A MỞ ĐẦU Quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi muốn bảo vệ các lợi ích bị xâm phạm Tuy nhiên, không phải bất kì đơn khởi kiện nào cũng được Tòa án thụ lý và g.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi muốn bảo vệ các lợi ích bị xâm phạm Tuy nhiên, không phải bất kì đơn khởi kiện nào cũng được Tòa án thụ lý và giải quyết, vẫn có những trường hợp nhất định theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính 2015, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
B NỘI DUNG
1.Quy định của Luật tố tụng Hành chính 2015 về các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
Theo quy định tại khoản 1 điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì có 8 trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính, đó là :
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
b) Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ;
c) Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện
đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
e) Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật này;
g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này;
h) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng.
2.Giải thích một số khái niệm liên quan đến điều luật
-“Vụ án hành chính”: là những tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực khác
nhau của hoạt động hành chính Nhà nước, được giải quyết tại Tòa án theo thủ tục
Trang 2Tố tụng hành chính, là tranh chấp chính giữa đối tượng quản lí hành chính và chủ thể quản lí hành chính
-“Người khởi kiện”: là các cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầy cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (Sau dây gọi chung là danh sách
cử tri) (khoản 8 điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015)
3 Phân tích quy định của pháp luật về các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
a, Trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện (điểm a khoản 1 điều
123 luật Tố tụng hành chính 2015):
Quyền khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại điều 115 Luật Tố tụng Hành chính, theo đó, tổ chức, cá nhân, cơ quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính trong các trường hợp sau:
-Với đối tượng là quyết định hành chính, hành vi hành chính: Cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại
về quyết định, hành vi đó
-Với đối tượng là quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh: Tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
- Với đối tượng là danh sách cử tri: Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.
Trang 3Theo quy định của pháp luật ta có thể thấy, không phải chủ thể nào cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính mà chỉ các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở các trường hợp nêu ở trên, nghĩa là họ là người chịu tác động trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh, quyết định kỉ luật buộc thôi việc, danh sách cử tri thì mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính Hơn nữa, trường hợp đối tưương khởi kiện vụ án hành chính là quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức thì công chức
đó phải là người giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống, nếu không họ cũng sẽ không có quyền khởi kiện với quyết định này
Qua đây, ta thấy, quy định về người khởi kiện không có quyền khởi kiện có nghĩa là người đó không thuộc các trường hợp quy định tại điều 115 Luật Tố tụng Hành chính 2015, hay họ là những cá nhân, cơ quan, tổ chức không bị chịu tác động trực tiếp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri Đối với các chủ thể mà chỉ chịu ảnh hưởng từ các quyết định, hành vi này thì họ cũng không có quyền khởi kiện mà chỉ có thể là người có quyền và nghĩa vụ liên quan
Và vì những người này không có quyền khởi kiện nên họ không thể trực tiếp khởi kiện vụ án hành chính, vì thế trường hợp này họ sẽ bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện
b, Trường hợp người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ
“Năng lực hành vi tố tụng hành chính” được quy định tại khoản 2 điều 54 Luật
Tố tụng hành chính 2015, là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính
Năng lực hành vi tố tụng hành chính sẽ có sự khác nhau tùy theo độ tuổi và khả
năng nhận thức, điều khiển hành vi Theo quy định tại khoản 3 điều 54 thì đương
sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Năng lực hành vi tố tụng hành chính ở đây bao gồm năng lực về độ tuổi và năng lực về hành vi dân sự Vậy, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ là trường hợp mà người khởi kiện chưa đủ độ tuổi theo
quy định của pháp luật (người chưa đủ 18 tuổi); người khởi kiện là người mất năng lực hành vi dân sự, người khởi kiện bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người khởi kiện có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi (có thể do các
Trang 4bệnh lý về thần kinh, do tuổi tác hoặc do sử dụng các chất kích thích ảnh hưởng đến hệ thần kinh) Các trường hợp người khởi kiện là những người này thì Tóa án
sẽ trả lại đơn khởi kiện cho họ
Theo quy định tại khoản 4 điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì các đương
sự thuộc trường hợp này việc khởi kiện vụ án hành chính của họ sẽ được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật, do họ không thể tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ và họ cũng không có khả năng ủy quyền, những người đại diện theo pháp luật bao gồm: cha, mẹ, người giám hộ, người được Tòa án chỉ định (Khoản 2 điều 60 luật Tố tụng hành chính 2015) Và cũng vì không tự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính, không tự ủy quyền được cho người khác nên những người này không thể tự mình khởi kiện và nếu không khởi kiện thông qua người đại diện thì họ sẽ bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện
c, Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó
Có nhiều điều kiện buộc phải đáp ứng để khởi kiện vụ án hành chính, nếu không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì người khởi kiện
có thể sẽ bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính Khoản 1 điều 123 đã liệt kê ra hiều trường hợp mà Tòa án trả lại đơn khởi kiện khi chưa đủ điều kiện luật yêu cầu (ví dụ như điểm a, b, của khoản 1), điều này làm cho việc viện dẫn căn cứ pháp lý dễ bị chồng chéo và thiếu nhất quán Tuy nhiên điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 123 này có thể hiểu là:
-Cá nhân, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật trong trường hợp đã khiếu nại, tố cáo với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại và chưa có kết quả giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
-Cá nhân khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri trong trường hợp chưa khiếu nại với sở quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
d, Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Để phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đó là các “bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ
Trang 5chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người tôn trọng”, đối với những sự việc đã được
giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Tòa án thì cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lí và giải quyết lại vụ việc đó (trừ trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính)
Ví dụ: Ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện đã cấp cho ông B, tuy nhiên vụ việc này đã từng được Tòa án giải quyết trước đó trong một vụ án dân sự, ở vụ án đó Tòa án đã công nhận khu đất thuộc quyến sử dụng đất hợp pháp của ông B
Trong trường hợp không đồng ý với quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì cá nhân, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định này theo thủ tục giám đốc thâm hoặc tái thẩm
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp Tòa án đêu trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc được khởi kiện đã đựơc giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án
e, Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân được chia thành ba loại: Thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp Tòa án Các trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
-Vụ việc được khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nói chung, có nghĩa là không thuộc thẩm quyền giải quyết của bất cứ Tòa án nào trong
hệ thống Tòa án Đó là các trường hợp ví dụ như Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng; Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức Tòa án đã nhận đơn khởi kiện căn cứ điểm đ khoản 1 điều 123 Luật tố tụng Hành chính 2015 để trả lại đơn khởi kiện.
Trang 6-Vụ việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nói chung nhưng lại không phải vụ án hành chính thì Tòa án nhận đơn khởi kiện có trách nhiệm hướng dẫn người khởi kiện thực hiện lại việc khởi kiện và tiến hành thụ lí hoặc chuyển đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật phù hợp với loại vụ án đã được khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 điều 34 Luật TTHC 2015
-Vụ việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của hệ thống Tòa án nói chung quy định tại điều 30 Luật tố tụng Hành chính 2015, tuy nhiên lại không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhận đơn khởi kiện mà lại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác thì Tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện phải chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền Trường hợp này người gửi đơn khởi kiện có thể gửi nhầm đơn kiện cho Tòa án không có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó (vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh nhưng lại gửi cho Tòa án cấp huyện)
Ví dụ: Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện về quyết định hành chính của chủ tịch UBND cấp huyện cho TAND cấp huyện, tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 điều 31 thì trường hợp này không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện mà là của TAND cấp tỉnh, vì vậy TAND huyện phải chuyển đơn khởi kiện đến TAND tỉnh để TAND tỉnh thụ lý và giải quyết vụ án
f, Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật này
Đây là trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền và đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Trường hợp vừa có đơn khiếu nại vừa có đơn khởi kiện là trường hợp sự việc khởi kiện chưa được xác lập thẩm quyền giải quyết, tức là, tại thời điểm khiếu nại và khởi kiện, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa thụ lý giải quyết khiếu nại và Tòa án có thẩm quyền cũng chwua thụ lý giải quyết vụ việc
Điều 33 Luật Tố tụng Hành chính 2015 quy định: Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thông báo cho Tòa
án Trường hợp người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục khiếu nại
thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định tại điểm e khoản 1 Điều 123 của Luật này để
tiến hành trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện
Trang 7Trường hợp hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại và có đơn khởi kiện vụ án hành chính thì Tòa án xem xét để tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
Trường hợp có nhiều cá nhân, tổ chức vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án sẽ trả lại đơn kiện căn cứ theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 123 trong trường hợp tất cả các cá nhân, tổ chức này đều thống
nhất chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại Nếu các cá nhân, tổ
chức này không thể thống nhất với nhau giải quyết vụ việc theo thủ tục khiếu nại hay thủ tục tố tụng hành chính thì Tòa án căn cứ vào hướng dẫn của Hội đông thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án hay giải quyết theo thủ tục khiếu nại để thụ lí vụ án hành chính hay trả lại đơn kiện theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 123
Nguyên nhân của trường hợp trả lại đơn khởi kiện này là để đảm bảo tránh
sự mâu thuẫn có thể xảy ra trong cách giải quyết của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Trường hợp đã lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục khiếu nại, người khởi kiện cũng đã chấp thuận sẽ theo cách xử lí, giải quyết vụ việc cơ quan giải quyết khiếu nại, nên quyết định xử lí vụ việc của Tòa án cũng không còn cần thiết đối với họ nữa, vì thế trong trường hợp này Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
g, Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều
122 của Luật này
Khoản 1 điều 118 quy định về các nội dung chính phải có trong đơn khởi
kiện bao gồm có: Ngày, tháng, năm làm đơn; Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ
án hành chính; Tên, địa chỉ; số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính; Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có); Yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết; Cam đoan
về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Trang 8Đây là các nội dung chính, vì vậy cần được người khởi kiện cung cấp đầy đủ để Tòa án xem xét thj lý và giải quyết vụ án hành chính
Việc khởi kiện vụ án hành chính vi phạm các yêu cầu nêu trên không chỉ đơn thuần là hành vi trái pháp luật mà còn là việc làm thiếu trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính trong việc biểu đạt yêu cầu khởi kiện của mình trước Tòa án Và nếu các nội dung này không được người khởi kiện cung cấp đầy đủ thì cá nhân, tổ chức khởi kiện phải sửa đổi, bổ sung căn cứ theo quy định
tại điều 122 của luật Tố tụng hành chính 2015, đó là sau khi nhận được đơn khởi kiện, nếu thấy đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều
118 của Luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản và nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Tòa án.
Việc không có đủ các nội dung quy định trong khoản 1 điều 118 và người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định tại điều 122 làm cho Tòa án không có đủ những thông tin thực tiến và căn cứ pháp lí cần thiết để thụ lí
và giải quyết vụ án hành chính, bảo vệ cho quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính, đặc biệt là thiếu về nội dung của các quyết định hành chính hay việc mô tả các hành vi hành chính bị kiện Vì vậy, tòa án có quyền
từ chối thụ lí vụ án hành chính nếu đơn khởi kiện không có đầy đủ các nội dung
mà quy định của pháp luật yêu cầu phải có và trường hợp này tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo căn cứ quy định tại điểm g khoản 1 điều 123 Luật Tố tụng Hành chính 2015
h, Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này
mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng
Án phí là khoản chi phí về xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong
mỗi vụ án do cơ quan có thẩm quyền quy định Theo quy định tại khoản 3 điều 7 nghị quyết 326/2016 thì mức tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm bằng mức án phí hành chính sơ thẩm Mức tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm bằng mức án phí hành chính phúc thẩm Mức tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong vụ án hành chính bằng mức tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm Cơ quan, tổ chức, cá
nhân phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của Nghị quyết 326/2016
Trang 9Khoản 1 điều 125 quy định: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí
và nộp biên lai cho Tòa án.
Nếu hết thời hạn trên mà người khởi kiện không xuất trình được biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án thì họ có thể bị tòa án trả lại đơn khởi kiện Tuy đây không phải là căn cứ thụ lí chi phối những vấn đề thuộc nội dung vụ việc nhưng việc xác định trách nhiệm nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm của người khởi kiện phải được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính là cần thiết
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người khởi kiện vụ án hành chính đều phải nộp tiền tạm ứng án phí, đó là các trường hợp tại khoản 1 điều 11
Nghị quyết 326/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lí và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bao gồm các trường hợp: Người khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
vụ án dân sự hoặc kháng cáo bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật tố tụng dân sự, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước khởi kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; Ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện vụ án hoặc kháng cáo bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án để thu hồi nợ vay trong trường hợp Ngân hàng chính sách xã hội cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm; Người bào chữa của bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; Các trường hợp khác không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí
mà pháp luật có quy định.
Ngoài các trường hợp nêu trên người khởi kiện vụ án hành chính đều phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm Nếu vụ việc được khởi kiện có đủ các căn cứ khác để thụ lí và người khởi kiện phải nộp tiền tạm úng án phí sơ thẩm thì tòa án
có trách nhiệm thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí
sơ thẩm theo quy định của pháp luật Sau khi đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm,
Trang 10người khởi kiện có nghĩa vụ xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng ấn phí sơ thẩm để
bổ sung đủ căn cứ cho tòa án quyết định thụ lí vụ án hành chính
=>Như vậy, việc tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính cũng đồng nghĩa với việc tòa án chính thức từ chối thụ lí vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện vụ án hành chính, hạn chế trường hợp Tòa án tùy tiện trả lại đơn khởi kiện thì pháp luật không chỉ quy định các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện mà còn quy định cả cách thức trả lại đơn khởi kiện tại khoản 2 điều 123 của Luật Tố tụng Hành chính 2015
4 Đánh giá về tính hợp lý của các quy định của pháp luật về các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
-Nhìn chung, các quy định của pháp luật tố tụng hành chính về các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính đã khái quát được các trường hợp tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, đảm bảo để giúp cho người khởi kiện chú ý và tránh vi phạm phải các trường hợp này nếu họ muốn được tòa án thụ lý và giải quyết vụ án hành chính
-Các quy định này mang tính khả thi, xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn xét xử các vụ án hành chính, bởi vì nếu người khởi kiện rơi vào một trong các trường hợp bị tòa án trả lại đơn khởi kiện thì nghĩa là khi đó họ, hoặc đơn khởi kiện của họ đã không đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính về việc khởi kiện vụ án hành chính, và điều
đó làm cho Tòa án khó khăn trong việc giải quyết, thụ lí hoặc xét xử vụ án, không đảm bảo việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đượng sự
-Tuy nhiên, quy định về các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính cho người khởi kiện tại khoản 1 điều 123 Luật Tố tụng hành chính có phần chồng chéo và có thể gây ra sự không nhất quán khi viện dẫn căn cứ để trả
lại đơn kiện Ví dụ như theo quy định tại điểm c khoản 1 điêu 123 thì trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó, tuy nhiên, việc thiếu một trong các điều kiện ở đây có thể là trường hợp ở điểm a hoặc điểm b, điểm g,
điểm h của điều luật này