1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh

4 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 406,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghiên cứu một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh trình bày nhận xét một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trong bệnh trứng cá thông thường. Đối tượng và phương pháp: 119 bệnh nhân trứng cá thông thường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

JOURNAL OF 108 - CLINICAL MEDICINE AND PHARMACY Vol.17 - N4/2022 DOI: …

Nghiên cứu một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh

Study of related factors and clinical features of acnes vulgaris at Ho Chi Minh City Hospital of Dermato-Venereology

Phạm Thị Bích Na*,

Phạm Thị Lan**,

Đặng Văn Em***

*Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch,

**Trường Đại học Y Hà Nội,

***Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trong bệnh trứng cá thông thường Đối tượng và phương pháp: 119 bệnh nhân trứng cá thông thường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang Kết quả: Nam giới chiếm

17,7% và nữ giới chiếm 82,3%, tuổi mắc bệnh trung bình là 27,3 ± 6,1 tuổi, tuổi khởi phát trung bình là 17,2 ± 5,0; dạng lâm sàng trứng cá sẩn mụn mủ chiếm tỷ lệ cao nhất là 71,4%, trứng cá mức độ nhẹ chiếm 41,2%, mức độ trung bình chiếm 42,8% và mức độ nặng chiếm 16%, tiền căn gia đình, chu kỳ kinh

nguyệt, chế độ ăn và thời tiết là các yếu tố chính liên quan đến bệnh trứng cá thông thường Kết luận:

Dạng lâm sàng thường gặp nhất của bệnh trứng cá thông thường là trứng cá sẩn mụn mủ, phần lớn bệnh nhân ở mức độ bệnh trung bình và nhẹ

Từ khoá: Bệnh trứng cá thông thường, lâm sàng, yếu tố liên quan

Summary

Objective: To analyse some related factors and clinical features in acne vulgaris Subject and method: 119

acne vulgaris patients treated as outpatients at Ho Chi Minh City Hospital of Dermato-Venereology

Prospective, cross-sectional description Result: Men accounted for 17.7% and women accounted for 82.3%; the

mean age was 27.3 ± 6.1 years old; mean age of onset was 17.2 ± 5.0; the clinical form of papule - pustule acne accounted for the highest rate of 71.4%; mild acne accounted for 41.2%, moderate degree accounted for 42.8% and severe degree accounted for 16%; family history, menstrual cycle, diet, and weather were major

factors associated with acne vulgaris Conclusion: The most common clinical form of acne vulgaris is papule -

pustule acne, and most patients have moderate and mild severity of disease

Keywords: Acne vulgaris, clinical features, related factors

1 Đặt vấn đề

Trứng cá thông thường (TCTT) là bệnh da thường

gặp nhất trong thực hành lâm sàng của thầy thuốc da

Ngày nhận bài: 18/4/2022, ngày chấp nhận đăng: 26/4/2022

Người phản hồi: Phạm Thị Bích Na,

Email: dr.bichna@gmail.com - Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch

liễu, gây ảnh hưởng nhiều đến tâm lý và chất lượng cuộc sống người bệnh Bệnh thường khởi phát ở giai đoạn dậy thì và tần suất giảm dần theo tuổi, với sự xuất hiện đầu tiên của nhân trứng cá Vị trí thường gặp nhất của TCTT là ở mặt, sau đó là ở ngực, lưng, vai Bệnh đặc trưng bởi sự đa dạng sang thương, bao gồm sang thương không viêm và sang thương viêm Một số yếu tố được ghi nhận ảnh hưởng đến

Trang 2

TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 108 Tập 17 - Số 4/2022 DOI:…

sự khởi phát và mức độ nặng của bệnh TCTT như

tiền căn gia đình, chu kỳ kinh nguyệt, sang chấn

tinh thần, thai kỳ, chế độ ăn, thời tiết, sử dụng thuốc

và mỹ phẩm… [9] Chúng tôi tiến hành đề tài này

với mục tiêu: Nhận xét một số yếu tố liên quan và đặc

điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường

2 Đối tượng và phương pháp

2.1 Đối tượng

Gồm 119 bệnh nhân được chẩn đoán xác định

bệnh TCTT tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí

Minh từ tháng 3/2021 đến tháng 12/2021

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Tiêu chuẩn lâm sàng là các tổn thương cơ bản đặc

trưng của bệnh TCTT như mụn đầu trắng, mụn đầu

đen, sẩn, mụn mủ, cục, nang, đường hầm Tiêu chuẩn

chẩn đoán mức độ nặng của bệnh TCTT theo thang

điểm GAGS

Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân đến khám tại

Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh được chẩn

đoán là bệnh TCTT, tuổi từ 18 và đồng ý tham gia

nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân dưới 18 tuổi và

bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu nghiên cứu: Mẫu thuận tiện

Các bước tiến hành:

Khám lâm sàng xác định bệnh TCTT

Thu thập thông tin theo mẫu bệnh án nghiên cứu

Ghi nhận đặc điểm đối tượng nghiên cứu như tuổi, giới

tính, nghề nghiệp, học vấn, chiều cao, cân nặng, BMI…

Ghi nhận đặc điểm lâm sàng của bệnh TCTT: Tuổi

khởi phát bệnh, thời gian bị bệnh, các loại tổn thương,

thể lâm sàng, vị trí phân bố tổn thương, phân độ nặng

bệnh TCTT theo thang điểm GAGS

Ghi nhận các yếu tố liên quan bệnh TCTT: Tiền căn

gia đình, tiền sử điều trị, sang chấn tinh thần, chu kỳ

kinh nguyệt, thời tiết, chế độ ăn, sử dụng mỹ phẩm, sử

dụng thuốc…

3 Kết quả Bảng 1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n = 119)

Giới tính

Nhóm tuổi

Tuổi trung bình ( X ± SD) 27,3 ± 6,1

Nhận xét: Tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới, tuổi trung

bình của nhóm bệnh nhân TCTT là 27,3 ± 6,1 trong đó đa

số tập trung ở nhóm tuổi 18 - 25 chiếm 43,7%

Bảng 2 Phân bố tuổi khởi phát của bệnh TCTT

(n = 119)

Tuổi khởi phát trung bình

Nhận xét: Tuổi khởi phát bệnh trung bình là 17,2 ± 5,0

tuổi, đa số khởi phát trước 18 tuổi chiếm 65,5%

Bảng 3 Đặc điểm lâm sàng của bệnh TCTT

(n = 119)

Tổn thương cơ bản

Các tổn thương khác

Thể lâm sàng

Trứng cá sẩn mụn mủ 85 71,4

Trang 3

JOURNAL OF 108 - CLINICAL MEDICINE AND PHARMACY Vol.17 - N4/2022 DOI: …

Vị trí thương tổn

Độ nặng bệnh

Nhận xét: Loại tổn thương cơ bản của bệnh TCTT

thường gặp nhất lần lượt là mụn đầu trắng, mụn đầu

đen, sẩn, mụn mủ Tổn thương đi kèm thường gặp

nhất là tăng sắc tố và sẹo lõm Thể lâm sàng thường

gặp nhất là trứng cá sẩn mụn mủ Sang thương phân

bố nhiều nhất ở mặt, kế đến là lưng, ngực và mặt ngoài

cánh tay Bệnh TCTT mức độ nhẹ và trung bình chiếm

đa số trong nghiên cứu

Bảng 4 Các yếu tố liên quan đến bệnh TCTT

(n = 119)

Sử dụng mỹ phẩm dưỡng da 36 30,3

Tiền căn gia đình mắc TCTT 67 56,3

Nhận xét: Chu kỳ kinh, chế độ ăn nhiều chất ngọt

và chất béo, sang chấn tinh thần, thời tiết nóng ẩm và

tiền căn gia đình là các yếu tố thường gặp nhất liên

quan đến bệnh TCTT

4 Bàn luận

Đa số các nghiên cứu đều nhận thấy nữ giới bị

bệnh TCTT nhiều hơn nam giới nhưng các hình thái

lâm sàng biểu hiện ở nam nặng hơn so với nữ giới [4],

[7], [9] Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ chiếm

82,3% cao hơn so với nam giới chiếm 17,7% Điều này

phù hợp với một số nghiên cứu trước đó của tác giả

Dương Thị Lan cho tỷ lệ nam 36% và nữ 64% [1], tác giả

Nguyễn Thanh Hùng cho tỷ lệ nam 27,8% và nữ 72,2% [3], tác giả Trịnh Tiến Thành cho tỷ lệ nam 36,1% và nữ 63,9% [5]… Có thể giải thích tỷ lệ cao hơn của bệnh nhân nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là vì Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh nơi chúng tôi tiến hành nghiên cứu là bệnh viện chuyên khoa và có cả khoa thẩm mỹ da, nên nhu cầu đến khám và cải thiện vấn đề liên quan đến thẩm mỹ như bệnh TCTT của nữ giới sẽ nhiều hơn nam giới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh TCTT tập trung cao nhất ở nhóm tuổi 18 - 25 chiếm 43,7% Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu trước đó của tác giả Nguyễn Thanh Hùng: Nhóm tuổi 15 - 24 chiếm tỷ lệ cao nhất [3]; tác giả Dương Thị Lan: Nhóm tuổi 20 - 24 chiếm

tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu [1] Tuổi mắc bệnh trung bình của chúng tôi là 27,3 ± 6,1, gần giống với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Diệu Thuần là 25,7 ± 10,4 [2], và cao hơn hầu hết các nghiên cứu khác, có thể giải thích do tiêu chuẩn chọn mẫu của chúng tôi không đưa vào nhóm bệnh nhân TCTT dưới 18 tuổi

Tuổi khởi phát bệnh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 17,2 ± 5,0 tuổi, đa số khởi phát trước

18 tuổi chiếm 65,5% Điều này phù hợp nghiên cứu của tác giả Tchiu Bích Xuân và cộng sự: Tuổi khởi phát bệnh TCTT trung bình là 16,6 ± 5,0, tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi dưới 20 chiếm 84% [4], hay nghiên cứu của tác giả Dae Hun Suh và cộng sự: Tuổi khởi phát TCTT trung bình là 17,2 ± 5,5 tuổi, chủ yếu khởi phát trước 18 tuổi chiếm 70,7% [10]

Về loại tổn thương cơ bản của bệnh TCTT, thường gặp nhất là mụn đầu trắng (100%), mụn đầu đen (99,2%), sẩn (92,4%), mụn mủ (89,9%) Kết quả này của chúng tôi gần giống với nghiên cứu của tác giả Trịnh Tiến Thành [5], Võ Nguyễn Thuý Anh [6]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, da tăng sắc tố (55,5%) và sẹo lõm (45,4%) là 2 loại tổn thương khác thường gặp nhất trong mụn Tỷ lệ này tương tự các nghiên cứu trong nước [2], [6] và cao hơn các nghiên cứu nước ngoài [9], có thể là do khí hậu ở Thành phố

Hồ Chí Minh với ánh nắng gay gắt và đặc trưng làn da người Việt Nam khá sẫm màu, ý thức chăm sóc và điều trị sớm khi bị bệnh TCTT chưa cao nên dẫn đến sự gia tăng của tình trạng tăng sắc tố sau viêm và sẹo lõm Thể lâm sàng thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là trứng cá sẩn mụn mủ chiếm 71,4%, kế đến là trứng cá nốt nang chiếm 19,3% và trứng cá nhân chiếm 7,6% Kết quả này không khác biệt nhiều

Trang 4

TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 108 Tập 17 - Số 4/2022 DOI:…

với các nghiên cứu trước đó của tác giả Võ Nguyễn

Thúy Anh [6], tác giả Tchiu Bích Xuân [4]

Vị trí sang thương bệnh TCTT tập trung nhiều nhất ở

mặt (100%), kế đến là lưng (53,8%) và ngực (42,0%), kết

quả này của chúng tôi tương tự các nghiên cứu trong và

ngoài nước được ghi nhận trước đó [2], [4], [5], [7], [9]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phân loại theo

thang điểm GAGS, mụn trứng cá trung bình (42,8%) và

nhẹ (41,2%) chiếm đa số, mức độ nặng ít gặp hơn

(16%) Tỷ lệ này gần giống nghiên cứu của tác giả

Tchiu Bích Xuân [4], nhưng nặng hơn nghiên cứu của

Adityan và cộng sự [7], Goulden và cộng sự [8], Poli và

cộng sự [9], phần nào phản ánh sự thiếu quan tâm điều

trị mụn sớm ở Việt Nam

Chu kỳ kinh nguyệt (73,1%), chế độ ăn nhiều chất

ngọt và chất béo (66,4%), sang chấn tinh thần (56,3%)

và thời tiết nóng ẩm (48,7%) là các yếu tố thường gặp

nhất liên quan đến sự tăng nặng của bệnh TCTT theo

nghiên cứu của chúng tôi Điều này phù hợp với kết

quả nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước

như Võ Nguyễn Thúy Anh [6], Poli và cộng sự [9],

Goulden và cộng sự [8]

Tiền căn gia đình mắc bệnh TCTT được ghi nhận ở

56,3% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi Kết quả

này gần giống với nghiên cứu của tác giả Tchiu Bích Xuân

(58,3%) [4], tác giả Nguyễn Thanh Hùng (59,8%) [3] và

cũng phù hợp với y văn thế giới ghi nhận yếu tố gia đình

có liên quan mật thiết đến bệnh trứng cá

5 Kết luận

Bệnh TCTT gặp ở 82,3% nữ giới và 17,7% nam giới

Tuổi khởi phát trung bình là 17,2 ± 5,0 tuổi, nhóm tuổi

mắc bệnh nhiều nhất là 18-25 tuổi chiếm 43,7% Loại

tổn thương cơ bản thường gặp nhất là mụn đầu trắng

(100%), mụn đầu đen (99,2%), sẩn (92,4%), mụn mủ

(89,9%) Da tăng sắc tố (55,5%) và sẹo lõm (45,4%) là 2

loại tổn thương đi kèm chiếm tỷ lệ cao nhất Thể lâm

sàng thường gặp nhất là trứng cá sẩn mụn mủ chiếm

71,4% Tổn thương phân bố nhiều nhất ở mặt (100%),

kế đến là lưng (53,8%) và ngực (42,0%) Phân loại theo

thang điểm GAGS, bệnh trứng cá trung bình (42,8%) và

nhẹ (41,2%) chiếm đa số Chu kỳ kinh nguyệt, chế độ

ăn nhiều chất ngọt và chất béo, sang chấn tinh thần,

thời tiết nóng ẩm và tiền căn gia đình là các yếu tố liên

quan thường gặp nhất đến bệnh TCTT

Tài liệu tham khảo

1 Dương Thị Lan (2009) Nghiên cứu ảnh hưởng của

bệnh trứng cá thông thường đến chất lượng cuộc sống

người bệnh Luận văn thạc sỹ y học, Học viện Quân Y

2 Nguyễn Diệu Thuần, Nguyễn Hữu Sáu (2018) Khảo

sát một số đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan của sẹo lõm trứng cá ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện

Da liễu Trung ương Da liễu học (27), tr 47-53

3 Nguyễn Thanh Hùng (2012) Tỷ lệ hiện mắc

Propionibacterium acnes và sự đề kháng invitro đối với kháng sinh ở bệnh nhân mụn trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh Luận án

chuyên khoa cấp II, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh

4 Tchiu Bích Xuân, Châu Văn Trở, Vũ Hồng Thái (2013)

Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh nhân mụn trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh (17),

tr 22-29

5 Trịnh Tiến Thành, Huỳnh Văn Bá, Trần Đăng Quyết

(2021) Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân trứng cá thông

thường đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2018-2019 Tạp chí Y học Việt Nam

(505), tr 45-48

6 Võ Nguyễn Thuý Anh, Nguyễn Tất Thắng (2007) Đặc

điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mụn trứng

cá ở tuổi trưởng thành Luận văn Bác sĩ Nội trú, Trường

Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh

7 Adityan B, Thappa DM (2009) Profile of acne vulgaris - a

hospital- based study from South India Indian J Dermatol

Venereol Leprol 75(3): 272-278

8 Goulden V (2001) Prevalence of facial acne in adults

Journal of the American Academic of Dermatology (41): 577-580

9 Poli F (2007) Epidermiological study on adult acne

Journal of the American Academic of Dermatology 56(2): 61-64

10 Suh DH, Kim BY, Min SU, Lee DH et al (2011) A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea International Journal of Dermatology 50(6):

673-681

Ngày đăng: 01/09/2022, 01:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm