Luận văn Thế giới nghệ thuật văn xuôi Lê Văn Thảo đã ddauw ra một cái nhìn bao quát có hệ thống về hành trình sáng tạo và những đặc điểm trong truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn này. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THANH TRUYỀN
Đà Nẵng, năm 2014
Trang 2LOI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bồ trong bắt kỳ công trình nào khác
“Tác giả luận văn
NGUYÊN THỊ NHUNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐÀU
2 Lich sử nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4, Phuong pháp nghiên cứu
5 Đồng góp của luận văn
6 Bố cục luận văn
CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ
1.1.1 Từ nhà văn chuyên viết về "những cảnh đời nhà bình” 10 1.12 Đến nhà văn của "những cảnh đời tư” Is
1.2.1 Quan niệm về con người và cuộc đời 20 1.2.2 Quan niệm vẻ văn chương và trách nhiệm nghệ sĩ 26
CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
2.1 THE GIỚI NHÂN VẬT - CHÂN ẢNH CON NGƯỜI NAM BỘ QUA
2.1.1 Con người trong chiến tranh — sự song kết giữa bình thường va
2.1.2 Con người thời bình ~ về đẹp của những phận đời “dưới day” 41
2.2 KHONG GIAN NGHỆ THUẬT ĐẬM SẮC THÁI NAM BỘ 49
Trang 42.2.3 Không gian làng qué 61
2.2.4 Không gian đô thị trong cơn lốc chuyển mình 6
CHƯƠNG 3 CỐT TRUYỆN VÀ NGÔN TỪ TRONG VĂN XUÔI
LÊ VĂN THẢO «eeeeererertrrtrrrtrrtrrrrrrrrrreree T2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐÈ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MO BAU
1 Lí do chọn đề tài
11 Lê Văn Thảo tên thật là Dương Ngọc Huy Ông sinh ngày
01/10/1939 tại Long An, lớn lên ở An Giang và học Đại học Khoa học Tự nhiên tại Sài Gòn Xuất thân là người học toán nhưng mảnh đắt cực Nam của
tổ quốc với sự trù phú của thiên nhiên sông nước đã hun đúc nên tâm hồn nhà văn, nơi đây đã trở thành cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt trong toàn bộ tác phẩm của ông Qua mỗi trang viết, cuộc sống hiện lên chân thực, tự nhiên, thấm tràn cảm xúc; giúp người đọc dễ dàng hình dung một Lê Văn Thảo giản
di, mộc mạc, sâu sắc, ân tình để càng thấu hiểu, tha thiết tin yêu đất và người
xứ này Chính vì vậy, nhà văn Hoài Anh cho rằng: “Với sự am hiểu về sinh
hoạt, tính cách, ngôn ngữ, phong thái, tập tục, tín ngưỡng của con người ở
một vùng đất còn hoang vu ở tận cùng tổ quốc, Lê Văn Thảo đã làm nỗi hình
tạo, quan niệm nghệ thuật và những đặc sắc trong thỉ pháp của người nghệ sĩ
Tiếp cận văn xuôi Lê Văn Thảo từ góc độ một chỉnh thể nghệ thuật với những,
quy luật vận động nội tại sẽ giúp người nghiên cứu tìm hiểu cấu trúc lôgic bên
trong, sự kết hợp hài hoà, biện chứng giữa nội dung và hình thức, góp phần tao nên nét độc đáo trong sáng tác của nhà văn này
1.3 Từ tập truyện và kí Ngoài mặt trận (1969) đến Những năm thắng
nhọc nhẳn (2012), hơn bốn mươi năm, thời gian đủ để chân dung Lê Văn
Trang 6Thảo được phác họa rõ nét trong dòng chảy văn học nước nhà Không gây ồn
ảo trên văn đản, xung quanh tác phẩm của nhà văn cũng không có quá nhiều
tranh cãi và những ý kiến trái chiều như những cây bút cùng thời; nhưng qua
thời gian, sáng tác của ông vẫn thu hút được một bộ phận bạn đọc nhất định
Cho đến nay, đã có một số bài viết đăng tải trên báo, tạp chí và có các công trình khoa học khám phá một vài khía cạnh nhỏ trong mảng sáng tác đồ sộ của Lê Văn Thảo, tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về văn xuôi của nhà văn Nam Bộ này một cách toàn diện, có hệ thống
"Xuất phát từ những lí do trên và từ lòng say mê, yêu thích những sáng
tác của Lê Văn Thảo, với mong muốn góp phần khẳng định vị trí cây bút này cũng như giúp người đọc có cái nhìn bao quát những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một nhà văn mang đậm sắc màu Nam Bộ, người viết chọn đề
tài Thế giới nghệ thuật vẫn xuôi Lê Văn Thảo
2 Lịch sử nghiên cứu
3.1 Những bai viễt về cuộc đời và văn nghiệp Lê Văn Thảo
“Lê Văn Thảo là nhà văn của xứ sở Nam Bộ” [I2, tr 6] Ông dành cả
cuộc đời để viết về miền Nam, về vùng đất chứa chan tình người Mỗi trang viết là sự tri ân với mảnh đắt và con người quê hương Người đọc yêu mến và trân trọng ông bởi sự chân thành, giản dị, không cầu kì, không “làm dáng”
văn chương chữ nghĩa
Trong bài Nhà văn Lê Văn Thảo, hành trình sáng tao bền bí, Phan Hoàng đã không quá lời khi nhận định: “La cây bút luôn tỏ ra sung sức, đều tay, ở thời điểm nao, thoi chiến lẫn thời bình, Lê Văn Thảo cũng có những tác
phẩm mới” 23, tr 5] Hơn 40 năm cằm bút, ông đã cho ra đời 18 đầu sách, gồm nhiễu thể loại: kí, phóng sự, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết Một sức viết bền bi như vậy không dễ nhà văn nào cũng có được, không bị chỉ phối bởi hoàn cảnh lẫn những biến động thời cuộc, thoát khỏi áp lực bộn bÈ
Trang 7của đời sống và những giá trị ảo thời thượng “Không gây sốc hay ồn ào trên
văn đản, Lê Văn Thảo làm đúng chức trách của một nhà văn chuyên nghiệp:
lãng lẽ viết và lặng lẽ xuất bản tác phẩm mới, mà tác phẩm nào cũng có
những giá trị văn hoe nl
I23,tr.5]
Lê Văn Thảo được độc giả biết đến nhiều nhất khoảng hơn hai mươi
năm trở lại đây Tác giả Phạm Minh Thư với bài: Lê Văn Tháo và sự vận
động của nhà văn Nam Bộ đặc sắc đăng trên Báo Văn nghệ thành phố Hỗ Chí Minh, số 31, (31/07/2004) đã bày tỏ: “Mạch viết mới khởi nguồn khi tác giả
định và có thể đứng vững qua cơn lốc thời gian”
đã sang tuổi năm mươi, tuổi không thể không nghĩ đến những vấn đẻ thiết
thân của xứ sở” [8l t 9] Đó cũng chính là lúc nhà văn có những trải nghiệm
nhất định của cuộc đời, được chuẩn bị kỹ lưỡng, thâm trằm vả tỉnh
cho mỗi truyện của ông đều có sức nặng của suy ngẫm về tình đời, tình người,
nghệ s
gọi Lê Văn Thảo là Ngưởi không chịu già Theo tác giả “cái nền học vấn này
về lương tâm và trách nhiệm công đât
lế, Nguyễn Trọng Tin đã
cộng với bề dày văn hóa trong truyền thống gia đình là chỗ dựa quan trọng để
‘ng đi đường dài với văn chương” [82]
2.2 Những nhận định về thế giới nghệ thuật văn xuôi Lê Văn Thảo
Lê Văn Thảo không có sở trường tạo ra sự bất ngờ hay sửng sốt trên mỗi
trang viết Tài của ông là ở cách thong thả, từ tốn kể những câu chuyện như không có đầu cuối Huỳnh Như Phương tỉnh tế nhận ra: “Lê Văn Thảo không thuộc loại nghệ sĩ bay bướm với những nét vẽ xuất thằn Một thế mạnh của ông là sự chạm khắc ti mi, tinh vi những tính cách giống như những hình
tượng đắp nỗi trên những bức phù điêu bằng kim loại” [44, tr 262] Ông giữ người đọc chỉ bằng sợi dây mảnh, mềm mà dai dẳng Bên cạnh sự thành công
về những người lính trong chiến tranh, nhà văn còn có một thế giới nhân vật
dda dang và độc đáo Họ là những người nông dân chân lắm tay bùn, anh dap
Trang 8xích lô dầm sương dãi nắng, người viết thư thuê tình nghĩa, kép hát nghèo
khó, đứa bé bán về
láng thương,
Trong bài Nhà văn Lê Văn Tháo với những tác phẩm giàu lòng nhân ái
(Lời tựa Tuyển tập Lê Văn Thảo do Nxb Văn học phát hành năm 2006 ), Triệu
Xuân đã nhận định khái quát về thế giới nhân vật của tác giả tiểu thuyết Cơn
giông như sau: “Thế giới nhân vật tiểu thuyết của Lê Văn Thảo cũng vẫn là
cái thể giới truyện ngắn của ông: những người bình thường, những thân phận
hấm hiu, cô độc và bắt hạnh, những người ở dưới đáy xã hội Ông chỉ thích những điều gần gũi, bình dân Ông viết về những điều mà ông thương yêu,
trân quy” [86, tr 9] Lý Lan trong Những người có duyên với Lê Văn Thảo trên Báo Văn nghệ số 128 cũng nhận ra: "Những nhân vật mà Lê Văn Thảo
am hiểu và chắc tay nhất khi họ là những người lính thời chiến tranh,
như anh, và những người nông dân [30, tr 28] Qua trang viết của nhà
văn, hiện lên hình ảnh những con người mộc mạc, chân chất, giản dị, chứa
chan tình cảm và luôn sẵn trong mình sức mạnh của ý chí, nghị lực phỉ thường
Lê Văn Thảo theo dõi những số phận lặng lẽ và Lê Văn Thảo thao thức
là hai bài viết của tác giả Lê Thiếu Nhơn Người viết nhận định: “Đọc tác
phẩm Lê Văn Thảo, không thể trích ra một đoạn văn mẫu để tán tụng, để tằm
trồ Nếu nhìn trên lớp vỏ chữ nghĩa, rất dễ nao núng kết luận ông không có
văn” |42, tr 22] Văn của Lê Văn Tháo không nằm ở ngôn từ, không nằm ở lý
lẽ và cũng không nằm ở triết thuyết mà “lặn vào tình tiết, lặn vào nhân vật,
lặn vào câu chuyện để rồi khi hữu duyên gặp sự tương tác từ phía độc giả thì lập tức hiển lộ những giá trị thẩm mĩ có sức lay động và ám ảnh” [42, tr 22]
“Tác giả bài viết đã cụng cắp cho người đọc một cách nhìn phù hợp, có thể đọc
và cảm nhận đúng về mỗi tác phẩm của Lê Văn Thảo
Trang 9Là người đi nhiều, đọc nhiều, đọc chuyên sâu và đa dạng, chính sự trải nghiệm của một đời văn cùng với vốn đọc sâu rộng khiến Lê Văn Thảo càng
theo
viết càng hay Ông vii truyền thống nhưng với một cách nhìn mới
lạ, trẻ trung nên đã tạo được hiệu ứng đáng kể Tính giản lược trong tình tiết
và sự giãn biên trong tư tưởng đã làm cho truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà
văn vừa duyên dáng, vừa độc đáo
Trong bài viết Truyện ngắn Lê Văn Thảo: Cái lạ, cái nhạt và cái thật, Huỳnh Như Phương có những phát hiện mới mẻ về ngòi bút Nam Bộ này:
“Một thiên hướng của văn xuôi Lê Văn Thảo là khai thác những cái lạ, biến
cái lạ, cái nhạt và cái thật kết hợp nhuần nhị trong một truyện ngắn, thì Lê
‘Van Thao dac biệt thành công” [44, tr 262] Chính sự kết hợp kì diệu giữa cái
lạ, cái nhạt
à cát thật đã tạo nên một Lê Văn Thảo với những nét riêng khó
lẫn trong dòng chảy chung của văn học nước nhà
Hoai Anh trong bài Lể Vấn Thảo - người nói thơ bằng văn xuôi Nam Bộ
cũng di tim thấy trang văn của tác giả họ Lê những nét riêng biệt Theo ông,
vì trải lòng trên trang giấy nên nhà văn *đã miêu tả nội tâm nhân vật một cách hợp lý và thấu đáo, tưởng như nhẹ nhàng nhưng lại cảm động mà gửi gắm sau
đó một thái độ, một suy nghĩ chắc chắn của tác giả đối với thực tiễn máu lửa
đầy ác liệt [1, tr 758]
Năm 1998, tiểu thuyết Một ngày và một đời được nhận giải A của Hội Nhà văn Việt Nam Ngay lập tức, tác phẩm đã thu hút sự quan tâm của đông, đảo bạn đọc Hàng loạt các tác giả đưa tin về tác phẩm đặc biệt này như: Lê
Minh Quốc, Ngô Vĩnh Bình, Bích Thu, Từ Quy, Nguyễn Thiên Vũ, Huyền
Sương, Thúy Nga, Tắt cả các bài viết đều khẳng định sức hắp dẫn của cuốn
sách không chỉ ở nội dung mà còn ở nghệ thuật biểu hiện mới lạ và độc đáo.
Trang 10Nha van không đóng vai trò của người kể chuyện mà mượn lời người khác
dưới nhiều dạng thức khác nhau để tạo dựng nên cốt truyện và nhân vật Tác giả đã khéo léo kết hợp hải hòa giữa ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ miêu tả
nên mỗi trang viết luôn có hẳn và gợi cảm
Với tiểu thuyết Cơm giồng, tác phẩm đạt giải B (không có giải A) của
Hội Nhà văn Việt Nam năm 2003 và đạt giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2006, Lê Văn Thảo một lần nữa khẳng định tên tuổi của mình trong nền văn học đương đại nước nhà Thúy Nga với bài viết Con gidng trong những chuyên đời, Tô Hoàng trong Nhà văn Lê Văn Tháo: Khi viết, tôi í khi chịu áp lực của thị trường; Đọc Cơn giống của Lê Văn Thảo của tác giả Trần Thị Sáu đã rất lạc quan nhận định dây là một “tin hiệu khả quan cho tiểu
lớn ý kiến đều khẳng định, thời điểm lúc bấy giờ, Cơn giông là cuốn tiểu thuyết thành công nhất trong sự nghiệp của Lê Văn Thảo
và có ảnh hưởng không nhỏ đến mảng tiểu thuyết của nền văn học Việt Nam Trong số những bài viết, bài phê bình về văn xuôi Lê Văn Thảo, đáng
chú ý nhất là bài Lẻ Văn Thảo: Nhà văn của xứ sở Nam Bộ của Lê Tién Dũng, đăng Báo Văn nghệ, số 207 (21/06/2012) Trong bải viết này, tác giả đã
khẳng định Lê Văn Thảo là nhà văn có
sống phong phú về vùng đất Nam
Bộ Hình ảnh những con người bé nhỏ được ông đặc biệt quan tâm mãi ám
ảnh trên mỗi trang viết Họ “làm đủ ngành nghề, từ người chân lắm tay bùn
với ruộng đồng đến những người tiểu thương buôn bán nhỏ, thậm chí có cả
những làm thuê mà sống” [12, tr 6] Nhưng ở các nhân vật đều có tắm lòng đáng trân trọng “Họ đã sống và làm việc bằng tắm lòng trung thực và lương thiện đến mức đáng yêu” [12, tr 6] Chính vì thế, con người trong truyện của
ông đều có dáng dấp ngoài đời thường, Những tính cách that tha, chân chất,
mộc mạc, trọng nghĩa tình của cư dân Nam Bộ đã đi vào truyện ngắn,
thuyết của nhà văn một cách bình dị và dễ gần (Đêm Tháp Mười, Bà nội tôi,
Trang 11Ông già biển, Anh chàng xích lồ lãng tử, Người Sài Gòn ) Đọc những tác
phẩm của ông giống như được nghe một người già Nam Bộ bồi hồi nhớ lại
gi
“đi trong rừng tràm, ra khỏi rừng mà vẫn còn nghe phảng phat mii trim”
(12, tr 6]
“Truyện ngắn và tiêu thuyết của Lê Văn Thảo cũng đã nhận được sự quan
chuyện đời mình Chất Nam Bộ thấm dan vào từng trang vi: 1g như
tâm, chú ý của một bộ phận bạn đọc là sinh viên, học viên cao học Năm
2009, tác giả Nguyễn Thị Hường, Đại học Văn Hiến, bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Tiểu thuyết Cơn giông của Lê Văn Tháo Người nghiên cứu tập trung vào thế giới nhân vật, ngôn từ và kết cấu của tiểu thuyết Cơn gióng Cùng năm này, học viên Trần Thị Sáu, Đại học Đà Lạt, cũng hoàn thành để
tài Sự ảnh xạ tính cách người Việt ở Nam Bộ vào các nhân vật tiểu thuyết Lê
ăn Thảo Tác giả luận văn đã cho thấy bước tiền của Lê Văn Thảo so với các nghệ sĩ ngôn từ thế hệ trước như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Anh Đức trong vấn đề thể hiện tính cách người con người Nam Bộ
Phần lớn những bài viết, công trình nêu trên đều có những nhận xét,
đánh giá chân thực, đúng đắn về văn xuôi Lê Văn Thảo, mở ra những gợi ý hết sức quý báu cho những người tiếp tục nghiên cứu nhà văn này Mỗi tác
ý kiến, phát hiện có thể là độc sáng nhưng,
của nhà văn cũng như khẳng định tên tuổi, vị trí của Lê Văn Thảo trong nền văn học nước nhà chính là chủ trương và mục đích của chúng tôi khi tiến
hành để tai này
3 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
3.1 Đắi tượng nghiên cứu:
Trang 12‘Dé tài hướng trọng tâm tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của thể giới
nghệ thuật văn xuôi Lê Văn Thảo Đối tượng khảo sát chính của luận văn là
cuốn Tuyển tập Lê Văn Thảo (Nxb Văn học, 2006) Cuốn sách gồm 49 truyện
ngắn và 3 tiểu thuyết: Con đường xuyên rừng, Một ngày và một đời, Cơn
giông Bên cạnh đó, luận văn cũng đặc biệt quan tâm tập truyện ngắn mới
nhất của ông: Lên múi thả máy (Nxb Văn học, 2011) dé thấy được sự thống
nhất và phát triển của phong cách văn xuôi tác giả này
Ngoài ra, để có cái nhìn bao quát, chúng tôi liên hệ với một số tác phẩm
khác của tác giả như: các tập truyện ngắn Đếm Tháp Mười (Nxb Giải Phóng, 1972), Câu chuyện hai mươi năm (Nxb Mii Cà Mau, 1985); các tiểu thuyết:
"Ngôi nhà có hàng rào song sắt (Nxb Tác phẩm mới, 1988), Những năm tháng nhọc nhằn (Nxb Văn hóa Văn nghệ, 2012)
3.2 Pham vỉ nghiên cứu
Do dung lượng của luận văn, người nghiên cứu chỉ chú trọng một số phương diện tiêu biểu làm nên đặc trưng của thể giới nghệ thuật truyện ngắn
và tiểu thuyết Lê Văn Thảo như: kiểu nhân vật trung tâm, không gian nghệ thuật, cốt truyện và ngôn từ nghệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai để tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau
4.1 Phương pháp phân tích, tỗng hợp
Tìm hiểu thế giới nghệ thuật văn xuôi Lê Văn Thảo, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để tìm ra đặc điểm riêng, những giá trị, ý nghĩa của tác phẩm ở các cắp độ khác nhau; từ đó khái quát những luận điểm
nỗi bật về thế giới nhân vật, không gian cũng như cốt truyện và ngôn từ trong
văn xuôi của tác giả này
4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 13Phương pháp này giúp người viết nhân ra được những đặc diễm riêng của văn xuôi Lê Văn Thảo trong tương quan với các cây bút Nam_ Bộ khác, trước hoặc cùng thời với ông
4.3 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu, phân loại các kiểu nhân vật,
không gian, cốt truyện, ngôn từ trong khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật văn
xuôi Lê Văn Thảo
nhân vật, đề tài, các biện pháp nghệ thuật Điều này sẽ giúp cho
việc tìm hiểu, nghiên cứu thể giới nghệ thuật văn xuôi Lê Văn Thảo dạt hiệu quả
5 Đồng góp của luận văn
“Tiếp cân sáng tác Lê Văn Thảo, luận văn đã đưa ra một cái nhìn bao quát, có
hệ thống về hành trình sáng tạo và những đặc điểm trong truyện ngắn và tiểu
thuyết của nhà văn này Đây cũng là cơ sở để giúp chúng tôi có thể đánh giá sự nghiệp văn học và đóng góp của ông cho Văn học Việt Nam hiện đại một cách
khách quan, công tâm nhất Với độc giả, luận văn cũng sẽ là tài liệu bổ ích đẻ hiểu
“Chương 1: Hanh trình sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của Lê Văn Thao,
“Chương 2; Nhân vật và không gian nghệ thuật trong văn xuôi Lê Văn Thảo
“Chương 3: Cốt truyện và ngôn từ trong văn xuôi Lê Văn Thảo.
Trang 14CHUONG I
HANH TRINH SANG TAO
VA QUAN NIEM NGHE THUAT CUA LE VAN THAO
1.1 HANH TRINH SANG TAO CUA LÊ VĂN THẢO
1.1.1 Từ nhà văn chuyên viết về “những cảnh đời nhà binh”
Nhà văn của xứ sở Nam Bộ, Người không chịu giả, Người kỂ chuyện xuyên thời gian là những cách nói thể hiện tình cảm yêu quý và trần trọng,
của độc giả dành tặng cho nhà văn Lê Văn Thảo Ông sinh ra trong thập niên
biết bao đổi
30 của thế kỷ XX, trải qua hai cuộc kháng chiến và chứng kiết
thay của thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước Vốn xuất thân từ vùng đồng 'bằng sông Cửu Long, mỗi tác phẩm của Lê Văn Thảo đều viết về mảnh đất và
con người Nam Bộ như một sự trỉ ân với quê hương, nơi đã nuôi dưỡng tâm
hồn và chắp cánh cho ngòi bút của ông bay bồng
Sinh ra trong một gia đình khá giả nên Lê Văn Thảo có điều kiện đến trường Kháng chiến chống Pháp nổ ra, lúc đó Lê Văn Thảo bảy tuổi, học vỡ lòng trong chiến khu vùng Đồng Tháp Mười Đến năm 1950, ông về học tiểu học và trung học ở vùng Long Xuyên Năm 1959, ông học lên đệ nhất ở trường Chu Văn An Nhà văn bồi hồi nhớ lại:
“Tôi còn nhớ cảnh Sài Gòn bị ném bom năm 1945, ba tôi tham
gia thanh niên tiền phong, sau khi đi kháng chiến, đem cả gia đình
vào ở trong chiến khu vài ba năm sau chiến tranh ác liệt, má tôi lại
dem anh em chúng tôi về Sài Gòn chia nhau gởi các nhà bà con, có
lúc tôi được ở biệt thự, được đi học, chiều chiều ngôi trên xe kéo đi
đạo mát ( ) Sau này, đầu những năm 1960, lúc tôi học đại học, Sai Gòn là một thành pl
đánh Mĩ, đường phố xe cô dập đìu ánh đèn nhưng bên trong là những cảnh bắt bớ, đánh đập [2, tr 59]
sôi sục, vừa xong đánh Pháp đang chuẩn bị
Trang 15Nam 1962, chang trai Dương Ngọc Huy di theo cách mạng khi dang là sinh viên năm thứ ba khoa Toán, trường Đại học Khoa học Sải Gòn Những
năm đó, trường Đại học Khoa học còn dạy bằng tiếng Pháp, sinh viên trường
Lê Văn Thảo là một trong những gương mặt điển hình của thế hệ sinh
viên Sài Gòn lên rừng tham gia kháng chiến Ông vào chiến khu làm dân công tải đạn, nhiều năm ở những vùng có chiến sự sôi động nhất Lê Văn Thảo trở thành người lính và trực tiếp cằm súng trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968 Ông tâm sự: “Đó là một trận đánh quyết tử Trước khi lên đường, chúng tôi đã biết điều đó, trong thâm tâm ai cũng nghĩ không biết mình có còn sống không Nếu sống sẽ được đi trên đường phổ Sài Gòn giải phóng ( ) Trận đánh bắt
đầu khó khăn, tôi vào trong bị đánh bật ra, lạ trở vào ” [2, tr 60] Tran đánh
sinh tử và ác liệt đó đã dé lại trong ông nhiều ki niệm mạnh mẽ và ấn tượng
khó quên
'Vốn yêu thích văn chương từ rất sớm nhưng do điều kiện khách quan,
sông không được học tập, trau đồi kiến thức văn học Đến năm 1965, trong
môi trường quân đội, dưới sự đìu dắt và động viên của nhà văn Anh Đức, ông mới bắt đầu nghiệp viết với bút danh Lê Văn Thảo bằng những bài phóng sự
chiến trường Khi ấy, được tiếp xúc với nhiều người, với cuộc sống sôi động
ở nhiều nơi, được gặp các nhà văn đàn anh có kinh nghiệm cũng như đọc
nhiều tác phẩm của họ là điều kiện để ngòi bút Lê Văn Thảo thực sự trưởng,
thành Ông trả lời bạn đọc trên Tạp chí Nhà văn: “Tôi thực sự viết lúc vào trong chiến khu, có dịp đi nhiều nơi, gặp nhiều người, lăn lộn chiến trường dự những trận đánh lớn, trải qua những hiểm nguy, khốc liệt nhứt Tôi viết phóng
Trang 16sự chiến trường, thêm ít truyện ngắn, viết sốt sắng say mê với những chuyện
kế chân thật, giản dị ” [2, tr 62]
Lê Văn Thảo trưởng thành trong những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt Trong chiến dịch Mậu Thân, sống cùng các đơn vị bộ đội suốt ba tháng trong vòng vây kẻ thù, “có ngày, tôi chôn cắt 10 liệt sĩ Những
người bạn của tôi là chiến sĩ xung kích, tôi lắng nghe họ kể chuyện và ghi lại
những tâm tình” [88] Chính tháng ngày đói khổ, thiếu thốn đã tạo cơ duyên
để nhà văn có nguồn chắt liệu vô biên mà mãi sau này vẫn còn là cảm hứng chủ đạo trong nhiều sáng tác của ông Những tác phẩm đầu tay được Nxb Văn
“Ngoài mặt trận (1969) Năm 1970,
nhà văn xuất bản ký sự Từ zhế cao và sau đó là tập truyện ngắn Đém Tháp
nghệ Giải phóng in trong tập truyện và
.Mười (1972) Các tác phẩm trong tập truyện ngắn này như: Đém Tháp Mười,
Chuyện xã tôi, Di thăm chồng, Chuyện một có thanh niền xung phong, Người
tù số 92, Chuyện bên bở sông Vàm Cỏ đều viết về cuộc sống của những chiến
sĩ và đồng bảo Nam Bộ trong chiến tranh chống Mĩ Bằng những câu chuyện nhỏ, với cách kể giản dị, có phần sơ lược nhưng người đọc nhận thấy sự chân
thực và thành tâm ở nhà văn Chính vì vậy, chúng ta không khỏi ngạc nhiên
khi bắt gặp một người đàn bà tay bồng con, tay xách giỏ vượt qua bao chốt
kiểm dịch để Øi dhăm chồng Kết thúc truyện, câu hỏi: “Tai sao tên "bình
định” kia, tên bận đồ bà ba đen đang ngồi trước mặt chị, lại có lòng tốt cho
chị đi thăm chồng chị? Nhứt định không phải vì sợ hoặc vì thương hại rồi”
69, tr 107] khiến người đọc không khỏi day dứt và ám ảnh Cũng như điều bắt ngờ của nhân vật xưng "tôi" (Đêm Tháp Mười) khi về tới trạm giao liên M
trong đêm tối và hình ảnh “người nông dân tật nguyễn có cuộc đời đầy đau
thương kia đêm đêm đẩy xuồng vũ khí ra ngoài mặt trận hiện rõ rằng trước
mắt tôi ” [63, tr 23] Truyện kết thúc bằng nỗi niềm trăn trở của nhân vật:
“Chuyện đứa nhỏ với cái chân buộc vào gốc cột thì tôi biết, chồng chị biết,
Trang 17
nhưng chúng tôi đều giữ kín trong lòng Nó sẽ mãi mai bi mat, lặng lẽ như
bao chuyện hằng bao nhiêu năm nay trên đồng nước này vậy ” [63, tr 35] Chuyện đơn giản nhưng hẳn đã để lại nhiều dư vị trong lòng bạn đọc, nhắc
nhớ chúng ta về một thời đau thương mà anh ding cua dân tộc và sự hi sinh
thầm lặng của mỗi người dan dat Việt
Dân tộc Việt Nam đã trải qua nửa thé ki có chiến tranh nên sự biển động
vô cùng lớn lao Hoàn cảnh bắt bình thường ấy đã chỉ phối số phận từng con
người, cả trong chiến tranh và cả thời hậu chiến; là một vấn đẻ lớn không chỉ
trong quá khứ mà cả hiện tại và tương lai “ĐỀ tài chiến tranh như một vùng,
mỏ vừa lộ thiên, vừa nhiều vỉa ngầm đang khai phá dở dang mà trữ lượng còn rit lớn Một vùng mỏ văn học đầy hấp dẫn với các cây bút đầy tâm huyết”
[41, tr 142] Nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 tập trung vào chủ
đề chiến đấu cho nền độc lập, tự do của đất nước Người lính trong văn học
thời kì này, được dắn thân vào những nơi gian khô, ác liệt để thử thách ý chí kiên định va lí tưởng mà họ đã chọn Nhiều tác phẩm đặt các chiến sĩ trước
tình huồng nghiệt ngã giữa sống và chết để khẳng định ý nghĩa cao cả của sự
hi sinh Đó là những con người đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh và khát vọng của cộng đồng, của dân tộc
Chiến tranh không chỉ tàn phá con người về thể xác mà còn hủy hoại cả
tinh thần Nhiều nhà văn từ cuộc chiến đi ra, chứng kiến tận
quang và mắt mát nên viết rất thành công về đề tài này như: Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Bảo Ninh, Thái Bá Lợi, Văn Lê, Trung Trung Đỉnh Trong
những vinh
những năm kháng chiến chống Mĩ, Lê Văn Thảo cùng sống và chiến đầu với
chiến sĩ quân giải phóng, do vậy, đề tài chiến tranh với những người lính bình
thường, tình đồng đội của họ vẫn là để tải nhà văn yêu thích Qua nhiều tác
phẩm, người viết dẫn độc giá vào thể giới của lòng dũng cảm, tình người, đức
hi sinh Nói cách khác, đó là thể giới của cái cao cả, cái đẹp vượt lên trên sự
Trang 18tàn phá, hủy diệt của bom đạn chiến tranh Không chỉ trực tiếp phản ánh hiện
tác giả còn hướng ngòi bút vào việc ca ngợi những con người
niềm tin và nghị lực Họ đã cống hiển hết mình, góp phần
tuyển
Sau khi đất nước hòa bình, Lê Văn Thảo về công tác tại tuần báo Văn
nghệ thành phố Hồ Chí Minh Trở vẻ với cuộc sống đời thường, công việc viết lách với ông cực kỳ khó khăn, phải mắt một thời gian để nhà văn nghiền ngẫm, suy nghĩ về hiện thực Năm 1978, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay Bên lở bên bi Tác phẩm viết về hoạt động binh vận của quân và dân tỉnh Long An thời kỳ 1967- 1968, được ấp ủ, thai nghén trong suốt những năm
Viết về những năm tháng khói lửa, văn Lê Văn Thảo tỉnh khôi, sáng sủa
và chất chứa tâm tình bởi con người, tình đời dù trải qua chiến tranh vẫn không hề bị chai sạn Mỗi trang viết mang lại một góc nhìn khác về những
người lính trong thời cl
đại Nhà văn đã dành nhiễu trăn trở, yêu thương và khâm phục người chiến sĩ,
họ là những người con của đất nước, dũng cảm trong chiến đắu, vượt qua hiểm nguy, đương đầu với khó khăn và chấp nhận hy sinh Ở đó, chân dung
những chiến sĩ quả cảm hiển đâng tuổi xuân cho sự nghiệp vĩ đại của dan tộc
n: Vừa bình thường vừa cao cả, vừa giản dị vừa vĩ
hiện lên như những biểu tượng cao đẹp của thời đại Người đọc thấy được kí
ức về cuộc chiến tranh đã đi qua, về cái bi hing, về sự khốc liệt cũng như hậu
quả mà nó để lại Điều ấy được thể hiện rõ nhất trong hai tiểu thuyết Con
đường xuyên rừng (1995), Một ngày và một đời (1997) Nha van đã có nhiều
Trang 19
đổi mới trong cách nghĩ, cách viết, nhất là khi cuộc chiến đã chấm dứt, bối cảnh đã khác, có một độ lùi cần thiết để người viết nhìn lại một thời gian khổ 'Ngòi bút của ông “đã dắn sâu đến tận cùng hiện thực chiến tranh, đào xới sâu vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻ mặt khác
nhau và cả những mặt trái nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng như
mười mấy năm, hay ba bốn chục năm sau chiến tranh nên những nhân vật, sự kiện trong sáng tác của nhà văn “rặt” Nam Bộ này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng, vẻ đẹp riêng Chiến tranh, bom đạn chỉ được miêu tả như cái nền để người viết dẫn độc giả vào thể giới của tình người, của đức vị tha, lòng dũng
cảm và nghĩa tình chung thuỷ,
Mỗi tác phẩm về những cánh đời nhà binh của Lê Văn Thảo đều ít nhiều
vang lên điều nhà văn luôn trăn trở, ray rứt: Đừng cắt đứt nhịp cầu liên lạc
giữa cuộc sống hôm nay với những hy sinh gian khổ hôm qua Tiếng nói tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm và tính nhân văn ấy bắt nguồn từ sự thấu cảm những nỗi đau, sự mắt mát, hy sinh của đồng chí, đồng đội trong những năm
tháng chiến tranh gian khổ của nhà văn
1.1.2 Đến nhà văn của “những cảnh đời tư”
Sau 1975, nhiều nhà văn có sự thay đổi lớn trong cảm hứng sáng tác, bút
pháp và giọng điệu Những tác phẩm trong giai đoạn chuyển mình cũng đã
Trang 20manh nha một sự đổi thay Hình ảnh người lính trở về từ trận chiến khơng cịn nhìn cuộc sống đơn giản, một chiều với màu hồng lý tưởng Họ chạm tay vào hiện thực và từ đĩ, phát hiện ra những sự thật trần trụi đến xĩt xa, đau đớn Nhiều sáng tác đã xuất hiện kiểu con người trăn trở, kiếm tìm, hồi nghỉ
vào cuộc sống
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) với đường lối đổi mới tồn diện, mở
ra một thời kỳ mới cho đất nước để bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc Tắt cả những điều đĩ đã thơi một luồng giĩ lớn vào đời
sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra chặng đường mới của văn học Việt
Nam trong tỉnh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Nửa cuối những năm 80 và đầu những năm 90 đã phát triển mạnh khuynh hướng nhận
thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tỉnh thin nhân bản Trên thực tế, để cĩ một quan niệm mới, một cách đánh giá mới về hiện thực là điều khơng đễ dàng Với các nhà văn, để đổi mới quan niệm và tư duy nghệ thuật dù là ít ự lại cảng khĩ khăn gap bội Lê Văn Thảo đã từng chia sẻ:
“Suốt một thời gian sau giải phĩng, do tâm trạng bắt an, khách quan cũng như
chủ quan tơi về thành phố quen thuộc nhưng như người xa lạ, trước khi đi tơi
ính với cả ghánh nặng cuộc chiến Tơi
chỉ là người học trị trở về là người
cần cĩ thời gian lùi xa, lắng đọng” [2, tr 64] Và giờ đây, bên cạnh đề tài chiến tranh, ơng ngày cảng cố gắng suy nghiệm, đào sâu hơn về quá khứ, gĩp
thêm những cách nhìn riêng tư, sâu lắng mà tỉnh tế, thâm tram vé con người,
cuộc đời "Ước vọng của nhà văn khi cằm bút vẫn muốn đi xa hơn cái khung
của đề tài, ơng muốn miêu tả con người với những thân phận, cảnh huống, khát vọng sống, yêu thương và chiến đấu Các nhân vật của ơng là những người bình thường với số phận hẳm hiu, bắt hạnh” [17, tr 16]
"Nếu theo dõi con đường văn chương của Lê Văn Thảo, người đọc sẽ dễ
dàng nhận thấy nhà văn cĩ sự đổi thay trong ý thức sáng tạo bắt đầu từ truyện
Trang 21ngắn Làng iở (1991) Những tiếng đất lờ ầm ầm suốt ngày đêm và hình ảnh người dân làng T phải kéo nhau đi tìm mảnh đất khác sinh sống trong lời kể
của Tám Đầu khiển nhân vật ông trung tá không khỏi bắt ngờ và ngạc nhiên Thời gian có thể xóa nhòa tắt cả, chuyện hợp tan là chuyện thường tình nhưng hình ảnh về đoàn người làng T nghèo khổ, rách rưới, vẫn giữ tinh thần lạc
quan không thôi ám ảm nhân vật này trên suốt chặng đường về thành phố Từ
đó, *văn chương đối với Lê Văn Thảo gần gũi hơn mà cũng thăm thẩm hơn,
là những tiếng gọi lương trì âm thầm và bền bi” [42, tr 22]
Những tác phẩm viết trong thời bình, khi đã có độ lùi thời gian, là những sáng tác thành công nhất của Lê Văn Thảo Ông viết về những mảnh đời bắt hạnh, về những mệnh kiếp long đong Ông huy động mọi cảm quan để thao thiết dõi theo những số phận lặng iẽ Điều đó được thể hiện trong Chuyện nhỏ
tình yêu (1992), Ông cá hô (1995), Con đường xuyên rừng (1995), Một ngày
và một đời (1997), Cơn giống (2002), Lên núi thả mây (201 1), Những năm
tháng nhọc nhằn (2012) Mỗi khi có dịp về những vùng nông thôn hẻo lánh, hoặc ở thành phố, đến những xóm lao động bình dân, ngồi ở quán cóc, nhà văn đều có những cảm xúc riêng: “Tôi thấy thích thú nghe được nhiễu lời hay,
về những con người bình thường, với những số phận hẳm hiu bắt hanh” [86,
tr 7] Hẳn người đọc vẫn còn nhớ đến một Thẳng Cung, là một người lớn
tuổi, nhưng cả xóm, từ người già đến trẻ nít đều gọi là “thẳng”, tồn tại như
một cái bóng xám xịt trong làng Câu chuyện như nhắc nhớ chúng ta về kỉ
niệm của một thời tuổi thơ Không chỉ có chú Cung mà còn là những kí ức
chợt tràn về tỉnh khôi, mới mẻ và dẫn nhạt nhòa theo thời gian, phai dấu trong
tâm khám mỗi con người Đó còn là cách ứng xử có tình có nghĩa của ông giả
Tu Quới trong Hai ông cháu và con người chủ xưa, của cô bé bắn về số trong,
-Xuyt chó cắn, của Bằng, Thủy trong Cơn giông, của Vinh trong Con đường
Trang 22xuyên rừng Qua mỗi trang viết vừa tru nặng vừa bay bổng, người đọc như
bị cuốn lấy bởi hệ thống kênh rạch chẳng chịt, như con sông bên lở bên bồi,
như dòng đời lúc trong lúc đục Câu chuyện mới mẻ của ngày hôm nay nhưng,
cuộc sống và con người Nam Bộ hiện lên thăm thắm, mang hơi thở của những trăm năm Nhiều tác phẩm vẫn còn vẹn nguyên những kí ức xa xăm về một
thời người dân đi mở đắt, những câu chuyện nửa thực, nửa hư của ông giả trăm tuổi về những đứa con trai chết vì chiến tranh, vì giông bão, những con người tình nghĩa với vẻ đẹp chân chắt, bền lâu
'Vẻ đẹp tâm hồn vốn dung dị, chân chất của người dân Nam Bộ sau cuộc chiến được thể hiện ở các truyện Có gái đi vào cửa sau, Chiếc hang thần của ông Sáu Nếp, Lời thể và
p tục khám phá cuộc sống thường nhật giống
như những "con sóng lô xô” bên dưới mặt hỗ tưởng chừng như yên lặng qua Tìm chẳng cho má, Anh chang xich 16 lang tử, Con mèo, Một ngày đẹp trời Bằng những câu chuyện vẫn điễn ra ở quanh ta, trong dòng chảy cuộc đời, Lê
‘Van Thảo khiến mỗi phận đời cứ nhân nha lan tỏa vào từng ngõ ngách sâu kín nhất trong tâm hồn người đọc Hình ảnh một “dãy núi từ xa lắm, rơi rớt lại còn bảy ngọn xếp thành hàng dài nhấp nhô như gợn sóng Mắt cả tháng trời
căn nhà cất xong, rừng lá chung quanh, chira một cửa theo hướng gió, chờ
những buổi mây nhiều lùa mây vô nhốt lại, trời trong lại mở cửa thả mây ra ” (Lên núi thả mây) như đánh thức một điều gì vừa hư, vừa thực sâu thẳm
tâm hỗn mỗi con người Trước cuộc sống khô cực, nhân vật Năm Tính được
lũ trẻ gợi nhắc về một kỉ niệm xa xăm, hình ảnh dãy núi trong mây mù, giờ đã nhạt nhòa theo năm tháng, dường như vẫn còn đọng lại, ở một góc khuất nào
đó, trong tâm hồn nhân vật Tưởng như vô nghĩa nhưng lại bồi đắp thêm
những giá trị vốn rất gần gũi, bình dị của quê hương, của cuộc đời để mỗi
người thêm yêu quý và trân trọng cuộc sống Đối với Năm Tính, kí ức này
bây giờ mới có dịp vỡ òa cùng biết bao điều chiêm nghiệm từ cuộc sống, sau
Trang 23lời nhắc nhở lũ con: “Nhưng lớn lên rồi phải làm công chuyện gi? Như một Tần phải lên đỉnh núi Nhớ không?" [70, tr l6]
Với niềm tin mãnh li vào vẻ đẹp ở bản chất lương thiện của con người, các sáng tác của Lê Văn Thảo đã chỉnh phục được một bộ phận bạn đọc nhất định Tiểu thuyết Một ngày và một đời cuốn hút đông đảo người đọc vì sự bí
ấn còn nằm ở đâu đó khi đã đọc đến dòng cuối cùng Bởi những khoảng trống
cho ức đoán, sự phong phú của cuộc sống được miêu tả qua những lời kể của con người mà cuộc đời của chính họ thật nhiều hình vẻ, như những mảnh vụn của cuộc sống được trân trọng thu gom lại, lưu giữ bóng hình May thay vẫn
có những con người không chịu khuất phục cái ác, cái xấu Họ không tin con người ta “chết đi không để lại
cho thấy sự chân thành va
văn, có thể tìm lại những điều đã mắt để phục hồi quá khứ Điều ấy lại ching
iu vết gì” và quyết tìm về quá khứ Cuốn sách
lượng tác phẩm đồ sô như Hồ Biểu Chánh, chưa đạt đến sự phản ánh sâu rộng
như Sơn Nam, Phi Vân, Đoàn Giỏi nhưng tác giả vẫn có những tác phẩm
hay và tạo được dấu ấn riêng trong lòng độc giả Chúng tôi xin mượn nhận xét
Trang 24của Nguyễn Trọng Tín trong bài viết Lê Văn Tháo - Người không chịu giả đề nhận định về hành trình sáng tạo của nhà văn:
Cái nền học vấn cộng với bề dày trong văn hóa truyền thống,
gia đình là chỗ dựa quan trọng để ông đi đường dai với văn chương,
Nó như một nguồn nam châm đủ lực đẻ hút lấy những bụi quặng
trên đường đời mà chế tác ra những sản phẩm của riêng ông mỗi ngày một tỉnh xảo và lắp lánh Nó khiến cho cái sự già đi của tuổi
tác, của cơ thể sinh học không làm sao "lôi kéo” được sự trẻ trung
trong tâm hồn và văn chương của ông [82]
1.2 QUAN NIEM NGHE THUAT CUA LE VAN THAO
1.2.1 Quan niệm về con người và cuộc đời
Con người là điểm xuất phát, đồng thời cũng là đích củ
sáng tạo Toàn bộ thế giới nghệ thuật trong văn học bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ về con người Một tác phẩm văn học có thể không có nhân vật
cùng của mọi
người nhưng nó luôn phải là câu chuyện vẻ cõi nhân sinh Có như vậy, văn học mới làm cho con người lương thiện hơn, nhân ái hơn, đa dạng, phong phú,
từng trải và hiểu biết hơn Văn học nghệ thuật chính là sự phơi trải cái nhìn về
thì có bấy nhiêu cách cắt nghĩa, giải thích
và bắt con người, có bao nhiều nghệ
Cho nên, khi nghiên cứu tác giả, tác phẩm, nhân vật cần soi cl
nguồn từ quan niệm của nhà văn đồ về con người
“Theo Trần Đình Sử, “quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt
nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương
tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [S3, tr 59] Bằng quan niệm nghệ thuật riêng, mỗi nhà văn luôn có cách khám phá, nhìn
nhận, phát hiện vẻ đẹp của con người ở mọi chiều kích Họ luôn trăn trở về tắt
cả mọi vấn đề của thế nhân để từ đó hiểu và cảm với con người Cho nên,
Trang 25muốn đánh giá thực chất sáng tạo, thành tựu và cổng hiến của mỗi tác giả, điều quan trọng nhất là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thông qua
đó là một hình thái không phải bình thường của xã hội, của con người, và
rằng ta đã sống với nó nên vẫn có thể viết về nó” [72, tr 274] Với Lê Văn Thảo, viết về chiến tranh cũng chính là ôn lại những kỉ niệm mà ông và đồng đội đã từng trải qua trong Những năm tháng nhọc nhằn Hồi ức chiến tranh sau ba mươi năm vẫn không thể nào phai trong mỗi con người, nhất là những người đã từng đi ra từ các cuộc chiến Viết về điều nảy cũng là ao ước, là niềm đam mê của ông, là lí do cầm bút, là động lực để ông có thể vượt qua
những khó khăn trong cuộc sống Hơn nữa, viết về chiến tranh không chỉ cho
đồng bảo, đồng chí đã khi
Nhà văn chia sẻ: “Hiện tôi không có ước muốn nào hơn được viết một cuốn
sách về chiến tranh với bộ mặt thật, không thêm bớt, tô vẽ, cũng không làm mắt ý nghĩa lớn lao đã làm nên trong nhiều năm ý nghĩa trong đời sống của
tôi” [72, tr 274] Có thể thấy, Lê Văn Thảo là người nặng lòng với đời, với nghề Đối với chiến tranh và con người trong chiến tranh, tác giả coi đây không cÌ
anh hùng, cao cả mã cũng chính là môi trường sàng lọc và phân hóa con
im lòng mà còn cho thé hệ hôm nay và mai sau
là môi trường, là điều kiện để con người bộc lộ phẩm chất tốt đẹp,
Trang 26
người Đối lập với su hy sinh, gan góc của nữ chiến sĩ biệt động là thái độ thờ
ơ, lãng tránh trách nhiệm của Ba Hoàng trong tiểu thuyết Mộ! ngảy và một
nhiều tác phẩm của Lê Văn Thảo Những con người khi hiện hữu và lúc mắt
đi thật đơn lẻ, nhỏ bé nhưng luôn tự vượt qua để khẳng định sự tồn tại của chính họ như Vinh trong Con ducing xuyên rừng, người nữ biệt động trong
"Một ngày và một đời Chiến tranh đã trôi qua, nhưng vết thương của nó vẫn còn âm i trong lòng nhiều người (Bà Tư rau muống, cô phóng viên Mai Hương ) “Phục hồi quá khứ bằng sự đánh thức lương tâm ngủ quên của từng con người đang sống, nhắc nhở họ hãy luôn phải nhớ đến những người
đã tự nguyện biến mắt vào cõi hư vô để cho chúng ta hôm nay an bình hiện
hữu là lời nhắn đau đáu của tác giả với moi người” [46, tr 5] “D6 là sự đảo
sâu mới, đó là khả năng phân tích, bình giá và mổ xẻ hiện thực đa chiều của chiến tranh, đó là sự phân tích những mỗi quan hệ cực kỳ phức tạp giữa số phận từng con người với biến cổ chiến tranh ” [41, tr 160] Chúng ta hiểu vì sao con người trong chiến tranh ở mỗi tác phẩm của Lê Văn Thảo luôn có sự song kết giữa vẻ đẹp bình thường và cao cả, sự giản dị hòa lẫn với tính cách anh hùng Qua mỗi con người, mỗi nhân vật, người đọc thêm một lần nữa hiểu rõ hơn về bản chất chiến tranh và càng ngưỡng mộ, tự hào về sự hy sinh
thầm lặng của họ
Sau 1975, dat nước chuyển đổi trên nhiều phương diện, trong đó có đời
sống văn hoá, tư tưởng Chiến tranh kết thúc, văn học cựa mình thay đổi, nhất
sau Nghị quyết của Đại hội VI của Đảng và tiếp theo nghị quyết 05 của Bộ
chính trị, cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn
nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều đó đã thổi một luồng gió mới
mẻ, khoáng đạt vào đời sống văn học nước nhà Cũng từ đây, quan điểm nhân
Trang 272B
'bản dần dần thay thể quan điểm giai cắp về con người Nhân vật dần trút bỏ
“bộ cánh xã hội” trở về với mỗi quan hệ nhiều chiều như nó vốn có Kiểu con
người phong phú, phức tạp không thể biết hết, những nhân vật có cấu trúc
nhân cách đa dạng, không thể phân tuyến một cách rạch ròi dần trở nên quen
thuộc trong văn xuôi đương đại
Như chúng ta đã biết, “quan niệm nghệ thuật về con người mang dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn đầy tính phát hiện độc đáo của nghệ sĩ” [54, tr 63] Nó biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn
hoe, nhưng tập trung trước hốt là ở nhân vật, bởi "nhân vật văn học là con
người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học” [51,
tr 61] Mỗi nhân vật ra d
của nhà văn u thể hiện quan niệm, cách hiểu, cách đánh giá
on người và cuộc đời
Nhân vật trong mỗi tác phẩm của Lê Văn Thảo là những con người dù
cơ hàn thua thiệt nhưng vẫn kiên trì giữ cái thiện, đề cao cái tâm, ứng xử 'bằng tắm lòng, có đời sống tâm linh phong phú Nhà văn luôn nhìn con người
‘bing con mắt của lòng nhân ái nên ở dủ làm gì, ở đâu và trong bắt cứ hoàn cảnh nào ông cũng luôn tìm thấy cái thiện khuất lắp trong những con người hiển lành, tội nghiệp Xuý chó cẩn khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên trước cảnh cha con người ăn mày cụt chân ở dưới gầm cầu đã từ chối nhận
tiền của một gia đình gidu có vì "không việc gì phải đổi mạng lấy tiền” [69, tr
265] Các nhân vật khác như Tích (Kí niệm của người chiến sĩ), Bằng (Cơn
Giông), kép Hoàng Dương (Ông cá hô), Bường (Đêm Tháp Mười), Năm Tính
Trang 28
hình về con người của nhà văn Nhiều tác phẩm của ông vẫn tiếp nối đề tài
về đất, về người nhưng tính triết lý nhẹ nhàng, gần gụi và thấm sâu hơn
Những bài học về đối nhân xử thể, về giá trị nhân văn cũng được khơi gợi một cách tự nhiên, thâm trằm và sâu lắng Nói như nhà văn Triệu Xuân: “Đọc văn Lê Văn Thảo, tôi càng thêm tha thiết tin yêu đất và người xứ này: Người
Nam Bộ có tình cảm trong sáng, chân chất, mộc mạc nhưng mãnh liệt, ý chí
Tám Thanh, ông Hai, Bường Nhà văn muốn thông qua văn học để khuấy
đông một cuộc sống khác mả nhân vật của ông, dù cơ cục, thua thiệt nhưng
luôn hướng thiện để khỏa đi cái ác đang lắn vào đời sống Ông nói: “Tôi chỉ muốn viết một cách khác, mới mẻ hơn, lạ hơn, tránh thuyết giáo hơn Tôi chỉ
muốn miêu tả những tính cách lạ nảy sinh trong hoàn cảnh lạ” [24, tr 13]
Tác giả vô cùng tâm đắc điều mà nhà văn Pháp Rômanh Rôlăng nhận xét về
Maexim Goki: “Boi dng ta đã có quá nhiều đau khổ, ông ta có quyền độc ác, viki
với mọi người [24, tr 13] Qua tác phẩm, con người hiện lên đúng như nó
n tàn nhẫn, ấy thể nhưng ông ta lại rất nhân ái, rí
độ lượng, bao dung
tồn tại trong thực tế Ấy là con người trong mọi quan hệ phong phú và phức
tạp: quan hệ xã hội, quan hệ cá nhân, quan hệ lịch sử, quan hệ đời tư, đời
Với Lê Văn Thảo, văn chương có thể khai thác đến tận cùng số phận con
người nhưng không được nhẫn tâm Nhà văn từng chia sẻ: “Có người trách tôi
Trang 29hệ đi sau phải luôn coi những người nông dân nghèo khổ Đồng bằng sông
'Cửu Long là người anh chị của mình, sống vì họ, suốt đời viết về họ Chính vì
thế, tiếp xúc với văn xuôi Lê Văn Thảo, người đọc đễ nhận thấy sự giản dị và
chân thành Theo ông, đây là con đường ngắn nhất để đến với trái tim người đọc, một cách tự nhiên, như mạch suối nguồn trong trẻo đang thì thầm kể
với ta những câu chuyện đẹp Truyện của nhà văn bao giờ cũng tìm được sự
đồng cảm thiết tha với tâm hồn bạn đọc (/iai ông cháu và con người chủ xưa,
Hai người cha, Anh cà kiêu ghế qua làng, Người viết thư thuê, Kỳ niệm của
chuyện đơn giản Có thể thông qua con mắt tâm linh và dạng ám ảnh tâm linh
để hiểu con người và cuộc đời hơn Ở lãnh địa đó, tác giả có điều kiện thuận
lợi để đi vào những ngóc ngách tế vi của đời sống nội tâm con người, có thể
nhìn vào cõi vô thức thẩm sâu trong tâm khảm mình Điều này được thể hiện cqua nhiều tác phẩm như Mớt ngày và một đời, Cây Bonsai lin kiêu hành, Con mèo, Hai cude xe ôm
Nhin chung, con người trong văn xuôi của Lê Văn Thảo là hiện thân của
vẻ đẹp giản dị Họ đẹp trong nhân cách, lối sống và hành động Các nhân vật
Ấy không bi day lên đài cao lí tưởng, họ đứng giữa đời thường với những nỗi
Trang 30đau khó lòng xoa dịu, những nỗi niềm khó có thể sẻ chia và số phận của họ khiến người đọc không khỏi động niềm trắc ẩn
1.2.2 Quan niệm về văn chương và trách nhiệm nghệ sĩ
Mỗi quan niệm nghệ thuật bao giờ cũng là tiền lộng lực của một thì
pháp tương ứng Bắt kỳ nhà văn chân chính nào cũng phải là người có vốn
sống phong phú, sự hiểu biết sâu sắc về con người và thời đại mình Cuộc
sống của người viết không thể tách rời nhiệm vụ đi sâu, khám phá bản chất đời
sống Những quan niệm của Lê Văn Thảo về sáng tác văn học là nền tảng
hình thành nên nét riêng trong mỗi tác phẩm của ông
'Quan niệm của Lê Văn Thảo về văn học là một thực tế đã được nghiệm
sinh qua hành trình sáng tạo với những tìm tồi, nghiền ngẫm và những trỉ thức
mà ông tiếp nhân được từ phát ngôn cũng như thục tiễn sáng tác của nỉ
nhà văn đi trước Chính người viết đã thổ lộ: “Những gì tôi viết được là nhờ
đã từng đọc và học tác phẩm của các nhà văn Hồ Biểu Chánh, Lan Khai, Nhất Linh, Khái Hưng về sau là Con trâu của Nguyễn Van Bong, Xung kich cia
Nguyễn Đình Thi, Người mẹ cẩm súng của Nguyễn Thị và cả thơ của các nhà thơ từ thời Thơ mới, truyện nước ngoài ” [23, tr 5]
với Lê Văn Thảo, văn chương là cả cuộc đời Tình yêu thương giữa
con người với con người là yếu tố nền tảng trong quan niệm sáng tác của ông
Cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm là sự quan tâm đối với cái thiện, cái đẹp Nó chỉ phối nhà văn trong toàn bộ quá trình sing tạo nghệ thuật, từ nội
dung đến hình thức, từ nhân vật đến giọng điệu, cảm xúc Tác phẩm văn
học không phải kể một câu chuyện hay nói lời rao giảng, mà là đào sâu vào
tâm hồn con người, nói lên những cảnh huống, những số phận, bằng sức mạnh của nghệ thuật dé vẽ nên những vẻ đẹp bị khuất lắp trong cuộc sống thường ngày Nhà văn từng quan niệm: “'Văn học đối với tôi là nỗi niềm, thân phận,
lương tâm, những trải nghiệm cuộc đời và đôi điều suy tư từ những năm tháng,
Trang 31điểm của con người để giúp con người nhận thức được chính mình và đời
sống xung quanh Nhưng mục đích cuối cùng của văn học không gì khác hơn
là hướng con người đến Chân - Thiện - Mĩ, hướng đến một cuộc sống hoàn hảo cho nên nhà văn "không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tờm, cái hèn nhát Thanh nam châm thu hút mọi thể hệ vẫn là cái cao cả, cái tốt đẹp, cái thủy chung” [90]
“Trong quan niệm của Lê Văn Thảo, nghề văn là một nghề cao quý, đòi
hỏi nhà văn phải bỏ nhiều tâm sức để có được những con chữ chất lọc từ tâm can mình Đó chính là quá trình khai thác những “via quảng” cuộc sống đã
kết tỉnh trong bản thân người cầm bút Nhà văn rất tự hào vì mỗi tác phẩm ra
thứ mạt sắt hợp với “tạng” của mình” [24, tr 13] Nam nay, bước sang tuổi
76, ở cái tuôi xưa nay hiếm nhưng Lê Văn Thảo vẫn nỗ lực viết một cách bình
than, thong dong, tự nhiên, "viết từ thôi thúc của bản thân cũng là thôi thúc của cuộc đời” [86, tr 7] Có lẽ, vẫn còn sáng tác được như thế là nhờ người
viết xê dịch nhiều, trong khi xê dịch, ông tìm khoảng lặng để suy nghiệm và
viết Tác giả từng nói đùa: “Càng già cảng thấy mình giống nhà văn Jack
Kerouac - tác giả của tiểu thuyết ?rén đưởng, cứ thích mê mải trên đường”
Trang 32[79, tr 8] Nhà văn luôn sống hết mình và viết hết mình, đó là điều ông tâm
niệm trên đường đời và đường văn chương của mình
Chân thật và giản dị là y¿ đầu tiên trong quan niệm văn chương của
Lê Văn Thảo Ông tâm sự Su mả một nhà văn cẩn có trong sáng tác,
“trước tiên là sự chân thật Sống chân thật để viết chân thật, viết tir long minh,
sâu thẳm trong trái tim, một chút “mạ vàng” sẽ lộ ra ngay Văn chương rất
khắc nghiệt, không chấp nhận sự làm dáng, phô trương, nghĩ thế này nói thể khác Có thể che giấu với người đời, không thể che giấu với chữ nghĩa” [27,
tr 5] và “Viết thật giản dị, đó là phương châm của tôi ” [86, tr 7] Vin chương nói riêng và nghệ thuật nói chung luôn đòi hỏi sự chân thực, tuyệt đối không dược giả tạo hay ngụy biện, lại cảng không thé hoi hợt Người viết đã
mượn lời nhân vật trong Cánh quay phim ngoài trời để gửi gắm quan niệm
nghệ thuật của mình: “Đó là sự trung thực, tôi đòi hoi sự trung thực trong bộ phim này Không màu mè, không chit yéu diệu, không một giọt làm dáng, giả tạo” [69, tr 119]
Nhu cầu hiểu biết là nhu cầu lớn của thời đại và hiển nhiên, con đường nhận biết cũng không hề đơn giản, dễ dàng Những tác phẩm được viết ra không đơn thuần chỉ vì những thương ghét nhất thời mà phải giúp người ta
hiểu biết, nhận thức những sự thật trong đời Đa phần truyện của Lê Văn
Thảo đều được kể bằng giọng thuần nhất của nhân vật xưng “tôi” Cái “tôi”
ấy dẫn chuyện một cách khách quan, bình thản, không bình luận về những điều diễn ra trên sân khấu cuộc đời Vì thế, hình ảnh con người với sự đa
đoan, phức tạp của đời sống hiện lên trong văn xuôi tác giả này tự nhiên và chân thực, Nhà văn nhường lại cho độc giả những ám ảnh khôn nguôi trên
mỗi trang viết Ông cho rằng người viết chỉ nên miêu tả một cách khách quan, lạnh lùng về nhân vật và diễn bi
phải lắng lại và được gạn lọc thì tác phẩm mới hay Đó cũng là quan niệm của
sự việc Muốn vậy, cảm xúc của người viết
Trang 33nhà văn Trang Thế Hy, một cây cô thụ của văn học Nam Bộ: “Cái gi minh
không yêu mến hay chưa kịp yêu mn thì đừng giả bộ yêu nó Tôi luôn tự dặn mình như vậy cả trong cuộc sống, chứ không chỉ khi viết văn Với tôi, cự
đã viết, dù íL, là phải chan that” [94]
Bên cạnh tính chân thật, sự tỉnh táo trong cách nghĩ, cách viết cũng là điều Lê Văn Thảo lưu tâm Ông từng tự nhủ: “Tỉnh táo để không bị những chuyện thời thượng làm cho mình nôn nóng Tỉnh táo để lượng sức mình, nhìn sự đời hiểu ra mặt này mặt kia Tỉnh táo để nhận ra những rung động,
trong lòng mình có hoà nhịp với cuộc sống bên ngoài, để nhìn sự vật một cách
trên hành trình
lúp
ông từng bước khẳng định cá tính sáng tạo trên những chăng đường khám
khách quan, y như nó đang diễn ra” [23, tr 5] Két quả gat
văn chương đã tôi đúc cho nhà văn một bản lĩnh nghệ thuật cứng cỏi,
phá, chỉnh phục nghệ thuật Với ông, “được viết văn tức được sống là mình
'Văn là người văn cũng là đời, văn chương là chuyện cả cuộc đời” [79, tr 8]
Theo Lê Văn Thảo, có nhiều con đường đến với văn học Những tác phẩm đầu tay của ông với thể loại phóng sự chiến trường cũng bắt đầu từ trại viết Vào kháng chiến, nhà văn như được tiếp thêm sức sống mới, không còn
là người học trò chân yếu tay mẻm, đã trở thành một chiến sĩ dày dạn, đi
nhiều nơi, gặp nhiều người, sống chan hòa với những người nông dân, bộ
đội Chính công việc, cuộc sống tạo điều kiện để nhà văn tôi luyện Sau đó
ông viết truyện ngắn Thật ra chỉ là những chuyện kể chân thật, giản dị nhưng
cũng đánh dấu được một bước tiến nào đó Gấp những trang cuối cùng của Người Sài Gòn, bạn đọc không khỏi bùi ngài về một nỗi buồn lan tỏa, thắm
sâu và nặng tru Nỗi buồn ấy có l cũng bắt nguồn từ chính hiện thực chiến
tranh vẫn còn in đậm trong tâm khảm của người chiến sĩ Trong một lần trò chuyện với ban đọc trên Tap chi Nhà văn, Lê Văn Thảo tâm sự: "Bồi cảnh của Người Sải Gòn là chiến dịch Mậu Thân năm 1968, đó là trân đánh hào
Trang 34là một cánh đồng, trưa nằm nghe tiếng lúa reo tôi chỉ thấy buồn thôi, buồn
lâng lâng, man mác Nghe tiếng nước chảy, tiếng sóng vỗ bờ tôi cũng buôn
Tiếng hò trên sông cũng thế Chuyện vui buồn có cái cao cả, cái thấp hèn, vấn
để là viết như thế nào nâng tâm hn ta lên ” [2, tr 61]
Kinh nghiệm văn chương, theo Lê Văn Thảo, là cái riêng của mỗi người
Ai muốn theo nghề văn, ngoài niềm đam mê, phải có kinh nghiệm và thủ
thuật, bởi viết văn chính là tạo cảm xúc đối với người đọc Cho nên, ông đánh
giá rất cao vai trò của cảm hứng trong sáng tác Văn mạch thung dung, tự nhiên được là do cảm hứng đưa đẩy Nhưng với bản thân tác giả, thực sự mở
đầu một truyện ngắn bao giờ cũng khó khăn Đôi khi nhà văn loay hoay mãi mới lần ra chữ, có ý có tứ rồi mới lần ra mạch truyện Không những thể,
người viết phải luôn tự học, tự chiêm nghiệm Giờ đây, khi tuổi đã cao, chỉ có
thể viết được những gì sức lực và trí nhớ còn cho phép nhưng ông vẫn luôn cố gắng đổi mới trong cách nhìn, cách viết
Lê Văn Thảo là người có ý thức về sứ mệnh của người cằm bút Với
ông, văn chương đâu cần tính tới tuổi tác, tuổi đời cũng như tuổi nghề Điều
quan trọng là cứ nỗ lực viết Ông luôn “viết từ sự thôi thúc của nội tâm, cốt
viết ra cho hết những rung cảm trong lòng, viết bằng cả trái tìm, khối óc
hướng về con người, nâng niu trên trọng con người” [86, tr 11] Có vẻ như nhà văn không hể lo người đọc không hiểu mình Đôi khi ông còn rất hóm hinh cho rằng nghề viết cũng giống như nấu ăn và thưởng thức món ăn: “Làm nghề viết mà không khoái nấu nướng, không biết thưởng thức những vưu vật của trời đất thi ma n6 doc” [86, tr 12] Cho nên, tác giả luôn cắn trọng và
Trang 353
có trách nhiệm với tất cả những gì mình viết, không chỉ giáo, không cao đàm
hing biện Nói cách khác, nhà vin chi mun lim người kể chuyên nghe chơi
Không chỉ có tự học và chiêm nghiệm, muốn có tác phẩm hay, theo Lê
'Văn Thảo, người nghệ sĩ phải có tải Cái tài đó thể hiện ở ngay hình thức tác
phẩm, phải làm cho người đọc bị cuốn hút Nhiễu lúc, tác giả cũng bắt lực với
chính mình, muốn nói nhưng nói không được vì thiếu hình thức biểu đạt,
thành ra ngây ngô Không chỉ thế, nhà văn còn là người phải luôn biết tìm tòi
và sáng tạo Ông quan niệm: “Thật không ngoa khi nói văn chương là sáng
tạo chữ Sáng tạo cũng chẳng phải làm điều gì mới mẻ, ghê gớm mà là đặt chữ vào đúng chỗ của nó” [77, tr 13] Đặt chữ vào đúng chỗ của nó, thoạt
nghe rất đễ nhưng kì thực lại rất khó Nó đòi hỏi người viết phải công phu và
thành tâm Ở một khía cạnh nào đó, có thể nói, chữ như những via đá, được
nhà văn vỡ ra, rồi đẽo gọt, nâng đặt để trở thành ngôi nhà tác phẩm Chữ là chất liệu nhưng đồng thời chữ cũng là hồn vía tác phẩm Trong thực tế, Lê
'Văn Thảo không phải là người quá kì phu trong chữ nghĩa nhưng ông rất ý
thức trong việc Íao động chữ Chính vì thé, tác giả rất cẩn trọng với ngôn ngữ Nam Bộ, một vùng đất còn rất nhiều điều mới mẻ cần được khám phá, nhất là các biệt ngữ, khẩu ngữ Ông rất chặt chẽ trong việc sử dụng từ địa phương
Nha văn trai long: *So với trước đây, tôi đã lược bỏ đi nhiều từ địa phương, những tiếng lóng, khẩu ngữ, biệt ngữ còn chưa định hình, chỉ giữ lại những, chữ thật đất giá, tương đối phổ biến Tôi cũng không ngại dùng cả cách nói
của người miền Bắc nếu ở miễn Nam không có từ ấy, cách nói ấy [2, tr 64]
Lê Văn Thảo cho rằng người viết văn xuới edn phải bình tĩnh Bình tĩnh trải nghiệm, bình tĩnh để hiểu và cảm hết những điều đang diễn ra, có thể đưa vào tác phẩm những vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa, thú vị mà người khác không
nhận ra Nhà văn thổ lộ trong hồi ức của mình: "Tôi nhớ năm 1965 vẻ tỉnh
Long An chứng kiến cảnh một bà mẹ nhào ra cản đầu tăng không cho chạy
Trang 36cản vào ruộng lúa, chuyện thật cảm động, mỗi lần cầm bút tôi đều rưng rưng
nước mắt” [2, tr 61] Mục đích của nghệ thuật là làm phong phú tâm hồn con
người Người cằm bút chỉ phát biểu được những điều mới mẻ khi có tiếng
nói của riêng mình Muốn vậy phải có sự chuẩn bị thật ky lưỡng cho những
điều mình định viết Phải sống sâu sắc và trọn vẹn với cuộc đời mới có được những trang viết giá trị Tác giả cũng từng phải hối hận vì đã bỏ qua nhiều cơ hội để tiếp cận với những nhân vật làm giàu có thêm mỗi trang viết Giống
như câu chuyện về người thợ hớt tóc nơi góc phố mà nhà văn nhiều lần bày tỏ: “Cứ mỗi tháng mình đến đó hớt tóc một lần, mỗi lần cả giờ đồng hồ Một năm là bao nhiêu tháng và trong 10 - 20 năm sống là biết bao lần gặp gỡ, thế nhưng có bao giờ mình thực sự trò chuyện để biết, để hiểu về người thợ hớt tóc đó đâu ” [7§, tr 22] Lời tâm sự ấy đã nói lên sự trăn trở của ông đối với từng trang viết cũng như nỗi dẫn vặt về những ân tình cuộc đời Đây cũng là
kinh nghiệm mà tác giả đã từng chia sẻ với các nhà văn trẻ khi đang là Chủ
tịch Hội Nhà văn Thành phố Hỗ Chí Minh Câu chuyện viết lách của Lê Văn Thảo cũng tựa như cuộc sinh tồn trong tiểu thuyết Con đường xuyên rừng
Nương tựa vào nhau để vượt qua những khúc quanh co, khó khăn trên đường,
đ
là một cach dé ton tai của mỗi con người trong cuộc sống
Trên con đường văn chương của mình, Lê Văn Thảo sợ nhất là lap lai
những ý tướng Ông là người không dụng công tìm kiếm
nhưng luôn có ý thức đổi mới trong cách nhìn, cách viết bởi nhà van cho ring, tài và thể loại nếu không cách tân trong ngòi viết, người nghệ sĩ sẽ tự giết mình Tiểu thuyết Con giống, tác phẩm thành công nhất của Lê Văn Thảo tính đến thời điểm
này, đã hội tụ đầy đủ những gì nhà văn trăn trở, suy nghĩ về cuộc đời, về nghề
văn Sự thành công ấy không chỉ được đánh giá bằng giải thưởng cao, điều
quan trong là lối viết chắc chắn, già đặn, chuyển tải biết bao thông điệp mà nhà văn từng ấp ủ và tâm niệm trong suốt quãng đời cằm bút Trước sau,
Trang 373
người viết vẫn coi trọng yếu tổ cảm xúc làm mạch nguồn cho mỗi tác phẩm Lấy quá trình vận động của thế giới tâm trạng con người làm tuyến chủ đạo dẫn dắt mạch truyện, văn xuôi Lê Văn Thảo hắp dẫn người đọc bởi những dư
vị mênh mang đang diễn ra trong tâm tư nhân vật
“Tiểu kết
Sáng tác trong tâm thức hết mình và ty tin, trên nền tảng của một người
có vốn văn hóa, có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng, văn
xuôi Lê Văn Thảo đã chiếm được cảm tình của một bộ phân không nhỏ công,
chúng văn học Việt Có thể thấy, bên cạnh người lính trong chiến tranh, thế giới nhân vật trong văn xuôi của tác giả hầu hết là những con người bé nhỏ, lai thủi đi bên lề cuộc sống nhưng vẫn sáng ngời vẻ đẹp của tình người, của nhân cách Trên hành trình sống và viết, nhà văn không ngừng đào sâu, mở rộng mọi biên độ nắm bắt cái đẹp dù là ít ỏi của con người Đây là một yếu
tính dé “van ông có dấu ấn riêng, không lẫn vào người khác” [S6, tr 11] Kí
ức nguyên vẹn về “những cảnh đời nhà binh” đến những câu chuyện nho nhỏ
về đất và người Nam Bộ là vẻ đẹp của biết bao giá trị nhân văn, là suy nghĩ, trăn trở của ông trong cuộc sống Chúng cứ nhẹ nhàng đến với người đọc thật dung dị, tự nhiên mà sâu sắc, thắm thía ân tình
Trang 383
CHUONG 2
NHAN VAT VA KHONG GIAN NGHE THUAT
TRONG VAN XUOI LE VAN THẢO
2.1 THÊ GIỚI NHÂN VẬT - CHÂN ẢNH CON NGƯỜI NAM BỘ QUA BƯỚC NGOẠT THỜI ĐẠI
2.1.1 Con người trong chiến tranh - sự song kết giữa bình thường
'và cao
Nhân vật trong những tác phẩm viết về chiến tranh của Lê Văn Thảo
có phẩm chất của một người anh hùng mặc dù được tái hiện ở mức độ đậm
nhạt khác nhau Đó là kiểu người anh hùng - con đẻ của dit cay va song nước
Ở những nhân vật này, cái anh hùng hòa lẫn với cái bình đị, sự cao cả hiện ra
dưới vẻ thân thuộc, gần gũi, chất phác, tự nhiên
Viết về đề tài chiến tranh, Lê Văn Thảo đã xây dựng con người gắn với trách nhiệm về sự nghiệp vĩ đại của dân tộc Chiến tranh, trong tâm thức nhà văn, “giống như một thứ thuốc thử cực nhạy để con người hiện lên hết màu
hết nét Chiến tranh không có chỗ cho sự trả giá nương náu Cái gì ra cái nấy,
chẳng thể lập lờ đánh lận con đen Cái cao cả, cái thấp hèn, cái trung thực, điều vị tha và sự độc ác bao giờ cũng được bộc lộ đến cùng” [41, tr 178] Có
khác chăng là trong chiến tranh con người phơi bày bản chất của mình ra nhanh chóng hơn lúc bình thường,
Đồng chí tái hiện khoảnh khắc để nhìn nhận, đánh giá đến tận cùng bản chất con người Chỉ tiết Thanh Quang kê vai làm ván cho Ba Tuấn vượt qua 'bờ tường tiếp tục trận đánh làm sáng bừng lên vẻ đẹp phẩm chất của người chiến
š Để rồi, mấy chục năm sau, mọi kí ức lại hiện về vẹn nguyên, tươi ròng trong nhân vật Sững sờ và thoảng thốt, Ba Tuấn nhận ra chính người 'bạn này, “trong đêm tối không nhìn rõ mặt, không biết tên tuổi, quê quán đã
chịu gầy một xương vai đưa anh vào trận đánh” [69, tr 49] Bường trong
Trang 3935
Đêm Tháp Mười cũng là một con người như vậy Trong trí nhớ của anh, chiến
đấu với kẻ thù là những chuyện rất đỗi
đầu, nỗ tung như một chiếc bong bóng” [69, tr 39] Trong hoàn cảnh gian
khổ, khắc nghiệt, người lính vẫn luôn nêu cao tinh thần, ý chí quyết tâm, như
ngày lên đường nhập ngũ, họ đã từng căn dặn nhau: "Mình ngho, theo cách mạng phải theo cho chí cốt, sao khỏi xấu hỗ với làng xóm quê hương” (69, tr 45},
'Trách nhiệm đối với sự nghiệp vĩ đại của dân tộc còn được Lê Văn Thảo thể hiện ở thái độ bắt khuất, can trường của người chiến sĩ khi bị giặc bắt
đồ được tác giả tái hiện chân thực va sinh động qua tỉnh huống nhân vật
Thêm đối diện với cai ngục trong truyện ngắn Agưởi tử số 92 Đó là khí
phách, là đức trung kiên, là sức mạnh ý chí
của người chiến sĩ cách mạng, trước kẻ thủ Câu chuyện về nữ chiến sĩ biệt động không tên tuổi (Một ngày
và một đời) vẫn còn ám ảnh người đọc bởi sự hy sinh thầm lặng mà cao cả
Nhân vật là một người phụ nữ tháo vát, có nhiều nét tương phản, vui buồn bắt chợt, “đang cười nói bỗng ngưng bặt, mắt nhìn lo âu trầm lắng, khẽ thở ra một
hơi đài lặng lề" (69, tr 497] Nhưng điều quan trong là nữ chiến sĩ ấy rất
quyết đoán và dũng cảm khi làm nhiệm vụ Được
giờ nỗ, chi tính toán thật kì
day ra sao, làm sao giấu các đầu mối, phải tính thật kĩ, thời gian từng phút,
tính từ bây giờ ” [69, tr S00] Một trận đánh cường tập của biệt động không được kéo dài quá năm phút, nhưng thật khó có thể tính trước những việc sẽ
xây ra Bàng hoàng và lo lắng khi nhận lệnh phải vô gỡ trái đem ra, bằng bắt
Trang 4036
cứ giá nào, vì lệnh trên sẽ đánh lớn, đánh đông loạt, không đánh lẻ mẻ, chị
không thể làm khác Đặt trái đã khó, không cho trái nỗ còn khó gắp trăm lần Căng thẳng, hồi hộp lại một lần nữa thử thách con người Để có thể thâm
nhập vào tòa nhà, nữ chiến sĩ đã giả làm gái làng chơi, lần tới chỗ khán đài gỡ sợi đây điện, liều thân cho chúng “vầy vò đùa giỡn” Chỉ tiết này không mới
đối với công việc của bất kì nữ biệt động nào, nhưng hẳn người đọc vẫn còn
day dứt mãi về hình ảnh thảm thương của nữ biệt động: “người nồng nặc mùi
rượu, tóc rối bù, quần áo rách bươm, mặt mày tay chân trầy suế, đầy vết thâm
tím” sau khi chị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Án tượng sâu đậm và có sức cảm động lòng người nhiều hơn cả là khả năng kìm nén nổi đau đớn về thể xác để bừng dậy khát khao sống, duy trì su sống và đầu tranh của con người Bường (Đém Tháp Mười) đã phải chịu biết
bao trân hành hạ đã man, đánh đập tàn tệ vì quyết không di lính cho giặc Bị
ếc trực thăng diễu qua diễu lại trước dân
chúng treo người dưới bụng chỉ
chúng, những lúc không thể cưỡng lại được cơn dau tân xương tủy, Bường
chỉ muốn chết di dé giải thoát Nhưng không, lòng căm thù đã biến thành sức mạnh: “Nhiều lần muốn chết đi tôi lai cua quay cho tinh lại Ta phải sống, nợ
máu phải trả bằng máu” [69, tr 333] Ti
đội truéng Chin Son (Hop mặt
trung đoàn), trong trận đánh vào một chỉ khu kiên cổ, đầy đủ hào ụ kẽm gai
vòng trong vòng ngoài, đã bị thương cả ở tay và chân, nhiều lần ngất đi nhưng
vẫn còn cằm chắc súng Trong cơn mê man bất tỉnh, khi nghe đồng đội hô
“bắn”, anh lại bật dậy siết chặt cò súng như có một sức mạnh khủng khiếp đang Ấn tàng trong v6 thức Đó là những minh chứng cho thấy: “Chiến tranh
cách mạng giống như một ngọn lửa thử vàng, trong đó mỗi con người đều bộc
lộ một cách rõ nhất, đúng đắn nhất, trắng đen rò ràng, không thể có sự vàng
thau lẫn lộn” [58, tr 42]
Trong Con đường xuyên rừng, Vinh đã dốc hết sức mình để chiến