1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

178 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Ở Các Trung Đoàn Bộ Binh Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Vũ Xuân Trường
Trường học Quân đội nhân dân Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý
Thể loại luận án
Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 434,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả sử dụng trong luận

án là trung thực, chính xác, có nguồn xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Xuân Trường

Trang 2

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CÔNG TÁC THI

ĐUA, KHEN THƯỞNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG

2.1 Các trung đoàn bộ binh và công tác thi đua, khen thưởng ở các trung

đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam 33 2.2 Quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc đổi mới công tác thi đua,

khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam 62

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG VÀ

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TIẾN HÀNH CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG

3.1 Thực trạng công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh

3.2 Nguyên nhân của thực trạng và một số kinh nghiệm tiến hành

công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong

Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI

ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH

4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở

các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 119 4.2 Những giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung

đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 130

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIÁ ĐÃ CÔNG

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Điển hình tiên tiến ĐHTT

2 Hạ sĩ quan, binh sĩ HSQ, BS

3 Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN

4 Quân nhân chuyên nghiệp QNCN

5 Sẵn sàng chiến đấu SSCĐ

6 Thi đua, khen thưởng TĐ, KT

7 Thi đua quyết thắng TĐQT

8 Trung đoàn bộ binh TĐBB

9 Vững mạnh toàn diện VMTD

10 Xã hội chủ nghĩa XHCN

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Thi đua, khen thưởng (TĐ, KT) là một trong những động lực phát triển; biện phápquan trọng thúc đẩy các cá nhân, tổ chức trong xã hội hăng hái, nỗ lực phấn đấu khôngngừng trong học tập, lao động và công tác Công tác TĐ, KT là một bộ phận quan trọngtrong hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và các đoàn thể cách mạngnhằm tổ chức, tập hợp, vận động quần chúng, khơi dậy tinh thần yêu nước, khát vọng cốnghiến, tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trong Quân đội nhân dân Việt Nam(QĐNDVN), công tác TĐ, KT là một nội dung cơ bản của công tác tư tưởng; một biệnpháp quan trọng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhằm tạo động lực, thúc đẩy toàn quân thựchiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng, hoàn thiện phẩm chất, nănglực người quân nhân cách mạng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu,

cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện (VMTD)

Các trung đoàn bộ binh (TĐBB) trong QĐNDVN là lực lượng nòng cốt thực hiệnmọi nhiệm vụ của các sư đoàn, quân khu, quân đoàn, nhất là nhiệm vụ huấn luyện, sẵnsàng chiến đấu (SSCĐ) và chiến đấu Chất lượng thực hiện các nhiệm vụ, kết quả huấnluyện, SSCĐ của các TĐBB trực tiếp ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu, trình độ, khảnăng SSCĐ của các sư đoàn bộ binh Hiện nay, công tác TĐ, KT ở các TĐBB được tiếnhành thường xuyên, liên tục, gắn với các mặt công tác, với các nhiệm vụ nhất là cácnhiệm vụ khó khăn, phức tạp và có sự tham gia của đông đảo các tổ chức, lực lượngtrong và ngoài đơn vị Công tác TĐ, KT ở các TĐBB có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng,góp phần tập hợp, cổ vũ, động viên, khơi dậy khát vọng cống hiến của các cá nhân, tậpthể, đem hết tài năng, trí tuệ, sức lực, hăng hái thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị vàcác nhiệm vụ khác của các TĐBB, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vữngmạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD, các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân vững mạnhxuất sắc

Những năm qua, nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác TĐ, KT, đa

số các chủ thể, lực lượng ở các TĐBB đã nêu cao vai trò, trách nhiệm trong xác địnhcác chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác TĐ, KT; về

cơ bản nội dung, hình thức, biện pháp công tác TĐ, KT ở các TĐBB đã được triển khai

Trang 5

thực hiện chặt chẽ, bám sát với thực tiễn nhiệm vụ và bước đầu đã mang lại hiệu quả;kết quả công TĐ, KT ngày càng được nâng lên, góp phần quan trọng nâng cao chấtlượng thực hiện nhiệm vụ của các cá nhân, tổ chức, xây dựng tổ chức đảng trong sạch,vững mạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD Tuy nhiên, việc thực hiện công tác TĐ, KT ở cácTĐBB còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập: một số cấp ủy, cán bộ các cấp và hội đồng(tổ) thi đua - khen thưởng ở các TĐBB nhận thức có mặt còn chưa đầy đủ, trách nhiệmtrong lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện công tác TĐ, KT cóthời điểm chưa cao; một số nội dung, hình thức, biện pháp công tác TĐ, KT đã đượctriển khai thực hiện nhưng vẫn còn đơn điệu, sơ cứng, có lúc chưa sát với thực tiễnnhiệm vụ và đối tượng; kết quả công tác TĐ, KT gắn với việc hoàn thành nhiệm vụ củamột số cá nhân, tổ chức ở các TĐBB có thời điểm chưa thật sự vững chắc

Hiện nay, những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới đất nước và yêu cầu thựchiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đặt ranhiều vấn đề đối với đổi mới của công tác TĐ, KT và phong trào thi đua yêu nước Trước

sự phát triển mạnh mẽ của Cuộc các mạng công nghiệp lần thứ tư; những mối đe dọa của

an ninh phi truyền thống và những tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, sựchống phá của các thế lực thù địch đã và đang tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xãhội, trong đó có công tác TĐ, KT Bên cạnh đó, bệnh “thành tích”, che dấu khuyết điểm,thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thànhtích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” trong cán bộ, đảng viên và các tổ chức cónguy cơ bùng phát làm ảnh hưởng đến vai trò, ý nghĩa của công tác TĐ, KT Trongnhững năm tới, trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng QĐNDVN cách mạng, chính quy, tinhnhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiệnđại; trước sự phát triển về phương hướng, nhiệm vụ công tác TĐ, KT và phong trào thiđua Quyết thắng (TĐQT) trong toàn quân và nhiệm vụ của các TĐBB, đòi hỏi cần phảiđổi mới mạnh mẽ công tác TĐ, KT để góp phần tập hợp, cổ vũ, động viên, khơi dậy khátvọng cống hiến của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) và hạ sĩ quan, binh sĩ(HSQ, BS) ở các TĐBB, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, gian khổ,hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vữngmạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề

Trang 6

tài luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyềnNhà nước.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn công tác TĐ, KT và đổi mớicông tác TĐ, KT ở các TĐBB; đề xuất những giải pháp đổi mới công tác TĐ, KT ở các

TĐBB trong QĐNDVN hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; khát quát giá trị củacác công trình khoa học đã tổng quan và xác định những vấn đề luận án tập trung nghiêncứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác TĐ, KT và đổi mớicông tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Đánh giá đúng thực trạng công tác TĐ, KT; xác định nguyên nhân và rút ra một

số kinh nghiệm tiến hành công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp đổi mới công tác TĐ, KT ở cácTĐBB trong QĐNDVN hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác TĐ, KT vàđổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB đủ quân thuộc các sư đoàn bộ binh trongQĐNDVN Tập trung điều tra, khảo sát ở các TĐBB thuộc Sư đoàn bộ binh 3, Quân khu1; Sư đoàn bộ binh 395, Quân khu 3; Sư đoàn bộ binh 2, Quân khu 5; Sư đoàn bộ binh 5,Quân khu 7; Sư đoàn bộ binh 330, Quân khu 9; Sư đoàn bộ binh 312, Quân đoàn 1; Sưđoàn bộ binh 325, Quân đoàn 2; Sư đoàn bộ binh 9, Quân đoàn 4 Các tư liệu, số liệu điềutra, khảo sát phục vụ nghiên cứu luận án chủ yếu từ năm 2015 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua XHCN, tư tưởng HồChí Minh về thi đua ái quốc và khen thưởng; pháp luật Nhà nước về TĐ, KT; đường lối,quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; về xây dựng

Trang 7

QĐNDVN; về công tác đảng, công tác chính trị, trực tiếp là công tác tư tưởng, công tác

TĐ, KT trong Quân đội

Cơ sở thực tiễn

Hiện thực công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN; kế thừa có chọn lọc kết

quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan; các tư liệu, số liệu, các báocáo sơ kết, tổng kết CTĐ, CTCT và công tác TĐ, KT của các sư đoàn, quân khu, quânđoàn và toàn quân; kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả ở các TĐBB trongQĐNDVN

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành; trong đó chútrọng kết hợp các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, thống kê và sosánh, điều tra xã hội học, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

Xây dựng và làm rõ quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp đổi mới công tác

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận,thực tiễn về công tác TĐ, KT và đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVNhiện nay

Góp phần cung cấp thêm những luận cứ khoa học phục vụ các cấp ủy, tổ chứcđảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng ở các TĐBB trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới,nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TĐ, KT

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy, học tậpmôn CTĐ, CTCT ở các học viện, trường sĩ quan trong QĐNDVN

7 Kết cấu của luận án

Trang 8

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoahọc của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục.

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình khoa học về thi đua, khen thưởng

X.I Xu-rơ-ni-tren-cô (1982), Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô

[174] Trong cuốn sách, tác giả có nhiều bài viết khẳng định về vai trò của thi đua và cácĐHTT trong xây dựng XHCN Đồng thời, tác giả cũng làm rõ vai trò, sự cần thiết của tổchức đảng trong lãnh đạo phong trào thi đua XHCN Tác giả cũng đã chỉ rõ một số kếtquả trong tổ chức thi đua XHCN ở Liên Xô như: “phong trào thi đua XHCN đã đượcnâng lên một trình độ mới; nội dung của nó đã trở lên sâu sắc hơn, các hình thức đã được

mở rộng, hiệu quả của thi đua đã được nâng cao” [174, tr.60] Trên cơ sở đó, tác giả đặt

ra những yêu cầu đối với cấp ủy, tổ chức đảng trong tổ chức thi đua XHCN: “Đảng ta cầntriệt để phát triển những nguyên tắc dân chủ của phong trào thi đua XHCN khôngngừng thực hiện những nguyên tắc của V.I Lênin về tổ chức thi đua: công khai, so sánhkết quả, khả năng lắp lại kinh nghiệm trên thực tế” [174, tr.62] Đối với cấp ủy đảng “cácvấn đề tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa, phổ biến những sáng kiến lớn, kinh nghiệm sảnxuất tiên tiến là đối tượng quan tâm đặc biệt” và “cần quan tâm đặc biệt đến phong tràothi đua nâng cấp chất lượng công tác” [174, tr.64]

Đặng Tiểu Bình (1995), Bàn về cải cách và mở cửa của Trung Quốc [11] Trong

cuốn sách, khi bàn về vai trò của khen thưởng, tác giả đã khẳng định: “Phải có thưởng cóphạt, thưởng phạt phân minh Chúng ta thực hiện phương châm lấy cổ vũ tinh thần làchính, cổ vũ vật chất là phụ Cấp huy chương, giấy khen là cổ vũ tinh thần, là sự vinhdanh về mặt chính trị Điều này là cần thiết nhưng cổ vũ bằng vật chất cũng không thểthiếu được” [11, tr.29] Do đó, tác giả đặt ra yêu cầu phải khôi phục lại chế độ tiềnthưởng, những người sáng tạo, phát minh phải cấp tiền thưởng, những người có cống hiếnđặc biệt cũng phải cấp tiền thưởng, những người có thành quả quan trọng trong nghiêncứu khoa học ngoài khuyến khích ban thưởng cho việc phát minh, sáng tạo của họ, còn cóthể nâng bậc lương của họ Và nếu họ đã làm mấy năm mà không có thành tích thì nên để

họ chuyển ngành

Vương Lạc Phu, Tưởng Nguyệt Thần (2000), Khoa học lãnh đạo hiện đại [112].

Theo các tác giả, để tiến hành công tác chính trị tư tưởng có hiệu quả cần thực hiện tốtphương pháp giáo dục ĐHTT Tác giả cũng chỉ rõ quan niệm, vai trò của ĐHTT, trong đókhẳng định: “Trong một quần thể thường có những người tiên tiến, trung bình và chậmtiến Những người điển hình tiên tiến đều cố gắng tích cực xây dựng sự nghiệp của chúngta” [112, tr.417] Theo các tác giả, để phát huy vai trò của ĐHTT trong các hoạt động:

Trang 10

trước hết cần căn cứ vào nhiệm vụ trung tâm và nhu cầu phát triển của tình hình để chọnđiển hình; hai là, cần thực sự cầu thị và tuyên truyền điển hình; ba là, cần giáo dục choquần chúng có nhận thức đúng đắn, cố gắng học tập ĐHTT Mặt khác, khi giáo dụcnhững ĐHTT cần có thái độ đối xử đúng đắn, khiêm tốn thành thật học tập quần chúng,

cố gắng đạt thành tích cao và tiếp tục vươn lên Để phát huy được tối đa sức mạnh củacon người nói chung và nhân tài nói riêng, tác giả đòi hỏi trong nghệ thuật lãnh đạo cầnthực hiện nghiêm chế độ thưởng - phạt:

Chế độ thưởng - phạt là một chế độ khen thưởng vật chất hoặc danh dự đối vớingười có thành tích nổi bật và xử phạt đối với người mắc sai lầm Có ba cáchkhen thưởng chủ yếu: khen thưởng danh dự, khen thưởng vật chất và khenthưởng đề bạt Thưởng phạt cần phải phân biệt rõ ràng, thỏa đáng và kịp thời.Bất kỳ thưởng hay phạt đều cần dựa vào tiêu chuẩn nhất định [112, tr.358]

Xắcxavắt Xuânthếpphimmason (2003), Công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay [173] Trong phần đánh giá thực trạng công tác tư tưởng của

Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tác giả đã làm rõ một số hạn chế, khuyết điểm, trong đóchỉ rõ: “một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì chưa quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo cácphong trào thi đua, nhất là công tác kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ; thực hiện bình xétkhen thưởng ở một số đơn vị chưa nghiêm túc, chưa tạo được động lực đối với cán bộ,đảng viên” [173, tr.78] Để tăng cường công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạngLào hiện nay, tác đề xuất các giải pháp như: tăng cường sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối,trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội; phát huy vai tròtích cực của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị; xây dựng chương trình kế hoạchCTTT phù hợp với thực tiễn; xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ làm CTTT tinh gọn,hoạt động hiệu quả Trong đó, giải pháp “mở rộng dân chủ, phát huy tự do tư tưởngtrong công tác tư tưởng của Đảng”, tác giả, nhấn mạnh “các tổ chức đảng cần mở rộngdân chủ, chú trọng đẩy mạnh các phong trào thi đua, để huy động được trí tuệ, sức lựccủa đông đảo cán bộ, đảng viên trong các nhiệm vụ”; đồng thời bên cạnh đó cần làm tốt

“việc phát huy dân chủ trong phân loại, đánh giá cán bộ, đảng viên; tiến hành biểu dương,khen thưởng kịp thời, công bằng, chính xác” [173, tr.110]

Cục Cán bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005),

Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ đổi mới [34] Trong cuốn sách, khi luận giải

yêu cầu về sự kết hợp giữa giải quyết vấn đề tư tưởng với giải quyết vấn đề thực tế, tácgiả đã chỉ rõ cần phải “đẩy mạnh các phong trào thi đua để giải quyết các vấn đề trên thực

tế mới nảy sinh, trong thi đua cần phải làm được nhiều hơn nữa những việc được lòngngười, ấm lòng người, ổn định lòng người” [34, tr.248] Tác giả cũng đã khẳng định cầnphải tổ chức, “triển khai các hoạt động thi đua “hai tốt” - đơn vị phục vụ tốt, các nhân

Trang 11

viên phục vụ tốt; cơ quan tổ chức hoạt động thi đua trở thành “công nhân viên được lòngdân” [34, tr.257] Về phương pháp “nêu gương điển hình”, theo tác giả cần tìm ra nhữngtập thể, cá nhân tiên tiến đáng kính trọng đại diện cho các tầng lớp khác nhau trong toàn

xã hội, “dùng nhiều hình thức để tuyên truyền tạo ra sức cảm hóa, giáo dục mạnh mẽ, thấmnhuần vào tư tưởng và hành vi của mọi người, quần chúng sẽ học tập, noi theo tạo nên bầukhông khí tốt đẹp tôn vinh tiên tiến, học tập và thi đua với tiên tiến trong toàn xã hội” [34,tr.258] Tác giả đã khẳng định để phát huy được vai trò của điển hình, “trước hết phải giỏiphát hiện và nhân rộng điển hình có cơ sở sâu rộng trong quần chúng và mang đậm màusắc thời đại… Phải chú trọng giới thiệu tư tưởng và việc làm của họ, triệt để phát huy tácdụng gương mẫu, lôi cuốn của điển hình… hết sức tránh thổi phồng, xa rời thực tế.” [34,tr.102]

Sẳmlan Phănkhảvông (2013), Xây dựng cán bộ chuyên trách công tác thi đua,

khen thưởng cấp tỉnh của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay

[109] Tác giả luận án đã làm rõ một số đặc điểm về công tác TĐ, KT và cơ quan chuyêntrách làm công tác TĐ, KT ở các tỉnh, thành phố của Lào, khẳng định: Ở Lào chưa cóLuật TĐ, KT; các tỉnh, thành phố của Lào có các tổ chức làm công tác TĐ, KT như: Hộiđồng TĐ, KT; ban TĐ, KT; các cơ quan chuyên trách này được thành lập và hoạt độngtheo Nghị định số 253/TTCP, ngày 19/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa dânchủ nhân dân Lào về tổ chức và hoạt động của Bộ Nội vụ Bên cạnh đó, tác giả cũng đãtập trung làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung, hình thức, nguyên tắc thi đua và khenthưởng; luận giải khái niệm, vai trò, nội dung công tác TĐ, KT ở các tỉnh thành phố củaCộng hòa dân chủ nhân dân Lào Trên cơ sở đánh giá ưu điểm, hạn chế trong xây dựngđội ngũ cán bộ chuyên trách công tác TĐ, KT, theo tác giả để xây dựng đội ngũ cán bộchuyên trách này cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau: Nâng cao nhận thức,trách nhiệm của cấp ủy tỉnh, thành phố; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng, quản lý, đánh giá đối với cán bộ; đề cao và phát huy tinh thần tự học, tự rèncủa cán bộ; đặc biệt là cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy công tác TĐ, KT cấp tỉnh,nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong các cơ quan chuyên trách công tác TĐ, KT cấptỉnh; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong cơ quan TĐ, KT

Adrian Gostick, Chester Elton (2017), Câu chuyện nhà quản lý Cà rốt và nghệ thuật khen thưởng [68] Trong cuốn sách, các tác giả đã làm rõ vai trò của khen thưởng

thông qua câu chuyện củ Cà rốt, một loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn của cácgia đình Âu - Mỹ Theo các tác giả, nếu cà rốt cần thiết cho mọi người, mọi lúc, mọi nơithì mọi lời khen cũng vậy: “Có những lời nói không mất tiền mua hay những phần

Trang 12

thưởng tuy khiêm tốn nhưng có thể góp phần tạo ra một môi trường làm việc mà nhiềungười muốn gắn bó” [68, tr.12] Thông qua các câu chuyện ngụ ngôn hiện đại và nhữngluận giải của các tác giả, đã cho thấy tầm quan trọng thực sự của khen thưởng đối vớiviệc khơi dậy những tiềm năng to lớn trong đội ngũ nhân viên Các tác giả khẳng định:

“Sự ghi nhận và khen thưởng kịp thời sẽ chứng tỏ rằng các cấp lãnh đạo đang tích cựcbám sát các hoạt động của nhân viên và sẵn sàng dành những phần thưởng xứng đáng chonhững ai có thành tích vượt trội” [68, tr.90] Mặt khác, các tác giả đã đề xuất cho các nhàquản lý những chiến lược và giải pháp hữu hiệu, góp phần củng cố lòng trung thành vàtăng cường hiệu năng lực làm việc của nhân viên bằng cách ghi nhận thành tích của họthông qua một phương pháp khen thưởng khá đơn giản gọi là “Bí quyết củ cà rốt”

Ken Lloyd (2019), 151 Ý tưởng khen thưởng nhân viên [87] Tác giả cuốn sách đã

nhấn mạnh, làm rõ vai trò, sự cần thiết phải tiến hành khen thưởng đối với nhân viên Đồngthời, theo tác giả, khen thưởng cũng phải đúng cách, có phương pháp và cách làm cho phùhợp để có thể khơi dậy được tinh thần, trách nhiệm của nhân viên Trong cuốn sách, tác giảcũng đã đưa ra 151 cách để lãnh đạo, người quản lý áp dụng khen thưởng một cách phùhợp, đem lại hiệu quả cao nhất Trong đó, tác giả đã tập trung luận giải một số cách thức,biện pháp khen thưởng nhân viên như cách sử dụng ngôn từ; tặng những danh hiệu; chođiểm thưởng; phần thưởng từ các buổi đào tạo; gửi thư khen ngợi thành tích; động viênkhích lệ; đăng bài trên báo; tặng thưởng bằng trang phục…

1.1.2 Các công trình khoa học về thi đua, khen thưởng trong lực lượng vũ trang

A.A Grê-scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô Viết [69] Trong

cuốn sách, tác giả đã khẳng định để nâng cao hiệu quả CTĐ, CTCT cần phải chú trọng

mở rộng phong trào thi đua XHCN: “Một trong những hướng hết sức quan trọng củaCTĐ, CTCT trong quân đội là việc mở rộng phong trào thi đua XHCN trong binh sĩ.Phong trào thi đua XHCN là một phương tiện mạnh mẽ để động viên các chiến sĩ hoànthành nhiệm vụ do Đảng Cộng sản đề ra cho các lực lượng vũ trang [69, tr.527] Tác giả

đã làm rõ bốn nguyên nhân chủ yếu cần phải đẩy mạnh việc tổ chức thi đua XHCN; chỉ

ra yêu cầu đối với người chỉ huy, các cơ quan chính trị, bộ tham mưu trong tổ chức thiđua; đồng thời khẳng định: “cần phải triệt để thực hiện những nguyên lý của Lênin về thiđua xã hội chủ nghĩa, phát triển ở toàn thể binh sĩ, như V.I Lênin đã dạy, nguyện vọngnhất thiết phải tiến xa hơn nữa, nhất thiết phải giành được nhiều hơn nữa…” [69, tr.527].Theo tác giả, cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của thi đua, mở rộng các lĩnh vực tácđộng của nó đến tất cả các mặt của công tác huấn luyện và cuộc sống của quân đội, lãnh

Trang 13

đạo thi đua một cách cụ thể, nhổ tận gốc những yếu tố của chủ nghĩa hình thức, tạo ratrong các đơn vị một không khí tìm tòi sáng tạo.

A.A Ê-pi-sép (1980), Công tác tư tưởng trong các lực lượng vũ trang Xô Viết

[66] Trong cuốn sách, tác giả đã khái quát vai trò của TĐ, KT đối với việc giáo dục cácquân nhân trong lực lượng vũ trang: “sự khắc phục khó khăn, cố gắng phấn đấu đạt mụctiêu đã định, thực hiện chỉ tiêu thi đua XHCN đã cam kết, sẽ giúp cho sự hình thànhnhững nét quan trọng của thế giới quan như tính triệt để, kiên trì, quyết tâm” [66, tr.59].Tác giả cho rằng, điều tác động đến nội tâm con người không phải là ở bản thân sự khenthưởng hay trừng phạt mà là ở chỗ khen thưởng hay trừng phạt có công bằng không, cóđúng với điều lệnh quy định hay không Tác giả cũng đã chỉ rõ một số yêu cầu khi thựchiện khen thưởng: “Hay khen thưởng luôn về những hành động bình thường thì không cótác dụng tích cực mà lại có thể gây cho mọi người quân nhân được khen thái độ tự caođối với đồng đội, làm nảy nở cái gọi là tinh thần kiêu ngạo đâm ra coi khen thưởng là lẽđương nhiên” [66, tr.140]

P.I Các-pen-cô (1981), Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô Viết [27] Trong Chương VIII, tác giả đã luận giải rất cụ thể, chi tiết về vấn đề

thi đua XHCN trong Quân đội và Hải quân Xô Viết: làm rõ quan điểm của V.I Lênin,Đảng Cộng sản Liên Xô và những nguyên tắc tổ chức thi đua XHCN; chỉ rõ vai trò củathi đua trong nâng cao SSCĐ; những phương hướng chủ yếu, nội dung cơ bản trong giaoước thi đua; chỉ ra một số kinh nghiệm tổ chức thi đua XHCN trong phân đội, binh đội,hạm đội Theo tác giả, bí quyết của thắng lợi trong thi đua nằm trong công tác chính trị -

tư tưởng và công tác tổ chức hàng ngày, trong việc bảo đảm tính công khai rõ ràng, dễdàng so sánh kết quả, tích cực phổ biến và vận dụng trong thực tế kinh nghiệm của nhữngchiến sĩ giỏi Tác giả đã khẳng định: “Thi đua là công việc sáng tạo và sinh động, khôngcho phép hình thức chủ nghĩa, hời hợt, rùm beng hay ba hoa Đảm bảo hiệu lực của thiđua chính là sự đoàn kết, hợp đồng có mục tiêu trong công tác của cán bộ chỉ huy, cơquan tham mưu, cán bộ chính trị, các tổ chức đảng và tổ chức đoàn [27, tr.300]

Chương Tư Nghị (2006), Công tác chính trị của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ mới [105] Tác giả chỉ rõ, những tấm gương điển hình có tác dụng rất

lớn trong việc động viên, giáo dục và thúc đẩy con người Theo tác giả, “phải dùng mọiphương tiện để tiến hành tuyên truyền giới thiệu rộng rãi về kinh nghiệm và sự tích củacác tấm gương điển hình Kiên trì không mệt mỏi, chú trọng năng xuất chất lượng hiệuquả, phát huy đầy đủ và mở rộng vai trò tác dụng của điển hình tiên tiến trong công tác

Trang 14

thức kỷ luật của quân nhân, yêu cầu của công tác chính trị là phải thực hiện đúng đắn chế

độ thưởng phạt; đối với những đơn vị, cá nhân tuân thủ tốt về kỷ luật, pháp luật thì phảikhen thưởng thích đáng Theo tác giả, để việc khen thưởng chính xác, hợp lý phải chú ýđến tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục khen thưởng: “Với bất kỳ ai đều phải căn cứ theo tiêuchuẩn đã đề ra để thực hiện thưởng phạt… Thực hiện thưởng phạt phải theo trình tự vàquyền hạn theo quy định của tổ chức, phải trên cơ sở phát huy đầy đủ dân chủ tập trung ýkiến chính xác” [105, tr.102] Trong thực hiện đường lối quần chúng, tác giả đã chỉ ra

“Tám kinh nghiệm thực hiện đường lối quần chúng” mà Tổng cục Chính trị đã tổng kếttrong thời kỳ chiến tranh chống Nhật: “Thủ trưởng phụ trách, từng người ra tay; khêu gợi

tư tưởng tự giác của chiến sĩ; đi sâu cổ vũ động viên công tác; phát động thi đua cáchmạng; biểu dương khen ngợi; bồi dưỡng điển hình; vận dụng sách báo; phát huy dân chủ”[105, tr.123]

Sỏnxay Chănnhalạt (2012), Giáo dục chính trị, tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào hiện nay [29] Theo tác giả để giáo dục chính trị, tư tưởng cho

HSQ, BS, có thể “thông qua các phong trào thi đua yêu nước, thi đua tìm hiểu truyềnthống lịch sử dân tộc, cách mạng, địa phương, quân đội và đơn vị”, thông qua việc “tiếnhành biểu dương người tốt, việc tốt, học tập các cá nhân, đơn vị điển hình tiên tiến” [29,tr.57] Khi phân tích làm rõ những kinh nghiệm trong giáo dục chính trị, tư tưởng choHSQ, BS, tác giả đã nhấn mạnh cần phải “tuyên truyền mạnh mẽ, ca ngợi chủ nghĩa anhhùng, truyền thống yêu nước, các tấm gương người tốt, việc tốt; nhân rộng, quảng bá cáctấm gương điển hình tiên tiến, tích cực làm cho cái tốt ngày càng nảy nở, đẩy lùi cái tiêucực lạc hậu” [29, tr.90] Trong giải pháp “đổi mới và hoàn thiện chương trình nội dung,hình thức, phương pháp giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dânLào”, tác giả đã chỉ ra các hình thức, phương pháp cụ thể, trong đó cần chú trọng “đổimới tổ chức các phong trào thi đua trên các mặt, các lĩnh vực, đi sâu vào các hoạt độnggắn với chức trách, nhiệm vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ” [29, tr.128] để giáo dục chính trị, tưtưởng có hiệu quả và tạo động lực thúc đẩy HSQ, BS hoàn thành tốt nhiệm vụ

Thimsảo Đuôngchămpa (2016), Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào hiện nay [65] Tác giả đã làm rõ quan niệm cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và đặc điểm của các TĐBB Quân đội nhân dân Lào Trong phần đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục chính trị cho HSQ, BS ở

các TĐBB Quân đội nhân dân Lào, tác giả đã chỉ rõ nhưng ưu điểm trong thực hiện cácphong trào thi đua Khi đánh giá về công tác khen thưởng, tác giả đã chỉ rõ tính đa dạngtrong đối tượng khen thưởng không chỉ tập trung ở cán bộ, chỉ huy mà còn có cả hạ sĩquan, binh sĩ: “có 25,99% HSQ, BS vinh dự được Đảng, Nhà nước khen thưởng nhân dịp

Trang 15

kỷ niệm 65 năm thành lập Quân đội, trong đó có 15, 23% HSQ, BS được tặng Bằng khen

và 10,76 % được tặng Giấy khen” Trong giải pháp “đổi mới nội dung, chương trình, vậndụng linh hoạt các hình thức, phương pháp giáo dục chính trị cho cho hạ sĩ quan, binh sĩ

ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào”, tác giả nhấn mạnh cần phải đổi mớihình thức tổ chức các hoạt động thực tiễn như: “phát động và duy trì thường xuyên phongtrào thi đua sôi nổi trong suốt quá trình giáo dục chính trị cho HSQ, BS; coi trọng côngtác cổ vũ, động viên bộ đội là hình thức giáo dục động cơ quan trọng Kết hợp hài hòagiữa động viên tinh thần với khuyến khích lợi ích vật chất” [65, tr.148]

ChenYa Tien (2019), Lý thuyết quân sự Trung Hoa xưa và nay [146] Tác giả cuốn

sách đã luận giải những lý thuyết quân sự của Trung hoa gắn với từng giai đoạn cụ thểnhư lý thuyết quân sự cổ điển, tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông; tư tưởng cải cách quân

sự Đặng Tiểu Bình Trong lý thuyết quân sự cổ điển của Trung hoa, tác giả nhấn mạnh

và làm rõ hệ thống tưởng thưởng và luật pháp, trong đó khẳng định: “Dựa trên hệ thốngtưởng thưởng, kẻ nào giết được nhiều địch nhất sẽ được thưởng nhiều nhất” [146, tr.55].Mặt khác, theo tác giả lý thuyết quân sự của Trung Hoa trong tư tưởng của Mao TrạchĐông, Đặng Tiểu Bình và cho đến nay đều nhấn mạnh vai trò của đội ngũ chính ủy, côngtác huấn luyện chính trị và vai trò của việc biểu dương, khen thưởng đối với các binh sĩtrong quân đội Tác giả cũng chỉ rõ một trong những yếu tố quan trọng của lý thuyết quân

sự Trung Hoa là phải khơi dậy được sức mạnh tinh thần của các binh sĩ và phát huy vaitrò của các gương chiến đấu dũng cảm, các ĐHTT trong thực hiện nhiệm vụ của quânđội; đồng thời đặt ra những yêu cầu đối với người chỉ huy, những chính ủy trong quân độicần đẩy mạnh việc biểu dương, khen thưởng, tuyên truyền, nhân rộng các ĐHTT

1.2 Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình khoa học về công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng của Đảng và Nhà nước

Mai Trường Giang, Viết Anh Đức (2011), Trang vàng thi đua - khen thưởng Việt Nam [67] Các tác giả đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác

TĐ, KT thông qua việc ban hành các chỉ thị, các văn bản luật, nghị định, thông tư Bêncạnh đó, trong cuốn sách các tác giả đã giới thiệu một số nội dung chủ yếu trong Báo cáotổng kết công tác TĐ, KT giai đoạn 2005 - 2010, nhấn mạnh thực trạng và chỉ ra nguyênnhân của những hạn chế trong công tác TĐ, KT chủ yếu do tác động mặt trái kinh tế thịtrường; nhận thức, trách nhiệm của một số lực lượng tham gia chưa tốt; hệ thống phápluật về thi đua được xây dựng và ban hành nhưng chưa đồng bộ; bộ máy cán bộ chuyêntrách chưa đáp ứng được yêu cầu Mặt khác, Trong cuốn sách, các tác giả đã giới thiệu cụthể những kết quả, thành tích tiêu biểu của các gương sáng trên các lĩnh vực kinh tế, vănhóa - xã hội, quốc phòng, an ninh ; đồng thời đã tập trung giới thiệu những thông tin về

Trang 16

nội dung, hình thức của thi đua và khen thưởng; làm rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò củaBan Thi đua - khen thưởng Trung ương, hội đồng (tổ) thi đua các cấp.

Trần Thị Hà (Chủ nhiệm, 2013), Cơ sở lí luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay [72] Các tác giả của đề tài đã luận

giải sâu sắc những vấn đề lí luận chung về công tác TĐ, KT; hệ thống hóa nhữngquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm củaĐảng, chính sách của Nhà nước về TĐ, KT Các tác giả đã khái quát những vấn đềchủ yếu về TĐ, KT ở các nước: Liên Xô (trước đây), chế độ khen thưởng của Liênbang Nga, Cộng hòa Pháp, Trung Quốc Các tác giả đã tập trung khảo sát, đánh giáthực trạng công tác TĐ, KT và quy định của pháp luật về TĐ, KT; tổ chức bộ máy vàcán bộ làm công tác TĐ, KT, trong đó đã chỉ rõ ưu, khuyết điểm, nguyên nhân Đồngthời, các tác giả đã phân tích, làm rõ mục tiêu, nội dung giải pháp chủ yếu đổi mớicông tác TĐ, KT trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số kiến nghị Nội dung cáckiến nghị tập trung đề nghị với Bộ Chính trị; kiến nghị với Quốc hội; kiến nghị đổimới hoạt động của cơ quan truyền thông để tuyên truyền các gương ĐHTT, ứng dụngcông nghệ thông tin trong hệ thống tổ chức TĐ, KT; củng cố và nâng cao chất lượnghoạt động của hội đồng TĐ, KT các cấp; đẩy mạnh bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp

vụ cho cán bộ làm công tác TĐ, KT; thành lập viện nghiên cứu, bồi dưỡng, đào tạocán bộ TĐ, KT Đề tài cũng đã rút ra một số kinh nghiệm của một số nước tư bản trongthực hiện công tác khen thưởng

Nguyễn Khắc Hà (2015), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta hiện nay [71] Tác giả luận án đã làm rõ

khái niệm, vai trò công tác TĐ, KT; chỉ ra những đặc điểm cơ bản của công tác TĐ, KT

ở nước ta hiện nay: một là, công tác TĐKT là hoạt động liên quan đến đông đảo nhân dân, diễn ra trên phạm vi rộng lớn trong thời gian khá dài; hai là, công tác TĐKT ở

nước ta hiện nay là hoạt động của các tổ chức trong HTCT và các tổ chức khác trong xãhội, song chủ yếu là hoạt động của các tổ chức trong HTCT dưới sự lãnh đạo của các

cấp ủy đảng; ba là, công tác TĐKT ở nước ta hiện nay chịu tác động của việc xây dựng

và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vừa có hợp tác, vừa có cạnhtranh; đồng thời vẫn còn chịu tác động của tâm lý, tập tập quán của người sản xuất nhỏ,hoạt động lâu dài trong cơ chế hành chính, tập trung bao cấp và trong chiến tranh Tácgiả đã đưa ra quan niệm, vai trò, đặc điểm của cán bộ, lãnh đạo, quản lý chuyên tráchcông TĐ, KT Tác giả đã làm rõ những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý chuyên trách công tác TĐ, KT, trong đó nhấn mạnh cần phải “Nâng caonhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, lãnh đạo đơn vị về vị trí, vai trò của TĐ,

Trang 17

KT và việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác TĐ, KTtrong tình hình mới” [71, tr.135]

Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2018), 70 năm thi đua yêu nước (1948

- 2018) [6] Trong cuốn sách, tác giả đã làm rõ những kết quả đã đạt được và rút ra

những bài học kinh nghiệm trong tổ chức các phong trào thi đua yêu nước từ Đại hộiThi đua toàn quốc lần I (5/1952) đến Đại hội Thi đua toàn quốc lần IX (12/2015.Trong giai đoạn đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước (2001 - 2018), tác giả khẳng định:

Các cấp các ngành đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước sâu rộng,đều khắp, đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợicác mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh Quaphong trào thi đua đã xuất hiện nhiều gương người tốt, việc tốt, nhiều tập thể cánhân điển hình tiên tiến, lập nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực… [6,tr.208]

Tác giả đã chỉ ra những chặng đường lịch sử của phong trào thi đua yêu nước quacác thời kỳ cách mạng cho đến công cuộc đổi mới hiện nay với những mô hình, gươngđiển hình tiên tiến và những kết quả cụ thể trong thực hiện phong trào thi đua yêu nướccủa các cơ quan, địa phương, đơn vị; đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnhcông tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước về công tác TĐ, KT

Việt Hà, Mai Chi (2020), “Một số giải pháp đổi mới khen thưởng cấp nhà nước cho

tổ chức, các nhân nước ngoài đáp ứng yêu cầu hội nhập” [73] Các tác giả đã khẳng định,khen thưởng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có vị trí, vai trò quan trọng trong công tác

TĐ, KT: “khen thưởng cho tổ chức, các nhân nước ngoài thể hiện sự ghi nhận, biểudương thành tích, sự tri ân sâu sắc đến các tập thể, cá nhân nước ngoài có công lao đónggóp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” [73, tr.18] Trên cơ sở chỉ rakết quả đạt được trong công tác khen thưởng, các tác giả đã đề xuất một số biện pháp đổimới công tác khen thưởng cho tổ chức, các nhân nước ngoài trong thời kỳ CNH, HĐH và

hội nhập quốc tế: Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền về tầm quan trọng của khen thưởng tổ chức cá nhân, nước ngoài Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu của cơ quan chuyên trách công tác TĐ, KT Ba

là, hoàn thiện thể chế chính sách khen thưởng tổ chức cá nhân nước ngoài Bốn là, cần

Trang 18

ngoài Năm là, đổi mới phương thức phối hợp giữa cơ quan làm công tác khen thưởng với các cơ quan có liên quan Sáu là, đổi mới quy trình thủ tục hồ sơ khen thưởng cấp nhà

nước đảm bảo việc khen thưởng được chính xác, đúng đối tượng

Nguyễn Phú Trọng (2020), “Bài phát biểu tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc

lần thứ X” [152] Trong bài phát biểu, tác giả đã nhấn mạnh “công tác TĐ, KT có tầm

quan trọng đặc biệt góp phần tạo ra động lực thúc đẩy các hoạt động cách mạng” [152,tr.2] Tác giả đã khẳng định những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước

và những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong 5 năm qua có sự đónggóp tích cực của phong trào thi đua yêu nước Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tácgiả đã chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm của công tác TĐ, KT: “Hội đồng TĐ-KT ở một

số đơn vị chưa thực hiện tốt công tác tham mưu, kiểm tra, giám sát và thực hiện công tác

TĐ, KT theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao” [152, tr.3] Để thực hiện tốt công tác

TĐ, KT trong thời gian tới, tác giả nhấn mạnh thêm một số vấn đề chủ yếu sau: Thứ nhất,

tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện thật tốt các chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, nhất là

quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thứ hai, tổ chức

các phong trào thi đua cần có mục tiêu thiết thực, cụ thể gắn với việc thực hiện nhiệm vụ

chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục Thứ

ba, nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ và thực chất,

bảo đảm khen thưởng chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, có tác dụng giáo dục và

nêu gương Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các phong trào thi đua, phối

hợp với cơ quan thông tin đại chúng phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng ĐHTT, nêugương người tốt, việc tốt nhằm thúc đẩy, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, góp phần tạo

động lực thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Thứ năm, thi đua phải bảo đảm

sự lãnh đạo của Đảng, gắn liền với tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng

Xuân Hồng, Thế Kiệt (2021), “Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước góp

phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” [79] Các tác giả đã khái

quát, luận giải một số quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêunước; đồng thời làm rõ vai trò, ý nghĩa của thi đua và khẳng định, trong những nămqua phong trào thi đua yêu nước đã góp phần quan trọng vào những thành tựu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong giai đoạn cách mạngmới, việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi Nghịquyết Đại hội XIII của Đảng là rất cần thiết, trong đó, theo các tác giả cần tập trung

vào một số biện pháp sau: Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công

Trang 19

tác TĐ, KT và phong trào TĐQT ở tất cả các cấp, các ngành và mỗi địa phương Hai

là, xác định mục tiêu, nội dung thi đua vừa có tính toàn diện vừa có tính đột phá vào

những trọng tâm, trọng điểm, nhất là những khâu khó, những mặt yếu của từng địa

phương, đơn vị Ba là, việc bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng ĐHTT phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên Bốn là, gắn kết các phong trào thi đua yêu nước với thực

hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tưtưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nguyễn Thế Anh (2021), Thực hiện pháp luật thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay [1] Tác giả luận án đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp

luật TĐ, KT bao gồm: khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò, các hình thức thực hiệnpháp luật TĐ, KT và các yếu tố tác động tới thực hiện pháp luật TĐ, KT ở Việt Nam Tácgiả luận án cũng đã làm rõ các quy định khen thưởng của một số nước trên thế giới gồmnhư Cu Ba, Trung Quốc, Thái Lan và một số quốc gia khác như Anh, Hoa Kỳ, Pháp, trên

cơ sở đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt so với thực hiện pháp luật thi đua,khen thưởng ở Việt Nam Tác giả đã phân tích, đánh giá khái quát quá trình phát triển củapháp luật TĐ, KT ở Việt Nam, thực trạng thực hiện pháp luật TĐ, KT ở Việt Nam, chỉ ranhững kết quả, hạn chế và nguyên nhân của kết quả, hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đãxác định 04 quan điểm.và đề xuất 06 giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật TĐ,

KT ở Việt Nam hiện nay: Một là, nâng cao nhận thức trong thực hiện pháp luật TĐ, KT; Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật TĐ, KT; Ba là, nâng cao chất lượng, đổi

mới hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp và cơ quan làm công tác TĐ,

KT; Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT; Năm là, tiếp tục

đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin trong thực hiện

pháp luật TĐ, KT; Sáu là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý khiếu nại tố

cáo trong thực hiện pháp luật TĐ, KT

Đỗ Đức Dương (2022), “Những yêu cầu đặt ra về quản lý Nhà nước đối vớicông tác thi đua, khen thưởng” [42] Tác giả đã nhấn mạnh, làm rõ tính tất yếu kháchquan, quan niệm về quản lý Nhà nước đối với công tác TĐ, KT; đồng thời chỉ rõnhững kết quả đã đạt được trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quản lý Nhànước đối với công tác TĐ, KT Theo tác giả, trong những năm tới để nâng cao công

tác quản lý Nhà nước về TĐ, KT cần tập trung một số vấn đề sau: Một là, các cơ

quan, đơn vị, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc những quan điểm, chủ trương,

chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về TĐ, KT Hai là, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT có năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống Ba là, thường xuyên

đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện các phong trào thi đua

Trang 20

yêu nước Bốn là, làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng

ĐHTT trong công tác TĐ, KT

1.2.2 Các công trình khoa học về công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Mai Hồng Bỉnh (Chủ nhiệm, 2011), Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay [10] Các tác giả của đề tài đã phân

tích, làm rõ những vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ

sở trong quân đội, trong đó đã xây dựng và luận giải được quan niệm:

Công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội là hoạt động có mục đích, có kếhoạch, có tổ chức của cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quầnchúng trong việc sử dụng các biện pháp công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách tácđộng vào đối tượng thi đua, khen thưởng nhằm giáo dục, cổ vũ động viên, tậphợp, tổ chức cán bộ, chiến sĩ phát huy tài năng, trí tuệ sáng tạo vào các lĩnh vựchoạt động, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao chất lượng tổng hợp

và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao [10, tr.16].Các tác giả đã làm rõ quan niệm về chất lượng và nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng;phân tích, làm rõ quan niệm và những vấn đề có tính nguyên tắc nâng cao chất lượng côngtác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội Các tác giả đã tập trung đánh giá thực trạng chấtlượng công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội, chỉ ra nguyên nhân và bài học kinhnghiệm Mặt khác, các tác giả đã đưa ra dự báo những nhân tố tác động, yêu cầu và đề xuấtmột số giải pháp nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiệnnay

Đinh Tiến Dũng (2016), Công tác tư tưởng - văn hóa trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam [40] Trong cuốn sách, tác giả đã đánh giá tổng quát công tác tư

tưởng - văn hóa giai đoạn 1975 - 2015, trong đó chỉ rõ: “Trong thi đua vẫn còn tách rờigiữa thi đua với khen thưởng, các cuộc vận động, các phong trào nhiều nhưng xuất hiện

sự chồng chéo, thiếu sự kết hợp chặt chẽ” [40, tr.90] Mặt khác, tác giả đã đề xuất sáu giảipháp cần thực hiện đối với công tác tư tưởng - văn hóa, trong đó cần tập trung “khẩntrương nghiên cứu giải pháp lồng ghép các cuộc vận động, các phong trào của toàn quân

và các ngành để tạo thành, xây dựng một cuộc vận động thi đua yêu nước lớn trong toànquân, hướng về cơ sở, lấy cấp tiểu đoàn, trung đoàn (tương đương) làm trọng tâm chỉ đạohướng dẫn” [40, tr.234] Tác giả đã làm rõ vai trò, đặc điểm, những hạn chế của cấp cơ sở

Trang 21

đặc biệt là ở cấp tiểu đoàn, trung đoàn (tương đương) trong thực hiện phong trào thi đua;đặt ra yêu cầu cụ thể cần nghiên cứu sự lồng ghép những nội dung, tiêu chuẩn của cácphong trào, các cuộc vận động mang tính toàn quân để phục vụ cho hoạt động ở đơn vị cơsở; tiếp tục nghiên cứu và tổ chức lại cơ quan chỉ đạo và cơ quan thường trực phụ tráchthi đua và bảo đảm sự phối hợp các hoạt động của từng ngành trong toàn quân

Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (2018), Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [35] Trong cuốn sách, tập thể tác giả

đã chỉ rõ, công tác TĐ, KT là một trong chín nội dung chủ yếu của công tác tư tưởngtrong quân đội hiện nay Trong phần đánh giá thực trạng công tác tư tưởng, tác giả cũng

đã chỉ rõ những ưu điểm đạt được trong thực hiện công tác TĐ, KT Về những hạn chế,khuyết điểm, tác giả đã khẳng định: việc tổ chức phong trào thi đua ở một số đơn vị chưathực chất, hiệu quả thấp; khen thưởng thiếu kịp thời, chưa sát đối tượng; tỷ lệ khenthưởng chưa cân đối, có đơn vị khen thưởng nhiều cho lãnh đạo, chỉ huy Trong giảipháp đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức phương pháp tiến hànhcông tác tư tưởng phù hợp với thực tiễn xây dựng và chiến đấu của quân đội, tập thể tácgiả nhấn mạnh cần phải gắn hoạt động TĐ, KT với nhiệm vụ chính trị của đơn vị, tổ chứcthực hiện thắng lợi phong trào thi đua trong quân đội Biểu dương, khen thưởng kịp thờicách làm hay, sáng tạo, những tấm gương ĐHTT trong huấn luyện, chiến đấu, cứu hộ,cứu nạn, xóa đói giảm nghèo, kết hợp đẩy mạnh phong trào TĐQT với tuyên truyền, cổ

vũ động viên các nhân tố mới, ĐHTT, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực

Bùi Quang Cường (Tổng Chủ biên, 2019), Lý luận và thực tiễn xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam về chính trị [38] Trong giải pháp “Tăng cường đổi mới nội dung,

phương pháp công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cáchcách mạng, nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới” [38, tr.142], các tác giả nhấn mạnhngoài việc đổi mới nội dung, phương pháp công tác dục chính trị, công tác tuyên tuyền cổđộng, công tác văn hóa quần chúng, còn cần “đổi mới nội dung, phương pháp công tác thiđua, khen thưởng” [38, tr.149] Trên cơ sở làm rõ vai trò của TĐ, KT trong quân đội là mộtbiện pháp tổ chức thực tiễn, một phương pháp cách mạng tích cực để động viên trí sáng tạo,

ý chí quyết tâm, năng lực hành động, nhằm tạo nên phong trào cách mạng của quần chúng,thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội, các tác giả đã khẳng định để đổimới công tác TĐ, KT cần tập trung thực hiện tốt các khâu, bước: Từ việc lập kế hoạch và tổchức thực hiện kế hoạch thi đua; duy trì và mở rộng phong trào thi đua và thực hiện có nềnnếp sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thi đua

Trang 22

Phạm Tiến Dũng (2019), “Kết quả và kinh nghiệm tổ chức công tác thi đua, khenthưởng và phong trào thi đua Quyết thắng của Học viện Chính trị giai đoạn 2014-2019”

[41] Tác giả đã chỉ rõ những kết quả đã đạt được trong công tác TĐ, KT và phong trào

TĐQT của Học viện Chính trị trong những năm qua Trong đó, tác giả nhấn mạnh,Thường vụ Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo,triển khai thực hiện tốt công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT; đã thực hiện tốt các hoạtđộng thi đua trọng điểm; công tác khen thưởng đã được triển khai thực hiện chặt chẽ,nghiêm túc Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, tác giả rút ra một số kinh nghiệm

trong tổ chức công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT như: Thứ nhất, quán triệt sâu sắc

các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của trên, tạo sự chuyển biến cơ bản, vững chắc trong

nhận thức của cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp Thứ hai, cần coi trọng công tác giáo dục, xây dựng động cơ thi đua đúng đắn Thứ ba, công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT phải

được tổ chức một cách khoa học, luôn đổi mới sáng tạo cả về nội dung, hình thức, biện

pháp Thứ tư, làm tốt công tác phát hiện bồi dưỡng, xây dựng và nhân rộng các ĐHTT Thứ năm, cần tăng cường chỉ đạo xây dựng điểm, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Tổng cục Chính trị (2020), Kỷ yếu Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ

X [149] Trong Phần thứ nhất của kỷ yếu, đã thể hiện rõ các văn kiện chủ yếu của Đại hội

TĐQT toàn quân lần thứ X như: Báo cáo tổng kết công tác TĐ, KT và phong trào TĐQTvới tiêu đề “Phát huy bản chất cách mạng, truyền thống quân đội anh hùng và phẩm chấtcao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, toàn quân đẩy mạnh thi đua hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, gópphần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [149, tr.11]; “Thư gửi cán bộ,chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp công nhân viên chức, người lao động toàn quân” [149,tr.59] Trong Phần thứ hai của kỷ yếu, đã thể hiện rõ các báo cáo ĐHTT tại Đại hội TĐQTtoàn quân lần thứ X: trong đó có 39 báo cáo của các tập thể và 25 báo cáo của các cá nhânĐHTT với những cách làm hay, mô hình sáng tạo trong thực hiện công tác TĐ, KT và phongtrào TĐQT, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ của các cơquan, đơn vị Mặt khác, trong Phần thứ ba của kỷ yếu, cũng đã giới thiệu cụ thể một số tư liệu

về Đại hội TĐQT toàn quân lần thứ X như: một số thông tin về thời gian, địa điểm và đại biểutham gia Đại hội; danh sách 03 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũtrang nhân dân (Tổng cục II, Bộ Quốc phòng; Viện 78 (nay là Cục 78), Tổng cục II, Bộ Quốcphòng; Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng); 17 cá nhân được tặng danh hiệu “Chiến sĩ Thi đuatoàn quốc” giai đoạn 2015-2020 và 157 tập thể, 143 cá nhân ĐHTT tham dự Đại hội TĐQTtoàn quân lần thứ X

Trang 23

Nguyễn Trọng Nghĩa (2020), “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả côngtác thi đua, khen thưởng trong Quân đội” [106] Tác giả đã chỉ rõ những kết quả đạt đượctrong công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT; việc thực hiện cácnội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thi đua; việc tuyên truyền, tôn vinh, nhân rộngĐHTT và việc thực hiện công tác khen thưởng… Bên cạnh kết quả nổi bật, tác giả cũng chỉ

rõ việc đổi mới công tác TĐ, KT vẫn còn có mặt hạn chế như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo củamột số cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị có mặtchưa đúng mức; chưa có nhiều ĐHTT có phạm vi lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, toànquốc; việc khen thưởng có biểu hiện chưa cân đối, chạy theo số lượng Theo tác giả, để đổimới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công TĐ, KT trong Quân đội thời gian tới, cần tập trung

thực hiện tốt một số biện pháp sau: Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị

của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về công tác thi đua,

khen thưởng Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác TĐ,

KT và phong trào TĐQT Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào thi đua Bốn là, thực hiện tốt công tác xây dựng, bồi dưỡng và nhân ĐHTT Năm

là, tiếp tục đổi mới công tác khen thưởng, bảo đảm chính xác, kịp thời, dân chủ, chặt chẽ,

đúng đối tượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục, hồ sơ

Nguyễn Đình Khiêm (2021), “Sư đoàn bộ binh 395 đẩy mạnh phong trào Thi đuaQuyết thắng” [82] Tác giả đã nhấn mạnh để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện,SSCĐ và các nhiệm vụ khác của Sư đoàn, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương,giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo; trong đó, đẩy mạnh phong trào TĐQT là nội dung, giải phápquan trọng, tạo động lực thúc đẩy các cơ quan, đơn vị và từng cá nhân khắc phục khókhăn, thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vữngmạnh “tiêu biểu, mẫu mực”, Sư đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” Trên

cơ sở những kết quả đã đạt được, tác giả khái quát và làm rõ một số kinh nghiệm trong tổ

chức phong trào TĐQT của Sư đoàn bộ binh 395 như: Một là, tăng cường tuyên truyền,

giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác TĐ, KT và phong trào

TĐQT; Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp; Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào TĐQT; Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa thi đua với

khen thưởng; kịp thời phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng, nhân rộng ĐHTT

Nguyễn Minh Trí (2022), “Giá trị luận điểm “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thuhoạch” - Ý nghĩa đối với phong trào thi đua ở đơn vị cơ sở” [150] Tác giả đã làm rõ vai trò,mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng Trong đó, tác giả đã tập trung luận giải và khẳng

Trang 24

định: Thi đua là nền tảng của khen thưởng; khen thưởng là động lực để thúc đẩy phong trào thiđua; thi đua và khen thưởng có mối quan hệ hữu cơ với nhau Theo tác giả, để giải quyết tốtmối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng, các đơn vị cơ sở trong quân đội cần nắm vững và

thực hiện tốt một số vấn đề sau: Một là, quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ

tịch Hồ Chí Minh, bám sát nội dung định hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự lãnh đạo của

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đối với công tác TĐ, KT Hai là, đẩy mạnh phong trào

TĐQT ở đơn vị, nhất là cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng xứng danh

Bộ đội Cụ Hồ” Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, tạo chuyển biến

mạnh mẽ và thực chất, bảo đảm khen thưởng chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, có tác

dụng động viên, giáo dục, nêu gương Bốn là, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng

kết khen thưởng kịp thời đối với các tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc trong các phongtrào thi đua và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

1.3.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận án

Có thể khẳng định, những công trình khoa học nghiên cứu về TĐ, KT, công tác

TĐ, KT và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT của các tác giả nước ngoài vàtrong nước đã được công bố là tương đối đa dạng, phong phú Đặc biệt, về vấn đề đổimới công tác TĐ, KT trong QĐNDVN đã có một số tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc

độ Các công trình trên mặc dù có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, song đâyđều là những công trình khoa học tiêu biểu được nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có giátrị khoa học cả về lý luận và thực tiễn Có thể khái quát giá trị của các công trình khoahọc đã tổng quan đối với đề tài luận án, trên một số vấn đề sau:

Một là, các công trình khoa học đã tổng quan ở trong và ngoài nước, giúp cho đề

tài luận án có thể nghiên cứu, kế thừa, luận giải rõ hơn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,quan điểm của các đảng cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua và khen thưởng;đồng thời giúp cho đề tài luận án có cơ sở lý luận để làm rõ quan niệm, vai trò, nội dung,hình thức, biện pháp, mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng ở các TĐBB trongQĐNDVN Trong đó, các công trình khoa học đã tổng quan chỉ rõ vai trò của TĐ, KTchính là động lực quan trọng để thúc đẩy các cá nhân, tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ;đồng thời nhấn mạnh thi đua và khen thưởng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là cơ sở,

là tiền đề cho nhau và đặt ra yêu cầu khi tiến hành thi đua phải phát huy được tính tự giác,

Trang 25

sáng tạo của quần chúng; khen thưởng phải công bằng, chính xác; các cấp ủy, tổ chứcđảng phải quan tâm, chú trọng lãnh đạo chặt chẽ

Hai là, các công trình khoa học đã tổng quan cung cấp cho đề tài luận án cơ sở

khoa học trong việc làm rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những vấn đề lý luận vềcông tác TĐ, KT; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT Trong đó, các côngtrình khoa học đã tổng quan, tập trung luận giải, làm rõ quan niệm, vai trò, nội dung,đặc điểm của công tác TĐ, KT; chỉ rõ quan niệm, vai trò, biện pháp phát hiện, bồidưỡng, nhân ĐHTT và làm rõ vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ,

KT Đồng thời, các công trình đã luận giải, làm rõ quan niệm, tiêu chí đánh giá chấtlượng công tác TĐ, KT; quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc trong nâng caochất lượng công tác TĐ, KT ở các đơn vị cơ sở trong QĐNDVN Những vấn đề trên là

cơ sở giúp đề tài luận án làm rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu tập trung vào công tác

TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN; đồng thời giúp đề tài luận án có thể kế thừa một

số vấn đề lý luận để luận giải, làm rõ quan niệm, đặc điểm, vai trò công tác TĐ, KT vàxây dựng quan niệm, làm rõ nội dung, hình thức, biện pháp đổi mới, nâng cao chấtlượng công tác TĐ, KT

Ba là, các công trình khoa học đã tổng quan cung cấp cơ sở thực tiễn giúp đề tài

luận án có thể kế thừa trong đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và một số kinhnghiệm trong tiến hành công tác TĐ, KT Trong đó, một số công trình khoa học đã khảosát thực tế, đánh giá thực trạng công tác TĐ, KT dựa trên các góc độ về nhận thức, tráchnhiệm của các tổ chức, lực lượng; về nội dung, biện pháp tiến hành công tác TĐ, KT; đánhgiá kết quả thực hiện phong trào thi đua và công tác khen thưởng Đồng thời, các công trìnhkhoa học đã chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm, chủ yếu là do công tácgiáo dục, xây dựng động cơ thi đua còn chưa hiệu quả; tác động của mặt trái kinh tế thịtrường; sự phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng trong thực hiện công tác TĐ, KT chưa chặtchẽ Trên cơ sở đó, các công trình đã rút ra một số kinh nghiệm trong nâng cao chất lượngcông tác TĐ, KT như: cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, cơquan chức năng; tuyên truyền, phổ biến, học tập kinh nghiệm của các ĐHTT; bảo đảm tốt cơ

sở vật chất cho công tác TĐ, KT

Bốn là, một số công trình khoa học đã tổng quan cung cấp cho đề tài luận án cơ sở

để xác định những yếu tác động và đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng

Trang 26

công tác TĐ, KT Trong đó, các công trình đã chỉ rõ sự tác động tình hình thế giới, khuvực và trong nước, sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ của các cơ quan,đơn vị Để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT trong QĐNDVN, một số côngtrình đã đề xuất các giải pháp như: Quán triệt, thực hiện tốt quan điểm, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác TĐ, KT; nâng cao nhận thức, tráchnhiệm của các tổ chức, lực lượng; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chứcphong trào thi đua; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT; phát hiện, bồi dưỡng,nhân ĐHTT; thực hiện tốt việc đổi mới công tác khen thưởng.

Như vậy, các công trình khoa học đã tổng quan, có liên quan đến TĐ, KT;công tác TĐ, KT và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT cho thấy, mụcđích, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của các công trình có sự khácnhau rõ nét Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã cung cấp nhữnggiá trị lý luận, thực tiễn cho đề tài luận án Đây thực sự là nguồn tư liệu phong phú,những luận cứ khoa học cả về lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sinh tham khảo, kếthừa, bổ sung, phát triển trong quá trình nghiên cứu, xây dựng luận án Tuy vậy, chođến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách trực tiếp, cơ bản, hệthống và chuyên sâu về đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN dướigóc độ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước Vì vậy đề tài luận án

là công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã công bố

1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và giá trị lýluận, thực tiễn của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận án, để thựchiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận án cần tập trung nghiên cứu một số vấn

đề sau:

Một là, luận giải, làm rõ TĐ, KT và công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong

QĐNDVN Trong đó, tập trung xây dựng quan niệm, khát quát cơ cấu tổ chức, biênchế, chức năng, nhiệm vụ và làm rõ đặc điểm, vai trò của các TĐBB trong QĐNDVN;đồng thời xây dựng và làm rõ quan niệm, chỉ rõ mục đích, chủ thể, đối tượng, lựclượng, nội dung, hình thức, biện pháp công tác TĐ, KT và luận giải đặc điểm, vai trò,tiêu chí đánh giá công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Hai là, làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB

trong QĐNDVN Tập trung nghiên cứu, xây dựng, làm rõ quan niệm; luận giải nội dung,

Trang 27

hình thức, biện pháp và những vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới công tác TĐ, KT

ở các TĐBB trong QĐNDVN

Ba là, tiến hành nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu, số liệu;

đánh giá đúng thực trạng công tác TĐ, KT ở các TĐBB; phân tích, luận giải làm rõnguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm; rút ra một số kinh nghiệm tiếnhành công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Bốn là, phân tích, dự báo những yếu tố tác động đến đổi mới công tác TĐ, KT ở

các TĐBB; xác định các yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diệnnhằm đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN hiện nay

Kết luận chương 1

Ở ngoài nước và trong nước đã có khá nhiều các công trình khoa học nghiên cứu

về TĐ, KT; công tác TĐ, KT; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT Các côngtrình này, có đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu ở nhiều góc độ khácnhau, nhưng đều là các công trình khoa học có giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với đềtài luận án

Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án cho thấy TĐ, KT;công tác TĐ, KT; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT là những vấn đề rấtquan trọng trong quá trình lãnh đạo của các đảng cộng sản, trong công tác quản lý củanhà nước đối với xã hội và các lực lượng vũ trang Kết quả tổng quan tình hình nghiêncứu liên quan đến “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trongQuân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa rất quan trọng, giúp nghiên cứu sinhnhận thức sâu sắc được lịch sử vấn đề nghiên cứu, nâng cao tri thức, năng lực nghiên cứu,

kế thừa có chọn lọc một cách đúng đắn, sáng tạo kết quả của các công trình, từ đó đề xuấtnhững ý tưởng mới, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra, góp phầnthực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ của luận án đã xác định

Từ kết quả tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án chothấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệthống dưới góc độ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhànước về lý luận, thực tiễn “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ

binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” Do đó, việc lựa chọn đề tài luận án là

Trang 28

hoàn toàn độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã được nghiệm thu, côngbố.

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN

THƯỞNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 2.1 Các trung đoàn bộ binh và công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1 Các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1.1 Quan niệm, tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ của các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Quan niệm TĐBB trong QĐNDVN

Trang 29

Khi đề cập về quan niệm trung đoàn, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam đã chỉrõ:

Trung đoàn là binh đội chiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn Thường gồm 3tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc, nằm trong biên chế sư đoàn, bộ chỉ huyquân sự tỉnh hoặc được tổ chức độc lập trong quân đoàn, quân khu, quân chủng,binh chủng, bộ đội chuyên môn để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác Cótrung đoàn chiến đấu (trung đoàn bộ binh; trung đoàn bộ binh cơ giới; trungđoàn xe tăng; trung đoàn pháo binh; trung đoàn đặc công; trung đoàn khôngquân; trung đoàn hải quân đánh bộ ), trung đoàn bảo đảm hoặc phục vụ (trungđoàn công binh; trung đoàn thông tin; trung đoàn hóa học; trung đoàn vận tải )[168, tr.1124]

Trong QĐNDVN, trung đoàn được quy định về tổ chức lần đầu tiên theo Sắc lệnh

số 33-SL, ngày 22/3/1946 về “Quy định cấp bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho Lụcquân toàn quốc” và được biên chế chi tiết (trung đoàn bộ binh), theo Sắc lệnh số 71-SL,ngày 22/5/1946 về “Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia” của Chủtịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các văn bản tiếp sau của Bộ Quốc phòng, BộTổng Tham mưu Hiện nay, TĐBB trong QĐNDVN bao gồm có TĐBB đủ quân, làmnhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ; TĐBB rút gọn (biên chế 01 tiểu đoàn bộ binh đủ quân) vàTĐBB khung thường trực, trực thuộc các sư đoàn bộ binh, các quân khu, quân đoàn và

Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, bộ chỉ huy quân sựtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Theo đó, hiện nay có 33 TĐBB đủ quân trựcthuộc các sư đoàn bộ binh, đóng quân trên mọi miền của Tổ quốc [Phụ lục 1]

Theo cách hiểu trên, có thể quan niệm: Trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam là đơn vị chiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn; là lực lượng nòng cốt hợp thành các sư đoàn bộ binh, về cơ bản được biên chế đủ quân số, vũ khí trang bị theo quy định để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và các nhiệm vụ khác được giao, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết của các cấp; góp phần trực tiếp nâng cao sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh.

Tổ chức, biên chế của các TĐBB trong QĐNDVN

Hiện nay, các TĐBB được tổ chức, biên chế theo Quyết định số 508/QĐ-TM, ngày30/3/2018 của Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN “Về việc ban hành Biểu tổ chức, biên chế

sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình) thuộc quân khu, quân đoàn” Tổ chức, biên chế củacác TĐBB đủ quân trong QĐNDVN bao gồm: Ban chỉ huy trung đoàn (trung đoàntrưởng; chính ủy; phó trung đoàn trưởng - tham mưu trưởng; phó trung đoàn trưởng; phó

Trang 30

chính ủy); các cơ quan (ban tham mưu, ban chính trị, ban hậu cần, ban kỹ thuật); 03 tiểuđoàn bộ binh, 08 đại đội trực thuộc và 01 trung đội vệ binh (mỗi tiểu đoàn bộ binh có 03đại đội bộ binh; 01 đại đội binh chủng và 03 trung đội trực thuộc)

Về tổ chức đảng ở các TĐBB làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, được thành lậptheo đúng quy định của Điều lệ Đảng; Quy định số 49-QĐ/TW, ngày 22/12/2021 của BộChính trị về “Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam” và quy định của Ban Bíthư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở ở đơn vị chiến đấu trongQĐNDVN Tổ chức đảng ở các TĐBB là tổ chức cơ sở đảng 3 cấp, gồm đảng ủy trungđoàn; đảng ủy tiểu đoàn và chi bộ ở các cơ quan trung đoàn, tiểu đoàn bộ và các đại đội

Về tổ chức quần chúng ở các TĐBB gồm có Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh và Hội phụ nữ Trước hết, đối với Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở cácTĐBB được tổ chức theo Hướng dẫn số 16-HD/TWĐTN-BTC, ngày 17/8/2018 củaBan Chấp hành Trung ương Đoàn về “Thực hiện Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh”.Theo đó, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các TĐBB là tổ chức cơ sở đoàn 3cấp: Đoàn cơ sở được thành lập ở trung đoàn; liên chi đoàn ở các tiểu đoàn và chiđoàn được thành lập ở các đại đội Đối với Hội phụ nữ, căn cứ vào Điều lệ Hội Liênhiệp phụ nữ Việt Nam và tình hình thực tiễn của đơn vị, ở các TĐBB thành lập chi hộiphụ nữ cơ sở cấp trung đoàn

Về tổ chức hội đồng quân nhân ở các TĐBB được tổ chức theo Thông tư số165/2018/TT-BQP, ngày 01/12/2018 của Bộ Quốc phòng, “Quy định về tổ chức và hoạtđộng của Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam” Hội đồng quân nhân ởcác TĐBB được thành lập ở các đại đội, tiểu đoàn bộ và khối cơ quan trung đoàn, do đại hộiquân nhân bầu ra để thực hiện phát huy dân chủ về quân sự - chuyên môn, chính trị, kinh tế -đời sống ở cơ quan, đơn vị

Chức năng, nhiệm vụ của các TĐBB trong QĐNDVN

Về chức năng của các TĐBB: Điều 25, Luật Quốc phòng đã chỉ rõ:

“Quân đội nhân dân có chức năng, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu bảo

vệ Tổ quốc; thực hiện công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lao động sản xuất, kết hợp quốcphòng với kinh tế - xã hội, tham gia phòng thủ dân sự, cùng toàn dân xây dựngđất nước; thực hiện nghĩa vụ quốc tế” [127, tr.21]

Các TĐBB là một bộ phận, lực lượng nòng cốt của các sư đoàn bộ binh trong thựchiện các nhiệm vụ; căn cứ vào chức năng của QĐNDVN, của các sư đoàn, quân khu,quân đoàn; căn cứ Quyết định số 508/QĐ-TM ngày 30/3/2018 của Bộ Tổng Tham mưuQĐNDVN “Về việc ban hành Biểu tổ chức, biên chế sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình)

Trang 31

thuộc quân khu, quân đoàn”, có thể khái quát chức năng của các TĐBB đó là đội quânchiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất Thực hiện các chức năng trên,

là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng ở các TĐBB

Về nhiệm vụ của các TĐBB: Xuất phát từ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Việt Nam XHCN; quán triệt, thực hiện nhiệm vụ của Quân đội, của các quân khu, quânđoàn và sư đoàn; căn cứ vào Điều 1 và Điều 2 của Điều lệnh chiến đấu trung đoàn bộbinh và thực tiễn hoạt động, có thể khái quát những nhiệm vụ chủ yếu của các TĐBBtrong QĐNDVN như sau:

Một là, thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, nâng cao chất lượng tổng hợp, trình

độ, khả năng SSCĐ và chiến đấu trong mọi tình huống

Hai là, xây dựng nền nếp chính quy, duy trì kỷ luật; xây đảng bộ trung đoàn trong

sạch, vững mạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD

Ba là, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm đời sống

vật chất, tinh thần cho sĩ quan, QNCN và HSQ, BS; thực hiện chế độ, chính sách hậuphương quân đội

Bốn là, thực hiện công tác kỹ thuật, tài chính; tiến hành công tác dân vận, tham

gia xây dựng cơ sở chính trị trên địa bàn đóng quân vững mạnh; tham gia phòng, chống

và khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứunạn

Năm là, đấu tranh phòng, chống làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa

bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụđột xuất trên giao

2.1.1.2 Đặc điểm của các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Một là, các TĐBB được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, về cơ bản được biên chế khá đầy đủ quân số, vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật; hạ tầng cơ sở từng bước được đầu

tư xây dựng ngày càng chính quy.

Hiện nay, các TĐBB trong QĐNDVN được tổ chức chặt chẽ, thống nhất từ trênxuống dưới theo đúng điều lệnh, điều lệ của quân đội, với đầy đủ hệ thống các tổ chức từ

tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy đến tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân; có đầy đủ các

cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật), các tiểu đoàn và đại đội trực thuộc Về

cơ bản các TĐBB thường được biên chế khá đầy đủ quân số theo quy định về biểu tổchức, biên chế sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình) thuộc quân khu, quân đoàn Mặt khác,các TĐBB được trang bị, sử dụng một lượng vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật đa

Trang 32

dạng, nhiều chủng loại như: các loại vũ khí, trang bị của bộ binh đến pháo binh, phòngkhông; các phương tiện vận tải, trang thiết bị kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ của quân y,thông tin, trinh sát Các loại vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật của các TĐBB đềuđược sử dụng trong huấn luyện, SSCĐ và góp phần quan trọng giúp các TĐBB có thểthực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao Hiện nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng

đa số các TĐBB đang từng bước được đầu tư về hạ tầng cơ sở, hệ thống doanh trại, các khotrạm ngày càng chính quy, khang trang Từ sở (ban) chỉ huy các cấp, hệ thống hội trường,phòng truyền thống, phòng Hồ Chí Minh, thư viện, đến nhà ở, phòng sinh hoạt chung, khuvui chơi giải trí, thể dục thể thao, khuôn viên, cảnh quan đơn vị đều được lãnh đạo, chỉ huycác cấp quan tâm đầu tư xây dựng đảm bảo chính quy, xanh, sạch, đẹp Đặc điểm trên là điềukiện thuận lợi để công tác TĐ, KT ở các TĐBB được tiến hành chặt chẽ theo các cấp; đồngthời có thể huy động được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng và cơ sở vật chất,phương tiện Quá trình tiến hành công tác TĐ, KT ở các TĐBB cũng đặt ra yêu cầu cần phảibám sát tổ chức, biên chế của đơn vị; đẩy mạnh các phong trào thi đua và kịp thời biểudương, khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ, nhất là trongquản lý, sử dụng vũ khí, trang bị; đồng thời cần kết hợp chặt chẽ với việc tổ chức tốt hội thixây dựng “Doanh trại chính quy, xanh sạch, đẹp” ở các đơn vị

Hai là, nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và các nhiệm vụ khác của các TĐBB thường diễn ra với cường độ cao, khẩn trương, trong điều kiện khó khăn, vất vả và hy sinh.

Trong thời bình, các TĐBB phải thực hiện nhiều nhiệm vụ, song nhiệm vụ chính trịtrọng tâm là huấn luyện, SSCĐ Đối với nhiệm vụ huấn luyện ở các TĐBB được lãnh đạo,chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ theo đúng phương châm “cơ bản, thiết thực, vữngchắc”; vận dụng tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện; chú trọnghuấn luyện đồng bộ, chuyên sâu theo nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn tác chiến và sát tìnhhuống chiến đấu Đồng thời, nhiệm vụ SSCĐ ở các TĐBB cũng được tiến hành thườngxuyên, liên tục nhằm nâng cao trình độ, khả năng SSCĐ, xử lý kịp thời, hiệu quả các tìnhhuống xảy ra; các đơn vị duy trì chặt chẽ chế độ trực ban, trực chiến, trực SSCĐ; thườngxuyên tổ chức và luyện tập thành thục các phương án SSCĐ trong thực hiện các nhiệm vụ

A, A2, A3, A4 Bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, các TĐBB còn phải thực hiệnnhiều nhiệm vụ khác như: giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội;phòng chống thiên tai, dịch bệnh; tham gia cứu hộ, cứu nạn… Những nhiệm vụ mà cácTĐBB phải thực hiện thường diễn ra với cường độ cao, khẩn trương, trong điều kiện cónhiều khó khăn, vất vả, diễn ra cả ngày lẫn đêm, trong mọi địa hình, khí hậu, thời tiết khắc

Trang 33

nghiệt Thậm chí, một số nhiệm vụ các TĐBB phải thực hiện ở xa đơn vị, diễn ra dài ngày,công tác hiệp đồng, bảo đảm gặp nhiều khó khăn, gắn liền với tính chất gian khổ, hy sinh.Đặc điểm trên, đòi hỏi công tác TĐ, KT ở các TĐBB cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền,giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ đúng đắn cho sĩ quan, QNCN và HSQ,

BS trong thực hiện các nhiệm vụ; tăng cường tổ chức các phong trào thi đua bám sát cácnhiệm vụ của đơn vị, nhất là nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và làm tốt việc biểu dương, khenthưởng để cổ vũ, động viên, khơi dậy khát vọng cống hiến sĩ quan, QNCN và HSQ, BSquyết tâm khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao

Ba là, các TĐBB có khả năng hoạt động độc lập hoặc chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng trong đội hình của cấp trên

Các TĐBB là binh đội chiến thuật binh chủng hợp thành của QĐNDVN, lực lượngchủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu của sư đoàn bộ binh Trong chiến đấu, cácTĐBB có thể thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, khó khăn, phức tạp mà cấp trên giao hoặcđược bố trí ở những vị trí then chốt, trên các hướng, mũi độc lập Do vậy, căn cứ vào lựclượng, vũ khí, trang bị theo biên chế hoặc được cấp trên tăng cường về lực lượng, phươngtiện, các TĐBB có thể phải độc lập tác chiến, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ trên giao Khi chiến đấu trong đội hình cấp trên, các TĐBB có thể đảm nhiệm là

bộ phận tiến công hoặc phòng ngự trên các hướng chủ yếu, thứ yếu, phía sau hoặc làm lựclượng dự bị binh chủng hợp thành Dù đảm nhiệm ở bộ phận nào các TĐBB cũng là lựclượng chủ yếu trong chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng; chủ động phối hợp, hiệp đồngchặt chẽ với pháo binh, phòng không, không quân, thông tin, hóa học… và lực lượng vũtrang địa phương trong đánh chiếm các mục tiêu cũng như đánh bại các đợt tấn công củađịch Trong thời bình, khi có tình huống xảy ra, các TĐBB có thể độc lập thực hiện cácnhiệm vụ đột xuất trên giao hoặc có thể phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ đơn vị bạn, lực lượng

vũ trang địa phương tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra trên địa bàn đóng quân.Đặc điểm trên, đặt ra đối với lãnh đạo, chỉ huy ở các TĐBB trong tiến hành công tác TĐ,

KT cần bám sát đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu độc lập và hiệp đồng quân, binhchúng trong đội hình cấp trên; chú trọng thực hiện tốt các nội dung, hình thức, biện phápcông tác TĐ, KT trong chiến đấu; tập trung đẩy mạnh các phong trào thi đua và kịp thờilàm tốt việc biểu dương, khen thưởng, bình công, báo công để cổ vũ, động viên sĩ quan,QNCN và HSQ, BS ở các TĐBB thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu trong mọi tìnhhuống

Trang 34

Bốn là, các TĐBB thường bố trí và hoạt động trên các địa bàn chiến lược, khu vực phòng thủ trọng yếu của đất nước.

Nằm trong biên chế và căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của các sư đoàn bộ binh,quân khu, quân đoàn, do vậy các TĐBB thường được bố trí đóng quân trên địa bànrộng, mang tính chiến lược và trong khu vực phòng thủ trọng yếu của đất nước, của cáctỉnh, thành phố Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược cả về chính trị, kinh tế - xãhội, quốc phòng - an ninh, thậm chí một số TĐBB đóng quân ở các vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, vẫn còntồn tại những phong tục tập quán lạc hậu, nơi mà các thế lực thù địch thường xuyên lợidụng, đẩy mạnh các hoạt động chống phá Vì vậy, việc thực hiện tốt công tác tuyêntruyền vận động nhân dân; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũtrang địa phương đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lựcthù địch; tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, thế trận lòng dânvững chắc, địa bàn đóng quân an toàn, ổn định và phát triển cũng là nhiệm vụ quantrọng của các TĐBB hiện nay Đặc điểm trên, đòi hỏi công tác TĐ, KT ở TĐBB cầngắn kết chặt chẽ với công tác TĐ, KT và phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vậnđộng của địa phương; nắm chắc tình hình địa bàn đóng quân; tăng cường các hoạt động,giao lưu, phối hợp, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với cấp ủy, chính quyền địa phươngtrong tiến hành công tác TĐ, KT và trong tham gia xử lý các tình huống xảy ra trên địabàn một cách nhanh chóng, kịp thời

2.1.1.3 Vai trò của các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam Hiện nay, các TĐBB có vai trò rất quan trọng đối với sự vững mạnh của quân đội

nói chung và của các sư đoàn, quân khu, quân đoàn nói riêng Vai trò của các TĐBBđược biểu hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

Một là, các TĐBB là lực lượng nòng cốt, chủ yếu góp phần trực tiếp nâng cao sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh trong QĐNDVN

Sức mạnh của các sư đoàn bộ binh trong QĐNDVN là sức mạnh tổng hợp củanhiều yếu tố, nhiều tổ chức, lực lượng, đó là sức mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng

và tổ chức Sức mạnh đó là sự liên kết, tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ giữa các cánhân và tổ chức trong các sư đoàn bộ binh Để có được sức mạnh tổng hợp, hoàn thànhxuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trước hết các sư đoàn bộ binh phải huy động sức

Trang 35

mạnh của các yếu tố, nhất là phải phát huy được vai trò của các TĐBB và đơn vị trựcthuộc Theo Biểu tổ chức, biên chế Sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình) thuộc quânkhu, quân đoàn, các TĐBB chính là nền tảng, lực lượng quan trọng của các sư đoàn bộbinh trong thực hiện các nhiệm vụ Với quân số, vũ khí trang bị hiện có, các TĐBB làlực lượng nòng cốt, chủ yếu trong thực hiện huấn luyện, SSCĐ và các nhiệm vụ khácđược giao, đặc biệt là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong phòng chống thiên tai,dịch bệnh, tham gia cứu hộ, cứu nạn… của các sư đoàn bộ binh Các TĐBB hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ là yếu tố quan trọng góp phần trực tiếp vào kết quả thực hiện nhiệm

vụ của các sư đoàn bộ binh Ngược lại, chất lượng thực hiện nhiệm vụ của các TĐBBthấp, sẽ trực tiếp làm giảm đi sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh Mặt khác,các TĐBB còn góp phần trọng trong giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lựccủa sĩ quan, QNCN và HSQ, BS đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của các sư đoàn bộbinh trong tình hình mới Như vậy, sự vững mạnh các TĐBB ảnh hưởng trực tiếp đếnsức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Hai là, các TĐBB là nơi trực tiếp quán triệt, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, các chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên.

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnhcủa các cấp đòi hỏi các tổ chức, lực lượng trong quân đội quán triệt, tổ chức thực hiệnnghiêm túc Trong đó, các TĐBB là đơn vị cơ sở trong QĐNDVN, là nơi trực tiếp quántriệt, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtNhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên Thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của cácTĐBB, thông qua hoạt động thực tiễn của sĩ quan, QNCN và HSQ, BS mà đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của các cấp sư đoàn,quân khu, quân đoàn được cụ thể hóa, hiện thực hóa trong cuộc sống Quá trình triển khai

tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở các TĐBB, chính là thực tiễn quan trọng để kiểm nghiệm,khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên Thông qua việc nghiên cứu, quán triệt, tổchức thực hiện, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, góp phần kịp thời phát hiện những vấn đềmới, các khó khăn, vướng mắc và những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của sĩ quan,QNCN và HSQ, BS Đây chính là cơ sở giúp cho các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì ởcác TĐBB kịp thời bổ sung, hoàn chỉnh các chủ trương, biện pháp để tổ chức thực hiện

Trang 36

thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, các chỉ thị,mệnh lệnh của cấp trên trong thực tiễn

Ba là, các TĐBB là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện sĩ quan, QNCN và HSQ, BS góp phần xây dựng người quân nhân cách mạng đáp ứng yêu cầu phát triển của Quân đội và xã hội.

Các TĐBB là những trường học thực tiễn trong Quân đội, trực tiếp quản lý, giáodục, rèn luyện sĩ quan, QNCN và HSQ, BS Ở môi trường này, các sĩ quan, QNCN vàHSQ, BS tiếp tục được học tập, giáo dục toàn diện về các kiến thức văn hóa, khoa học

kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn; được bồi dưỡng, rèn luyện về thể lực, kỹ chiếnthuật quân sự, nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… Thông quathực tiễn hoạt động quân sự ở các TĐBB đã góp phần đào tạo ra những người quân nhâncách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, có sứckhoẻ và kiến thức, kỹ năng quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổquốc Đặc biệt là hàng năm, có rất nhiều thanh niên ở các địa phương trong cả nước thamgia thực hiện nghĩa vụ quân sự Những thanh niên này cơ bản đều được giáo dục, rèn luyện

ở các tiểu đoàn, đại đội huấn luyện chiến sĩ mới ở các TĐBB Thông qua quá trình huấnluyện, rèn luyện ở các TĐBB, một số HSQ, BS có đủ tiêu chuẩn về năng lực, phẩm chấtđạo đức, lối sống sẽ được cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp lựa chọn đưa đi đàotạo, bồi dưỡng để phát triển đảng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi tham gia thi tuyển sinhvào các học viện, trường sĩ quan, tạo nguồn cán bộ phục vụ lâu dài trong quân đội Đối vớicác HSQ, BS còn lại, sau khi hết thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự trở về địa phương,phần lớn đã tích cực học tập, nâng cao trình độ, tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào

sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước Như vậy, thông qua quá trình họctập, rèn luyện ở các TĐBB, đã góp phần hình thành, hoàn thiện, phát triển các phẩm chất,năng lực cho sĩ quan, QNCN và HSQ, BS đáp ứng yêu cầu phát triển của quân đội và xãhội

Bốn là, các TĐBB là lực lượng chủ yếu góp phần tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương trên địa bàn đóng quân vững mạnh.

Các TĐBB trong QĐNDVN hiện nay đóng quân trên các vùng miền của cả nước, gópphần quan trọng trong phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể địaphương tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh đại

Trang 37

đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, anninh của địa phương Đồng thời, các TĐBB còn tích cực tham gia cùng với địa phươnglàm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thùđịch, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.Thông qua các đợt hành quân dã ngoại, các phong trào thi đua: “Dân vận khéo”, “Đơn vịdân vận tốt”, “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, các hoạt động “đền ơn đápnghĩa”, sĩ quan, QNCN và HSQ, BS ở các TĐBB đã góp phần quan trọng giúp đỡ nhândân xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội Mặt khác, thông qua các hoạt động phốihợp, kết nghĩa, trao đổi kinh nghiệm với cấp ủy, chính quyền, ban ngành, đoàn thể địaphương, các TĐBB đã góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở địa phương vữngmạnh, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trên địabàn đóng quân Trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tham gia cứu

hộ, cứu nạn, sĩ quan, QNCN và HSQ, BS của các TĐBB luôn là lực lượng nòng cốt, điđầu, kịp thời có mặt giúp đỡ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh… để nhândân sớm ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn

bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.2.1 Quan niệm công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp thi đua ở các TĐBB

Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Thi đua là cùng nhau đưa hết khả năng ra làm nhằmthúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong mặt hoạt động nào đó” [175, tr.1559] Luật

TĐ, KT đã chỉ rõ: “Thi đua là hoạt động có tổ chức do người có thẩm quyền phát động với

sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể, hộ gia đình.” [128, tr.1] Chủ tịch Hồ Chí Minhkhi đề cập về vấn đề thi đua, Người đã nhấn mạnh: “Thi đua phải lâu dài và rộng khắp,không phải chỉ trong một thời gian nào (những ngày kỷ niệm là những đợt để lấy đà và đểkiểm thảo, chứ không phải qua những ngày ấy rồi lại nghỉ thi đua), không phải chỉ riêngngành nào, nhóm người nào.” [97, tr.147]

Thi đua ở các TĐBB trong QĐNDVN là hoạt động có tổ chức của các chủ thể, lựclượng phát động với sự tham gia tự nguyện của các tập thể, đội ngũ sĩ quan, QNCN và

Trang 38

các nhiệm vụ khác trên giao.

Nội dung thi đua ở các TĐBB rất đa dạng, phong phú, căn cứ vào đặc điểm, yêucầu nhiệm vụ của các cá nhân, tổ chức ở các TĐBB để xác định nội dung thi đua cho phùhợp Hiện nay, nội dung thi đua ở các TĐBB tập trung vào một số vấn đề sau: thi đuatrong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ; xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; thiđua trong bảo đảm hậu cần, tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; bảoquản, sử dụng vũ khí trang bị; thi đua trong thực hiện các nhiệm vụ khác như trong phòngchống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn…

Hình thức, biện pháp thi đua ở các TĐBB: Về hình thức thi đua ở các TĐBB baogồm thi đua thường xuyên và thi đua theo đợt (chuyên đề) Thi đua thường xuyên là hìnhthức thi đua được tổ chức nhằm thực hiện tốt các công việc, nhiệm vụ hàng ngày, hàngtháng, hàng quý, hàng năm của các tổ chức, lực lượng ở các TĐBB Đối với thi đua theođợt (chuyên đề) là hình thức thi đua được tổ chức để nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọngtâm, đột xuất hoặc những nhiệm vụ khó khăn của các cơ quan, đơn vị trong khoảng thờigian nhất định Biện pháp thi đua ở các TĐBB được thực hiện chủ yếu thông qua việcxây dựng kế hoạch; tuyên truyền, giáo dục xây dựng động cơ thi đua; tổ chức phát động,triển khai, tổ chức thực hiện; phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các ĐHTT, các gươngngười tốt, việc tốt và sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm

Quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp khen thưởng ở các TĐBB

Đại Từ điển tiếng Việt cho rằng: “Khen thưởng là khen và thưởng bằng hiện vật xứng đáng với thành tích, công lao: khen thưởng về thành tích lao động sáng tạo; khen thưởng các học sinh giỏi” [175, tr.896] Luật TĐ, KT đã chỉ rõ: “Khen thưởng là việc ghi

nhận, biểu dương, tôn vinh và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể, hộ

gia đình có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [128, tr.1] Chủ tịch Hồ chí Minh

cũng rất coi trong việc khen thưởng, ngay từ khi mới giành được chính quyền, ngày26/01/1946, Người đã ban hành Quốc lệnh quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt xử

phạt Theo Người: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên

ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [91, tr.189]

Khen thưởng ở các TĐBB trong QĐNDVN là hoạt động của các tổ chức, lực lượng

có thẩm quyền trong việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằnglợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong thực hiện các nhiệm vụ của đơnvị

Trang 39

Nội dung khen thưởng ở các TĐBB: Tập trung ghi nhận, biểu dương, tôn vinh vàkhuyến khích bằng lợi ích vật chất, tinh thần các công trạng, thành tích, đóng góp, cốnghiến của các cá nhân và tập thể đạt được trên tất cả các mặt công tác quân sự, chính trị, hậucần, kỹ thuật, trong đó tập trung chủ yếu trên một số nội dung chủ yếu sau: khen thưởngtheo công trạng và thành tích đạt được trong thực hiện nhiệm vụ; nội dung khen thưởngtheo kết quả các phong trào thi đua theo đợt (chuyên đề) đã phát động; nội dung khenthưởng trong thực hiện các nhiệm vụ đột xuất; nội dung khen thưởng quá trình cống hiến;nội dung khen thưởng theo niên hạn và khen thưởng đối ngoại…

Hình thức, biện pháp khen thưởng ở các TĐBB: Hình thức khen thưởng ở cácTĐBB bao gồm: Huân chương; Huy chương; Danh hiệu Vinh dự Nhà nước; Giảithưởng Nhà nước; Kỷ niệm chương; Bằng khen; Giấy khen Biện pháp khen thưởng ởcác TĐBB được thực hiện chủ yếu thông qua: giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò,tiêu chuẩn, hình thức khen thưởng; tổ chức đánh giá bình xét; đề nghị, tổ chức đónnhận, trao tặng khen thưởng; đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thôngtin trong khen thưởng; kết hợp động viên tinh thần với khuyến khích về vật chất

Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng ở các TĐBB: Thi đua và khen thưởng ở các

TĐBB có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thi đua là cơ sở, nền tảng của khen thưởng; khenthưởng tạo động lực thúc đẩy thi đua ngày càng mở rộng và phát triển Thực tiễn cho thấy thiđua và khen thưởng ở các TĐBB luôn gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, từ kết quảthực hiện các phong trào thi đua để lựa chọn những tập thể, cá nhân tiêu biểu nhất, xứng đángnhất để khen thưởng Đồng thời khen thưởng kịp thời, công bằng, chính xác, đúng người,đúng việc, góp phần thúc đẩy các cá nhân, tổ chức ở các TĐBB tích cực, tự giác thực hiện cácnội dung, chỉ tiêu thi đua, qua đó tạo điều kiện để thi đua ngày càng phát triển, ngược lại nếukhen thưởng không đúng, không kịp thời sẽ không đẩy mạnh được thi đua mở rộng và pháttriển Như vậy, thi đua và khen thưởng ở các TĐBB luôn gắn kết chặt chẽ với nhau, là tiền đề,điều kiện của nhau

Theo Sách tra cứu các mục từ về tổ chức cho rằng: “Công tác là công việc của tổchức, cơ quan, đơn vị (Đảng, Nhà nước, đoàn thể, đơn vị kinh tế, sự nghiệp ) cùngnhau thực hiện hoặc giao cho từng thành viên trong tổ chức, cơ quan, đơn vị đó thựchiện” [83, tr.174] Công tác TĐ, KT luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý củaNhà nước và tổ chức thực hiện của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể Do vậy, để nângcao chất lượng, hiệu quả công tác TĐ, KT đòi hỏi cần phát huy được vai trò, trách

Trang 40

nhiệm của các chủ thể, lực lượng trong lãnh đạo chỉ đạo; quản lý điều hành, xây dựng

kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện; trong củng cố, kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng độingũ; kiểm tra, đánh giá và sơ tổng kết rút kinh nghiệm

Công tác TĐ, KT là một mặt hoạt động lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước

và các cơ quan chức năng trong tổ chức, duy trì, mở rộng và thực hiện các nội dung, hìnhthức, biện pháp TĐ, KT nhằm đạt mục đích, hiệu quả ngày càng cao, tạo động lực, cổ vũ,động viên, khơi dậy khát vọng cống hiến của mọi tổ chức, lực lượng và toàn thể nhân dânthực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Công tác TĐ, KT trong QĐNDVN là một bộ phận quan trọng trong công tác TĐ,

KT của Đảng, Nhà nước; là một nội dung cơ bản của công tác tư tưởng; là một mặt hoạtđộng cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chức năng và các lực lượng có liênquan nhằm tạo động lực, thúc đẩy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của mọi quân nhântrong thực hiện các nhiệm vụ; là biện pháp quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiệnphẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng; xây dựng các tổ chức vững mạnh vànâng cao sức mạnh tổng hợp của Quân đội

Các TĐBB trong QĐNDVN là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩmchất, năng lực cho sĩ quan, QNCN và HSQ, BS, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấucủa các sư đoàn, quân khu, quân đoàn Tiến hành công tác TĐ, KT ở các TĐBB là mộtnội dung, biện pháp quan trọng trong tiến hành công tác tư tưởng của các chủ thể, lựclượng nhằm cổ vũ, động viên, khơi dậy khát vọng cống hiến, tính tích cực, tự giác của sĩquan, QNCN và HSQ, BS ở các TĐBB, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ đượcgiao, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD

Từ cách tiếp cận trên có thể quan niệm: Công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể chủ trương, biện pháp, các khâu, các bước của các tổ chức, lực lượng trong tổ chức, duy trì và mở rộng thi đua, khen thưởng, cổ vũ, động viên, khơi dậy tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến của các cá nhân, tập thể trong trung đoàn tích cực, tự giác, nỗ lực phấn đấu với quyết tâm cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; không ngừng phát triển, hoàn thiện phẩm chất, năng lực người quân nhân cách mạng và xây dựng các tổ chức ngày càng vững mạnh

Mục đích công tác TĐ, KT ở các TĐBB: Nhằm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ

được giao nhất là nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và các nhiệm vụ khác của đơn vị, khôngngừng phát triển và hoàn thiện phẩm chất, năng lực người quân nhân cách mạng, xâydựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu, các tổ chức quần chúng, hội

Ngày đăng: 31/08/2022, 21:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2021), Thực hiện pháp luật thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2021
2. Ban Chấp hành Trung ương (2021), Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”, số 21-KL/TW, ngày 25/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
3. Ban Chấp hành Trung ương (2021), Quy định về những điều đảng viên không được làm, số 37-QĐ/TW, ngày 25/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về những điều đảng viên không được làm
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
4. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới , số 21-NQ/TW, ngày 16/6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2022
5. Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (2018), Hướng dẫn về thực hiện Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, số 18-HD/TWĐTN-BTC, ngày 17/8, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về thực hiện Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đoàn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
6. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2018), 70 năm thi đua yêu nước (1948- 2018), Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 70 năm thi đua yêu nước (1948- 2018)
Tác giả: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2018
7. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2020), Công văn về việc nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng, số 139/BTĐKT-VI ngày 20/01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn về việc nâng cao chấtlượng công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương
Năm: 2020
8. Ngô Quốc Bảo (2021), “Sư đoàn 395, Quân khu 3 - hiệu quả từ thực hiện phong trào thi đua Quyết thắng”, Tạp chí Thi đua, khen thưởng, số 254, tr.24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư đoàn 395, Quân khu 3 - hiệu quả từ thực hiện phong trào thiđua Quyết thắng”," Tạp chí Thi đua, khen thưởng
Tác giả: Ngô Quốc Bảo
Năm: 2021
9. Nguyễn Đình Bắc (2017), “Phong trào thi đua yêu nước ở thanh niên quân đội”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 10, tr.10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thi đua yêu nước ở thanh niên quân đội”, "Tạp chíVăn hoá Nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Đình Bắc
Năm: 2017
10. Mai Hồng Bỉnh (Chủ nhiệm, 2011), Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay, Đề tài độc lập cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay
Tác giả: Mai Hồng Bỉnh
Nhà XB: Đề tài độc lập cấp Bộ Quốc phòng
Năm: 2011
11. Đặng Tiểu Bình (1995), Bàn về cải cách và mở cửa của Trung Quốc, (người dịch Ngô Tử Quỳnh, Đặng Minh Khôi, Trần Hà Phương, Nguyễn Bá Cự, Võ Ca, Đỗ Thúc Thuần), Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách và mở cửa của Trung Quốc
Tác giả: Đặng Tiểu Bình
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 1995
12. Bộ Chính trị (2014), Chỉ thị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, số 34-CT/TW, ngày 07/4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
13. Bộ Chính trị (2016), Chỉ thị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, số 05-CT/TW, ngày 15/5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
14. Bộ Chính trị (2021), Kết luận về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, số 01-KL/TW ngày 18/5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
15. Bộ Chính trị (2021), Quy định về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 49-QĐ/TW, ngày 22/12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quy định về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2021
16. Bộ Chính trị (2022), Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, số 69- QĐ/TW, ngày 06/7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2022
17. Bộ Quốc phòng (2013), Thông tư về ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng, số 14/2013/TT-BQP, ngày 24/01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
18. Bộ Quốc phòng (2014), Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 160/2014/TT-BQP, ngày 09/11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khenthưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2014
19. Bộ Quốc phòng (2018), Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 151/2018/TT-BQP, ngày 12/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
20. Bộ Quốc phòng (2018), Thông tư về quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 165/2018/TT-BQP, ngày 01/12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w