nhất, hn mẹ sẽ cứu bổ”! [%6, TỊ, tr46-47] Rồi cái cảnh người

chơi trong ngày miền Nam vừa mới giải phóng (Thợ lâm móng ray - Dương Thu Hương): "tôi cứ lơ đi một chút là đem tiền

xủ ba con đi đi nhây, di xinÊ”, “Tao mà gặp thì tao đổ axit cho dui mắt, tao thuê ba thẳng du côn thí mạng luôn ” (48, tr 124-125], hay cảnh người vợ Đoan hắt hi chi chẳng khi chị bị bệnh lên Hà Nội ở nhờ nhà vợ chồng em trai Vợ Đoan đã vì sống trong cảnh nghèo khổ của thời bao cấp nên tạo ra thi quen “Tĩnh lương xong, mỗi khoản chỉ, to nhất như mua gạo, mua đầu, nhỏ như tiền cất tóc, xà phòng, kìm chỉ, y đều chia, cho vào từng phong bì, phân miêng, không khoản nào dược lẹm sang khoản nào” Nay có chị chống ra , thị sợ tốn kém trong cái thời “gạo châu ci

“quế” nền đặn con lường từng bơ gạo, từng giọt nước mắm, cổ tình cho chỉ dâu nghe được một cách bắt nhẫn mà không h hiểu rằng người chị dâu “Hà Nội gốc” nhưng yêu rồi lấy chẳng quê và giờ chẳng sinh ra rượu chè, nợ nẵn, bán hết cơ ngơi và đẫy chị đang mang trong mình căn bệnh quái ác phải vẻ lại Hà Nội chữa chạy (t-313) (Qua như lời Ma Văn Kháng trong truyện: “Trời ơi, mẫy chục năm qua, sự cạnh

tranh của đời sống khốc liệt đến mức nào mà cả những con người hiền lành, thân

thuộc với nhau vẫn không thoát thói quen thường trước là phải xoi mới lẫn nhau,

Trang 36

phải tìm ra sự khác biệt để đối lập nhau, trái ngược hẳn với đời sống hỏa đồng vốn dinén bay giờ bà há miệng mắc quai?” (S0, tr.333) Người đàn bà "suốt đời mang trái im thiếu nữ” dẫu đã ba mươi sáu tuổi, sống với con trong một căn phòng-ga tầu trên tầng năm mà hành khách toàn đàn ông (Kiểm ái- Pham Thi Hoai) [45, t.93], làm tình với các ông khách từ số 1 đến số 7 công khai trước con mình! Rồi còn muôn cảnh đời, tình người, các mỗi quan hệ khác nhau như trong truyện Người đản

bà choảng khăn của Đức Ban [56, T1, t.133] ké vé s6 phận cô Bở bị tai nạn nên tật nguyễn từ nhỏ, kể cả khi xung phong vào bộ đội cô vin trim khăn Bao nhiều năm coi kho giữa rừng, hết chiến tranh cô về làng thì anh trai định cư nước ngoài không chịu về, cha chết để lại căn nhà khang trang do anh cô xây cho cha như mét ngt

cử của chữ hiểu đễ từ nay biệt tích Nhưng căn nhà duy nhất ấy của gia đình cỗ được Ủy ban xã “mượn tạm” cho nơi làm việc Ngày cô về, chủ tịch xã thương lượng một cách trắng trợn và xúc phạm người nữ chiến sĩ này: *Chúng tôi sẽ cắp

tử tẾ, sẽ dựng cho chị một ngõi nhà từ tẾ chững 10 mét vuông Một mình chi cin gi nha to, ring, Hi và câu nói tiếp theo của anh ta khiến “nỗ tung trong lòng Bờ cái gì đó tích nén lâu nay”: "Một thân một mình, ở nhà rộng thêm lạnh lùng, cô Bờ hé! Chồng con thi không ” (140) Thể đấy Người ta đã lạnh lùng và tàn nhẫn đối xử với một người dan bà chẳng những bị lười câu vương phải Tâm nết mặt ngang đọc đầy vết sẹo phai trim khan che mat, “giờ có thêm vết bông

vì bom Mỹ nữa” khiến cô phải bỏ nhà, bỏ làng đi biệt tích “Từ ngày ấy, không ai

gặp chỉ Bờ, không ai nghe tin tức gì về chị” Bao nhiêu năm sau người ta mới pt hiện ra vị sư Bồng trụ trì chủa Độ chính là cô Bở! Chu Lai trong truyện ngin Phd nhà bình [44, tr325] miêu tả mỗi tình của Hương và Thắm được gắn kết từ trong những ngày ở chiến trường Họ càng hạnh phúc hơn trong đời thường sau chiến tranh khi hai vợ chẳng có bé Hương Thảo hết sức dễ thương Rồi Hương đi xu khẩu lào động với mơng muốn có tiền thì hạnh phúc sẽ viên mãn hơn Kết cục, cuối tác phẩm Hương sa vào vòng tay của “chú gì tr trẻ, nói tiếng Nam bộ, nghe nói là giám đốc hãng điện từ” thuê căn nhà mới của Hương-Thẩm làm cửa hàng Họ lén lút yêu nhau rồi cùng nhau ra bãi biển Sầm Sơn, đến ngày thứ năm Thẩm có gi

ir diy, Thẩm, một ching si quan "cao (o như lực sĩ, cười ha ha, giọng oang oác, vui chửi tục, buồn cũng chữ te, mặt mày lúe nào cũng rơi tinh rỡ rằng như sắp sửa vào cơn hưng phần” ( 327), nay biển thành “một người đàn ông râu ria xa lạ, tóc dài bờm xờm, nhàu nát ngồi bên mâm cơm lỏng chóng mắy cái bát, ái đĩa lạnh ngất, bên cạnh có chai rượu trắng đã cạn gần sát đáy” và đang quit mắng đứa con gái tội nghiệp mã trước hai vợ chồng vừa yêu thương vừa tự hảo: "Mày còn thương lắm a? His? ( ) Cat! Cat di theo con dT me may! Cit! Gig a! Sao tôi khổ nhục thể này?” (tr345) Cai tinh người sau chiến tranh nó sao mà phức tạp, mà nhiều khi tàn nhẫn,

Trang 37

2

đớn đau! Tắt nhiên, dù hiện thực thể nào thì có một mỗi tinh bắt tử, mãi mãi không đổi thay, 46 la tink dng đội của những người lính đã đi qua chiến tranh đối với những người trở về mình đầy thương tật, cảnh ngộ khó quên và nhất là đối với

những đồng đội nằm lại rải rác nơi chiến trường Tiếc rằng, văn học viết về cái tinh

này hiện chưa nhiều lắm Có hai truyện ngắn mà số phận người phụ nữ gin gin như nhau, đó là chị Túc trong Xø kia chi dep nhdt lang của Tạ Duy Anh và chị Quy trong Người đân bã trên chuyển tâu tắc hành của Nguyễn Minh Chau Cé hai người đản bà này đều xinh đẹp và tài giỏi, rất nữ tính Chị Túc “Ở vào tui mười tám chỉ tươi rối như một bông hoa Với thân hình thon thả, bờ vai chị tròn trịa, lẫn trong chiếc áo màu nâu tươi Không biết bao nhiêu cặp mắt sĩ mê đã đâu vào đó Không biết bao nhiều lời mây gió đã thoảng qua tai chỉ”, “Tiếng cười của chỉ vô tư như chính vẻ duyên dáng của chị" [6,TI, tr86, 87] Chi Túc cũng là người con gái rắt giàu nữ tính kiểu "Công, Dung, Ngôn, Hạnh”: Hội làng thì nấu cơm với chủ đề "gái đâm hậu phương”, từ vòng Ì (có gói, nẫn cơm trên cạn), đến vòng 2 (người vợ, nấu cơm dưới nước) và cả vồng 3 (người mẹ, nẫu cơm trên thuyền thúng, bồng theo một dứa trẻ rất nghịch) chị đều được Ban giám khảo “là các cụ rất khó tính, sảnh ăn chỉ việc xếp chị Túc lên hàng nhất” (t 92) Chị y st Quy của Nguyễn Minh Châu cũng

là người đàn ba đẹp đẽ và rất đối tải hoa Mười tắm tuổi Quỷ vào linh, vẻ đẹp của

“Quỷ khiến từ người trạm tưởng đến những người linh hành quân qua nghĩ lại trạm

đều trằm trồ, mong ước và đấy lên một tình yêu, một khát vọng Quỷ cũng là người

được phân công nhiều công việc và việc nào chị cũng làm xuất sắc: từ y tá, gi: liên, văn thư, cắp dưỡng, chị đều được cấp trên tin tưởng và khẳng định Đặc bi giữa chị Túc và Quỷ đều say mê tình yêu và hướng cái say mê Ấy của mình về một đối tượng: người lính Chị Túc được tắt cả những chàng trai mới chớm tuổi mười tim trong các đơn vị bộ đội "ầm ầm kéo đến làng tôi, 6 lai vai thing đủ để thương

để nhớ” rồi lại vội vã ra đi, và cuối cũng là hàng trăm lá thư gửi về lãng, lá thư nào cũng hoặc là viết cho chị Túc hoặc là viết cho người làng thì cuối cùng bao giờ cũng có tái bút “gửi lời chào cô Túc” Chị Túc chỉ đau đón, ân hận một điều là

*Đêm chia tay anh ấy chỉ in cằm tay cháu một lần ma không được hả anh ấy đau khổ lắm hức hức ” (0.90) và chị quyết đăng

xuân để chờ anh trở vẻ Nhưng rồi sau ngày hòa bình không có một người lính nào trở lại làng chỉ được và chị Túc thì đã bước sang tuổi ba lãm, hàng ngày "lặng lẽ đến bưu điện lục tìm điên cung trong đồng thư gửi từ miễn Nam Chị cm lặng làm việc mô kim đáy bễ ấy suốt cả thắng ròng” mà “vẫn không thấy dẫu hiệu nhỏ nào của những người từng hẹn” (tr.97) Còn chị Quỷ thì đã kịp được có rất nhiều tình yêu mãnh liệt như anh tiêu đoàn trưởng da hi sinh, như Hậu, như kỹ sư P đặc biệt

“Quỷ đã làm được cái việc "tây trời” lúc ấy là đáp ứng nguyện vọng của người lính trẻ ngây mai vào trận, không sợ chết, chỉ tiếc là chưa được biết thân thể một người con gái Quỳ đã là người chị, người mẹ, người yêu trong lần cho anh lính trẻ được biết mùi đàn bà Chỉ có tình yêu mạnh mẽ, cao thượng với người chiến sĩ lúc lâm

Trang 38

trận mới có được sự ứng xử như Quỷ (ong một xã hội, một thời kỳ mà cái "tỉnh tiết đồng nghĩa véi “phim ti”), Và những kẻ nảo lúc ấy hay sau này lên giọng đạo đức phê phân hành động của Quỷ chính là những kẻ vô cảm vả không hiểu gỉ

trái tim, tâm hồn, tình cảm, sự dâng hiến của người phụ nữ cả! Đắy cũng chính là

chỗ cao thượng của tính nữ Kết cục số phân, chị Túc *sắp tuổi bốn mươi”, "da mặt xanh xao, hơi có dấu hiệu phù nÈ”, trở thành một thân phân héo mòn, cô đơn, *rồi

cả làng lại thấy chị Túc ra đi, âm thắm như con vạc lẽ đản Lần này chị đi là đi một biệt"! (r98) Còn người đàn bà đẹp đế, giỏi giang Quỷ thì trở thành người bệnh hoang tưởng, vật vờ đi lại, ban đêm nhòm ngó vào từng phòng của bệnh viện! Sau

tidp một truyện ngắn Bức chân dụng của người đàn ba la, E0, tr313] hồi ức về một cô giao liên rong lần nhỏ rừng giả một đêm mưa với

người họa sĩ trẻ đã hiến dâng cho anh tắt cả Sau đêm đó mỗi người ra đi vào chiến

trận, đến cái tên cô anh cũng không biết Biển biệt nhau khi mỗi người đã có gia đình, cô từ giã anh khi cơn bao bệnh đã vào độ cuối và dé con gái cô đến gặp họa sĩ

ấy bức chân dung mà cô đã lặn lội 200 cây số đến đặt anh vẽ sáu thắng trước đây

“Cô không quên anh, dầu chỉ là khoảnh khắc gặp anh trong chiến tranh, bởi “Đó là mỗi tình đầu, là lần dâng hiển thứ nhất, trọn vẹn và say đắm không bao giờ có được nữa” (tr94) Chu Lai đã mượn lời của cô nói về giới minh: “La thé! Trong trải im yếu dudi cia dan ba chúng cm, có những góc sâu lắng mã đàn ông các anh ồn ào không bao giờ hiểu nổi đâu” (tr.96) Đúng là phải hiểu như thể mới giải thích được

sự tận hiến của người đàn ba trong những cảnh huồng cụ thể ma không được dung tục hóa, tắm thường hóa nó! Truyện ngẫn côn viết về rất nhiễu những tinh người cương quyết, mạnh mẽ như Vit digu dia ngục (Võ Thị Hảo), quyết liệt như Cát đợi (Nguyễn Thị Thu Huệ), dâng hiển không tính toán như Cñiếc lá xanh hạnh phúc (Nguyễn Thị Ám) Tất cả thể hiện cái tỉnh người sao mà kinh sợ, mã tần nhẫn

"Phải chăng, nói như Võ Thị Hảo: “Thể hệ chúng con khác mẹ Chúng con đi đến tận cũng nên nhiễu khi tân nhẫn”?! [cả T4, tư.193]

Dĩ nhiên, khi nói về tình cảm và những mồi quan hệ nhiều chiều trong truyện ngắn sau 1975 không thể không đến tình yêu và hôn nhân - sự dim đuổi nhưng cũng day dang dé va bi kịch Truyện đã thể hiện mọi cung bic cảm xúc của

tình cảm này bằng đủ sắc màu và dạng thức

“Có những tình yêu trẻ thơ, hồn nhiên mà đắm đuổi, say mê đến bắt chấp như

6 gai trong Hau thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ |44, tr280] Người din ba

‘26a da 6 tudi bén muri bao liu nay chỉ vui sống ở những nơi “nhạc đìu đặt Những ngọn đèn mở ảo và ngào ngạt trăm nghìn loại nước hoa” và “luôn ở ngoan ngoan trong tay hết người dan ông này đến người đàn ông khác nhưng của ai cụ thể thì không có” (tr.282, 283), đến nỗi “lâu nay tôi để tuổi thơ của con trôi qua tong nỗi buồn của sự cô đơn va hứng chịu nỗi cay ding của người dân ba bị phụ bạc” Sinh

nhật mười sáu tuổi của cô gái cũng là thời khắc kết thúc cuộc đời của bà mẹ khi bà

đi tìm con trong tâm trang hoang mang vô định và gặp tai nạn ô tô Nhật ký cô gái

Trang 39

“say đấm vuốt ve tóc hắn, mái tóc thưa bết lại” Nói như Thu Huệ: "Hóa ra đàn

bả, ai cũng có những kha năng đặc biệt giống nhau: Yêu đương, ghen tuông và cuồng si" (t.297), Y Ban trong Bức thư gửi me du Co [44, tr 30] cũng miêu tả cô gái 16 tuổi “vừa bước vào tuổi dây thì đã vội làm mẹ” và giờ là một bệnh nhân cô- vắc Nhân vật nữ thứ hai, xưng “con” trong truyện, cũng là cô gái tr, yêu lẫn đẫu

và cũng trở thành bênh nhân cô-vắc Và cả bai bà mẹ đều nguyễn rủa cái sinh linh trong bụng hai đứa con minh “Cai giống sao mà nó sống dai đẳng đến thế” và nguyễn rủa đứa con yêu lần đầu đại dột: *Ai dạy may như thể cơ chứ”!

Lớn hơn chút nữa là những người con gái đến tuổi lấy chồng như My trong truyện ngin Thiéu phu chưa chẳng của Nguyễn Thị Thu Huệ [29], người mang về

đẹp tràn trễ sức sống “My dep, vẻ đẹp của cô gái thôn quê khỏe mạnh đang tuổi dậy

thì Người My thấp, chắc lần Thừa hưởng cái gen của mẹ nên mấy chị em My đều có bộ ngực nở Ai cử báo đầu vũ con gái phải hồng My thì không, nó nhỏ và nâu sẵm My thường nhìn xuống bung va hai di, Hai bin chân Tất cả đều tạm ôm khuôn mặt tròn Hai mắt to Môi day và đỏ Ngực to hông nớ Bà Ngài bên hàng

"xóm bảo Mỹ có cái ngực và cái mông giết đàn ông” (tz99) Hoặc Loan rong truyện ngắn Đùa của tạo héa [44, tr240], được Phạm Hoa lột tả vẻ đẹp của nhân vật từ nhiều góc nhìn khác nhau Dưới con mắt của Tuần, chàng trai đã phải lòng Loan tử cái nhìn đầu tiên thì “Anh sửng sốt : quê anh sao lại có người hoàn hảo như vậy! Gương mặt trái xoan, mái tóc mềm bay löa xöa, vẻ đẹp trẻ trung và hoàn hảo” (249) Còn dưới con mắt của bà Thuận, Loan lại mang một vẻ đẹp phổn thực

“Dáng đi con bé thật mềm mại, uyễn chuyển Eo thất lại, nhưng đến mông thì phinh

to ra, tron tri, gon gàng” (.242) Với sự quyết liệt đến đáo để của bà Thuận và sự ngẫu nhiên, tỉnh cờ của tạo hóa, Tuần và Loan đã thuộc về nhau, Đêm tân hôn, mặc cdù bà Thuận đã cảnh báo “Mẹ muốn anh phải giữ gìn, đừng có dốc, đừng có cổ quá

'Các cụ dạy đa dâm thì bại thận” nhưng Tuấn nảo có nghe mà “Hết lần này đến lần

ác, thẳng bé đang dốc kiệt sức mình cho con bế” Bà Thuận từ bực

ghết và thất vọng vi thé là mắt thẳng con trai duy nhất Bởi thể, cuộc chiến đã nỗ ra

bả cắm hai đứa quan hệ nhưng “Tuấn im lãng không nói gì” còn Loan thì đáo để

“Tuan la con bà, nhưng anh ấy là chồng tôi” (tr.256) Thế trận đã bày ra Cuộc chiến

đã công khai Đỉnh điểm là khi bà Thuận đuổi hai đứa ra khỏi nhà Tuấn ngô ra

Trang 40

“Một khi tỉnh yêu mà vẫn không biết yêu thì tồn tại sao nỗi” nên "Giữa đêm anh tinh dậy và đi đâu mắt tăm” Quả là tạo hóa khéo đủa! Cũng không thiếu những mỗi tỉnh giả vì lý do nào đó họ mỗi người mỗi ngả nhưng nhu cầu gặp lại nhau vẫn

không hẻ nhạt màu và cuối đời họ lại tìm đến nhau với tình cảm vẫn vô cùng sâu

đâm, “Tôi” và Vang (Người đâm hà ám kói - Nguyễn Thị Thu Huệ), hai người cùng một cơ quan "Ngày ấy nàng là người phụ nữ có vẻ trầm mặc nhất cơ quan

‘Nhung khi yêu thì bốc lửa”, cô đã bô “tôi” để theo làm vợ gã giám đốc hơn cô 35 tuổi bởi "Lúc ấy Em yêu anh Và cần hắn” Hôm nay đột ngột hai người gặp lại nhau trong đám tang người chồng là giám đốc cũ "Tôi” thì đến xem để hả hê khi thấy lão chết thật rồi, Vang thi nay đã trở thành người làm nghề khóc thuê, đến khóc ngay đám tang chồng cũ Xong việc, họ lại gấp nhau trong một quán nước kín đáo đđể hỏi han nhan, đay nghiền nhau nhưng vì còn yêu nhau mà thành ra thết Ông Thới và bà Vân (Hoa bim biển - Tô Hoài) [44, tr240], một người về hưu đã giả

“ngồi ở cái cửa số ting bốn, cả ngày dim dim ngõng ra” bỗng một hôm nhận được cái thư từ bên Mỹ của bà Vân, người con gái của bốn mươi năm trước Họ hẹn gặp nhau ở Vũng Tàu, nghỉ ở chùa, ra tắm biển, bà hớn hỡ như tình yêu thời trẻ, ông mớm mém không dám xuống nước, một tuần lễ qua mỗi người nói với nhau có ba câu đùa vui Nhưng như thế đã thành nỗi nhớ, cho di “đã lâu

“Vậy đó! Toàn là chuyện của cảm giác và chỉ tiết, đối với tòa là vật vãnh” (tr46l) Bởi toàn bộ lý do vợ chồng l hôn là bởi con chó Mực Đoan rất yêu con chó và đĩ nhiên, con Mực cũng rất quyến luyễn Đoan Nhưng chồng chi, Nhiêu, lại cực kỳ căm ghét và ghê tởm Mực vì anh quá kỹ tính: riêng hai chuyện chủi xe đạp và lau

nhà đã chiếm hết thời giờ ngoài nhiệm sở của anh, trong khi Đoan lại rất thích vuốt

ve con Mực và mỗi lần như thế con Mục lại “mat lim dim tan hưởng niềm sung sướng, và thể nào y cũng tế ra gạch vài giọt màu nước trả lợt, hơi hắc nhẹ, như của đứa trẻ còn bú” (.448) Chồng Đoan ghê con chó, ghê luôn cả Đoan và anh hành hha con chó không thương tiếc, nhất là khi nó dẫn "bạn” nó vào nhà, Đoan đã rút cây gài cửa nện tới tắp vô chân con Vàng và giữa cột sống con Mực” Cảm giác ghê tớm và nhục nhã của Đoan đổi với Nhiêu là khi buổi trưa thanh vắng, chỉ có hai anh chi trong nhà, Nhiêu gọi Đoan ra cửa nhìn cảnh l của hai con chó! “Chị còn

cảm thấy bị xúc phạm thê thảm vì hành động của chồng không xuắt phát từ nhu cầu

của hai người mà từ sự khêu gợi của súc vật” (Ir455) Đinh điểm của mâu thuẫn

Ngày đăng: 01/09/2022, 11:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w