1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận án tiến sĩ y học đề tài NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TẠI RUỘT NON

310 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Ứng Dụng Kĩ Thuật Nội Soi Ruột Non Bóng Kép Trong Chẩn Đoán Và Điều Trị Xuất Huyết Tiêu Hoá Tại Ruột Non
Tác giả Nguyễn Hoài Nam
Người hướng dẫn GS.TS. Đào Văn Long
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Nội tiêu hoá
Thể loại luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 310
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước năm 2000, nhóm bệnh lýnày vẫn là một thách thức chẩn đoán trên lâm sàng do ruột non được coi là “vùng tối” của các bác sỹ nội soi tiêu hoá vì hầu như không thể tiếp cận trựctiếp đư

Trang 1

NGUYỄN HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ

TẠI RUỘT NON

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KĨ THUẬT NỘI SOI RUỘT NON BÓNG KÉP TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ

TẠI RUỘT NON

Ngành: Nội tiêu hoá Mã ngành đào tạo: 9720107

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đào Văn Long

HÀ NỘI – 2022

Trang 3

TẠI RUỘT NON

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này, tôi luôn nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của nhiều cơ quan, tập thể, các thầy cô giáo, các anhchị đồng nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc củamình tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Nội Trường Đạihọc Y Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng vô cùng và biết ơn sâu sắc đếnGS.TS Đào Văn Long là người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, động viên quantâm giúp tôi hoàn thành được luận án này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám đốc,phòng Kế hoạch tổng hợp và đặc biệt là Trung tâm Tiêu hoá – Gan Mật, Bệnhviện Bạch Mai, nơi tôi tiến hành nghiên cứu này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thày, Cô trong hội đồng chấm chuyên

đề, luận án, phản biện đã đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thiệnluận án này

Tôi xin chân thành cám ơn những bệnh nhân đã nhiệt tình tham gianghiên cứu, giúp tôi có được số liệu khoa học chính xác

Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luônđộng viên, chia sẻ, dành điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi vượt qua khó khăn

để hoàn thành luận án

Tác giả luận án

Trang 4

Nguyễn Hoài Nam

Trang 5

thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơinghiên cứu.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Hoài Nam

Trang 6

GIST Gastrointestinal stromal tumor - u mô đệm dạ dày

ruộtGOT Glutamic-Oxaloacetic Transaminase

GPT Glutamat Pyruvat Transaminase

INR International Normalized Ratio – tỷ lệ chuẩn hoá

quốctếIQR interquartile range - khoảng tứ phân vị

MRI Magnetic Resonance Imaging - chụp cộng hưởng từNSAIDs thuốc chống viêm giảm đau không steroid

NSRN Nội soi ruột non

NSRNBK Nội soi ruột non bóng kép

SPECT Single-photon emission computed tomography -

chụpcắt lớp bức xạ đơn protonSp02 Độ bão hoà oxy máu ngoại vi

XHTH Xuất huyết tiêu hoá

Trang 7

1.2.1 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh 10

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

Trang 8

2.8 XỬ LÝ SỐ LIỆU 54

Trang 9

4.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới 85

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Hình ảnh tổn thương phát hiện qua nội soi ruột non bóng kép

Bệnh án nghiên cứu

Bản chấp thuận tham gia nghiên cứu

Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

Trang 10

Bảng 2-5: các biến số cận lâm sàng 50

Bảng 3-6: tiền sử bệnh lý, tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân nghiên cứu 59

Trang 11

Bảng 3-24: Phân loại bất thường mạch máu theo giới 70

Bảng 3-32: Số lượng khối hồng cầu phải truyền theo vị trí tổn thương gây XHTH 75

Trang 13

Hình 1-6: hình ảnh MRI ruột non ở các chuỗi xung khác nhau 13

Hình 1-11: (A) dây NSRNBK, (B) ống trượt và (C) thiết bị bơm khí vào bóng 18

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu thường gặp trên lâm sàng, không chỉ ởViệt Nam mà còn phổ biến ở các nước đã phát triển Tại Mỹ và Anh, tỷ lệnhập viện hàng năm do chảy máu đường tiêu hoá ước tính khoảng150/100.000 dân và tỷ lệ tử vong khoảng 4 – 10% 1 Biểu hiện xuất huyết tiêuhoá rất đa dạng, bao gồm những trường hợp chảy máu tiềm ẩn ở mức vi thểhoặc chạy máu đại thể mức độ nhẹ diễn biến từ từ hoặc từng đợt cho đếnnhững trường hợp xuất huyết ồ ạt, liên tục gây thiếu máu nặng và đe doạ tínhmạng người bệnh

Chảy máu ruột non là nhóm bệnh lý ít gặp, chiếm tỷ lệ khoảng 5% cáctrường hợp xuất huyết tiêu hoá nói chung 2 Trước năm 2000, nhóm bệnh lýnày vẫn là một thách thức chẩn đoán trên lâm sàng do ruột non được coi là

“vùng tối” của các bác sỹ nội soi tiêu hoá vì hầu như không thể tiếp cận trựctiếp được toàn bộ bề mặt niêm mạc ruột ngoại trừ phẫu thuật mở

Giai đoạn 10 năm sau năm 2000 là thời điểm bùng nổ của các phươngpháp nội soi ruột non mới có thể giúp bác sỹ tiêu hoá quan sát và tiếp cậnđược gần như toàn bộ niêm mạc ruột non Nội soi ruột non được chia ra làm 2nhóm chính, đó là nội soi viên nang có thể chụp ảnh, phát hiện tổn thương ởniêm mạc ruột và nội soi có dụng cụ hỗ trợ (như nội soi ruột non bóng kép,bóng đơn…) ngoài khả năng chẩn đoán nguyên nhân bệnh còn có thể tiếnhành các can thiệp thủ thuật như sinh thiết chẩn đoán mô học hoặc điều trịcầm máu Nhiều nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy hiệu quả của các

Trang 15

phương pháp nội soi này trong chẩn đoán và xử trí xuất huyết tiêu hoá tại ruộtnon Nội soi viên nang có khả năng chẩn đoán nguyên nhân chảy máu từ 35%đến 83%, tuỳ từng nghiên cứu 3, 4 Khả năng chẩn đoán của nội soi ruột nonbóng kép trong chảy máu ruột non là từ 60% đến 86% và khả năng can thiệp

Trang 16

cầm máu là từ 40% đến 73% 5-8 Đối với nội soi ruột non bóng đơn, khả năngchẩn đoán tổn thương từ 41% đến 88% và khả năng can thiệp qua nội soi từ7% đến 50% 9-11 Khả năng chẩn đoán và can thiệp khác nhau tuỳ thuộc mức

độ chảy máu là đại thể hay vi thể, thời điểm bệnh nhân được nội soi là cấpcứu hay không cấp cứu… Mỗi một phương pháp nội soi nói trên đều có ưunhược điểm riêng, được áp dụng tuỳ thuộc tính chất xuất huyết của ngườibệnh, trang bị của các cơ sở y tế cũng như hướng dẫn điều trị của mỗi quốcgia và khu vực Tuy nhiên, nội soi ruột non bóng kép có ưu thế hơn so với cácphương pháp nội soi khác ở chỗ tỷ lệ soi hết được toàn bộ ruột non cao hơn

12 Nghiên cứu của May và cộng sự thấy tỷ lệ soi hết ruột non của nội soi bóngkép là 66% còn nội soi bóng đơn là 22% 13 Tương tự, Messer và cộng sự thấy

tỷ lệ soi hết ruột non của nội soi xoắn ốc là 8%, trong khi tỷ lệ tương tự củanội soi bóng kép là 92% 14

Tại Bệnh viện Bạch Mai, nội soi ruột non bóng kép được bắt đầu áp dụngtrong thực hành lâm sàng từ năm 2014 Việc ứng dụng kĩ thuật nội soi mớinày đã giúp bác sỹ tiêu hoá có thêm một phương pháp để chẩn đoán nguyênnhân gây chảy máu ở các bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá tại ruột non và giúpcan thiệp điều trị cầm máu cho các tổn thương phù hợp Chính vì vậy, chúng

tôi đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật nội soi ruột non

bóng kép trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hoá tại ruột non”

nhằm hai mục tiêu sau:

Trang 17

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh nội soi ruột non bóng kép và nguyên nhân ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá đại thể tại ruột non

2 Đánh giá kết quả của một số phương pháp điều trị xuất huyết tiêu hoá đại thể tại ruột non

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 RUỘT NON VÀ XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ RUỘT NON

1.1.1 Giải phẫu ruột non

Ruột non là cấu trúc hình ống dài trung bình 6 đến 7 mét, đầu trên nốivới dạ dày và đầu dưới nối với đại tràng, được chia làm 3 phần là tá, hỗng vàhồi tràng Tá tràng bắt đầu từ sau môn vị, dài khoảng 25cm, tạo thành hìnhchữ C tới góc Treitz, bao quanh đầu tuỵ và phần lớn nằm sau phúc mạc Từgóc Treitz đến van Bauhin là hỗng - hồi tràng, với khoảng 40% chiều dài đầutiên là hỗng tràng và 60% còn lại là hồi tràng Không có một dấu mốc rõ rệtphân định ranh giới hỗng hồi tràng, ngoại trừ một số đặc điểm khác biệt nhưhỗng tràng có đường kính lớn, niêm mạc dầy, nếp niêm mạc ngang nổi rõ vànhiều hơn (Hình 1-1 A, B), mạch máu dưới niêm mạc to hơn (Hình 1-1 C, D),mạc treo ít mỡ với các cung mạch thẳng dài hơn hồi tràng 15 Hỗng, hồi tràngnằm trong ổ bụng, được neo vào sau phúc mạc bởi mạc treo ruột, do đó tươngđối di động Đặc điểm quan trọng này là cơ sở cho các kĩ thuật nội soi chuyênsâu áp dụng để thực hiện thao tác thăm khám ruột non

Trang 19

Hình 1-1: niêm mạc ruột non trên nội soi Các nếp niêm mạc hỗng tràng (A) và hồi tràng (B, cùng bệnh nhân) Mạch máu dưới niêm mạc hỗng tràng (C) và hồi tràng (D, cùng bệnh nhân) (Nguồn bệnh nhân Bệnh viện Bạch Mai)

Thành ruột non gồm 4 lớp là lớp niêm mạc, hạ niêm mạc, cơ và thanhmạc 15 Lớp niêm mạc ở trong, có nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng và nước Lớp

Trang 20

hạ niêm mạc cấu tạo bởi tổ chức liên kết dầy đặc, có mạng lưới mạch máu,bạch huyết, các tuyến Brunner và đám rối thần kinh Meissner Lớp cơ gồm cơvòng ở trong và cơ dọc ở ngoài Lớp thanh mạc ngoài cùng gồm các tế bàotrung biểu mô Lớp niêm mạc và hạ niêm mạc trong chuyên ngành tiêu hoáđược coi là khu vực của các thủ thuật nội soi, nếu các can thiệp vượt quá hailớp này mà xâm lấn vào lớp cơ sẽ có nguy cơ gây thủng ống tiêu hoá.

Hình 1-2: cấu tạo 4 lớp của thành ruột non (nguồn Yeo và CS, 2019) 15

Động mạch cấp máu ruột non là động mạch mạc treo tràng trên Độngmạch này phân nhánh nhiều lần tạo thành các cung mạch, từ cung mạch ngoàicùng sẽ tạo thành động mạch biên, chạy song song với thành ruột, sau đó tách

ra các nhánh mạch thẳng chạy xuyên qua lớp cơ rồi phân nhánh tạo thànhmạng lưới mạch máu ở lớp hạ niêm mạc để cấp máu cho mao mạch vi nhung

Trang 21

mao và các tuyến 16 Máu từ lưới mao mạch sẽ qua tiểu tĩnh mạch để dẫn vàomạng lưới tĩnh mạch ở lớp dưới niêm mạc, sau đó được các tĩnh mạch ngắnxuyên thành đổ vào các nhánh của tĩnh mạch mạc treo tràng trên.

Trang 22

1.1.2 Tổng quan về xuất huyết tiêu hoá tại ruột non

Xuất huyết tiêu hoá (XHTH) là một cấp cứu y khoa thường gặp Về vị tríchảy máu, trước khi ra đời các phương pháp nội soi ruột non (NSRN), y vănkinh điển chia XHTH ra làm 2 nhóm: (1) XHTH cao, khi tổn thương nằm từthực quản đến góc Treitz và (2) XHTH thấp, khi tổn thương nằm dưới gócTreitz Hiện nay, theo phân loại mới của Hội Tiêu hoá Hoa Kỳ, XHTH đượcchia làm 3 nhóm, tương ứng với 3 khu vực giải phẫu mà các hệ thống dây nộisoi có thể tiếp cận được, gồm 2:

(1) XHTH cao: tổn thương từ thực quản đến papilla, chiếm khoảng 80%các trường hợp, chẩn đoán bằng nội soi đường tiêu hoá trên

(2) XHTH giữa: còn gọi là XHTH ruột non, khi tổn thương nằm ở đoạnruột non phía dưới papilla đến hết hồi tràng, chiếm khoảng 5% cáctrường hợp, là đối tượng thăm dò của các phương pháp NSRN

(3) XHTH thấp: tổn thương ở đại trực tràng và ống hậu môn, chiếm 15%các trường hợp, có thể phát hiện bằng nội soi đại tràng toàn bộ

Trong thực hành lâm sàng, bệnh nhân có biểu hiện XHTH thường đượclàm nội soi dạ dày và nội soi đại tràng toàn bộ trước, nếu không tìm thấynguyên nhân XHTH sẽ được chẩn đoán theo Hội Tiêu hoá Hoa Kỳ bằng thuậtngữ “XHTH nghi tại ruột non” 2 Bệnh nhân sau đó sẽ được làm các thăm dò

về ruột non như các chẩn đoán hình ảnh hoặc NSRN chuyên sâu 2

Về mức độ chảy máu, XHTH được chia làm 2 loại là chảy máu đại thể và

vi thể (hay còn gọi là chảy máu tiềm ẩn) 1 XHTH vi thể là trường hợp bệnhnhân có máu trong phân nhưng không quan sát thấy bằng mắt thường, chỉ xét

Trang 23

nghiệm tìm hồng cầu ẩn trong phân dương tính và có biểu hiện thiếu máuthiếu sắt XHTH đại thể là trường hợp bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng rõrệt như đại tiện phân đen hoặc phân máu toàn bãi, có thể kèm nôn máu Cáctriệu chứng khác tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh, có thể gặp là đau bụng, sờ

Trang 24

thấy khối u ổ bụng Mức độ máu mất vào đường tiêu hoá càng nhiều sẽ gâyrối loạn huyết động và ảnh hưởng toàn trạng người bệnh Về diễn biến, cónhững bệnh nhân chảy máu đại thể ồ ạt, dữ dội không cầm dẫn đến sốc giảmthể tích tuần hoàn và đe doạ tính mạng nhưng cũng có trường hợp chảy máu

số lượng ít, ngắt quãng, tự cầm Tại thời điểm bệnh nhân được NSRN, tìnhtrạng XHTH được các nghiên cứu chia làm 2 nhóm 6:

- Chảy máu tiến triển: khi bệnh nhân còn đại tiện phân máu hoặc phân đen trong vòng 24h trước khi NSRN

- Chảy máu đã cầm: là khi bệnh nhân đại tiện phân máu hoặc phân đen lần cuối cùng cách NSRN trên 24h

1.1.3 Các nguyên nhân gây XHTH tại ruột non

Có rất nhiều tổn thương có thể gây chảy máu ở ruột non Các nghiên cứu

về XHTH tại ruột non thường phân chia nguyên nhân thành các nhóm sau: (1)tổn thương tân sinh, (2) bất thường mạch máu, (3) tổn thương túi thừa, (4)loét ruột non và (5) các tổn thương khác 17

Tuy ruột non chiếm tới 75% chiều dài và 90% diện tích bề mặt ống tiêuhoá nhưng tổn thương tân sinh ở ruột non chỉ chiếm tỷ lệ dưới 2% trong sốcác tổn thương u của ống tiêu hoá và khoảng 0,3% tổng số bệnh lý u trong cơthể 18 Tổn thương tân sinh ruột non gồm khoảng 40 loại khác nhau có thểđược phân loại thành tổn thương biểu mô hoặc tổn thương mô đệm, hoặcphân loại theo tính chất lành tính hay ác tính Tổn thương biểu mô gồm utuyến, ung thư biểu mô tuyến Tổn thương mô đệm gồm u mỡ, u cơ, u xơ, u

mô thừa, u carcinoid, u lympho … 19 Một số tổn thương có tính chất lành tính

Trang 25

gồm u mỡ, u mạch và u mô thừa … U tuyến và u cơ, mặc dù được xếp vàonhóm u lành tính nhưng có nguy cơ chuyển dạng ác tính tăng dần theo kíchthước u và loại tế bào Tương tự, u GIST có độ ác tính thay đổi tuỳ theo kíchthước và số lượng tế bào phân chia Các khối u ác tính của ruột non gồm ung

Trang 26

thư biểu mô tuyến, u carcinoid, u lympho hoặc u di căn từ nơi khác … XHTH

là một biểu hiện thường gặp của tổn thương tân sinh ruột non, chiếm tỷ lệ36,3% các tổn thương ác tính và 75,0% các tổn thương lành tính, như theonghiên cứu của Zhang và cộng sự (CS) ở Trung Quốc 20 Về hình ảnh nội soi,tổn thương tân sinh thường được phân loại thành dạng polyp hoặc không phảipolyp, trong đó loại sau bao gồm u thể khối đặc, thể loét hoặc thể thâm nhiễm

21 Việc phân loại này giúp định hướng điều trị vì tổn thương polyp có thể cắt

bỏ qua nội soi, giúp người bệnh tránh phải can thiệp phẫu thuật như đối vớicác thể tổn thương u khác

Các bất thường mạch máu gây XHTH được phân loại thành bất thườngmao – tĩnh mạch (loạn sản mạch), động mạch (tổn thương Dieulafoy) hoặcthông động tĩnh mạch … Các bất thường mạch máu thường gặp ở các bệnhnhân Châu Âu, Mỹ hơn là người châu Á Tương ứng với mô học, Yano và CS

đã phân loại trên nội soi các bất thường mạch máu thành 6 loại (Bảng 2-1)

Trang 27

Hình 1-3: phân loại bất thường mạch máu của Yano(nguồn Yano và CS 22 )

Loại 1 là loạn sản mạch, trong đó loại 1A dưới 1mm và 1B lớn hơn (vàimm), có hoặc không kèm chảy máu với tính chất máu chảy không thành nhịpchứng tỏ không phải từ động mạch Đây là tổn thương thường gặp nhất, môbệnh học là các mao tĩnh mạch lớp niêm mạc giãn to chạy ngoằn ngoèo,

Trang 28

không có lớp cơ thành mạch nên rất dễ vỡ gây chảy máu 23, 24 Một số nghiêncứu gần đây thấy ruột non (đặc biệt đoạn cao) là vị trí hay gặp loạn sản mạchnhất, chiếm tỷ lệ 57 – 80%, tiếp theo là đại tràng (44%) và dạ dày (32%) 25 Vì

là tổn thương mắc phải nên thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi, tỷ lệ mắc có xuhướng tăng do tuổi thọ trung bình được nâng cao 25 Một số bệnh lý là yếu tốnguy cơ xuất hiện loạn sản mạch gồm hẹp van động mạch chủ (hội chứngHeyde), bệnh von Willebrand, suy thận mạn, bệnh gan mạn tính 26 Bệnh nhân

sử dụng kéo dài thuốc chông đông, chống ngưng tập tiểu cầu hoặc NSAIDscũng là yếu tố giúp cho loạn sản mạch dễ chảy máu

Loại 2 theo phân loại Yano là tổn thương Dieulafoy, trong đó loại 2A <1mm và 2B có kích thước lớn hơn, khác loại 1 ở tính chất đập hoặc chảy máutheo nhịp của động mạch 22 Tổn thương Dieulafoy gặp chủ yếu ở dạ dày(70%) và hành tá tràng (15%), còn ở ruột non thì hiếm gặp (khoảng 3,5%) 27

Về mô học, tổn thương là một động mạch có đủ cấu trúc thành mạch bìnhthường nhưng giãn to gấp 10 lần, từ 1 – 3mm, lồi lên dưới lớp niêm mạc Nếu

vì một lý do nào đó mà lớp niêm mạc phủ trên động mạch này bị tổn thương

sẽ dẫn đến chảy máu 23 Khác với loạn sản mạch, người ta cho rằng tổnthương Dieulafoy là bẩm sinh Hai loại tổn thương này rất phù hợp với nội soican thiệp vì kích thước nhỏ, thường < 1cm Loại 3 theo Yano là tổn thươngthông động tĩnh mạch, thường là bẩm sinh, hiện cơ chế bệnh sinh vẫn cònchưa rõ 23 Thông động tĩnh mạch thường gặp nhất ở đại tràng phải và manhtràng (78%), còn ở hỗng tràng chỉ chiếm tỷ lệ 10,5%, hồi tràng là 8,5% và tátràng là 2,3% 28 Loại 4 theo Yano là các tổn thương khác, không xếp được

Trang 29

vào 3 nhóm trên Loại 3 và loại 4 thường là các tổn thương có kích thước lớn,không thích hợp với nội soi can thiệp.

XHTH ruột non cũng có thể do nguyên nhân túi thừa Túi thừa ruột nonđược chia làm 2 loại là túi thừa Meckel và túi thừa không phải Meckel Túi

Trang 30

thừa Meckel là bất thường bẩm sinh phổ biến nhất của ống tiêu hoá, tỷ lệ gặp

từ 2- 4% dân số 29 Túi thừa này là phần sót lại của ống noãn hoàng nên vị tríthường ở đoạn hồi tràng cách van Bauhin 80 – 100cm và thường có các môcủa cơ quan khác như niêm mạc dạ dày, mô tuỵ 30 Mô dạ dày lạc chỗ sẽ bàitiết acid còn mô tuỵ lạc chỗ sẽ tiết ra các men tuỵ gây loét niêm mạc hồi trànglân cận 29, 31 Nghiên cứu của Park và CS thấy mô lạc chỗ gặp ở 43% túi thừaMeckel có triệu chứng và 63% túi thừa chảy máu, trong khi túi thừa khôngtriệu chứng thì chỉ có 14% 32 Túi thừa không phải Meckel là túi thừa mắcphải, thường nằm ở đoạn cao tá hỗng tràng, xuất hiện do thoát vị của lớp niêmmạc và hạ niêm mạc qua lớp cơ, ở chỗ mạch máu xuyên thành ruột đi vào Sựlân cận giữa thành túi thừa và các mạch máu này có thể là yếu tố thuận lợi dẫn

đến biến chứng chảy máu 33 Tỷ lệ gặp túi thừa không phải Meckel là 0,002– 0,7% ở các nghiên cứu trên X quang hoặc 0,4 – 0,46% trên mổ tử thi vàhiếm gặp túi thừa gây chảy máu 34

Loét ruột non là một trong số nguyên nhân gây XHTH, có thể gặp ở mọilứa tuổi 28 Viêm loét ruột non có thể do nhiều căn nguyên khác nhau, baogồm các bệnh lý có cơ chế bệnh sinh qua trung gian miễn dịch như bệnhCrohn, bệnh Behcet…, loét trong bệnh hệ thống như viêm mạch, ScholeinHenoch…, loét do nhiễm khuẩn như lao…, loét do thuốc như NSAIDs, loét

do thiếu máu…35, 36 Trong nhiều trường hợp, loét ruột non cũng không xácđịnh được nguyên nhân trên lâm sàng, xét nghiệm và mô bệnh học…

Ngoài ra, XHTH có thể từ các nguyên nhân khác như nhiễm kí sinhtrùng, loạn sản bạch mạch… Các trường hợp chảy máu đại thể do các tổn

Trang 31

thương này là hiếm gặp và được ghi nhận trong y văn dưới dạng các ca lâmsàng 37-40 Một vài tác giả ở miền nam Trung Quốc cho rằng nhiễm giun móc

có thể là nguyên nhân gây XHTH đại thể tại ruột non nếu nội soi được hếttoàn bộ ruột non và chụp cắt lớp vi tính không phát hiện nguyên nhân chảy

Trang 32

máu khác, tuy nhiên điều này vẫn chưa được đồng thuận với các tác giả khác

41 Các tổn thương hiếm gặp khác gây chảy máu ruột non đã được y văn ghinhận là giãn tĩnh mạch do tăng áp lực tĩnh mạch cửa, tổn thương amyloidosis,sarcoma Kaposi, rò động mạch chủ - ruột non … 2

Phân bố nguyên nhân gây XHTH ruột non khác nhau tuỳ theo lứa tuổi.Nghiên cứu của Zhang và CS tại Trung Quốc thấy ở người > 65 tuổi, nguyênnhân thường gặp là bất thường mạch máu (54,35%), loét (13,04%) và u(11,96%); ở người trung tuổi là bất thường mạch máu (34,82%), u (31,25%),viêm ruột không rõ nguyên nhân (9,82%) và ở người trẻ < 40 tuổi, nguyênnhân thường gặp nhất là bệnh Crohn (34,55%), u (23,64%) và viêm ruộtkhông rõ nguyên nhân (10,91%) 42 Phân bố nguyên nhân gây chảy máu ruộtnon cũng khác nhau theo vùng địa lý Phân tích gộp của Xin và CS thấy ởcác nước phương đông, viêm là nguyên nhân thường gặp nhất (37,6%), sau đó

là bất thường mạch máu (26,7%) và tổn thương u (26,4%) còn ở phương tây,bất thường mạch máu chiếm tỷ lệ rất cao (65,9%), sau đó là tổn thương viêm(15,7%) và tổn thương u (14,4%) 8 Sự khác biệt ở các chủng tộc và nhómbệnh nhân cho thấy việc đánh giá đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gâyXHTH ruột non là rất cần thiết trong thực hành y khoa tại Việt Nam

1.2 CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN XHTH TẠI RUỘT NON

Có hai hướng tiếp cận chẩn đoán ở bệnh nhân nghi XHTH đại thể tạiruột non là phương pháp chẩn đoán hình ảnh và nội soi Việc lựa chọn, ápdụng các kĩ thuật trong hai nhóm này khác nhau tuỳ hướng dẫn chẩn đoán củacác quốc gia (như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản) và trang thiết bị của cơ sở y tế

Trang 33

1.2.1 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh

1.2.1.1 Chụp cắt lớp vi tính

Cắt lớp vi tính (CLVT) là kĩ thuật được áp dụng phổ biến nhất chobệnh nhân nghi XHTH tại ruột non, gồm 2 kĩ thuật chính được chỉ định tuỳ

Trang 34

theo tình trạng và mức độ chảy máu CLVT có khảo sát mạch tạng được ápdụng khi bệnh nhân chảy máu cấp tính nặng vì các ưu điểm như: (1) thực hiệnngay sau khi đã hồi sức người bệnh, (2) không phải chuẩn bị đặc biệt, (3) thờigian chụp nhanh, không bị ảnh hưởng bởi nhịp thở, chuyển động và (4) kếtquả có trong vòng 15 phút giúp nhanh chóng đưa ra phương án điều trị Kĩthuật này có thể phát hiện điểm thoát thuốc trong lòng ruột với tốc độ chảymáu tối thiểu là 0,3 – 0,5ml/ phút (thấp hơn so với chụp mạch) hoặc thấyđược các tổn thương thành ruột có tăng sinh mạch bất thường như khối u hoặcthông động tĩnh mạch… Tuy vậy, khả năng chẩn đoán được nguyên nhânXHTH tại ruột non không cao, khoảng 35,2% như theo nghiên cứu của Tseng

và CS, chủ yếu giá trị nhất trong việc phát hiện các khối u ruột non 43

Hình 1-4: CLVT mạch ổ bụng phát hiện khối u GIST hỗng tràng (t)

(nguồn: Artigas và CS, 2013 44 ).

Nếu tình trạng chảy máu không nặng, toàn trạng bệnh nhân ổn định thìnên chụp CLVT ruột non có chuẩn bị bằng cách cho bệnh nhân uống hoặcbơm qua ống thông mũi – tá tràng dung dịch methylcellulose, mannitol, hoặc

Trang 35

barit tỷ trọng thấp (1,5 – 2 lít) Các dung dịch này làm giãn lòng ruột, kết hợpvới tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch sẽ giúp tăng tối đa sự tương phản giữalớp niêm mạc và dịch trong lòng ruột, nhờ đó hiển thị các bất thường nhỏ ởthành ruột non tốt hơn so với chụp CLVT thông thường 45 Nhược điểm của kĩthuật này là mất thời gian chuẩn bị, gây khó chịu nên không thích hợp cho

Trang 36

bệnh nhân chảy máu nặng, ồ ạt Mặt khác theo phân tích gộp của Wang và

CS, khả năng chẩn đoán của CLVT ruột non vẫn thấp hơn so với NSRN viênnang (34% so với 53%) và NSRN bóng kép (38% và 78%) 46

1.2.1.2 Chụp mạch

Chụp mạch ngày nay thường không được chỉ định để thăm dò chẩn đoánnguyên nhân XHTH tại ruột non (do chụp CLVT có khả năng phát hiện điểmchảy cao hơn) mà chủ yếu được áp dụng để điều trị nút mạch các tổn thươngchảy máu Để phát hiện các điểm thoát thuốc, tốc độ chảy máu phải trên0,5ml/ phút, vì thế nên chụp và can thiệp khi tình trạng chảy máu đang tiếntriển hoặc ngay sau khi CLVT phát hiện điểm chảy máu Chụp mạch có thể

âm tính trong trường hợp đã cầm chảy máu Một số ít bệnh lý khác có thểphát hiện được ở thời điểm không chảy máu như thông động tĩnh mạch, khối

u giàu mạch máu … 17

Hình 1-5: điểm thoát thuốc vào lòng ruột trên chụp động mạch mạc treo tràng trên (A) thì sớm, (B) thì muộn (nguồn: Fidler

và CS, 2017) 47

1.2.1.3 Chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ (MRI) có uống thuốc tương phản là phương pháp

Trang 37

cũng có thể áp dụng để thăm dò ruột non Kĩ thuật này có khả năng phát hiện,phân biệt các tổn thương thành ruột non tốt hơn so với CLVT, đặc biệt ở cácthế hệ máy mới có các chuỗi xung cực nhanh như true-FISP, FFE, FIESTA,HASTE đã giúp làm giảm nhiễu ảnh do chuyển động của hô hấp và nhu độngruột 48 Tuy nhiên, do máy MRI không sẵn có ở nhiều cơ sở y tế, chi phí cho

Trang 38

một lần chụp cao hơn, tổng thời gian chụp lâu hơn (30 – 45 phút) không thích hợp với bệnh nhân XHTH nặng nên kĩ thuật ít được áp dụng rộng rãi.

Hình 1-6: hình ảnh MRI ruột non ở các chuỗi xung khác nhau (A, B): MR floroscopy, (C) steady-state precession FISP, (D) fat-suppressed true

FISSP, (E) HASTE, (F,G) FLASH (nguồn Umschaden và CS, 2003) 49

1.2.1.4 Chụp cắt lớp bức xạ đơn proton

Chụp cắt lớp bức xạ đơn proton (SPECT) với hồng cầu tự thân gắn với

99mTc có thể giúp phát hiện được điểm tập trung phóng xạ bất thường ngoàithành mạch, chỉ điểm cho vị trí XHTH

Trang 39

Hình 1-7: SPECT và SPECT/CT với 99m Tc gắn hồng cầu tự thân (A) SPECT thấy điểm chảy máu (mũi tên ) nhưng không rõ vị trí (B) SPECT/CT xác định vị trí chảy máu ở ruột non (nguồn Schillaci và CS, 2009) 50

Trang 40

Ưu điểm của phương pháp này là có thể phát hiện điểm chảy máu vớitốc độ rất thấp, dưới 0,5ml/ phút, nhưng nhược điểm là độ phân giải thấp nênkhả năng xác định vị trí kém chính xác 50 SPECT kết hợp với chụp cắt lớp(SPECT/CT) giúp định vị tổn thương chính xác hơn, tuy nhiên hệ thống máySPECT/CT không sẵn có nên thực tế việc áp dụng là không phổ biến.

Tóm lại, kĩ thuật chẩn đoán hình ảnh được áp dụng phổ biến nhất đểchẩn đoán nguyên nhân XHTH ruột non là chụp CLVT vì sẵn có ở nhiều cơ

sở y tế; không phải chuẩn bị bệnh nhân đặc biệt; thời gian chụp nhanh và ít bịnhiễu ảnh do chuyển động Các phương pháp khác như MRI ruột non, chụpSPECT/CT chỉ được áp dụng ở một số cơ sở y tế chuyên sâu

1.2.2 Các kĩ thuật nội soi ruột non

1.2.2.1 Lịch sử phát triển nội soi ruột non

Từ những năm 1980, các bác sỹ nội soi đã cố gắng để thăm dò đoạn đầuruột non bằng hệ thống dây soi đại tràng thông thường hoặc dây soi thiết kếriêng dài khoảng 200 – 250cm 51 Dây soi đưa vào sâu ruột non bằng cáchđẩy, kết hợp với xoay, rút dây để giảm vòng cuộn sao cho dây soi đi càng sâucàng tốt, vì thế còn gọi là “NSRN đẩy” (push enteroscopy), phân biệt với

“NSRN đẩy – kéo” (push and pull enteroscopy), một cách gọi khác củaNSRN bóng kép hoặc bóng đơn Một số tác giả kết hợp ống trượt để hỗ trợdây soi xuống sâu hơn, tuy nhiên sẽ gây khó chịu cho bệnh nhân và có nhiềutác dụng phụ Phương pháp này hiện nay vẫn có thể áp dụng ở bất kì cơ sởnào có dây soi đại tràng, tuy nhiên khả năng thăm khám ruột non dưới gócTreitz rất hạn chế, khoảng 45 – 60cm với dây soi đại tràng thường, 25 – 63cm

Ngày đăng: 01/09/2022, 07:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kim BS, Li BT, Engel A, et al. Diagnosis of gastrointestinal bleeding: A practical guide for clinicians. World journal of gastrointestinal pathophysiology. Nov 15 2014;5(4):467-78. doi:10.4291/wjgp.v5.i4.467 2. Gerson LB, Fidler JL, Cave DR, Leighton JA. ACG Clinical Guideline:Diagnosis and Management of Small Bowel Bleeding. The American journal of gastroenterology. Sep 2015;110(9):1265-87; quiz 1288.doi:10.1038/ajg.2015.246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World journal of gastrointestinalpathophysiology". Nov 15 2014;5(4):467-78. doi:10.4291/wjgp.v5.i4.4672. Gerson LB, Fidler JL, Cave DR, Leighton JA. ACG Clinical Guideline:Diagnosis and Management of Small Bowel Bleeding. "The Americanjournal of gastroenterology
3. Bartel MJ, Stark ME, Lukens FJ. Clinical Review of Small-Bowel Endoscopic Imaging. Gastroenterology &amp; hepatology. Nov 2014;10(11):718-726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastroenterology & hepatology
4. Yamamoto H, Ogata H, Matsumoto T, et al. Clinical Practice Guideline for Enteroscopy. Digestive endoscopy : official journal of the Japan Gastroenterological Endoscopy Society. Jul 2017;29(5):519-546.doi:10.1111/den.12883 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Digestive endoscopy : official journal of the JapanGastroenterological Endoscopy Society
5. Yamamoto H, Kita H, Sunada K, et al. Clinical outcomes of double- balloon endoscopy for the diagnosis and treatment of small-intestinal diseases. Clinical gastroenterology and hepatology : the official clinical practice journal of the American Gastroenterological Association. Nov 2004;2(11):1010-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical gastroenterology and hepatology : the official clinicalpractice journal of the American Gastroenterological Association
6. Shinozaki S, Yamamoto H, Yano T, et al. Long-term outcome of patients with obscure gastrointestinal bleeding investigated by double- balloon endoscopy. Clinical gastroenterology and hepatology : the official clinical practice journal of the American Gastroenterological Association. Feb 2010;8(2):151-8. doi:10.1016/j.cgh.2009.10.023 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical gastroenterology and hepatology : the officialclinical practice journal of the American GastroenterologicalAssociation
7. Tang L, Huang LY, Cui J, Wu CR. Effect of Double-Balloon Enteroscopy on Diagnosis and Treatment of Small-Bowel Diseases.Chinese medical journal. Jun 5 2018;131(11):1321-1326.doi:10.4103/0366-6999.232802 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinese medical journal
8. Xin L, Liao Z, Jiang YP, Li ZS. Indications, detectability, positive findings, total enteroscopy, and complications of diagnostic double- balloon endoscopy: a systematic review of data over the first decade of use. Gastrointestinal endoscopy. Sep 2011;74(3):563-70.doi:10.1016/j.gie.2011.03.1239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastrointestinal endoscopy
9. Committee AT, Chauhan SS, Manfredi MA, et al. Enteroscopy.Gastrointestinal endoscopy. Dec 2015;82(6):975-90.doi:10.1016/j.gie.2015.06.012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastrointestinal endoscopy
11. Liu Y, Jiang W, Chen G, Li Y. Diagnostic Value and Safety of Emergency Single-Balloon Enteroscopy for Obscure Gastrointestinal Bleeding. Gastroenterology research and practice. 2019;2019:9026278.doi:10.1155/2019/9026278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastroenterology research and practice
12. Committee ASoP, Khashab MA, Pasha SF, et al. The role of deep enteroscopy in the management of small-bowel disorders.Gastrointestinal endoscopy. Oct 2015;82(4):600-7.doi:10.1016/j.gie.2015.06.046 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastrointestinal endoscopy
13. May A, Farber M, Aschmoneit I, et al. Prospective multicenter trial comparing push-and-pull enteroscopy with the single- and double- balloon techniques in patients with small-bowel disorders. The American journal of gastroenterology. Mar 2010;105(3):575-81.doi:10.1038/ajg.2009.712 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Americanjournal of gastroenterology
14. Messer I, May A, Manner H, Ell C. Prospective, randomized, single- center trial comparing double-balloon enteroscopy and spiral enteroscopy in patients with suspected small-bowel disorders.Gastrointestinal endoscopy. Feb 2013;77(2):241-9.doi:10.1016/j.gie.2012.08.020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastrointestinal endoscopy
15. al CJYe. Anatomy and Physiology of the small intestine. Shackelfold's Surgery of the Alimentary Tract. Elsevier; 2019:817-841:chap 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shackelfold's Surgery of the Alimentary Tract
16. Geboes K, Geboes KP, Maleux G. Vascular anatomy of the gastrointestinal tract. Best Pract Res Clin Gastroenterol. Feb 2001;15(1):1-14. doi:10.1053/bega.2000.0152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Best Pract Res Clin Gastroenterol
17. Ohmiya N, Nakagawa Y, Nagasaka M, et al. Obscure gastrointestinal bleeding: diagnosis and treatment. Digestive endoscopy : official journal of the Japan Gastroenterological Endoscopy Society. Mar 2015;27(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Digestive endoscopy : official journalof the Japan Gastroenterological Endoscopy Society
18. Coco C, Rizzo G, Manno A, Mattana C, Verbo A. Surgical treatment of small bowel neoplasms. Eur Rev Med Pharmacol Sci. Apr 2010;14(4):327-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur Rev Med Pharmacol Sci
19. Notaristefano C, Testoni P. Small Intestinal Tumours: An Overview on Classification, Diagnosis, and Treatment. European Medical Journal Gastroenterology. 12/01 2014;3:84-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Medical JournalGastroenterology
20. Zhang C, Hong L, Zhang T, et al. Clinical characteristics of small bowel tumors diagnosed by double-balloon endoscopy: Experience from a Chinese tertiary hospital. Turk J Gastroenterol. Jan 2020;31(1):30-35.doi:10.5152/tjg.2020.19115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Turk J Gastroenterol
22. Yano T, Yamamoto H, Sunada K, et al. Endoscopic classification of vascular lesions of the small intestine (with videos). Gastrointestinal endoscopy. Jan 2008;67(1):169-72. doi:10.1016/j.gie.2007.08.005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastrointestinalendoscopy
23. Sakai E, Ohata K, Nakajima A, Matsuhashi N. Diagnosis and therapeutic strategies for small bowel vascular lesions. World journal of gastroenterology. Jun 14 2019;25(22):2720-2733.doi:10.3748/wjg.v25.i22.2720 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World journalof gastroenterology

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w