11 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN THU HOẠCH HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ SỰ VẬN DỤNG LÝ.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
THU HOẠCH HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Hà Nội - 2022
Trang 2Tên chủ
đề/vấn đề bài
thu hoạch:
Học thuyết giá trị thặng dư và sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào phát triển kinh tế tư nhân ở
nước ta hiện nay
Ngày chấm:
Giảng viên chấm 1
(Ký, ghi rõ họ, tên)
Giảng viên chấm
2
(Ký, ghi rõ họ, tên) Bằng số:
Bằng chữ:
Môn học: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Tên chủ
đề/vấn đề bài
thu hoạch:
Học thuyết giá trị thặng dư và sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào phát triển kinh tế tư nhân ở
nước ta hiện nay
SỐ PHÁCH Họ và tên học viên
Mã số học viên Lớp
Ngày nộp
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.2 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 2 1.3 Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 3
II.
SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở
2.1 Vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào nhận thứcvề quan điểm phát triển triển kinh tế tư nhân của Đảng ta 5
2.2
Vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào nhận diện
“bóc lột” và giải quyết vấn đề bóc lột đối với kinh tế tư
Trang 4MỞ ĐẦU
Giống như mọi sự phát triển nói chung, chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, phát triển cũng tuân theo quy luật phủ định của phủ định với sự ra đời của cái mới trên cơ
sở cái cũ, kế thừa những nhân tố tích cực của cái cũ để khẳng định sự phát triển Như
Ph Ăng ghen khái quát Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”: “Cơ sở lý luận trực tiếp cho sự ra đời của học thuyết Mác là: Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp” [1, tr.175] Cụ thể về kinh tế chính trị,
lý luận khoa học và hoàn bị của Mác là sự kế thừa có phê phán, đặc biệt trên cơ sở kế thừa những thành tựu về lý luận giá trị - lao động, những phân tích tiến bộ về các hình thái cụ thể của giá trị thặng dư kinh tế chính trị cổ điển Anh, Mác đã xây dựng hoàn thiện lý luận giá trị - lao động, lấy đó làm nền để kiến tạo nên lý luận giá trị thặng dư Khi hình thành, lý luận giá trị thặng dư đã trở thành “hòn đá tảng” [4, tr.178] trong học thuyết kinh tế của Mác để giải thích bản chất bóc lột của chủ nghĩa tưu bản và cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng trở thành những phát kiến vĩ đại có sức sống vững bền của Mác
Hiện nay, các thế lực thù địch ra sức chống phá chủ nghĩa Mác, đặc biệt chúng công phá “hòn đá tảng” bằng tất cả những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu
có thể có song chúng không thể tìm ra kễ hở nào nhỏ nhất để thực hiện mà chúng còn phải tìm về với “Bộ tư bản”, về với trí tuệ của Mác để hy vọng tìm ra lời giải cho những căn bệnh, ung nhọt trầm kha của chúng với lời giải là sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản Cùng với vị trí, ý nghĩa đó, học thuyết kinh tế của Mác nói chung và học thuyết giá trị thặng dư của Mác đã và đang soi đường, đem lại thành công cho các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam trong quá trình phát triển Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu để hiểu, bảo vệ và vận dụng lý luận kinh tế, lý luận giá trị thặng dư của Mác vào quá trình phát triển kinh tế đất nước nói chung và vào phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn Do đó, nghiên cứu vấn đề
“Học thuyết giá trị thặng dư và sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay” làm đề tài thu hoạch
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 5NỘI DUNG
I HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC
1.1 Bản chất của giá trị thặng dư
Bắt đầu từ việc nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác đã đi đến kết luận: Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không C.Mác viết: “bí quyết của sự tự tăng thêm giá trị của tư bản quy lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác” [2, tr.412] Sở dĩ nhà tư bản chi phối được lao động không công của người khác là
vì nhà tư bản là người sở hữu các tư liệu sản xuất Đó chính là quá trình bóc lột giá trị thặng dư
1.2 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
* Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Theo Mác, do năng suất lao động đã tăng lên đến một mức độ nhất định nên người công nhân chỉ cần một phần ngày lao động đã đủ tạo ra một lượng giá trị bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của mình, phần còn lại sẽ tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, vì vậy ngày lao động được chia thành hai phần: Phần thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng
dư Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là việc nhà tư bản kéo dài ngày lao động vượt quá một mức nhất định trong khi thời gian lao động cần tiết vẫn giữ nguyên, do đó thời gian lao động thặng dư sẽ tăng lên một cách tuyệt đối
Việc sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ gặp phải trở ngại: sự đấu tranh của của giai cấp công nhân đòi tăng lương giảm giờ làm Do đó nhà tư bản phải tìm một phương pháp bóc lột hiện đại hơn
* Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết nhằm kéo dài gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội trong khi thời gian của ngày lao động không đổi
Để rút ngắn thời gian lao động tất tất yếu, nhà tư bản phải tìm cách hạ giá trị của sức lao động Điều này được thực hiện bằng hai cách: Nâng cao năng
Trang 6suất lao động trong các ngành sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt cần thiết mà người công nhân tiêu dùng và nâng cao năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra các tư liệu sản xuất để sản xuất ra c¸c tư liệu tiêu dùng
Như vậy cơ sở để bóc lột được giá trị thặng dư tương đối là phải nâng cao được năng suất lao động xã hội Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn bộ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
* Giá trị thặng dư siêu ngạch
Là giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của
nó Như thế, khi các công nghệ mới này được áp dụng một cách phổ biến trong
xã hội, các ưu thế cạnh tranh không còn nữa, giá trị thư siêu ngạch sẽ không còn nữa, mà sẽ chuyển hoá thành giá trị thặng dư tương đối C.Mác gọi giá trị thặng
dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
1.3 Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là mục đích theo đuổi của toàn bộ giai cấp tư sản Tuy nhiên, trong quá trình vận động của chủ nghĩa tưu bản, giá trị thặng dư được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Các hình thức biểu hiện cơ bản của
nó là:
Lợi nhuận: là giá trị thặng dư khi được quan niệm là con đẻ của toàn bộ
tư bản ứng trước, là kết quả hoạt động của toàn bộ tư bản đầu tư vào sản xuất kinh doanh, ký hiệu là p
Sự xuất hiện phạm trù lợi nhuận góp phần che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tưu bản Bởi vì, nó dễ làm cho người ta nhầm tưởng, lợi nhuận là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra Thực tế chỉ có tư bản khả biến - sức lao động của công nhân mới sinh ra giá trị thặng dư, biểu hiện dưới hình thái lợi nhuận
Trong điều kiện chủ nghĩa tưu bản tự do cạnh tranh, lợi nhuận chuyển hoá thành lợi nhuận bình quân Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác nhau Nó chính là lợi nhuận
mà các nhà tư bản thu được căn cứ vào tổng tư bản đầu tư nhân với tỷ suất lợi nhuận bình quận, không kể cấu tạo hữu cơ của nó như thế nào
Trang 7Lợi nhuận thương nghiệp: là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong
quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp nhường cho tư bản thương nghiệp để
tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cho mình Lợi nhuận thương nghiệp là một hình thức biến tướng của giá trị thặng dư Nguồn gốc của nó cũng là một bộ phận lao động không được trả công của công nhân
Tư bản công nghiệp “nhường” lại một phần giá trị thặng dư thu được cho
tư bản thương nghiệp bằng cách bán hàng hoá thấp hơn giá trị thực tế của nó, để rồi tư bản thương nghiệp bán đóng giá trị và thu về lợi nhuận thương nghiệp
Lợi tức: Lợi nhuận là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay
trả cho tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được hưởng quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định, ký hiệu là z
Sự hình thành tư bản cho vay và lợi tức là kết quả của sự phát triển quan
hệ hàng hoá-tiền tệ đến một trình độ nhất định làm xuất hiện quan hệ giữa người
có tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và người thiếu tiền để đầu tư Tư bản cho vay ra đời góp phần thúc đẩy tích tụ và tập trung sản xuất để mở rộng và phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Địa tô tư bản chủ nghĩa: là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận
bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra
mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất
Sở dĩ tồn tại phạm trù địa tô trong phương thức tư bản chủ nghĩa là bởi vì, trong phương thức sản xuất này, này vẫn thừa nhận chế độ tư hữu về ruộng đất
và độc quyền kinh doanh ruộng đất Nó ngăn cản tự do cạnh tranh giữa các ngành để hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nông nghiệp Do đó, phần lợi nhuận siêu ngạch mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp thu được phải nộp lại cho địa chủ để được sử dụng rộng đất
Địa tô tư bản chủ nghĩa tồn tại dưới các hình thức: địa tô chênh lệch (chênh lệch I và chênh lệch II); địa tô độc quyền, địa tô tuyệt đối
Trên cơ sở phân tích bản chất và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng
dư, C.Mác đi đến kết luận: “Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tưu bản” [3, tr.513]
Trang 8Quy luật sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản, tuyệt đối của chủ nghĩa tưu bản bởi vì nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội của xã hội tư bản Không có sản xuất giá trị thặng dự thì không có chủ nghĩa tưu bản Ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tưu bản, ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tưu bản thì ở đó có sản xuất gí trị thặng dư
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng, sự phát triển của học thuyết giá trị thặng dư là một quá trình lịch sử, nó ngày càng hoàn thiện và C.Mác chính là người đã xây dựng học thuyết đạt tới đỉnh cao của nó Điều này góp phần chứng minh sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin là một tất yếu khách quan của lịch sử, là kết quả của sự phát triển không ngừng của các tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
II SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào nhận thức về quan điểm phát triển triển kinh tế tư nhân của Đảng ta
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của
Đảng cộng sản Việt Nam Chủ trương đúng đắn trên được xây dựng trên cả cơ
sở lý luận và thực tiễn Tuy nhiên để có được sự đồng thuận và nhận thức sâu sắc về chủ trương quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng thì nhận thức vấn đề sản xuất giá trị thặng dư và vấn đề bóc lột là một trong những vấn
đề lý luận mang tính cốt lõi, hang đầu cần ưu tiên làm sáng rõ đặc biệt là vấn đề
“Sản xuất giá trị thặng dư có đồng nghĩa với bóc lột giá trị thặng dư không?”
Từ lý luận kinh tế của Mác có thể nói: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và
bị nhà tư bản chiếm đoạt Nhà tư bản sử dụng tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động vào mục đích tạo ra cho mình giá trị thặng dư Chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư này là hành vi được gọi đích danh là “bóc lột” giá trị thặng dư
Đó là nói chung, còn cụ thể, trong quá trình sản xuất, hành vi “bóc lột” giá trị
Trang 96 thặng dư được nhà tư bản thực hiện bằng các phương pháp khác nhau: sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, tức là kéo dài tuyệt đối thời gian của ngày lao động, rút ngắn thời gian lao động cần thiết để sản xuất từng sản phẩm và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư Việc tăng giá trị thặng dư còn được một số nhà tư bản thực hiện bằng cách hạ thấp giá trị của hàng hóa do xí nghiệp mình sản xuất so với giá trị xã hội của hàng hóa
đó Số giá trị tạo ra bằng cách này được gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch
Vậy, rõ ràng, bóc lột giá trị thặng dư là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa Ở đó sản xuất giá trị thặng dư đồng nghĩa với bóc lột giá trị thặng dư Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh Ngộ nhận về điều này sẽ dẫn đến rối loạn khi chúng ta phải luận giải để trả lời các câu hỏi: Vậy thì trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sản xuất giá trị thặng dư không? Cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thuộc về ai? Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa này sở hữu “giá trị thặng dư” có phải là hành động bóc lột hay không? Hay nói cách khác sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có đồng nghĩa với bóc lột không?
Sản xuất và phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản và trong chủ nghĩa xã hội hoàn toàn không giống nhau Bởi vì “bất kỳ một sự phân phối nào
về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay những điều kiện sản xuất; nhưng sự phân phối những điều kiện sản xuất lại là một tính chất của chính ngay phương thức sản xuất Theo tinh thần đó, trong nền kinh tế mhiều thành phần ở nước ta, việc phân phối trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân hay doanh nghiệp tư bản nhà nước khác với việc phân phối trong các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp hiệp tác Và còn có bóc lột hay không thể hiện trong chính sự phân phối ấy, bao gồm cả phân phối điều kiện sản xuất và phân phối kết quả sản xuất
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp
tư nhân không hoàn toàn giống kinh tế tư bản tư nhân dưới chế độ tư bản chủ
Trang 10nghĩa và cũng không hoàn toàn chịu sự chi phối của quy luật giá trị thặng dư.
Do đó, việc thừa nhận sự tiến bộ, hợp pháp của kinh tế tư nhân và khuyến khích
nó phát triển là khuyến khích sản xuất ngày càng nhiều giá trị mới cho xã hội (làm giàu), khuyến khích sự phát triển của xã hội, chứ không phải là khuyến khích sự bóc lột Đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam hiện nay Sự khẳng định này đã góp phần xóa bỏ mặc cảm, tháo
gỡ rào cản cho kinh tế tư nhân phát triển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
2.2 Vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào nhận diện “bóc lột” và giải quyết vấn đề bóc lột đối với kinh tế tư nhân
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay thừa nhận kinh tế tư nhân là thừa nhận còn có bóc lột giá trị thặng dư Chính vì vậy nhận thức “bóc lột” và giải quyết vấn đề bóc lột đối với kinh tế tư nhân là đòi hỏi tất yếu Trên thực tiễn, có nhiều quan điểm, góc độ để xem xét vấn đề này song cách tiếp cận khoa học là dựa vào lý luận giá trị thặng dư của chủ nghĩa Mác Đây cũng là đòi hỏi tất yếu để bảo vệ, làm giàu chủ nghĩa Mác khi lý luận giá trị thặng dư của Mác được nhận thức, vận dụng sâu sắc và hoàn thiện trong điều kiện lịch sử cụ thể mới
Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của Mác, vấn đề nhận thức “bóc lột”
và giải quyết bóc lột đối với kinh tế tư nhân trước hết cần tiếp cận trên một số luận điểm sau:
Thứ nhất: lao động tạo ra giá trị trong khu vực kinh tế tư nhân Để xây
dựng nên lý luận giá trị thặng dư và toàn bộ học thuyết của mình, C Mác đã đứng vững trên lập trường lý luận giá trị lao động Vì vậy, để nắm được những giá trị hạt nhân hợp lý của lý luận giá trị thặng dư trong điều kiện hiện nay cần phải đứng vững trên lý luận giá trị lao động
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, của lực lượng sản xuất, thì lao động tạo ra giá trị gồm những lao động nào? Trong một thời gian dài có nhiều người nhận thức chỉ có lao động trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị còn lao động trong lĩnh vực lưu thông không tạo