1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn: Đề tài chiến tranh qua sáng tác của nhà văn Thanh Quế

89 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến tranh qua sáng tác của nhà văn Thanh Quế
Tác giả Hoàng Giang Yên Thủy
Người hướng dẫn TS. Phan Ngọc Thu
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn - Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 14,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Đề tài chiến tranh qua sáng tác của nhà văn Thanh Quế và tập hợp có hệ thống, có chọn lọc cùng với những nhận xét, phát hiện về đời sống, đời văn Thanh Quế cùng quan niệm và phương tiện nghệ thuật được sử dụng khi viết về đề tài chiến tranh. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HOÀNG GIANG

ĐÈ TÀI CHIẾN TRANH QUA SÁNG TÁC

CUA NHA VAN THANH QUE

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HQC XA HỘI VÀ NHÂN VAN

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Ngọc Thu

Da Ning, Nim 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các nội dụng nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công

bồ trong bắt kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn Hoàng Giang Yên Thủy

Trang 3

1.2.1 Từ sinh viên khoa Sử trở thành phóng viên chiến trường 19

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà văn Thanh Quế 2

È đề tai chiến tranh 27

1.2.3 Những sáng tác nỗi bật của Thanh Qué

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CUỘC SÓNG CHIẾN TRANH TRONG

2.1 HIỆN THỰC CUỘC SÓNG CHIẾN TRANH TRONG SÁNG TÁC

2.1.1 Hiện thực gian khổ, khốc liệt của chiến tranh 33

2.12 Hiện thực đời sống tâm hồn, tình cảm con người trong

Trang 4

22 HIỆN THỰC CUỘC SÓNG CHIẾN TRANH TRONG SÁNG TÁC

2.2.1 Những nỗi đau chiến tranh vin không nguôi trong thời hậu chiến

39

2.22 Nỗi niềm sâu nặng ân tình của nhà văn đối với quê hương, đất

2.2.3 Hiện thực cuộc sống hồi sinh trên quê hương đắt Quảng SI CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUAT QUA SANG TAC CUA

3.2.2 Các dạng kết cấu, cốt truyện trong văn xuôi 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐÈ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 5

MO BAU

1, Lý do chọn đề tỉ

“Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử của đất nước và dân tộc, sáng tác văn

học về đề tài chiến tranh vệ quốc đã là nguồn mạch chưa bao giờ cạn trong dòng chảy văn học truyền thống nước ta nói chung và nền văn học hiện đại nước ta nói riêng Cho đến nay, dù đã bốn mươi năm sau ngày giải phóng đất nước, chiến tranh tưởng như đã lùi xa, song trong ký ức của nhiều người,

hính cuộc đời họ, với

nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng luôn gắn với

bạn bè, đồng đội, gia đình Nhiều tác giả đã trải qua đời lính, cằm súng chiến

đấu cho đến ngày đất nước hòa bình, họ mới có điều kiện sáng tác Ra đời trong kháng chiến và sau chiến tranh, số lượng cũng như chất lượng tác phẩm

viết về đề tài chiến tranh đã đạt được những thành tựu quan trọng

‘Thanh Qué thude thé hệ nhà văn xuất hiện và trưởng thành trong giai

đọan cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, từng có mặt ở chiến trường trong

những ngày gian khô, ác liệt nhất và cũng là người có nhiều đóng góp cho phong trào văn học ở Quảng Nam - Đà Nẵng, miền Trung và cả nước

Ông đã nhiều năm làm Tổng biên tập tạp chi Bat Oudng (1986 ~ 1997),

“Tổng biên tập tạp chí Non Nước (1997 — 2009), Phó Chủ tịch Hội văn nghệ Quảng Nam ~ Đà Nẵng; Chủ tịch rồi Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học

nghệ thuật Đà Nẵng; Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam phụ trách miền Trung Ông đã giới thiệu nhiều cây bút vào Hội nhà văn Việt Nam như Bùi Tự Lực, Nguyễn Kim Huy, Nguyễn Tam Mỹ, Hồ Duy Lệ, Văn Công

Hung (Gia Lai), Huỳnh Thạch Thảo (Phú Yên) và giúp đỡ cho nhiều tác

pham ra doi: Ra di lúc trời còn tối của Huỳnh Thảng, Huyễn thoại suối Hoa

của Đoàn Xoa, Nội tới của Bùi Tự Lực

Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học ở địa phương và Trung

ương mà cao nhất là giải thưởng Nhà nước năm 2012.

Trang 6

Gan nia thé kỷ cằm bút, với hơn năm mươi tác phẩm bao gồm nhiều

thể loại: Thơ, trường ca, truyện, ký, tiếu thuyết, truyện thiếu nhi, phê bình, chân dung văn nghệ , Thanh Quế viết về nhiều để tài, nhưng nỗi bật vẫn là những sáng tác sâu nặng ký ức về những năm tháng ác liệt của chiến tranh

trên vùng đất Quảng Đà với những con người trung dũng vô biên mà vẫn chan

chứa tình yêu và ánh lên những phẩm chất tốt đẹp ~ những khía cạnh giàu giá

2 Lịch sử vấn đề

Có thể khái quát rằng để tài chiến tranh cách mạng trong nền văn học

'Việt Nam là nguồn đề tài hấp dẫn, quý giá đối với các thế hệ cằm bút Việc thể hiện hiện thực chiến tranh hào hùng của dân tộc và nhất là sau khi đất nước hòa bình đã có những nhận thức và lựa chọn mới Hiện thực được phản

ánh không chỉ là cái vốn có mà đã được các nhà văn, người cằm bút nhận

thức lại qua tư tưởng, tỉnh cảm, thái độ của mình Việc chọn những cách thức

thể hiện mới, chân thật đã giúp các nhà văn có được những tác phẩm sâu sắc, neo lại trong lòng bạn đọc và gợi mở nhiều điều cần suy ngẫm về những phận

người, những tâm hồn con người trong chiến tranh và sau chiến tranh

Từ những năm 1980, trên tạp chí Văn hoc sé 2, nhà nghiên cứu Tôn

Phương Lan đã có bài “Viết về chiến tranh đôi điều suy ngẫm” Tác giả cho rằng “viết sau chiến tranh, phải khác với viết trong chiến tranh, điều đó,

không phải chỉ là nhu câu của độc giả mà còn là của chính các tác giả” Trước

Trang 7

đây, các nhà văn “năng về mô tả cái anh hùng của đời sống”, bởi "hoàn cảnh

ngôn ngang, trần trụi của chiến trường, cái giản dị mà quyết liệt của người

lính” “Nhưng điều quan trọng là ở lòng tỉn, ở chủ nghĩa lạc quan như một sợi

chỉ đỏ xuyên suốt làm nên chỗ dựa ( ) Và thắng lợi đều do con người làm

ra Đó là những con người, dẫu còn những mặt này mặt kia khiếm khuyết, dẫu

chúng ta có được hôm nay, đã phải mua như thế đó Chúng ta cần sống sao

cho xứng đáng với những gì cả dân tộc ta đã hy sinh Trên ý nghĩa đó mà một

số người từ tắm lòng biết ơn mà viết ra, mà ghỉ lại, mà để tặng những người

sự khắc nghiệt của chiến tranh đưa đến Sau này, khi chiết

mới có điều kiện để hiểu ra rằng, dù đã ở ngoài mặt trận, dù đã thấy được cái

n tranh kết thúc, tôi

ác liệt và đù đã viết nhiều trang nhưng có lẽ vẫn chưa nói được hết được Cả

đời chỉ loay hoay viết về cuộc chiến ấy, có lẽ là số phận của thế hệ những

người cằm bút từng có những năm cầm súng như chúng tôi

Còn nhà văn Nguyễn Minh Châu với các bài: “Viết về chiến tranh”,

Trang 8

“Các nhà văn quân đội và đề tài chiến tranh”, “Người lính chiến tranh và nhà ï” in trong tập phê bình - tiểu luận ?rang giấy rước đèn, NXB Khoa học Xã hội, năm 2002, đề cập khá nhiều vấn đề trí ân của những người cằm bút đối với quá khứ hào hùng, với những đồng bảo, đồng chí Nguyễn Minh

Châu thấy rằng: “Viết về hai cuộc kháng chiến, viết về chiến tranh, nhiều

đồng chí cầm bút viết văn trong quân đội đã đứng tuổi nhiều lần nói tới công

văn

việc đó như một trách nhiệm, một món nợ chưa trả được Một món nợ chưa

trả và không thể nào quên” Bên cạnh đó, khi cuộc chiến đi qua, nhiều người 'băn khoăn lựa chọn “con người” hay “sự kiện” làm đối tượng chủ yếu trong

tác phẩm của mình thì Nguyễn Minh Châu đã khẳng định: “rồi trước sau con

người cũng leo lên trên các sự kiện để đòi “quyền sống” Và viết về chiến

hận người, về nhân tính của những phận người

Ngoài ra còn có một số công trình như Nain lai Van học Việt Nam thé

&ý XX của Viện Văn học, do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2002,

PGS-TS Mai Hương đã nêu một số nhận xét về 7hơ Ƒ Nam qua hai cuộc chiến tranh cách mạng, chuyên luận Văn xuới Việt Nam 1975-1995, NXB

ido dục, năm 2007, Nguyễn Thị Bình cũng đã có những phân tích, lý giải những đổi mới của văn xuôi sau 1975 khi viết về đề tài chiến tranh

'Bên cạnh đó, ở nhiều tạp chí, hội thảo, đề tài chiến tranh cũng được đặt

ra, được bản thảo Đơn cử như tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 564, năm 2002,

nhà văn Nam Hà có bài viết “Lại nói về chiến tranh và viết về chiến tranh”,

hay hội thảo “Tọa đàm sáng tác về đẻ tài chiến tranh cách mạng” do Ban

Tuyên giáo Tỉnh ủy và Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam tô chức vào năm 2012

Gần đây, Hội thảo khoa học quốc gia Sáng rác vấn học Việt Nam thời

kỳ Đổi mới: thực trạng và triển vọng được Viện Văn học tỗ chức tại Hà Nội, ngày 28.5.2015 Hội thảo đi sâu đánh giá, tổng kết một cách toàn diện những

Trang 9

thành tựu, hạn chế của thực tiễn sáng tác văn học Việt Nam 30 năm đối

mới Đề tài chiến tranh là nội dung được khá nhiều tham luận đề cập đến với

những cách nhìn mới, cách tiếp cận mới Nhà văn Bảo Ninh với tham

Trong tham luận Viấn xui viết vẻ chiến tranh Cách mạng sau năm 1975 - một

"hướng tiếp cận mới hiện thực, nhà văn Đỗ Kim Cuông ghi nhận: “Hiện thực cuộc sống đã đổi thay, nhiều giá trị chuẩn mực của tư tưởng, đạo đức, lối

sống, phong tục tập quán, quan hệ xã hội đã biến động Một không khí dân chủ, cởi mở hơn trong tranh luận”

Tựu trung lại, những công trình, bài viết về văn học chiến tranh là

những cảm nhận, những suy nghĩ, những trăn trở của các nhà văn, nhà nghiên

cứu, phê bình về đề tài chiến tranh: viết thế nào để bạn đọc chấp nhận, để hấp

«din bạn đọc trong tình hình đắt nước hơn 30 năm đổi mới như hiện nay, thành tựu của mảng văn học này đến đâu, viết về đề tài chiến tranh để làm gì, liệu

chiến tranh có là đề tài cũ? v.v

Trang 10

Ngô Thể Oanh), “Ở miền Cát cháy” của Nguyễn Kim Huy, “Hành trang đời, hành trang thơ” của Nguyễn Minh Khôi, “Chuyển động với Thanh Quế”

Nguyễn Nhã Tiên, “Nét thực trong Bếp lửa làng Tả Băng” của Huỳnh Thạch

“Thảo, *Bè trằm trong khúc quân hành” của nhà văn Vũ Bão, phê bình tập thơ

Mê biến đời tôi, tập truyện Sao anh lại cảm ơn tôi, tập chân dung Từ những

tia

trang đời của Nguyễn Minh Khôi

'Đáng chú ý còn có bài viết '*Thanh Quế và con người bình thường” của

nhà nghiên cứu Hồ Hoàng Thanh in trong tap Vé edi chân thật của nghệ

thuật, NXB Đà Nẵng, 2004; và bài viết về Thanh Quế của Nguyễn Minh

Hang, in trong tập [ăn chương nhìn từ góc sân trưởng, NXB Văn học, 2003

Trong báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp thành phố năm 2006 với đề tài

ăn xuôi Quảng Nam — Đà Nẵng sau năm 1975 — những vấn đề lý luận và

nghệ thuật, có khi là hình tượng nhân vật trong các tác phẩm, có khi là chính

cuộc đời của nhà văn Thanh Quế để đánh giá, ghỉ nhận những cống hiến của ông trong văn xuôi Quảng Nam — Đà Nẵng

Ngoài ra, một số luận văn của cử nhân và thạc sĩ đã chọn tác phẩm của

nhà văn Thanh Quế để nghiên cứu, trong đó, mới nhất có luận văn thạc sĩ của Phan Hữu Thịnh với đề tài Đặc điểm văn xuôi Thanh Quể (năm 2012) v.v Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào, chưa có tài liệu, công trình nào nghiên cứu chuyên về đề tải chiến tranh trong sáng tác của nhà thơ, nha van Thanh Qué

Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu ý kiến của những người đi trước, luận văn Để tài chiến tranh qua sáng tác của nhà văn Thanh Quề sẽ nghiên cứu sâu những đóng góp của ông qua những sáng tác về mảng đề tài này; qua đó

Trang 11

nhằm nhận thức sâu sắc hơn chân dung của một nhà văn - chiến sĩ trong đời

sống văn học Việt Nam đương đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

~ Các sáng tác thơ, văn của Thanh Quế viết về đề tài chiến tranh

3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

~ Chúng tôi chọn các sáng tác của nhà van Thanh Qué qua một số tác phẩm tiêu biểu:

+ “Chuyện ở miễn cát cháy” (Tuyển truyện Thanh Quế, NXB Da Ning,

2009),

+ “Kẻ đào ngũ” (Tập truyện ngắn, NXB Quân đội nhân dân, 201 1)

+ *Thơ Thanh Quế" (NXB Hội Nhà văn, 2008)

+ *Truyện ký chọn lọc” (NXB Hội Nhà văn, 2003),

+ *T2 bài thơ tự chọn” (NXB Hội Nhà văn, 2012)

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu về đẻ tài chiến tranh trong sáng tác của nhà văn Thanh Quế

~ Phương pháp hệ thắng: nghiên cứu các sing tác của nhà văn Thanh

Quế dưới góc độ hệ thống từ sự kết hợp các lý thuyết về thi pháp học, qua đó

nêu bật các phương pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng để viết về mảng để tài chiến tranh

~ Phương pháp lịch sử: đây là phương pháp giúp chúng tôi nhận thức rõ

hơn quá trình sáng tác trong mối tương quan các sáng tác vẻ dé tài chiến tranh của Thanh Quế với môi trường, hoàn cảnh của những năm kháng chiến chống

Mỹ,

~ Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này giúp chúng tôi

Trang 12

thấy được sự vận động của thì pháp và những đóng góp của tác giả với phong cách riêng so với các nhà văn khác trong nền văn học Việt Nam cùng thời kỳ

~ Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các yêu tô về nội dung,

hình thức trong sáng tác văn xuôi, thơ của nhà văn Thanh Quế để tổng hợp,

đánh giá những giá trị nghệ thuật nỗi bật mà tác giả đem lại

5 Đóng góp cũa luận văn

Luận văn là tập hợp có hệ thống, có chọn lọc cùng với những nhận xét,

phát hiện về đời sống, đời văn Thanh Quế cùng quan niệm và phương tiện nghệ thuật được sử dụng khi viết về đề tài chiến tranh

Với việc nghiên cứu Để idi chiến tranh qua sáng tác của nhà văn

Thanh Quế, chúng tôi mong rằng sẽ giúp cho người đọc hiểu thêm chân dung

bật đáng quý của nhà văn, nhà thơ Thanh Quế Qua

đó, luận văn có thể là tư liệu tham khảo vẻ văn học Việt Nam và văn học đất

Chương 3: Phương thức nghệ thuật qua các tác phẩm của Thanh Quế

tài chiến tranh.

Trang 13

CHƯƠNG 1

HOÀN CẢNH RA ĐỜI NHỮNG SÁNG TÁC

CUA THANH QUE VE DE TAI CHIEN TRANH

1.1, NHUNG NAM THANG CA DAN TOC “RA TRAN” CHONG MỸ,

CỨU NƯỚC (1965 - 1975)

1.1.1 Bối cảnh lịch sử

Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, từ đầu năm 1965, đế quốc

Mỹ đã quyết định thành lập Bộ chỉ huy tác chiến tại Việt Nam, ð ạt đưa quân

viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào miễn Nam nước ta, tiến hành "chiến

tranh cục bộ” và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng cả không quân,

nhà” [1, tr634]

'Đà Nẵng là địa phương mà những đơn vị chiến đấu đầu tiên của quân

Mỹ đặt chân xâm lược trên đất nước ta với tiêu đòan tên lửa Hawk của thủy quân lục chiến đến ngày 2/8/1965 Chỉ trong vòng 3 tháng sau đó, quân Mỹ triển khai hoạt động càn quét, chốt điểm ở phía tây, tây bắc, trung, đông Hòa

Trang 14

Vang va hinh thành một hệ thống cứ điểm từ ranh núi xuống biển, tạo vành

đai quân sự bảo vệ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng

hành khủng bố, đuổi dân gần 3 xã ở Quảng Nam để lấy đất xây dựng căn cứ Chu Lai và vành đai bảo vệ căn cứ

Tiếp theo, chúng đưa quân

Chu Lai Vang giải phỏng nông thôn, đẳng bằng, vùng căn cứ miễn núi, đặc

biệt là những nơi có hành lang của ta đều biến thành nơi hứng chịu hàng tắn bom đạn, chất độc hóa học của quân Mỹ Quân Mỹ, ngụy khủng bổ, giết chóc, thảm sát đồng bảo ta ngày cảng nhiều, khủng khiếp hơn, dã man hơn Không,

chỉ nhân dân trong nước căm phẫn mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã bày tỏ thái độ phản đối trước sự tàn bạo của Mỹ, ngụy

Trong những năm tháng ác liệt ấy, chúng tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, dìm phong trào cách mạng của ta trong biển máu, tiếp đến là

các cuộc cản quét, phi pháo, bom tọa độ, B52, pháo bầy, napan, cày ủi, xúc

phong trảo thì đua "Tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt”, "Tìm Mỹ mà đánh,

gặp Mỹ là diệt”, “Trả thù giặc Mỹ bắn phá miền Bắc ruột thịt” Qua đó,

Dang bộ và nhân dân Quảng Nam — Đà Nẵng ra Nghị quyết đánh thắng giặc

Mỹ với quyết tâm “Chưa giải phóng miễn Nam thì còn đánh, chiến tranh gì

cũng đánh, đối tượng nào cũng đảnh, đông bao nhiêu cũng đánh và lâu dai bao nhiêu cũng đánh chúng ta có nhiệm vu đẳnh Mỹ trước tiên bằng hai

chân, ba mũi giáp công đề đóng góp kinh nghiệm cho toàn miễn và góp phân

đánh bại ý chí xâm lược của đề quốc Mỹ”

Trước những khó khăn, gian khổ như vậy, nhân dân vùng dat Quang

su hy sinh, mat mát nhưng vẫn giữ vững niềm tin, lòng

Trang 15

trung kiên, ý chí cách mạng, tiền công địch với những cách đánh linh hoạt, tài tình, trí tuệ, biểu hiện lòng dũng cảm khi chiến đấu và cũng đầy lòng nhân đạo, khoan hồng khi kẻ thù đã thua

1.1.2 Quảng Đà “manh đất nuôi ta thành dũng sĩ”

Quang Nam - Đà Nẵng là địa bản chiến lược cực kỳ quan trọng, nơi đế

quốc Mỹ và tay sai chọn làm thí điểm đánh phá ác liệt vào din, vào cơ sở

cách mạng, cổ tách dân ra khỏi Đảng, làm suy yếu hệ thống lãnh đạo của Đảng, phá thể trận chiến tranh nhân dân của ta

Củng với quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam ~ Da Nẵng, các văn nghệ sĩ Khu V và Quảng Nam, Đà Nẵng đã hãng hái đi thực tế ở

chiến trường để phản ánh cho nhân dân cả nước và thế giới biết sự đã man, hén hạ của kẻ thù và quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam

thống nhất đất nước của nhân dân ta ở vùng đất ác liệt này

Thời kỳ cam go, thử thách nhất ở chiến trường Khu V là vào những

năm 1968 — 1970 Đây là thời gian đất và người Quảng Nam, Đà Nẵng phải

chịu những đợt đói khát liên miên bởi chất độc hóa học Mỹ, bị hành hạ bởi bệnh sốt rét hoành hành, cướp đi bao mạng sống, bị địch rải thảm B52 khắp

nơi, B57 tọa độ bất kể lúc nào, mùa màng thất bát, cây cối chết khô, thương

tích cả vùng rộng lớn Lợi dụng đó địch phát quang rừng núi, đánh chiếm đồng bằng, lấn dần các vùng giáp ranh Đây cũng là năm Mỹ tung biệt kích nhiều nhất, rồi nạn Mỹ lết, Mỹ bò, Mỹ cõng đánh phá sâu vào căn cứ cách mạng của ta, làm suy yếu lực lượng ta, tạo nên những vùng trắng cơ sở, trắng

dan

Tình hình khó khăn ấy không những làm chùn bước mà còn nung nấu

thêm tỉnh thần của đội ngũ văn nghệ Trong đó có lực lượng sáng tác văn học

tiếp tục can trường, bền bĩ trong chiến đấu ở cả mặt trận và vùng căn cứ Hầu hết những người làm nghệ thuật, viết văn đều đã ít nhất một lần

Trang 16

đến đây ~ vùng đất Quảng Nam với sự "cầu khô, rồng hoác, thắp thoáng chỉ

là vài hàng đương bị máy bay phat cụt ngọn trông xác xơ " [35, tr32] nhưng lại thôi thúc các cây bút “Phải đi đến đó, phải về đến đó Nó như đòi hỏi tự thân của thể xác Không đi đến đó, không vẻ đến đó thì không có đau

buôn, không có vui sướng, không có khát khao, không có hy vọng, không có hiểu biếu, không có tình yêu, không có hạnh phúc, nghĩa là không có tắt cả,

nghĩa là không tần tại” [35, tr.28] Và khi đã đến vùng “đắt Quảng Nam chưa mưa đà thắm — rượu Hông Đào chưa nhắm đà say” thì họ khó mà rứt ra được, như Thu Bồn từng viết “Đà Nẵng gọi ta như người mẹ gọi con / Như

"người yêu gọi người yêu xa cách”

Các nhà văn — chiến sĩ lại lên đường, vượt qua bao gian lao, thử thách,

tiếp tục những chuyển đi thực tế dài ngày hơn, vào những vùng ác liệt hơn, bám sát các vùng “thắt lưng địch”, tham gia các chiến dịch cùng bộ đội, du kích, cùng với nhân dân đấu tranh không vào khu dồn, trụ bám kiên cường,

đành dân giữ đất, tăng gia sản xuất để tự có cái an, thực hiện những chuyến

cðng hàng, tiếp tế Từ đó, hằng loạt các tác phẩm văn học có giá trị mang

hào khí bản anh hùng ca đã ra đời, như Gia đình má Báy, Mẫn và tôi của nhà van Phan Tứ, Trường ca Chim Chỉ rao của nhà thơ Thu Bồn, Đất Quang cia

nhà văn Nguyên Ngọc, Bức thie làng mực (truyện và ký) của Nguyễn Chí Trung, Mat biển mặt trận (truyện và ký) của Chu Cảm Phong, Những người con gái quê hương thơ Hai Lé, Lé reo, Xanh trong vườn Bác thơ Cao Phương,

_Mảnh đắt nuôi ta thành dũng sĩ thơ Dương Hương Ly, Khẩu súng hành quân

thơ Liên Nam

Bước vào giai đoạn cam go của cuộc kháng chiến chống Mỹ giai doan 1965-1975, đã có những tài năng văn học dũng cảm chiến đấu và hy sinh tại

chiến trường như Dương Thị Xuân Quý, Chu Cảm Phong, Nguyễn Mỹ Bên

cạnh đó, cũng đã nuôi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ có bản lĩnh, tài năng đã

Trang 17

được khẳng định qua thời gian như Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn

Khắc Phục, Cao Duy Thảo, Ngô Thế Oanh, Hoàng Minh Nhân, Nguyễn Bảo,

Ngân Vịnh

"Thanh Quế là một trong số những cây bút trẻ cùng thể hệ ấy Ông vào chiến trường Khu V cuối năm 1969 Từ 1969 - 1975, ông là phóng viên chiến trường của tạp chí Văn nghệ Giái phóng Trung Trung bộ Ông còn trực tiếp

tham gia cùng bộ đội, du kích chiến đấu, thu chiến lợi phẩm, tra hỏi tù bình

trong nhiều trận đánh Ông sống, công tác cùng nhân dân, cùng những người

lính ở nhiều vùng chiến sự từ Quảng Đà đến Phú Yên

Ménh đất nuối ta thành đũng sĩ Nhà thơ Bùi Minh Quốc (Dương

Huong Ly) đã thay mặt biết bao thế hệ nhà văn — chiến sỹ nhận ra điều ấy

“Chính tại mảnh đất này, noi day — nhân dân đã nuôi lớn tâm hồn, giáo dục tỉnh thần của những nhà văn, của những người cằm viết Như nhà văn Nguyên Ngọc cũng từng xác nhận “7öi yêu câu thơ ấy Nó diễn đạt sự náo động mà cuộc chiến đang làm đậy lên trong lòng người nghệ sĩ Đến đây,

anh cảm thấy rắt rõ: sống giữa cuộc chiến đấu này, nhân dân này, chính anh,

anh cũng có thể trở thành ank hing!” (35, tr 388],

1.1.3 Vài nét về văn học viết về đề tài chiến tranh ở nước ta

'Văn học viết về đề tài chiến tranh là một mảng quan trọng của văn học

“Cách mạng, làm nên điện mạo chủ yếu của văn học Việt Nam hiện đại Văn

học viết về đề tài chiến tranh đã có sự đóng góp trong việc xây dựng lý tưởng thắm mỹ cho thế hệ của một thời đại và hướng dẫn người đọc tiếp cận thẩm

mỹ ấy Hơn thể nữa, văn học viết về đề tài chiến tranh đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, nhiều tác phẩm

Tu, Daw

văn học hay vii tài chiến tranh đã xuất hiện: Viết Bắc thơ

súng trăng treo thơ Chính Hữu, Người chiến sĩ thơ Nguyễn Đình Thị, Từ đềm

Trang 18

19 thơ Khương Hữu Dụng, Người người lớp lớp tiéu thuyết Trần Dẫn, Xung kích tiêu thuyết Nguyễn Đình Thị, Con rrâu tiểu thuyết Nguyễn Văn Bồng

trong chống Pháp; Đất nước đứng lên tiểu thuyết Nguyên Ngọc, Vượt Côn

Đảo tiểu thuyết Phùng Quán, Người mẹ cằm súng ký Nguyễn Thi, Hỏn Đắc

tiểu thuyết Anh Đức, Miẫn và rối, Gia đình má Bảy tiêu thuyết Phan Tứ, Rừng

U Minh tiêu thuyết Nguyễn Văn Bỗng, Chiếc lược ngà truyện ngắn Nguyễn

Quang Sng, Dat Quảng tiểu thuyết Nguyên Ngọc, Đát ngoại ó thơ Nguyễn

Khoa Điềm, Những đẳng chí trung kiên thơ Thanh Hải, Tháng tám ngày mai

thơ Giang Nam, Mánh đất nuôi ta thành đồng sĩ thơ Dương Hương Ly

trong chống Mỹ

Có thể nói, sáng tác văn học về đề tài chiến tranh đã song hành cùng với cuộc kháng chiến của dân tộc, nhất là trong 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Nó dựng lên diện mạo của con người Việt Nam: sống, chiến đấu, xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam,

thống nhất đất nước Nha văn cũng là chiến sĩ trực tiếp cầm súng và cằm bút,

tạo thành một thể hệ nhà văn — chiến sĩ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp

dũng cảm của nhân dân, người lính mà chưa để cập đến những tâm trạng, cảm

xúc, tình cảm Vì vậy, phần lớn các tác phẩm mang tính chất ký, báo chí hơn

là tác phẩm văn học

Điều này được điều chỉnh, thay đổi sau chiến tranh khi nhà văn có đủ

độ lài, có đủ điều kiện suy nghĩ, nghiên cứu, đi lại, đọc thêm sách báo, tài liệu

Trang 19

của ta và địch, có quan niệm mới trong việc viết về chiến tranh Lúc này các

nhà văn có thời gian hơn để đi sâu vào cắt nghĩa chiến tranh bằng nhiều cái nhìn khác nhau đối với thân phận con người trong chiến tranh, sau chiến tranh, mô xẻ mỗi quan hệ con người với chiến tranh Nhà văn đặt mình ở nhiều vị trí để soi chiếu, để suy ngẫm Nghệ thuật được các nhà văn sử dụng, cũng phong phú hơn, da dang hơn về điểm nhìn, bút pháp

Đối với văn học, nhất là đối với người sáng tác, không cho phép họ cứ

đi theo lối mòn như trước đây Khi chiến tranh kết thúc, cái cảm hứng cái ca

cộng đằng hào hùng, sôi nổi một thời đã nhường cho những vấn đẻ cá nhân, những số phận con người với fiếng nói riêng làm chủ thể của nền văn học

lúc này

Có thể nói rằng văn học với đội ngũ nhà văn thời chiến đã hoàn thành

nhiệm vụ của mình, đã đóng góp hết sức vào công cuộc giải phóng đất nước,

vào việc lan tỏa và thực hiện thành công mục tiêu độc lập dân tộc

Các tác phẩm viết sau năm 1975 về đề tài chiến tranh đã xứng đáng trong vai trò làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam Sau chiến

tranh, nhiều tác phẩm viết về chiến tranh nêu rõ sự khốc liệt, sự hy sinh của quân dan ta, nói rõ hơn sự tàn bạo của kẻ thủ, chỉ rõ phẩm chất của nhiều loại người trong chiến tranh (gan dạ, dũng cảm, phản bội, trở mặt, hẻn nhát, xu nịnh, ba phải ) qua các tác phẩm như: Đắt trắng, Con tốt sang sông của Nguyễn Trọng Oánh, /luế, mùa mai nở của Nguyễn Xuân Thiều, Ngưởi đàn

bà trên chuyển tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Cánh đẳng hoang của Nguyễn Quang Sáng, Những đứa con của đất của Anh Đức, Tiếng khóc nàng

Úi của Nguyễn Chí Trung, Hlai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi,

Nắng đông bằng của Chu Lai, Trong cơn lốc xoáy của Khuất Quang Thụy,

Nỗi buồn chiến tranh của Bào Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng,

Lạc rừng của Trung Trung Dinh, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Thượng

Trang 20

,Đức của Nguyễn Bảo, Con đường xuyên rừng của Lê Văn Thảo

Đội ngũ nhà văn còn được bổ sung một loạt cây bút mới mả trong chiến tranh họ ở vị trí người lính hoặc gần gũi với công việc người linh, đó là những,

nhà văn - chiến sĩ như Chu Lai, Thai Bá Lợi, Xuân Đức, Nguyễn Trí Huân,

Khuất Quang Thụy, Bảo Ninh, Trung Trung Đinh Họ đã đem vào tác phẩm

iến tranh của chính bản thân mình và của những thế hệ

hiểu, được nhận thức về cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt đã qua như chính

nó từng hiện diện chứ không chỉ cuộc chiến tranh mà nhà văn muốn người

đọc tiếp cận nó Các nhà văn đã phải nỗ lực mở rộng phạm vi hiện thực trên

những trang sách của mình để đem đến cho bạn đọc cái quyền được biết,

được hiểu, được nhận thức ấy một cách thấu đáo nhất, một cách chân thực

nhất về chiến tranh Hơn thể, lúc này “chúng ta đang cẳn đến những trang

viết về cuộc chiến tranh thân kỳ của chúng ta mấy chục năm qua Có lẽ còn

chiến tranh sau thời chiến Khi “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh

đã phát triển trọn vẹn, những số phận và tính cách nhân vật cũng đã phơi bày

trọn vẹn, khi trong hàng chục cuốn hồi kí của các tướng lĩnh “có rất nhiều sự

kiện, nhiều bối cánh lịch sử được kể lại một cá lễ”, "tiểu thuyết

viết về chiến tranh sẽ tìm trong lĩnh vực nào để mình có một chỗ đứng không

Trang 21

trùng lặp với chỗ đứng của hồi kí chiến tranh?” Sự lựa chọn duy nhất là "phải

viết về con người” Con người với “tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực” mà đã nhiều thập kỉ qua “tạm thời giấu mình

trên trang sách”, Tiểu thuyết chiến tranh không thể để các nhân vật bị sự kiện lin dt, “chi dong vai trò làm đường dây để xâu các sự kiện lại với nhau” Nhìn lại quá khứ đã qua, khoảng cách thời gian đã đưa lại cho người

cầm bút những suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc về số phận con người ở khía

canh mà trước đây luôn bị làm mờ đi, nhạt đi trước số phận dân tộc: khía cạnh

bi kịch cá nhân Chính cảm hứng bi kịch ấy làm xuất hiện của một kiểu nhân vật hoàn toàn mới trong những sáng tác viết về chiến tranh sau 1975, nhất là sau năm 1986 với những đổi mới và dân chủ trong đời sống, trong lĩnh vực

văn hóa, văn nghệ

'Viết về chiến tranh cũng tùy theo quan niệm của từng nhà văn và song

hành cùng với chăng dường của cả dân tộc đánh giặc, cứu nước Tuy va

năm 1975, khi đất nước hòa bình thì các tác phẩm viết về đề tài chiết được quy chiếu từ nhiều quan niệm khác nhau Và cuộc sống, con người trong

Trang 22

lộn sống còn của dân tộc vẫn phải bao trùm” Quan niệm trên là một hướng

Từ cách nhìn khách quan, với nhiều nhà văn, v tranh quan

trọng nhất là tính chân thực Chu Lai cho rằng: “Viết về chiến tranh, tôi cho

rằng quan trọng nhất là phải chân thực ( ) quan trọng nhất là nêu lên được

nỗi đau của nhân vật trong chiến tranh, vì chiến tranh là nước mắt” Còn theo

Văn Lê thì: *Chiến tranh không bao giờ c

toàn một mu vinh quang, để đến

chiến thắng có bao nhiêu máu và nước mắt ( ) Chính vì thế, các sáng tác văn

học về đề tài chiến tranh cách mạng hiện nay cũng phải din đi theo khuynh

"hướng phân ánh hiện thực chân thật nhất của chiến tranh”

Khoảng cuối thập kỉ 80, văn học viết về đề tài chiến tranh với sự nhìn

nhận khác nhau về con người, về chiến trận, một số tác giả đã đưa vào tác

phẩm những hồi ức, những kinh nghiệm cá nhân Điều này đã tạo nên những

khuynh hướng khác nhau của văn học sau 1975 về chiến tranh

'Bên cạnh đó, hư cấu và tưởng tượng — bản chất của văn chương - đã được các nhà văn sử dụng để tạo ra những tác phẩm hay Và lúc ấy, một số nhà văn coi chiến tranh như một chất liệu nghệ thuật, với họ “chiến tranh là

một thỉ pháp” Khi việc tấi hiện hiện thực không phải là mục đích cuối cùng,

nhà văn có thể dùng chiến tranh để trình bảy những vấn đề về nhân tính, vi tình yêu, tình dục, về bản năng sống của con người Đây chính là sự sáng tạo so với quan niệm truyền thông

'Khi coi đề tài chiến tranh là “thi pháp”, nhà văn cũng khắc phục được

Trang 23

đào ngữ của Thanh Quế , trên nền chất liệu chiến tranh, các nhà văn đã

nhìn mới với tình thần đối thoại thẳng thắn về những vấn đề mà

chuyển tả

lâu nay chúng ta cứ tưởng nó quá rõ rằng, không cần tranh luận như lí tưởng,

và lề sống, chính nghĩa và phi nghĩa, bạn và thù

Để văn học chiến tranh thực sự hấp dẫn bạn đọc, có lẽ mỗi nhà văn đều hiểu rằng không chỉ đổi mới quan niệm về đẻ tài mà còn cẩn có tài năng thật sự, có thể đặt ra được những suy tư về văn hóa, về giá trị con người

ở một chiều sâu thực sự

12 ĐỜI SÓNG, DOL VAN VA QUAN NIEM NGHE THUAT CUA

THANH QUE

1.2.1 Tir sinh viên khoa Sử trở thành phóng viên chiến trường

Phan Thanh Quế là tên đầy đủ của nhà văn, nha tho Thanh Qué Ong

sinh ngày 26/02/1945 tại làng Phú Thạnh, xã An Chắn, huyện Tuy An, tỉnh

Phú Yên Ông xuất thân trong một gia đình trí thức yêu nước, có cha là bác sĩ,

có 4 người em là nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ

Tuổi thơ Thanh Qué gắn v‹

/ đất khó khốc, bông mọc trên đá / những ngôi nhà mái rạ giỏ xổ” (Làng Phú

'dăm gốc bàng, một cây đa, nhiễu đụn cát

Thạnh), với những ngày giặc Pháp càn quét khắp nơi, với những tiếng khóc

thương của người dân làng biển Ma Liên, với những buổi học bỏ dỡ giữa chừng để chạy đạn bom

Nam lên mười, Thanh Quế được tổ chức cho ra Bắc học tập ở các

trường học sinh miễn Nam, từ Hà Đông, Hải Phòng, Hà Nội rồi Thái Bình

‘Ong bat dau lim tho

Mười bảy tuổi, ông có 2 bai tho Dém trời trong và Gởi ngoại yêu được

đăng ở báo Van hoc (nay 1a bao Van nghệ) Năm 1963, Thanh Quế học Đại học Tổng hợp sử Hà Nội Dù học sử nhưng Thanh Qué rat thích đọc sách, yêu

Trang 24

20

văn học và tiếp tục làm thơ, có thơ đăng ở nhiều báo

Năm 1967, Thanh Quế tốt nghiệp khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội

và được phân về Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng công tác Nhưng cũng như bao

nam thanh nữ tú khác lúc bấy giờ, ông không thể “chọn việc nhẹ nhàng” —

trong lúc lớp lớp thanh niên nam nữ đang hừng hực khí thể vào Nam để chiến đấu, để dành lấy độc lập toàn vẹn cho Tổ quốc, cho quê hương, ông không

yên lòng để ngồi nghiên cứu Ông nghĩ rằng các bạn miền Bắc sao chỉ học

xong phổ thông đã vào bộ đội, xin đi chiến trường, sao còn mình lại sống yên

á ở miền Bắc Hơn nữa, ba ông, bác sĩ Phan Công đã vào Nam từ năm 1962 Ông viết đơn tình nguyện vào Nam Và rồi Thanh Quế đã được toại nguyện! Theo ký Jể Nam, Thanh Quế “đã mấy lần tôi đến đây rồi lại bỏ đi, không dám lên tiếng gọi người trong nhà” [21, tr.5] trước công nhà đồng chí

Phan Triêm, Phó Ban Tổ chức Trung ương lúc bấy giờ Hơn 4 giờ chiều ngày

15/9/1969, một chiếc xe Mockơvich màu đen vừa đỗ trước cổng nhà số 4, Thanh Quế đã ào tới:

säp chú Phan Triêm Cháu xin di Nam

~ Cháu làm việc ở đâu?”,

Thế là Thanh Quế được điều động vẻ trường 105B - trường huấn luyện

cho anh chị em dân chính di B (miền Nam) Khoảng tháng 12 năm 1969, ông lên đường về Nam, vào chiến trường ~ đây là một bước ngoặt lớn của cuộc

Trang 25

21

nghiệp của ông

Trong những năm tháng ấy, “cách mạng miền Nam không chỉ cần cây 'bút mà còn cần cái gùi, cái rựa để tự mình nuôi sống mình đã” [21, tr43]

Kế từ đó, nhà văn Thanh Quế đã gắn bó với mảnh đất chiến trường khu

'V ~ nơi mà nhà văn từng tâm sự rằng đó là quê hương lớn của ông, nơi tạo cdựng hạnh phúc gia đình của ông, nơi nuôi dưỡng tâm hỗn, ngồi bút ông

Ông cùng thời với các nhà văn Chu Cẩm Phong, Trần Vũ Mai, Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quý, Cao Duy Thảo những người đã gắn tuổi

lình vào chiến trường Khu V khốc liệt Rất nhiều nhà văn đã mãi mãi yên nghỉ ở vùng đất này, có người vẫn chưa tìm thấy mộ Ở Bảo tàng Quân

trẻ của

khu V, những đồng đội cũ đã dựng một Ngọn lửa đá - tam bia khong 16 bing

đá quý từ Bình Định khắc tên các liệt sĩ văn nghệ đã hy sinh

Những năm tháng trực tiếp ở chiến trường đã tạo nên nguồn chất liệu, nguồn cảm xúc chân thật, quý giá trong những tác phẩm của ông Điều đó đã giúp cho đời văn Thanh Quế thêm phong phú, đa dạng Ông đã có những sáng tác thơ như: Đằng trước có Mỹ lắt, Mẹ tôi đang gieo thóc, Mùa mưa vùng căn

cứ, Thăm chẳng Trước nhà em sông Vu Gia Ký: Những em bé chăn bỏ Nhạn

"Phú, Mánh đắt không mắt Truyện ngắn: Buổi trưa ở Điện Bản, Những người

Trang 26

2

con của Gò Nồi, Mùa mưa

Sau chiến tranh, nhờ có 4 năm (1976 — 1980) tham gia trại sáng tác văn

học Quân khu V nên Thanh Quế viết tiếp và in những tác phẩm về chiến tranh: Chuyện từ một truyền thuyết (tập truyện), Miễn đắt ấy (tập truyện in chung với Hoàng Minh Nhân, Nguyên Bảo), tiểu thuyết Cát cháy, tiểu thuyết Rừng trụi và nhiều truyện ngắn Năm 1984 ¡n tập Trong lòng hỗ

'Về tha, nhiéu bai tho in trong tập Tên em khudn mat em (in cing Ha

Phan Thiét) g6m 25 bai tho viết trong chiến tranh In trong tập Tỉnh yêu nhận

từ đất cùng Ngân Vịnh, Ngô Thế Oanh Sau này in tập Trong mdi ngày đời t

(1986) và Những tháng năm vay mượn (1993)

'Với vốn lăn lộn trong chiến tranh, suốt 50 năm qua, Thanh Quề lần lượt viết nhiều về đề tài chiến tranh củng cuộc sống hiện tại qua các tác phẩm của mình Bên cạnh đó, Thanh Quế còn viết chân dung văn học vẻ các nhà văn

nghệ sĩ, nhất là các nhà văn đã hy sinh trong chiến tranh như: Lê Anh Xuân,

Nguyễn Thị, Nguyễn Mỹ, Chu Cẳm Phong, Hồng Tân, Dương Thị Xuân Quý,

Ngọc Anh, Phương Thảo (múa), Văn Cận (nhạc), Hà Xuân Phong (hoa)

nhiều nhà văn tham gia chiến đấu như: Phan Tứ, Liên Nam, Nguyễn Văn Béng, Thu Bén, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Trọng Oánh cũng như những nhà văn tham gia chống Pháp và chống Mỹ ở miền Bắc: Khương Hữu Dụng,

Trinh Đường, Té Hanh, Nguyễn Thành Long, Võ Quảng

Vay la tir mét sinh viên tốt nghiệp khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội, Thanh Qué da trở thành một phóng viên chiến trường, một nhà văn,

nhà thơ có nhiều đóng góp

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà văn Thanh Quế

Là một nhà văn - chiến sĩ, Thanh Quế cũng không đi khỏi quỹ đạo của cquan niệm về nhiệm vụ của văn học thời kỳ này Với ông, những sáng tác thơ, văn, ký, trường ca được viết ra, được thể hiện đều phải phục vụ cho cuộc

Trang 27

Ông sáng tác khá nhiều thể loại với nÍ tài khác nhau: chiến tranh,

cuộc sống mới, thiếu nhỉ Nhưng có lẽ để tài chiến tranh là ông ưa thích và

viết đạt hơn cả Còn chủ đề ông thường viết là những con người vô danh, khuất mình, làm những công việc không tên nhưng đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc

Qua các sáng tác của minh, Ong néi: “Tdi không viết văn Tôi chỉ ghủ lại

những gì tôi đã sống Tôi xin được coi thơ văn tôi là tiếng nói riêng của tôi để tôi

giải bày tâm sự của mình với người khác, với thiên nhiên âm đương trời đắt Có

thể xem đây chính là quan niệm nghệ thuật của nhà văn Thanh Quế Với ông, viết

là để "giải bảy tâm sự”, là “nén hương dâng những người đã khuất" và mong

muốn “Ta chỉ tặng riêng cho những người có trai tim dim buồn và nhân hậu Tặng cho những ai chịu nhiều thua thiệt trong đời”

Không chỉ là cảm tính, nhà thơ Ngô Thế Oanh đã từng có nhận định

khá chính xác về những chuyển biến nghệ thuật trong thơ Thanh Qué: “Cùng

với thời gian, thơ Thanh Quế càng vẻ sau càng đạt đến sự cô đọng thắm lòng của một sự chiêm nghiệm sâu sắc” [L1] Thanh Quế đã lay động tâm hồn

người đọc bởi một bản lĩnh thơ giản dị, chân thành:

Tôi như thấy những tháng năm đời mình còn lại

Là những thắng năm vay mượn của các anh

"Những người đã khuắt

(Nôi với một người anh) Những dòng thơ trên đã nói lên tắt cả Đây chính là quan niệm sáng tác

Trang 28

người đi trước, nt

ta đi vào thế giới thơ ông Một thế giới với bao nỗi suy tư, trăn trở của nhà văn về cuộc đời chính mình - Ja những tháng năm vay mượn của các anh

Nguyễn Nhã Tiên trong một bài viết về Thanh Quế cũng nhận định: “Sức

sống của bản thân thơ Thanh Quế là đòi hỏi ở sự tiếp nhận, không hè có sự

cảm tính nào mà phải tư dup cùng tác giả, trăn trở cùng tác giả để xác định

đúng đắn những thẩm giá của thơ, gợi mở ra những nguồn mỹ cảm không hỗi kết thúc” [31]

Chính những năm tháng ở chiến trường, chính hoàn cảnh gia đình tham

gia hoạt động cách mạng, Thanh Quế đã tìm thấy nguồn sống thực sự trong

‘ng chính là ở sức mạnh của những gì ông đã trải qua, đã chứng kiến và cảm

nhận Ông đã dành tỉnh cảm qua nhiều trang trong tập thơ cho những gì đã viết từ chiến tranh, về những người mẹ, những người chị, những người em đã

hy sinh trong thằm lặng từ những năm còn gian khó, ác liệt trăm bề, về những, con người vô danh, những con người bình dị, về những người đồng nghiệp, đồng đội - Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Mỹ, Chu Cảm

Phong, Hà Xuân Phong đã mãi yên nghỉ nơi đắt lành Quảng Nam

"Năm thắng trôi qua những tở lịch treo tưởng

"Nhưng ánh mắt bạn tôi phút đó

Cứ lặng gửi bao điều thăm thẳm nữa

Trong mỗi ngày đời tôi

(Trea 30-4-1975)

Trong hành trình sáng tác, cho đến giờ, ở tuổi thất thập cổ lai hy, ông vẫn tin vào niềm hạnh phúc của một nhà văn khi qua những con chữ sẽ là điểm tựa cho ai đó tin yêu, ai đó trông chờ Suy tư, trăn trở là những cảm xúc

Trang 29

2s

có thực trong đời sống nội tâm của Thanh Quể để rồi qua thơ, ông mang đến

cho người đọc những suy tư, trăn trở Chúng tôi đồng cảm với lời nhận xét

của nhà thơ Trúc Thông về ông: “Mỗi nhà thơ có một kênh thẩm mỹ riêng Người đọc di trúng kênh của nhà thơ ấy thì sẽ nhận đúng những gi ông ta đóng góp Đừng lấy goud riêng của mình áp đặt lên thơ người khác Các nhà

tý luận vẫn nói rất hữu lý về sự đằng sáng tạo của bạn đọc Ở kênh thơ Thanh Qué, ta hãy để lòng mình lắng chìm vào sự thằm thì, cùng tác giả lắng sâu

vào những nghẹn ngào kin ẩn” [29]

Đọc thơ ông, dường như có một tiếng bi thương trong nội tâm Ông làm thơ nhiều về nỗi đau, về mắt mát Nhưng ông cho rằng không ai làm văn chương trên nỗi đau cả Ông chỉ viết về sự thật ấy thật hàm súc mà thôi

Đối với thơ Thanh Quế, mỗi câu, mỗi chữ như một vết cứa, như một

vết thương lòng

Anh dy ra di

Khi tôi mười tắm tuổi

"Mới cưới tôi hai ngày

Anh dy di mai mai

Úp mặt xuống cánh đồng

Nhat lén từng hại thúc nuôi cha mẹ

Đêm về nằm một mình

Úp mặt lên hai cánh tay cô độc

Hai cánh tay chẳng bao giờ được bề bằng con trẻ

Sao ngày ấy ra di anh không để lại một đứa con?

(Nguoi vo goa)

Tho Thanh Qué rat gian dị Thanh Quế đã tuân thủ cách vi

đến cuối trong quá trình sáng tác của mình Khi những ý thơ vang lên là lúc

iy từ đầu tâm hồn xao động, là tâm sự mong muốn được giãi bày

Trang 30

26

“Trước năm 1975, Thanh Qué chủ yếu viết báo, ky va sáng tác thơ Đây

là thời kỳ tiếp cận cuộc sống với tâm hồn một thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết 'Và đây cũng chính là thời gian thu thập nhiều tư liệu, dồn nén cảm xúc đề sau

1975, chúng ta có một Thanh Quế - nhà thơ đồng thời là một nhà văn

'Bên cạnh những quan niệm về thơ, với văn xuôi, bút ký, phê bình, nha văn Thanh Quề cũng đã để lại những trang viết sinh động, chân thật, đây tình

cảm và tình yêu thương, đầy sự thông cảm, sẻ chia và nhân đạo

Suy nghĩ về nghề, Thanh Quể cho rằng “Trong

điều quan trọng nhất là mỗi người phải tạo cho mình có một giọng riêng”

chi

ông về con người, vùng đất, tình cảm của nhân dân xứ Quảng trong chiến đấu

quan niệm ấy, chúng ta có thể nhận ra trong nhiều trang viết của

cũng như trong hòa bình, xây dựng quê hương một chất giọng riêng biệt rất Thanh Qué Đó là giọng văn giản dị, chân chất, không vòng vo, hoa lá mà đi

tải chở, giãi bày được những hiện thức bị khuất lắp trong đời sống, đặc biệt là

đời sống những năm chiến tranh ở một vùng quê nỗi tiếng là gian khổ, ác liệt nhưng trung kiên - Vùng quê xứ Quảng Truyện ngắn Thanh Quế có thể xem

đó là truyện ngắn của một nhà thơ, ít tình thế nhưng nhiều tâm sự Ấy không

phải là dòng thác mà là những mạch ngằm Đọc truyện ngắn của anh, người

đọc dễ nhận ra được cái thẳng thắn, nhân hậu của tác giả" [5],

Ông nói, với văn chương, ông là dạng thưởng (hưởng bậc trung, có

những bài thơ được, những truyện ngắn được Ở ông, dù thời gian có trôi qua,

dù có rất nhiều đổi thay xảy đến với cuộc đời, thì một nét không thay đổi trong quan niệm nghệ thuật của ông khi bạn đọc tiếp xúc với các tác phẩm

đều nhận ra, đó là tỉnh yêu trung hau của ông với văn học, với cuộc đời vẫn nguyên vẹn.

Trang 31

27

1.2.3 Những sáng tác nỗi bật cũa Thanh Quế về đề tài chiến tranh

Trước 1975, Thanh Quế chủ yếu sáng tác thơ Ông có các bài tiêu biểu

tài chiến tranh như: Gặp nhau (1971), Buồn Krồng;pa (1971), Thăm

chông (1913), Đắt nước có nhiều trẻ con (1914), Trước nhà em sông Vu Gia

Có lề cái nguồn ánh sáng dịu dàng mà nhà thơ Trúc Thông đánh giá

chính là mạch ngằm đã tạo nên những câu thơ trữ tình da diết trong bài thơ viết về sông Vụ Gia của Thanh Quế ngay trong năm chiến tranh ác liệt 1974 ở

chiến trường Quảng Đà, để tạo ra “những câu thơ đạt đến sự hoàn thiện của

vẻ bình dị để hỏa thành cái đẹp muôn đời của cảnh, của tình, của lòng người

trong mối rung cảm tội cùng với thiên nhiên” [12]:

Trước nhà em sông Vu Gia

Sau nhà em

ig lai a dang song

-Anh đi giữa một cánh đồng

Ngóng trông bên nọ, ngóng trông bên này

Địu hiển như khúc dan ca Thắm sâu chung thủy như là đắt quê:

“Sáng như một ảnh sao Khuê

Tiền anh đi, đón anh về tháng năm

(rước nhà em sông Vu Gia)

Trang 32

28

Thơ của ông mang tính triết lý sâu sắc, đầy tính nhân văn Người đọc

rung động với những câu thơ đẹp, tran đầy tỉnh yêu, ăn nghĩa đổi với quê hương “Mai nghe gió thổi trên đồng/ Giật mình đã đứng bên sông đây mà/ Đỏ xưa vẫn đợi ta qua/ Bóng ai đỏ cứ nhập nhòa mặt sông” với giọng điệu trữ tình, mượt mà về một vùng quê Đại Lộc thật đẹp Bài thơ được viết trong dip

bộ đội ta giải phóng Thượng Đức, cánh cửa thép ở phía tây Đà Nẵng Vừa ra đời, bài thơ đã được độc giả đón nhận và cho tới nay vẫn là một trong những

bai thơ hay của Thanh Qué

Từ những bài thơ viết về chiến tranh của Thanh Quế, có thể nhận ra một điều: Chiến tranh trong thơ Thanh Quế không phải là một cuộc chiến tranh với khói lửa chiến trường, của những cuộc giao tranh, của những vết thương đẫm máu mà đó là cuộc chiến với những chiều sâu về nỗi ám ảnh, về

sự thương cảm Trong ông hầu như không chỉ có nỗi buồn chiến tranh ma con

là những nỗi đau chiến tranh Và đa phần là nỗi đau của những con người,

những mảnh đời, những số phận nằm ở phía sau mặt trận

Đó là nỗi đau thất ruột của người mẹ liệt sĩ trông con:

Trên bàn thờ là chiếc ảnh của anh

Trong tắm bằng Tổ quốc ghỉ công tên anh chói loi

Vậy mà ngày ngày mẹ vẫn hằng chờ đợi

Một tiếng gọi "Mẹ ơi”

và chân anh bước vội lên thêm (Người mỹ)

Hay đó là nỗi dau xót lòng của người vợ góa:

Đêm về nằm một mình

Up mat lén hai cánh tay cô độc

Hai cánh tay chẳng bao giờ được bề bông con trẻ

Trang 33

29

Sao ngày Ấy ra đi anh không để lại một đứa con?

(Người vợ góa)

Bài thơ Thăm chẳng của nhà thơ Thanh Quế kể câu chuyện về người

vợ là cán bộ binh vận ở xã Hòa Định Đông đi thăm chồng Đây cũng là quan

niệm đầy nhân văn của Thanh Quế: khát vọng sống để yêu và được yêu như

phụ nữ trong bối cánh ấy, đã vượt lên trên hoàn cảnh, khắc phục khó khăn, trở ngại dé đem đến sự vui vẻ, động viên tinh thần cho chồng đang chiến đầu Bài thơ với lối diễn đạt tỉnh tế, có phần tươi tắn, hóm hinh đã cho thấy chiến tranh

dù khắc nghiệt đến mấy vẫn không ngăn nổi những thời khắc tình yêu

thật đẹp:

“Chị cán bộ xã Hòa Định Đồng

Lăn lội tréo non di tham chong

Hai tay chị bằng con trước ngục

Sau lung mang nang gii binh ngọt

“Chú Ba huyện ủy kêu lên thưởng,

Cho phép đi thăm chồng năm hôm

Giây phút người chồng được ôm, được nựng con trên tay, giây phút

những anh lính cùng hỏa trong niềm vui đoàn tụ hai vợ chồng xa cách gặp nhau, giữa khoảnh khắc tạm yên của đạn bom ngắn ngủi, càng cho thấy phút giây ấy hạnh phúc quý đến chừng nào:

“Anh chồng ôm con hôn chùn chụt

Chi vo ling ngong hai ban tay

Mới đến mà trông như bà chủ

Trang 34

30

"Pha trà, sắp bánh bưng ra mời

Lính ta vui bữa liên hoan ngọt

Thơm má thằng cu kêu chút chút

Mọi người như đang sống trong không khí vui vẻ của những ngày hòa bình ấy, hình như chiến tranh không còn là nỗi đáng sợ, không còn là điều lo

âu, căng thẳng bởi:

Khi ngoảnh lại nhìn hai vợ ching

Họ đã biến đi đường nào mắt

Tình yêu trong thơ ca chống Mỹ cứu nước nói chung, trong sáng tác

của nhà văn Thanh Quế nói riêng đã góp phần làm đẹp hơn hình tượng người

cán bộ chiến sĩ trong thơ ca, đồng thời góp phân tôn thêm giá trị nhân văn của văn chương thời chống Mỹ khi phản ánh hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh

Những người con của Gò Nỗi (truyện) kể về tình bạn giữa 2 cô gái Kỳ

và Bốn cùng câu chuyện tình yêu gi

Kỳ và anh Bảy huyện đội Địa danh 'Gò Nỗi (Quảng Nam) được nhiều người biết đến là chiếc nôi của cách mạng Khu V Những cổng hiến của quân và dân Gò Nỗi trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước được in sâu trong lòng nhân dân cả nước với nỗi bi hùng trong 6 chữ “nhất Củ Chỉ, nhì Gò Nổi” Năm 1968, vùng đắt Gò Nỗi này từng

bị rải B52 thí điểm trước khi rải bom ở miễn Bắc, cho nên Gò Nỗi là nơi bị tàn phá khốc liệt nhất Qua những trang viết chân thật và sinh động, Thanh Qué da ghi lại tỉnh thần bám đất giữ làng, về tình bạn, tình yêu, về những gian lao mà đồng bào ta đã sống và chiến đấu để mong có đến ngày gây dựng lại

ving quê yên bình

Sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, bên cạnh công việc tham gia công

tác quản lý ở Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng, Phó Chủ tịch

Trang 35

31

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Ban chấp

hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa V, làm Tổng biên tập tạp chí Đắt Quảng,

tạp chí Mon Nước; Thanh Quế đã dành nhiều thời gian ngồi ngẫm nghĩ và

viết Ngoài thơ, ông viết truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết Nhiều bạn bè

của ông nhận thấy ở Thanh Quế một năng lực viết truyện ngắn và nhận xét Bên cạnh thơ, Thanh Quế có thể neo lại trong lòng bạn đọc những truyện

ngắn Tiêu biểu có các sáng tác như Cát cháy, Rừng trựi (tiểu thuyết), Mai, Dì

Ut, Ba me vui tính, Mùa mưa (truyện ngắn), Hai chị em, Chị Ba Chẩn, Kẻ đào

ngữ (truyện vita), Trea 30-4-1975 (Thơ), Chiến khu (trường ca)

Có một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến những tác phẩm gây ấn tượng đối với bạn đọc của dòng văn chương chiến tranh, đó là thời gian Khi chiến tranh cảng lùi xa, các tác giả thể hiện những cái nhìn mới hơn, sâu sắc hơn,

ma

toàn điện hơn về hiện thực và con người trong không gian thời cỉ

trong những tác phẩm trước đây do nhiều yếu tố cả chủ quan và khách quan,

iéu

các tác giả chưa có điều kiện thể hiện Chiến tranh lúc nảy được soi el nhiều chiều, không phiến diện, không thô cứng về nhận thức, tư tưởng Con người dù ở phía nào, dù ở giai tầng nào cũng được các tác giả thể hiện chân thực, giàu chất nhân văn

Là những người được may mắn trở về sau cuộc chiến, Thanh Quế cũng như bao nhà văn - chiến sĩ khác, đều có chung một suy nghĩ là nợ những người đã ngã xuống rất nhiều

Ở tiểu thuyết Cát cháy - Giải nhì (không có giải nhất) của Hội Nhà văn

Minh trao cho

Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

Thanh Quế năm 1981, câu chuyện về những em thiếu nhi vùng cát Hòa Hải

trong những ngày chiến tranh ác liệt, như nhân vật chú bé Ba hồn nhiên, dũng, cảm và trung thực hiện ra sáng ngời dưới ngồi bút ngợi

Ở nhiều truyện ngắn khác, ngòi bút Thanh Quể cũng đã đem đến cho

Trang 36

32

bạn đọc những dẫn vặt, ray rức, sự quan tâm đồi với những số phận nhân vật đời thường gặp bắt hạnh, gặp oan uắt, đau thương trong chiến tranh cũng như trong hòa bình lập lại - số phận của những em Mai, di Út, em Tâm, chi Ba

“Chẩn ở các sáng tie Mai, Dì Úi, Bà mẹ vui tính, Hai chị em, Chị Ba Chẩn

Tâm hồn nhà văn đã hòa nhập dường như trọn vẹn vào cuộc đời các nhân vật,

diy ray nit, day trăn trở và đau đớn trước những bắt công, những số phận bi vài đập

'Bên cạnh đó, tâm hồn nhà văn đầy trăn trở ấy lại rung lên và cắt lời ca

ngợi cho những điều cao thượng, đẹp đề, cho sự hy sinh lớn lao vì đất nước,

vì quê hương ngay trong những hành động dung dị, bình thường mà nếu thiéw

một tắm lòng thì khó có thể nhận ra, của những số phận cũng rất đổi bình thường, dung dị Đó là những cô Kỳ, cô Bốn, em Tám hồn nhiên, tỉnh nghịch

trước một trân đánh ác liệt (Những người con của Gò Nổi); đó là anh đân vệ

Tám Cần (Bị bắt đêm ba mươi Tết), Ba (Ở nơi thẩm vấn), Hà và Rum (Rig

trui), Tam và Hà (Hai chị em), vợ chồng mẹ Xoài (Bà mẹ vi tinh), hai bà

cháu (Trong lỏng hô) Số phận của những con người bình thường với những

nét bình di dang lặng lẽ tô đẹp cuộc sống và làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn Đây chính là mỗi quan tâm hàng đầu của nhà văn Thanh Qué trong việc

xây dựng đề tài, xây dựng nhân vật

“Tóm lại, sau chiến tranh, Thanh Quế vẫn tiếp tục viết về dé tài chiến tranh nhưng có nhiều có gắng trong việc khai thác đề tải, tâm lý nhân vật, phản ánh toàn diện hơn, sâu sắc hơn mọi khía cạnh chiến tranh, về ta và địch

(trong truyện), có chiều sâu hơn, cô đọng, súc tích hơn (trong thơ) Do đó, Thanh Quế đã đạt được những tác phẩm hoàn chỉnh hơn giai doạn trước Có

thể thấy giai đoạn hai thập kỷ 80 — 90 của thế kỷ XX, ông sáng tác sung sức

và chín hơn.

Trang 37

3

CHƯƠNG 2

HIỆN THỰC CUỘC SÓNG CHIẾN TRANH

'TRONG SÁNG TÁC CỦA THANH QUÉ

3.1 HIỆN THỰC CUỘC SÔNG CHIẾN TRANH TRONG SÁNG TÁC: TRƯỚC NĂM 197%

2.1.1 Hiện thực gian khổ, khốc liệt của chiến tranh

Một dân tộc nhỏ bé Việt Nam trong hành trình lịch sử hảng ngàn năm

dựng nước, giữ nước mà các dấu mốc quan trọng nhất lại thấm đẫm xương

máu của biết bao người con ưu tú đã ngã xuống để bảo vệ từng tắc đất của cha ông Cho đến tận hôm nay, những trang lịch sử bỉ tráng, hảo hùng ấy của dân tộc Việt Nam vẫn luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận và quý giá của các

thế hệ văn nghệ sỹ

Thanh Qué viet rất nhiều về đồng đội, trong đó có nhiều người đã hy

sinh Ông xem đây là những nén nhang chữ nghĩa thắp lên để nhớ vẻ, để tri ân

đồng đội, và để phần nào thanh thản tâm hồn mình

Trude năm 1975, nhất là kể từ năm 1969 khi Thanh Quế được về công

tác tại mặt trận Quảng Đà ở thời kỳ gian khó nhất, ác liệt nhất của cuộc chiến

tranh chống Mỹ cứu nước, ông đã có nhiều trải nghiệm đáng quý khi cùng nhân dân, bộ đội đánh Mỹ, phá kềm, gây dựng cơ sở và tự tăng gia sản xuất nuôi sống chính mình và cho cách mạng

1

bản thảo về một hiện thực gian khổ, khốc liệt của chiến tranh để đến nay,

thời gian này, ông đã ghi lại qua những trang viết, những trang

chúng ta ~ những ban đọc khi đọc lại những tác phẩm của ông không chỉ căm ghét chiến tranh, căm ghét kẻ thù mà còn toát lên niềm tự hảo, thán phục

trước sự gan dạ, lạc quan để có động lực chiến đấu với bọn cướp nước, bán

nước gây ra những đau thương cho dân tộc, con người Việt Nam, trong đó có

Trang 38

con người miễn Trung hiền hòa, chất phác, chịu thương chịu khó

Không chỉ có những trận đánh nhau ở thành thị, mà 6 tan những buôn Jing xa xôi cũng hứng chịu những gian khổ mả chiến tranh gây ra

đất [21,111]

“Thêm vào đó, cuộc sống của người dân luôn bị áp ảnh bởi những “đàn

trực thăng vỗ cánh phành phạch bay loạng choạng như lũ chuẩn chuồn say khói Chúng rót xuống những tràng đại liên dai nhanh nhách Chắc chốc, đàn trực thăng lùi ra, nhường chỗ cho mấy chiếc phản lực ầm ằm lao tới, đổ những chùm bom xuống rồi hdp tắp bay đi như sợ những bụm khỏi do chúng

gáy ra đuổi theo Chúng lừ lừ vòng ra xa Đàn trực thăng xáp vào rỗi lại lùi

ấy hoài:

ra Bây phản lực lại nhào tới và cứ lặp đi lặp lại cái trỏ lần quấn

bọn địch điên cudng phản ứng lại ta sau trận đánh " [21, tr653]

Va sự truy lùng ráo riết của bọn địch hỏng tiêu diệt lực lượng ta “Da

hai ngày nay, bọn bảo an phối hợp với bọn đân vệ nằm chật các lỗi đi, các bến sông Chúng nó phản ứng ta sau trận đánh Cắm Lớn Từ hỗi sáng chúng

đã tổ chức xăm kiểm Chúng bảo có Việt công còn ở lại ving này Chúng được lệnh truy tim cho ra” [21, tr324]

Trang 39

35

Trước khó khăn trăm bề của cuộc chiến, dưới ngòi bút Thanh Quế,

nhiều trang viết đê miều tả hình ảnh đẹp về những người chiến sĩ (ham gia

chiến đấu trong mặt trận công đồn để tiíu diệt sinh lực dich (truyĩn Anh dy vấn còn mêi, Buổi trưa ở Điện Băn), những chiến sĩ du kích đânh địch can

quĩt lắn chiếm vùng giải phóng (truyện A'hững người con của Gò Nồi), những

chiến sĩ diệt âc, phâ kểm, mở rộng vùng giải phóng (tiểu thuyết Cât chây), hay qua bat ky Manh đất không mắt nói về du kích Xuyín Hòa diệt âc mở

mảng vùng Tđy Duy Xuyín

Với Thanh Quế, có một điều đặc biệt đó lă viết về chiến tranh nhưng

ông không tả những cuộc chiến với bom đạn, với những trận đânh nảy lửa, ông cũng không đem lại dâng vẻ phi thường của những người hùng trong

chiến đấu Ông quan tđm sđu sắc đến những con người bình thường như biết

bao con người bình thường khâc: những cô gâi thanh niín xung phong (Chi

Ba Chẩn) những người đi dđn công mang vâc bom đạn phục vụ chiến đấu,

lay cắp vũ khí địch cung cấp cho du kích, vận chuyển vũ khí cho bộ đội (Buổi

trưa ở Điện Băn, Cât chây), những em bí người đđn tộc cùng gia đình tham gia đóng góp đảm phụ (Ôùz mu), đó lă những lêo nông, những người mẹ,

người chị cất giữ lương thực, bâm trụ, chống lại sự căn quĩt của địch đẻ

không bị dồn dđn, để còn chỗ cho du kích về

Trong lúc địch đânh phâ âc liệt, nhất lă những năm địch tổ Cộng diệt

Cộng (1954 - 1958), người dđn đê đùm bọc, che chở cho bao lớp chiến si, du

kích chiến đấu, để nối lại cơ sở câch mạng Truyện Bạn thud nho viết về một

cô gâi tín Loan, một lần bảo vệ vị cân bộ cấp cao đê bị địch bắt, bắn bị

thương phải cưa chđn Ông nội của em Ba (trong truyện Cât chây) gid cam để nuôi giấu cân bộ Bă ngoại trong truyện /7i bă châu vă bă nội trong truyện Trong lòng hỗ đê nuôi giấu cân bộ, chiến sĩ trong những năm âc liệt Hay cđu chuyện về bă mẹ nuôi thương binh trong hầm nhă giữa vùng địch (1z 114)

Trang 40

36

Đọc truyện Ở nơi thẩm vấn, sự tra tấn dã man của kẻ địch không làm lay chuyển tinh thần dũng cảm kiên cường, kiên quyết không khai báo, dùng lời nói tấn công lại bọn cảnh sát, bọn chiêu hồi, chi ra thói tàn bạo, thói hèn

nhát của bọn cảnh sát, chiêu hồi của anh hùng Bang Thi En

Ở tiểu thuyết Cát cháy, chúng ta chứng kiến cảnh em bé Ba dũng cam chịu tra tắn, để vạch mặt sự phản bội của tên Kim, xã đội phó đi chiêu hồi

“Truyện /fai người bạn nói về sự đũng cảm của nhân vật Tâm và sự hèn nhát của Lãm trong khi bị địch tra tắn Và rồi, Lãm dành cả thành tích của bạn

mình là Tâm đẻ làm hồ sơ phong tặng anh hùng trong chiến tranh, sau hòa bình thì lên chức tước, bội bạc, vong ân với những người đồng đội, đồng chí

gan dạ, những người già bản lĩnh, những em bé hồn nhiên luôn được thể

hiện một cách chân thực nhất, bình dị nhất, đời thường nhất

Đó là tập thể các nhân vật luôn khao khát được công hiến, được góp

sức mình với cách mạng, trong sáng không một chút mưu cầu riêng cho lợi

ích cá nhân, họ quyết tâm trong giữ gìn phẩm chất của một người dân yêu

nước, họ căm phẫn những thói xảo quyệt, gian mãnh của kẻ bán nước Trên

hết, qua từng câu chuyện với cảnh ngộ khác nhau, thân phận khác nhau, với

nỗi niềm riêng tư, với bản lĩnh con người miền Trung, Thanh Qué da dem I:

một bức tranh hiện thực với tông chủ đạo là những

cảm, đạo lý, tâm hồn của con người trong chiến tranh: họ không bị khuất phục bởi sự nghiệt ngã của chiến tranh, họ sẵn sàng bảo vệ đến cùng tình yêu gia đình, tinh chồng vợ,

Ngày đăng: 31/08/2022, 19:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm