1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn: Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1975

107 7 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 17,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 tiến hành nghiên cứu quá trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Trần Đăng Khoa; cái tôi trữ tình trong thơ Trần Đăng khoa sau 1975, những nét nổi bật của nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1975.

Trang 1

BO GIAO DUC VA DAO TAO

ĐẠI HỌC ĐÁ NẴNG

THE GIỚI NGHỆ THUẬT

THO TRAN DANG KHOA SAU 1975

Da Nẵng, Năm 2012

Trang 2

LOICAM DOAN

Tải cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sai công bồ trong bắt kỳ công trình nào khác

Tác giá luận van

"Hồ Thị Thu Thanh.

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

4, Phương pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc của Luận văn

“Chương I- QUÁ TRÌN

SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

1.1.1 Vài nét về quê hương, gia đình và tuổi thơ 9 1.1.2 Sự nghiệp sáng tác qua các thể loại = 13

1.1.2.1 Thơ: Từ "Góc sân và khoảng trời" đến "Bên cửa số máy bay” và

1.1.2.2 Tiểu luận và phê bình văn học: "Chẩn dưng và đái thoại”, 17 1.1.2.3 Văn xuôi: “Đảo chim”, “Người thường gấp” 2I

1.2.1 Quan niệm về nhà thơ và trách nhiệm của thơ ca 24

Trang 4

‘Chuong 2- CAL TOL TRO TINH TRONG THO TRAN DANG KHOA

SAU 1975

2.1 Cải tôi trữ tỉnh tiếp tục mạch từ "góc sân" đến "khoảng trời”

2.1.1 Cái tôi chân chất, đôn hậu và đằm thắm

212.C

2.14 Cái

gắn bổ sâu nặng với lãng quê và ví

sử thỉ hướng đến những "khoảng trời" bao la của

Tổ quốc

2.2 Cải ôi trữ tỉnh "hát niềm sự lính”

2.2.1 "Bign mot bén va em một bên"

2.22 "Ta ngự giữa đình trời, canh một vũng biên ai

2.3 Cải tôi trữ tình tải nghiệm và giảu suy tư =

“Chương 3 - NHỮNG NÉT NỘI BẬT CỦA NGHỆ THUẬT

‘THO TRAN DANG KHOA SAU 1975

3.4.1 Giọng trữ tỉnh thiết tha đằm thắm

3.4.2 Giọng hóm hình tỉnh nghịch, đậm chit lin

3.4.3 Giọng suy ngẫm sâu lắng

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIÁO ĐÊ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 5

MO DAU

1 Lído chọn đề dài

1.1 Trần Đăng Khoa là một hiện tượng của thơ ca Việt Nam đương đại Nỗi tống như một thần đồng thơ từ năm tắm tuổi, thế nhưng điều đáng quý là Trên Đăng Khoa vẫn Ếp tục hành trình cuộc đời và nghệ thuật của mình một cách tự

tin đã "phải mang cả một cây thánh giá trên lưng” Sau năm 1975, khi nhả thơ đã bước vào giả đoạn trường thành, người đọc vẫn thấy được một Trần Đăng Khoa sắc sảo, thông mình và tả hoa, Không chỉ giới hạn ở địa hạt của thơ ca mã côn

"lấn sản" sang thể loại văn xui và tiêu luận phê bình

1.2 Tuy nhi, với Trần Đăng Khoa, sự chờ đợi của mọi người trước hết vẫn muốn thấy được sau thời niên thiểu "từ góc sân nhà em” đến với những "khoảng trời" bạo la của Tổ quốc, thơ Trân Đăng Khoa có hay hơn không, có còn hip dẫn như trước không! Nghĩa là, một cách tự nhiên, người ta quên rằng Trần

"Đăng Khoa không thể mặc mãi chiếc áo của ngày thơ bé Vinh quang thời niên thiểu có thể làm khổ anh, như Trần Đăng Khoa đã có lần tâm sự, nhưng không

“Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió để canh gt biên cương Tổ quốc và nhiều vẫn

thơ Khie gin gũi với cuộc sống thưởng nhật hôm nay Qua đó, chúng ta có thé thấy được sự vận động và phát triển của mộttải năng thơ thực sự trong tiến trình đổi mới của thơ đương đại Việt Nam,

Đó cũng là lí do vì sao chúng tôi chọn "Thể giới nghệ thuật thơ Trần Đăng

“Khoa sau 1978" làm đề

li nghiên cứu cho luận van này

2 Lich sử vấn đề

Trang 6

Đã cĩ nhiều bài báo, bài phê bình tiểu luận, những cơng tình nghiên cứu của nhiều người, trong đĩ cĩ những cây bút tên tuổi viết về Trần Đăng Khoa Điều đĩ là hiển nhiên, bởi lẽ chỉ một Trần Đăng Khoa vốn được biết đến như một "hẳn đồng” thơ Đẳng thời, Trần Đăng Khoa cũng đã tùng làm xơn xao

đời sống văn học một thời gian bằng sự xuất hiện của "Cham dung vi đố

thoại" Tuy vậy, phần lớn những bài vi

Trin Dang Khoa thai nign

và khộng tời" và màng văn xuơi, iu luận phê bình của anh,

"Bản về thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, theo khảo sắt của chúng tối, số lượng

Đi viết Khơng nhiều và những ý kiến nhĩn nhận, đánh giá cũng khá khiêm tốn Tuy nhiên, vẫn nhân ra từ những bài viết này một cái nhìn khách quan và đầy trân trọng đối với những sáng tác thơ của Trần Đăng Khoa trong giai đoạn sau, khi anh đã bước vào tuỗi trưởng thành, lâm một nhà thơ < người lính - nhà bảo

về sức hắp dẫn của những bai tho trong "Gĩc

,đầy ý thức và trách nhiệm cơng dân

Dù cĩ ý kiến cho rằng “Danh hiệu thần đồng thơ trẻ của nhà thơ thời thơ ấu

"hơng hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời về sau khi nhả thơ tham gia

nhập ngũ, theo học ở Nga, khi về nước lâm biên tập viên, làm bo Thị hững một

thời khơng là động lực cho xúc cảm khi tác giả đã cao tuơi "[22, tr 81] thì chúng

tơi vẫn đưa ra quan điểm: ba giai đoạn sắng tác của Trần Đăng Khoa trước và sau 1975 khơng thể khơng được nhìn nhân trong một mỗi liền hệ hữu cơ, trong srkế thừa, phát iển Vì vậy, chúng tơi đã tập hợp những ý kiến đánh giá về thơ

‘Trin Đăng Khoa nĩi chung trong cả ai giai đoạn sáng tc, đặc biệt là những bài viết trực iếp bản về thơ Trần Đăng Khoa gii đoạn sau 1975 để tìm hiễu lịch sử

vấn đ, qua đồ cĩ thể xác định một hướng tiếp cận phủ hợp cho luận

mầu mỡ thụ hút nhiều cây bút thuộc nhị

Hữu dành cho nhà thơ thiểu nhĩ này, chỉ tính viêng trong những bãi viết gằn đây, ta cũng đã để đàng nhân ra một sự quan tâm đậc bit của những nhà nghiên

Trang 7

cứu, của người đọc đối với những bài thơ đã có mặt trên đồi từ bốn mươi năm trước, khi tác giả của nó chỉ là một cậu bé, Đọc bài viết của Lê Thiếu Nhơn có tựa đề "Trần Đăng Khoa lio dao vé mién thi ca”, ta có thể nhận ra đồ một cải nhìn khá sắc sảo và một thái độ cẳn trọng và rất công tâm của người iết phê

một cái bóng lồng lộng trên mỗi bước đi chim chap Sáu mươi sáu bài thơ trong

tc phẩm đầu tay được Trân Đăng Khoa dán cái nhăn "made in Thin Ding" bay khắp hang cùng ngõ hẻm của dắt nước Việt Nam những năm cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ và những năm đầu thống nhất giang sơn” [36]

Trong bài viết "Trần Đăng Khoa - nhà thơ thiểu nhỉ" của tác giả Trần Thiện Khánh trên Phong đi net, thể giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiểu được nhĩn nhận và phân tích bằng một cái nhìn khá tỉnh tế "Trần

"Đăng Khoa không phải mắt công tim kiểm chấtliệu để đắp xây thể giới thơ của

"mình Thỉ sĩ tẻ con có sức mạnh kéo cả cấi vòm tời guê hương xứ sở vào thơ

"mình Thơ cậu bé Khoa, vì vậy, mênh mang gió và lo xao mây ti Thơ Trần Đăng Khoa vừa dân gian vừa hiện đại Hiện đại ngay rong vẻ dân gian [33] Dinh Quang Tôn, người ắt tâm đắc với thơ Trần Đăng Khoa và đã có nhiều

bài

“Hiện tượng thơ Trần Đăng Khoa lúc còn nhỏ là một viết về thơ anh tập hợp trong cuỗn "Án tượng văn chương đã cho rằng

ên tượng đặc bit trong

fn tho nude ta từ xưa đến nay, cũng là hiện tượng hiểm hoi của thơ thể giới 0,68]

Ngô Ngọc Tiên trong tập" Truyện RỂ về các nhà ăn Việt Nam"

khoảng trời” đã vượt qua nắng mưa và giông gió, đã vượt qua hào hứng và thờ

quả khích, để hôm nay kiêu hãnh

.g, đã vượt qua cả kiểu khen quá lý

thách thức lớp người đèo bỏng thi tứ kế cận"[22, tr 83]

Khắc với những nhà thơ xuất hiện trong khẩng chiến chẳng Mỹ, bai giả đoạn sáng tác thơ trước và sau 75 của Trần Đăng Khoa ứng với hai chăng đường

Trang 8

đồi của anh: thôi niên thiểu và thời kì trở thành người lớn Mốc thời gian 1915 không chỉ đảnh dẫu sự chuyển mình của dân tộc mã còn là thi điểm đánh dẫu srtrưởng thành của Trần Đăng Khoa Nghĩa là sự thay đổi trong bút pháp, trong căm hứng nghệ thuật với nhà thơ là điều tắt yếu Một nhà thơ, nhà văn thực sự

cổ tải, bút pháp của họ bao giờ cũng vừa thống nhất, vừa vận động phát triển, đã

dạng và không ngờng đổi mới Theo Dinh Quang Tốn "Từ năm 1975, thơ cia

“Trần Đăng Khoa có thời kỳ ching Iai Có phải anh lúng túng khi tâm lý lứa tuổi đối khác? Hoặc bỡ ngỡ vì môi trường sống thay dồi, bay vì anh ngập ngừng trong thủ pháp thể hiện? Sau thành công của thời niên thiễn, moi người đều

“Trong bài viết có tựa đề "Thơ Trầm Đăng Khoa dời kỉ trường thành" trên QDND online ngiy 16 thing 6 nim 2011, Nguyễn Đình Xuân đã đưa ra những

nhận xết khả thuyết phục " Những giọt mưa thơ của anh vẫn d

đọc, vậy mà bao người cử nÏ

thời hiểu nhĩ, chỉ lã bóng của mình? Tôi không nghĩ thé Tein Đăng Khoa vẫn là cây bút thơ tải hoa khi tuổi trưởng thành Không nhiều người vượt qua anh trong mấy chục năm nay khi viết về vùng đồng bằng Bắc Bộ Nỗi bật nhất

ới thơ Trần Đăng Khoa viết ở ỗi trường thành là máng thơ viết về bộ đội, về

cuộ chiến trình bảo vệ Tổ quắc [39]

Giới thiệu “uyấn tập thơ Trầm Đăng Khoa", trong bà vi

Trần Đăng Khoa", shi vin Đình

Trang 9

ting tho Trin Đăng Khoa có hai phần, phần rảơ trẻ con và phần dhơ người lớn

“Tôi không nghĩ có sự rạch rồi đứt đoạn như vậy Đọc thơ anh, tôi nhận ma sự đồng nhất iễn mạch trong cảm xúc, trong suy trổng và cả sự iỂn mạch rong cách diễn đại, cách ni, cách kế, cách cấu rúc thơi.(mã các nhà ĩ lun vẫn gọi

là th pháp) Có điều phần thơ sau này, ý tứ sâu xa hơn, thâm hậu hơn, nhuần nhị

"hơn, và bởi thế nói được nhiều điều hơn Căng không thể nói thơ Trần Ding Khoa viết khi còn nhỏ hay hơn thơ viết hi anh đã lớn Nhận định như vậy là chủ quan, thiếu công bing Mang thơ sau này của anh, đặc biệt là mảng thơ viết

VỀ người lính khi anh là người lính, và mảng thơ viết về nhân inh thé ghái khá đặc sắc vàcó nhiều đồng góp A1, 10]

“uy nhiên, vẫn có thể bắt gặp tong một số bãi viết những nhận xét tái chiều với những quan điểm nêu trên Hà Văn Thuy trong tập Tiểu luận "Góp với văn đàn” đã đưa ra những ý kiến của mình " Ba mươi năm trước, Trần Đăng Khoa xuất hiện như một thần đồng Giữa những đứa trẻ làm thơ lúc đó, Khoa

"mình Từ ngày đó, đưới cái tên Trần Đăng Khoa, tôi lặng lẽ gắn tắm biển: Di tích đã xếp hạng! "[29, tr 110] Cũng cần hiểu rằng sự đánh giá của Hà Văn Thuỷ không phải là thái độ phủ định, Người viết đã dùng phương pháp "đòn bẫy" quen thuộc để qua đỗ khẳng định một thành công khác của Trần Đăng Khoa - 3p "Chan dung và đối thoại' ng của anh

"Những mặc nhiên vượt lên trên những lõi khen ch, thơ Trần Đăng Khoa vẫn

là một phần không thể thiểu của cuộc sống hôm nay, di thi din nữ rộ bao nhiều

sương mặt mới, bao nhiêu giọng thơ phong phú Những ý kiến đánh giá về thơ

anh cho,

¿ sự quan tâm cũa người đọc đành cho Trần Đăng Khoa không phải

xi anh là người nỗi tiếng mã bởi anh là một nhà thơ có chỗ đứng chắc chin trong làng người

Trang 10

Những bài iết được tập hợp ở đây đã cho ta một bình dung về thơ Trần

"Đăng Khoa dù chưa thật đấy đủ Nhưng dễ thấy những bà viết đó còn khá rồi

“ae, mang tính thụ cảm cá nhân, chưa thành một hệthồng Tiếp nhận có chọn lọc những ý kiến trên đây, vẫn cần lắm một công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu tho Tein Ding Khoa sau 1975 với tự cách là một hiện tượng văn chương để nhịn nhận vã đánh giá một cách thấu đáo và đầy đã hơn

3, Đối tượng, phạm vĩ nghiên cứu,

3.1, Doi tượng nghiên cứu

Tuân văn tập trung tìm hiểu thể giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau

1915 bao gồm các phương điện như quan điểm nghệ thật, đề ti, cảm hứng, cãi tôi trữ tỉnh và phương thức biểu hiện

3.2 Pham vỉ nghiên cứu

Luận văn chủ yếu khảo sắt tập thơ "Bên của số máy bay" (1986) của Trần

"Đăng Khoa và những bài thơ khác sau 1975 được in chung trong "Tuyền tập thơ Trần Đăng Khoa” xuẫt bản năm 2003

"Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu không thể không tiếp cận một cách toàn

diện sáng tác của Trần Đăng Khoa và một vải ác giá khác có liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

= Phương pháp phân tích tổng hop: Phuong php này được sử dụng thường

xuyên trong khi tiền hành nghiên cứu để phân tích những vấn đề cụ thẻ được đặt

ra, trên cơ sở đó, út ra những nhận định khái quất

~ Phương pháp tiếp cin lệ thẳng: Phương phập này được sử đụng nhằm tập

"hợp những dẫn chứng, những tr liệu đầy đủ cho đề ải, tao sự thẳng nhất đa dạng, khi đi vào làm sáng tò những luận điểm; đồng thôi để xây dựng một cấu trú luân văn họp lý

~ Phương pháp so sánh: Vận dụng phương pháp này đễ có những so sánh,

đối chiếu cần hit nhằm lầm nỗi bật sự thống nhất và phát tiễn giữa hai gi

đoạn thơ của chính tác giả và giữa Trần Đăng Khoa với với các nhà thơ khác.

Trang 11

= Phicomg php thdng ké: Khảo sắt thống kê các hiện tượng nghệ thuật, các đơn vị tác phẩm để từ đó khái quất lên các đặc điểm thể giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa

Luận văn còn sử đụng lý thuyết thỉ pháp học trong việc tìm hiểu thể giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa

5 Cấu trúc luận văn

"Ngoài phần mở dẫu và kết luân, luân văn gdm 3 chương:

“Chương 1- Quá trình sắng ác và quan niệm nghệ thuật của

Trần Đăng Khoa

“Chương 2- Cải tôi rữ tỉnh trong thơ Trần Đăng khoa sau 1975

“Chương 3- - Những nétnỗi bật của nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa

sau 1975

Chương I

QUA TRINH SANG TAC VA QUAN NIEM NGHỆ THUẬT

CUA TRAN DANG KHOA

Trang 12

1.1 Quá trình sáng tác

11.1 Vài nết về quê hương, gia đình và ổi thơ

“Trin Đăng Khoa sinh ngày 26.4.1958, là con thứ ba trong gia din bin ning

6 ling Điễn Tr, xã Qube Th

Kinh Thầy" [19, tr 7] Đó là những lõi mỡ đi

"Chân dung tự họa” của chính nhà

người đã đặt câu hỏi: Yêu tổ nào đã lâm nên một “thin đồng thơ tượng” Ngoài một tải năng thơ ca thiên phú, chắc chấn gia đình và quê hương là những yếu tổ quan trong đã có ảnh hưởng trực iếp đến hồn thơ Trần Đăng Khoa

Lê Thiểu Nhơn đã từng băn khoăn “Quê nhà bé bỏng của Trần Đăng Khoa chẳng khác chỉ những vùng đất lam lũ dọc theo đất nước ta chứ có phải địa linh gì đâu để úng nấu khát vọng nhân kiệt?" [36] Nhưng chính mái nhà gianh "/iếm bao mươi

“ắng” nơi vũng quê chiêm wing Bắc Bộ ấy đã cho Trần Đăng Khoa những xúc cảm

thơ ca đầu tiên, để từ đó “con bướm vàng ” thời thơ ấu của nhà thơ đã chấp chới bay

Tên và rồi đã biết bay xa Trong suốt cuộc đời mình, nơi nhà thơ nặng nợ nhất, gần

"bó nhất vẫn là mảnh đất quê hương nơi có gia đình yêu thương và tuổi thơ với bao

kỉ iệm Không thể nào quên Ngay từ buổi đầu ên, đồng sông Kinh Thầy hiền hòa

48 di vio thơ Trin Đăng Khoa một cách tự nhiên trong một mỗi liên hệ hữu cơ bền chất giữa người làm thơ và nguồn mạch quê hương mình Người mẹ nông dân của

“Trần Đăng Khoa không bÈ nghĩ ắng, chính bà là người đã gieo vào tâm hồn con trai những hạt mầm thơ ca đầu tiền bằng những câu hát ru, những lời ca dao, những,

ắc mẫu thần thoại

:chuyện kế dân gian đẫm tin giản đị của người mẹ vào mối liên hệ tự nhiên giữa con người và vạn vật đã cho cậu bé Trần Đăng Khos những bài học

Trang 13

hậu, trong trẻo, hồn nhiền và tỉnh tổ Sau này khi đã trưởng thành, Trần Đăng Khoa vẫn không nguôi nỗi niềm về mẹ, bi với nhà thơ, người mẹ giả nhỏ bể c nhà là sợi đây neo giữ cánh diều bay bồng, là phần hồn quê thắm đăm nuôi dưỡng

âm hỗn nhà thơ qua bao biển động của cuộc đời

quê

“Gia đình với bả, ba mẹ, chị gái và người anh thỉ sĩ cùng cô em út tên Giang,

ih ảnh đã vào thơ Trần Đăng Khoa nhỉ

"Bởi trong hình dung của một cậu bé nông thôn, thể giới mở ra từ đồ Trong thơ Tran nhất Đó là một lẽ tắt nhiên

+ nhất là cô bé Giang được anh ri yêu quý nhất Nguồn cảm,

"hứng trong thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiểu đã bắt đầu từ những gì gẳ gũi, thân quen như thể

“Thể giới của cậu bề Khoa đã mỡ rông hơn cũng những trang sch chứa bao

“Tủ sách mà người ah cá Trần Nhuận Minh gẫy dựng nên là cả

một “gia tải” đối với một cậu bé ham đọc, ham hiểu biết như Trần Đăng Khoa Nhà

thơ nhớ lại “Em rất biết ơn bác Minh và tủ sách của bác Ấy Em học chủ yếu trong sách Khôn lên cũng nhờ sách Tri thức và trí khôn của loài người đều nằm hết ở trong sách Có sách là có tắt cả Đục cảng nhiều cảng tốt” [31, tr 351] Bằng việc

thời đại Ấy đã bao bọc tuổi thơ hồn nhiên của Khoa, đã tiếp thêm sinh lực để những

vẫn thơ của cậu bé nơi miễn quê nghèo khó có thể vượt qua những lũy tr làng mi đến với bạn đọc tên cả nước và m ngoài biên giới Vẫn với cái nhn trẻ thơ, nhưng,

Trin Dang Khoa đã thể hiện cách suy nghĩ thật sâu sắc về những vẫn đề của

› đân tộc, thôi đi

nồng bỏng, sục sôi, khi máy bay MI đội bom Hà Nội và miễn Bắc, kh chiến trường Nỗi thơ của cậu bề'thẫn đồng” đã di qua tong những ngày

Trang 14

"miễn Nam give giả những đồn người hỗi hà bình quản Thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiểu đã tếp nhận được cái âm vang náo nức của thời đại để làm nên giọng điệu sử thí hỏa vào trong bản đồng ca của thơ ca thời chống Mĩ, dù tác giả của những bài thơ ấy vẫn cơn là một đứa trẻ mục dây trê áo, ngày ngày mũ rơm đến

ing, yeu tố thời dy

lớp với bạn bè củng trang lứa Như vậy cĩ thể m

ng đã gĩp phần lm nên nhà thơ Trần Đăng Khoa

Tâm tuổi, vừa say mê với những tr chơi tuổi thơ như bao đứa trẻ khác,

Tả

quang thần đồng nếu khơng cĩ những tắm lịng biết ning niu vi vun dip ti năng,

Đăng Khoa cịn say mẽ làm thơ Sẽ khơng cĩ một Trần Đăng Khoa và ánh hảo

nếu thơ ca ngày ấy khơng được đĩn nhận một cách nằng nhiệt Trần Đăng Khoa

"mãi biết ơn người thảy lớn của mình là nhà thơ Xuân Diệu Bing sự từng tải và shay cảm tỉnh tế của một hẳn thơ lớn, Xuân Diệu đã phát hiện và hết lịng chăm, chút để năng khiếu tri cho của Trần Đăng Khoa cĩ thể phát triển thành tả năng

của một nhà thơ thực sự Trong,

Thân dụng và đối thoi", Trần Đăng Khoa tâm sự

*Tơi đến với thơ hồn nhiên như em bé đến với tỏ chơi Nhưng khi gặp Xuân Diệu,

thì tơi hiểu được rằng, thơ ca khơng bao giờ là trị chơi cả Nĩ là một cơng việc sáng

tạo cực nhọc, Cĩ thể nĩi may mắn cho đời ơi là tơi đã sớm gặp Xuân Diệu Tơi

luơn biết mình là một người học trị nhỏ bé của ơng” [19, tr 29} Cĩ thê nĩi Trân

ing Khoa đã võ cũng may mắn khí được bắp thụ một bầu khơng khí thơ ca lành

"mạnh và được lọt vào mắt xanh của những bộc tiền bối trong làng thơ như Xuân Điệu, Tổ Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viêo Trong số những bạn nhỏ làm thơ cùng thời như Nguyễn Hồng Kiên, Cảm Thơ, Khánh Chí, Phan Tuy An Trần Đăng Khoa là người đã đi xa nhất Hẳn đĩ cũng là một may mắn của nền thơ Việt Nam hiện đại?

1g Khoa di chia sé vi ban

ấu, Trin

Dù sau này, khi hồi tưởng lại thời th

bề nỗi buỗn vì "khơng cĩ tỗi thơ", bởi “ánh hảo quang của niềm ngưỡng mộ lớn

lao từ hàng triệu độc giả đã ơm chộng lấy anh từ khi mới vào lớp một” [38] th ta vẫn cứ tỉn rằng: Nếu được tở lại những năm thắng xưa, cậu bề Trần Đăng Khoa vẫn chọn thơ, vẫn lầm thơ như một điều khơng thể khác Tuổ thơ dẫu Khơng bình lang, dẫu nhọc nhẫn thì vẫn cứ là hạnh phúc Bởi thơ ca là mĩn quả vơ giá mà cuộc

Trang 15

đồi đã tao tăng cho câu bể chốn qué nghéo, để bạn đọc bao thể hệ nay có một “thin đồng” đễ ngưỡng mộ và mễn yêu

Mười bẩy tổi, kh vừa học xong lớp 10, Trần Đăng Khoa đã xung phong nhập ngủ bởi "những trang giấy cứ cần lên trước mãt/ Đường hành quân dẫn đến

“mọi chân trời "(Thu th) Tạm biệt tuổi thơ, Trin Đăng Khoa trở thành người lính, với ước vọng nung nẫu được cùng đồng đội trực iếp có mặt trê chiến trường đánh

i thing mia xuin 1975 huy hoing Dit nhưng Trần Đăng Khoa vẫn tiếp tuc cuộc đời quân ngữ, ở thành

‘MI Nhung chẳng lính trẻ đã không kịp dự trận cuối cũng Cuộc chiến tranh c†

Xi kếo dài hai mươi năm kết thúc 1g chi

Co thé đễ dàng nhận ra, quê hương, gia đình, thời đại ắt cả đều đã in dấu

trong tho Trin Đăng Khoa, đã cũng nhà thơ đi qua những năm thing tdi thơ trong sáng Và sau này, khi đã trưởng thành, Trần Đăng Khoa vẫn thủy chung với thơ ca như thủy chung với nơi chôn nhau cắt rốn Chính vì thể, muốn tìm hiểu thơ Trần

"Đăng Khoa trong giai đoạn sau 1975, không thể không trở về với những yếu tổ làm,

sên căn cốt lịnh hồn của thơ Trần Đăng Khoa một thời đã qua Hơn nữa, sự phân

chia hai gai doan trong sing tác của nhà thơ cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi

đã trước bay sau, rẻ con hay người lớn thì với Trần Đăng Khoa, vẫn chỉ một nơi chốn để trở về sau những chuyển đã xa và cuộc đời cũng như hành tỉnh thơ ca của

một con người luôn là sự kế thừa và tiếp nổi

1.1.3 Sự nghiệp sáng tác ga các ti gi

Trang 16

1-2 Thơ: Từ “Góc sân và khoảng trời” đến “Bên cửa số máy bay” và Tuyển tho Trin Đăng Khoa

‘Trin Ding Khoa đã tự khẳng định mình bằng những thành công trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, danh hiệu "Nhà thơ” vẫn là danh hiệu xứng đáng nhất mà Trần

Đăng Khoa đã mang từ thời hơ ấu đến hôm nay, khi đã là một người đần ông từng

Tấm tubi, Trin Đăng Khoa đã có thơ đăng báo Tập thơ dẫu tiên tình làng khi câu bề Khoa vừa tròn mười muỗi tôi mang tên "Từ góc sân nhà em” (Nhà xuất bin Kim Đồng), Tập thơ gầm 20 bài thơ Trần Đăng Khoa chọn và gửi tăng Chủ ich

Hồ Chí Minh nhân dịp sinh nhật Người - 19/5/1968 Hai mươi bài thơ nhỏ nhắn,

đăng yêu mở ra cả một thể giới tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên và tong sáng Bài thơ đầu tay “Con ðướm vàng” được làm tong một khoảnh khắc ngẫu hứng của cậu bế

tám tuôi đã đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên và chói sáng của một “thần đồng”: “Con

‘usm vàng/Bay nhẹ nhằngArên bờ cỏfem thích quả/em đuổi theo(nô vỗ cảnh/sút lên cao " Bài thơ giản đơn như thể không có gì, nhưng lại khiển người đọc ngỡ ngàng

thích thú, vì trong đôi cánh của con bướm nhỏ, qua cái nhìn đõi theo của cậu bé, người đọc nhận ra cả một tuổi thơ đã qua đi không bao giờ trở lại của mình Những Bài thơ có mặt trong tập thơ đầu tiên sẽ trở lại trong tập thơ thứ hai của T

ngày đảnh Mĩ ác liệt, giọng thơ trong trẻo, hồn nhiên và sôi nổi của Trần Đăng

"Khoa như một nguồn sống, một nguồn lực tỉnh thằn gieo vào lòng người niềm tin để

vượt lên bom dạn, thử thách Trong rất nhiễu bải thơ gắn liền với cái tên Trần Đăng

Khoa, người đọc nhiễu thể hệ vẫn không thể quên “Hi geo ling ta”, Khong chi vi

Trang 17

lời thơ đã được nhạc sĩ Trần Viết Bích phổ vào đồ giải điều ngọt ngào như vị phủ sa đẳng đắt Bắc Bộ, mà bởi lẽ, qua cảm nhận cũa một cậu bé mười ii, hạt gạo quê

"hương làm thức diy bao nỗi niềm, hat gao tu năng những mồ hôi và cả mầu của

“mẹ, của em trong những thắng năm cả nước ra tận, khi những chẳng ti bồ cây cầm súng, hạt gạo từ hậu phương gửi ra tiền tuyển là những yêu thương, khát vọng,

|, nghị lực "Hạt

00 lồng taleé bao thang bay/e6 mua thing ba/giot mé hai sa/nhiong trua thing

được chất chịu bởi những người phụ nữ làng quê đảm dang, tảo

sáuinước nh ai nẫuchất cả cá cua ngot len bite em xuống cáy " Đọc lại bài thơ trong những ngày hôm nay, di ở một hoàn cảnh khác, vẫn chưa bao giờ thấy hết xúc động Phải chăng đẫy chính là sức mạnh của thơ ca, mã có lš cậu bể Trần

"Đăng Khoa kh làm thơ bằng cái nhị và tâm hồn của một đứa tr, đã không hŠ chủ tâm ý thức về điều đó?

“Trần Đăng Khoa cũng đã thử sức mình ở một th loại tương đối khất khe ~ trường ca ~ ngay từ khi học lớp Bồn Trường ca “Đi đánh thần Hạn” với cái tên bạn đầu là “Trường ca giông bão” mang mầu sắc những truyện thần thoại dân gian

đã được đăng trên tuần báo Văn Nghệ ghỉ đầu thành công bước đầu của nh thơ trẻ son ở một thể loại dưỡng như chỉ dành cho người lớn Dược ếp thêm niềm hứng khởi, Trần Dăng Khoa viếc trường ca thứ bai Hy tên là “Văng quê”, với hình ảnh

"người quê và cảnh quê cũng những phong tục làng quê qua con mắt của một câu bể thành phổ so tin về nông thôn Trong những ngày B52 Mĩ điền cuồng nÉm bom xuống Hà Nội, Hải phòng Trần Đăng Khoa chỉ một đêm viết cả ngàn câu thơ cho bản trường ca mang tên "rừng phạt” "dựng cảnh âm tỉ, địa ngục, những bà mẹ

‘mang thai, những em bé chưa biết

lẫy, những búp bê, ngứa gỗ đoàn người mắt đầu, cụt chân, cụt tay, đi lang thang trong chiều âm ti, tim đến điện Diễm Vương, đập cửa đồi xứ bọn giết người” [19, tr 38] Nỗi đau chiến tranh cuộn xế lỏng người được thể hiện qua cảm nhận của một cậu bé chưa bao giờ đ xa khỏi chốn quê nghèo

‘cia mình đã tạo nên những ám ảnh sâu sắc, Bản trường ca thế tư thật sự đãi hơi vì cũng là tác phẩm tâm huyết nhất của Trần Đăng Khoa ở thể loại này là “Khúc hát

"người anh hằng" được viết năm 1974 với hình tượng trung tâm là Anh hàng Liệt sĩ

Trang 18

Mặc Thị Buổi Lúc này nhà thơ vừa bude vio tuéi mười sáu, và ý thức muốn thay

<i giong thơ trẻ con quen thuộc bằng một giọng thơ mới đã giúp Trần Đăng Khoa

cỗ những sắng tạo khi viết “Khúc hát người anh hằng” Bản trường ca được viễt theo thé tha tw do dan xen vi th lục bát trong các khúc hát một cách lnh hoạt và

nhuằn nhuyễ “Sự mì đời của bản trường ca đã một cái mốc đánh dẫu sự chuyển

biến trong sáng tác của Trần Đăng Khoa Đây là giai đoạn hình thảnh một Trần

Sau "Khúc hát người anh hàng”, Trần Đăng Khoa đã chính thức chỉa ty với

thể loại Trường ca Chỉ đơn giản vì “không có nhu cầu viết đài nữa” [19, tr 42],

“Cũng với thời gian, nhà thơ thiếu nhỉ nấm nào đã trưởng thành Cuộc sông có bao

điều thay đổi, tằm nhìn rộng mớ khi chủ bể năm xưa trở thành người linh Và giấc

mơ của ngây thơ bể đã thành hiện thực khỉ nhà thơ của chúng ta đã được bay lên trên "Khoảng tr" mênh mông của Tổ quốc để từ đồ ngắm nhìn về mặt đt, noi có tốc sân” nho nhỏ thời thơ ấu Tập thơ "Bán cửu số máy bay” ra mắt bạn đọc năm

1985 đã hoàn chỉnh một chân dung mới ~ chân dung của "Trần Đăng Khoa người lớn", Trở thành nhà thơ khoác áo lính, Trần Đăng Khoa đã bằng sự trải nghiệm sâu

e cảm mới để đem lại cho bạn đọc, nhất là những ai đã từng yêu

qu bé tần đồng" nấm xia, những tnh cảm và nhận thức mới mỏ Tập thơ

"hướng đến nhiễu đề ải, nhưng tập trung nhất vẫn là hình trợng người lính ni biên

giới, hãi đảo xa xôi- người lính thời bình, khi *t nước vừa lạm ngưng tiếng súng

hưng sống giỏ, bão tổ vẫn chưa nguôi ~ người linh *rẩn gian nơ là Bom vẫn gi sương làm nhà ” Tập thơ thể hiện những nỗ lực của Trần Đăng Khoa rên bảnh trình khẳng định cái ôi của mình cũ ôi đầy tấn tớ tìm kiểm, không muốn bị che lắp

Trang 19

bối cái bóng hắn đồng lồng lông” của một thời “Bên cấu số máy bay” vì thể mà

đã tr thành đối tượng khảo sắt chính của Luận văn này

Củng với hai tập thơ “Góc sản vi &hoảng trời” và "Bên cứa số máy bay”,

“Tuyén thơ Trin Bang Khoa” (1966 2000) đã được trao tặng Giải thường Nhà nước đợt I nam 2001

1.1.2.2, Téu dn va ph binh vn hoe: Chin dung vd dé thoại

Với bạn đọc, Trin Đăng Khoa đã vã luôn lš một nhả thơ được yêu mễn Thế

nhưng sự xuất hiện đầy ấn tượng của Trằn Đăng Khoa ở một vùng đất mới là phê

Đình văn học đã làm nên một "cơn chấn động” không nhỏ trong đời sống văn chương nước nhà vào những năm cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX Ra đồi năm 1998, tập khảo luận "Chân đụng và đái thoại (Nhà xuất bản Thanh niên) ngay từ đầu đã được độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt và chỉ trong một thời gian ngắn được tái bản đến chín lần ~ một con số gây bắt ngờ!

Theo Trin Bing Khoa, tập Tiểu luận này là một cuỗn sich "bình luận văn

chẽ Cả khen cả chẽ đều thẳng thắn Tất

chương" vi “Cuốn sách đô có khen,

nhiên, ôi iết theo kiểu của tôi Trong đời sng mở ma muôn ngả, có hằng ngân ỗi

đi, cách đĩ nào cũng được, miễn läđi được tới đích và đến được với đồng đão bạn

đọc” [34]

Điều gì đã làm nên sức bắp dẫn của tác phẩm này?

“rước hố, cuốn sách là tập hợp những chân dung nhà văn và những lớp nhà

văn và qua đó người đọc nhân ra chân dung của cả một thời kỉ văn học Chin dung những nhà văn, nhà thơ lớn của thế kỉ XX hiện lên qua ngòi bit sic sio, ti hoa và hhồm hình của Trần Đăng Khoa cực kì sống động và chân thực Viết về Tổ Hữu một cách trang trong, Trin Đăng Khoa khẳng định "Tổ Hữu là người thư kí của cách

“mạng Thơ ông là bi

khắc "Tổ Hữu ngi im lặng Ảnh

bồng dáng nào đó của kd niềm xa mở", Trin Đăng Khoa hình dung ông "như một vỉ

niên sử Cách mạng Việt Nam” Nhưng khi ghỉ lại khoảnh

bổng xa voi ” lye rong trí nhớ tìm lại "một nguyên soái đã giã từ vũ khí, giã từ mọi thứ xiêm áo linh kinh mà tạo hóa đã bỡn

Trang 20

cot khode Ién ông, nhiều khi che khuất cả chính ông, để ông chỉ còn lạ là một giả làng, có phần cô đơn, bề nhỏ, da mỗi, tóc bạc dường như đã quá quen với trận

“mạc, với mọi biển cố, thăng trim của côi đồi dâu b ”, Nhà văn đã đem đến cho

"người đọc một cảm nhận mới về một con người: một nhà thơ quá đỗi quen thuộc và

on lao tong nhận thức của bao thé

Riêng đối với Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa di

của mình với nhà thơ đê dựng lên chân dung nhả thơ ngay trong chỉnh cuộc sông

"hàng ngày, trong công việc “bếp núc” của lao động sáng tao nghệ thuật, để nhận ra những nhọc nhẫn của nghề, những trăn tử của người cằm bút và thấu hiểu khát vong của một “người bộ hành” đã xuắt hành trước mình cả nữa thể kỉ Với Xuân Điệu, thời gian mãi mãi là một ám ảnh không củng Trần Đăng Khoa so sánh trong, Xốt xa khi thấy *Xuân Diệu như bồ xoài trên trang giấy Có lề bồ tôi cây i, chay bão cũng không cực nhọc, khốn khổ như Xuân Diệ

mình” Hình như không mẫy ai như Xuân Diệu, xem việc "cây chữ”, lấy việc lao

về hại!hóc mớ ra cả một phận người, để kh lật gi lạ những trang đời của một con

người trốt mang văn chương làm gánh nặng di trong đẳng đẳng thời gian, qua bao

thăng trầm số phận, người đọc chợt giật mình tháng tất Kết thúc

Phù Thăng, nhà văn viết những dòng như thể *u chuyện về

Su ti * Bắt giấc, lôi nắm bàn tay

ely guộc của Phủ Thăng, lòng mơ hỗ rờn rợn chỉ sợ ở một xó xinh nào đó, sau

làm cay t6i sim kia, ại bắt ngờ cất lên một tiếng gấy ” Ở những trang viết về tác

giả của "Thời xa vắng”, Trần Đăng Khoa khắc họa chân dung xử xì thô mộc của Lê

Trang 21

Lưu một cách kĩ lưỡng, bằng một giọng văn ếu táo, bỗ bã_mã li khiến người đọc

"mãi mê đi theo không thấy chắn Đọc, để có úc bật cười, và cũng có khi chợt thấy

‘amg rung Theo Trin Đăng Khoa, nhà văn mặc áo lính Lê Lựu viết "Thời xa vắng” như cách người Iađi đào mỏ, đào lên tùng "khát vàng rông nguyên chất” để làm rà cuốn tiểu thuyết ôm chữa cả một chặng đường lịch sử oai hùng thông qua bỉ kịch số phận của anh nông dân Giang Minh Si Theo Trần Đăng Khoa hi “Thai xa vắng

như một cuốn tự truyện của tắc giả Lê Lựu đã in qua đậm bỏng dáng của đời mình

xuống trang giấy "'Người đọc nghĩ gì khí chúng kiến cái cảnh "Lê Lưu cười hắc bắc, ồi th đột nhiên anh bỗng im lăng, Gương mặt thoáng buồn rượi Trong khốc

"mắt đã hẳn nếp nhãn của anh, Ẳng âng một cái gì như là nước mắt

"Viết phê bình theo lỗi riêng không lấp la với bắt kì sỉ, Trần Đăng Khoa đã làm một thữ nghiệm táo bạo Nhà văn đã tao ra cuộc đối thoi giữa Người và Ma để

rừng của Thể Lữ Tắt cả là giả tưởng, là bia, nhưng vẫn thấy bị ôi cuốn, vì sức

thuyết phục của những trang văn của Trần Dăng Khoa với lối viết tỉnh quái, hài

"hước không phải ai cũng làm được

“Tạo nên những chân dung văn học của một thời đã qua, Trần Đăng Khoa rất

ý thức khi ghỉ lại, dù chỉ ong vải đường nét, gương mặt tỉnh thin, tinh sing tao của mỗi nhà văn, đặt họ vào trong bầu không khí cái thời ho séng va viết với những, nỗi vui buồn của đồi, cả những thăng trằm của nghề Và qua đó, gọi lên trong lòng người bao điều uy ngẫm,

Sức hip din cia "Chân dung và đối

thos

không chỉ ở bản thân những bức chân dung được vẽ một cách sắc sào bằng ngòi bút tải hoa mã còn ở chính những

vắn đề mà ác phẩm đặt m và đánh thức đậy Theo Hoàng Xuân Tuyển: "Chân dung

và đối hoại rước hết là một cuỗn chân dung cn đối thoại Nó đã sới lên nhiều

vấn đề của đời sống văn học nước nhà nửa cuối thể kỉ XX" [19, tr 338] Cuốn sách

gồm 23 bãi vết, với rắt nhiễu những chân dung lớn nhỏ, kể cả những bậc tiên bối

trong làng văn thơ, Trần Đăng Khoa đã làm cái việc cầ làm, là khen, và chế, một

Trang 22

cách hết súc công tâm, mục đích cuổi cũng vẫn là xác định chân gi tr của các ác giả và những ác phẩm mã bạn đọc hoặc vô cùng ngưỡng mộ hoặc đã vô tỉnh quên lang Trân Đăng Khoa dũng cảm khi đã dám "gác qua một bên sự đề đặt thân trọng và thái độ tự kiểm duyệt đôi khi đã thành thôi quen khó sửa cũa những người làm công việc thẩm định nghệ thuật ở ta” [19, tr 349] Thông qua việc khắc họa

thoại, nha van da ban đến, bàn sâu vào những vấn

luận vốn khô cứng nhưng qua cách th hiện và phân tích của Trần Đăng Khoa,

"mọi cái trở nên sống động và tươi mới Giọng điệu thin mit, hom hình có phần têu táo là sở trường của Trin Đăng Khoa đã làm nên cái duyên của tác phẩm, cũng là

nhất, đấy là Trân

"Đăng Khoa đã viết "Chấn dung và đái choại" bằng tâm lòng của một người cằm bút

xế tổ làm nên sức lõi cuốn đổi với bạn đọc Và điều đáng

đầy ý thức rách nhiệm Tài năng vốn có cùng với sự tải nghiệm trong đồi, trong nghề đã giúp Trin Đăng Khoa tự tin khoe bút lực trên từng trang viết Dù trong

“Chân dụng tự loa", Trần Đăng Khoa đã tự rảo, cũng bằng cấi giọng “ười chơ"

“Bây giờ thì y đã giả và đứt khoát không phải là kể đắc đạo, vậy mã y vẫn phải

‘cong lung, ÿ ach vic cay thánh giá ở tuổi trẻ con”, thi người đọc vẫn nhận ra tử tác

phẩm một Trần Đăng Khoatnh tẾ và su sắc, ải hoa và từng tái, không cần phải mượn đến cá bóng thần đồng năm xưa để tỏa hảo quang

11.13 Vân suối: “Đảo chìm”, “Người thường gặp”

.Đảo Chùm là tác phẩm văn xuôi thứ hai của Trần Bing Khoa, sau Chdn dung

và đối thoại Cùng với Chân dụng và đối hoại, Đảo Chìm trở thành một hiện

tượng, được tải bản liên tiếp trong nhiều mm tr

“Tác phẩm gồm hai phần: Phần 1: Dao Chim va Phẩn 2: Thời sự và kí ức "Mỗi phần

Trang 23

thanh xuân của mình, khi còn là anh lính Hải Quân binh Nhì Và sau này, nhà thơ luôn tr lại với Trường Sa, không chỉ trong những chuyển hành trình vượt biển rà với đảo, mà còn bằng nỗi nhớ khắc khoái hiện lê trong những trang văn đầy ám

nh mà nhà văn đần anh Lê Lựu phải thốt lên là “Thần bát” "Viết Đáo chìm, Trần

Đăng Khoa đã trả được món nợ tỉnh thẫn với những người đã đùm bọc, sắt cánh với Khoa trong những năm anh là người lính bải guân và cõ mặt ti tên iêu Trường Sa nông bỏng Và Đão ch lửa cho biết bạo lớp trẻ trong hơn ba thập kỹ qua

và sẽ côn nhiễu năm nữa tiếp tục vững vàng trước thử thách quyết lit” [37] Di đặc biệt tác phẩm này là tắt cả những cầu chuyện được kể đều thật - thất như sóng

thật việ thật những vẻ đạp của sự sống và những bỉ

và gió biển Trường Sa Nạ

ảnh của người lính là tất thật đến ứa nước mắt, thật đến xót lồng Nhà văn chỉa

sẻ "Khi đồi sống tự nỗ đã là một vẻ đẹp rồi thì người viết không cằn phải thêm tất,

"hư cầu Tôi chỉ có một cố gắng nhỏ, là vua vên lại cho gọn, kế sao cho thật hắp dẫn” [37], Trin Đăng Khoa gọi Đảo Châm là "Tiêu thuyết mỉ nỈ”, vì dùng lượng tác

phẩm chỉ vỏn vẹn 100 trang với 15 chương, mỗi chương là một câu chuyện độc lập,

sö những chuyện chỉ có vải trăm âm tiết Nhưng mỗi câu chuyện là một mình, một khắc, một dấu ấn Trường Sa vĩnh viễn n vào tri tim người, cả với những si chỉ đọc tác phẩm đã chỉ một lẫn Những nhân vật như Hai "Ùm”, Tư Xòm, Chính tỉ viên

“Thuận, Tướng Giáp Văn Cương .và những người lính đảo khác dưới ngô bit diy

"ma lực của Trần Đăng Khoa hiện lên như thể họ dang hiện diện giữa cuộc đời vit lon với gió cát, bo tổ Trường Sa tong từng khoảnh khắc Có những chỉ iết cục

kì đất, chỉ có th là Trường Sa, ở Trường Sa, như câu chuyên về di vậ là ái ba lô người lính đáo tên Thiêm đã hỉ sinh “cái ba lô lại chao lắ

lại khua vào cái bát sắt leng keng Và những lúc như th, Hai thường lần đây, dom

i dang

bất nước ngọt, là cái quý nhất đo, đặt lên thành giường, rồi chấp ty vái lên nóc

còn một mẫu xương tần h mẫu xương ấy vẫn hải giảng co, vật ln với sóng giỏ

“rong gần 100 trang sách, cải giọng hài hước quyền rũ đến lạ lừng của nhà văn

Trang 24

nhiều lúc khiến ta phải bật cười, đ rồi rơi nước mắt Đảo Chim khép li bằng khúc thành day dứt và miền man niềm tự hảo "Sóng vẫn hit qua miy khung giường sắt phô lên đầu chúng tôi từng đợt nước mặn chát Lằn đầu tiên, tôi mới hiểu vì sao nước biển lại mặn đến thể Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở đảo chỉm Mặn như máu ” Một đãi san hô ngầm, một tắc đắt chìm sâu đưới ba mết nước lại

xuyên suốt tác phẩm Giữa những ngây hôm may, khỉ

<quan tim, niễm canh cánh, nỗi khắc khoải về chủ quyền dân tộc của mỗi người Việt

"Nam, thì đọc Đảo Chim cia Trin Đăng Khoa, cảng thấy thắm thía bao đi Sau Đảo Chùm là “Người thường gặp” Một lần nữa, cái tên Trần Đăng Khoa

lạ tỏa sáng ở mảnh đắt văn xuối _ màu mỡ Trần Đăng Khoa cổ cơ hội phát huy năng ực thiên phú của mình qua bàng loạt những mẫu chuyện nho nhỏ, có lú chỉ là những dòng tân mạn, về chuyện đồi, chuyện của hôm nay, chuyện ngày dua, những,

kí ức của một thờ những gương mặt người Người đọc có thể chiêm ngưỡng chân

đang của Dại tướng Võ Nguyên Giấp, gặp gỡ nhà văn hóa ~ Giáo sư Nguyễn Lân,

"nghe câu chuyện phiểm bên bản trà, và ngẫm nghĩ cùng nhà vẫn về những chuyện của làng, của phố, chuyện tời cuộc “Người đường gặp” thể hiện một sự quan sit ính nhạy và hả năng phát hiện vẫn đề vốn là bit tải của Trần Đăng Khoa

“Củng với Chân đưng và đãi thoại, Đảo Chim, Trần Đăng Khoa đã đến với văn xuôi Không phải như một cuộc chơi mà là bằng thái độ, tâm thể của một người cằm bút chân chính Nếu thơ ca là duyên nợ thì với Trần Đăng Khoa, văn xui cũng là người bạn đồng hành khẳng khít thâm tỉnh,

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Trần Đăng Khoa

Là nhà thơ có thời gian cm bất gần bằng cả cuộc đồi, Trần Đăng Khoa có ý

Qu sắc về nghệ thuật, đặc biệt là về thơ ca Những quan niệm về thơ được Trin Đăng Khoa th hi

Trang 25

đến những vấn để của văn học đương đại từ nhiễu điểm nhìn và cách tiếp cận khác nhau

1.2.1 Quan niệm về nhà thơ và trách nhiệm của thơ cơ

"Đã từng có những quan niệm, những nhận định, những ý kiến đầy thuyết

tha ca: Tho fi gi?

phục của nhiễu tác giả xoay quanh vẫn để cơ bản liên quan

‘Vj trí của nhà thơ giữa cuộc đời? Thơ ca có vai trỏ, trách nhiệm như thể nảo đối với

cuộc ng của con người? Giữa võ sô những ÿ kiến luận bản phong phú và có giá

tí, Trần Đăng Khoa khiêm tốn gốp vào những suy nghĩ của cá nhân mình với tư cách một nhà thơ đồng thi là một người làm phê bình văn học Những vấn để nhà thơ nêu ra chưa trở thành một hệ thống những quan điểm mà chủ yếu là những cách ánh gi, những ý kiến bản luận được thể hiện rãi rác qua những bài viết khác nhau Nhưng đọc Trần Đăng Khoa, dễ đàng nhận ra ở đẩy một cách nhìn thấu đáo và su sắc về cách nhà thơ và trách nhiệm của thơ ca đối với cuộc sống

Là một thể loại văn học đặc iệt có ưu thể, thơ ea đã chiếm lĩnh đời sống,

phản chiếu thể giới tâm hồn con người, có mặt trong mọi biển có của thời cuộc và

lịch sử Và cũng vì thế, nhà thơ là người có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc

sống, Nhận thức về trách nhiệm lớn lao của mình, có những nhà thơ tự giác trở thành "người thư kF" của thời đại Trần Dãng Khoa đã nhận ra ở Tổ Hữu phẩm chất

võ cũng đặc biệt nấy

“Thuộc lớp "hậu sinh", Trần Đăng Khoa hết lông kính trong nhà thơ lớn bậc thấy là Tổ Hữu Bằng việ khắc họa chân dung Tổ Hữu, nhà thơ đã chạm đến những, vấn đỀ của thơ ca cách mạng mà Tổ Hữu là đại biểu xuất sắc nhất, Thơ Tổ Hữu là

thơ lãng mạn cách mạng, âm hưởng "vui bắt tuyệt” là âm hưởng chủ đạo trong thơ

ng Giá trì đích thực của thơ TẾ Hữu chỉnh là ð chỗ nó gần như một “cuốn từ điễn

CCách mạng", bởi "có th lẫn theo dẫu vết thơ ông mã tìm những bước thăng trầm

Trang 26

được hết thảy những gian khổ, hi sinh, sự lớn lao vĩ đại của dân tộc, khơi đây niềm,

tự hào vô hạn của con người Việt Nam trước chiến thắng Và điều đó đã làm nên sức sắng bắt ừ của bài thơ, dồ cho hoàn cảnh đổi thay, nhiễu giá tỉ cần nhìn nhân lại, nhiều quan điểm trấichiễu không đồng nhất rn Đăng Khoa đã trung thực và Khách quan khi đưa ra

ich nhin nhận và đánh giá của mình Mang vẻ đẹp sử thí lãng mạn, thơ Tổ Hữu nối riêng và thơ ca Cách mạng nói chung đã làm tròn sứ

mệnh lịch sử của mình: động viên, cổ vũ chiến

lẽ ngắm nhìn nhà thơ với mái đầu bạc trắng ngỗ

ức của một độc giá, Trần Đăng Khoa ngỡ ngàng nhân ra "Thất chẳng có gì sung

u, góp phần vào chiến thắng Lăng

ï chép những câu thơ của mình từ kí

sướng hơn được nhân dân thuộc thơ mình Đấy chính là tắm huân chương cao quý nhất mà nhân đân đã trao tăng th sĩ Hạnh phúc lớn lao y, tạo hóa đấu có bạn phát cho nhiều người” Như một điều rắt tự nhiên và giản dị, chỗ đứng xứng đáng của

"người nghệ sĩ là giữa lòng nhãn dân, đắt nước Đấy là sự lựa chọn của những nhà thơ chân chính khi nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của thơ ca đối với cuộc đi Lâm thơ từ năm tâm tuôi và sớm mang danh hiệu “thần đồng”, nhưng Trần Đăng Khoa luôn ý thức rằng: mình chỉ là học trở nhỗ của những bậc tiền bi trong làng thơ, như Xuân Diệu Tiếp xúc, gắn bó với Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa thắm thía: mỗi son chữ ra đời là kết quả của lao động sing tạo không một mỗi của nhà thơ, Khi đụng lại chin dung Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa đã muỗn gián tiếp phất biểu một quan niệm “Nhà văn tồn tai ở tác phẩm Không có tác phẩm thì nhà văn ấy soi như đã chết " Sáng tạo là cách thức khẳng định sự t

cuộc đời Chính Xuân Diệu là người đầu tiên đem đến cho Trần Đăng Khoa những

Khoa đã cúng cổ bài học mã người thầy Xuân Diệu đã dạy cho từ buổi chập chững

"bước vào cơn đường thơ ca nhọc nhằn nhưng hạnh phú

"Bàn về phê bình văn chương, Trần Đăng Khoa cũng đã mượn lời Xuân Diệu

dể phân ánh một thực trang "Người ta thường bay cổ gắng làm chết những người

Trang 27

dang sing va ra sức cứu sống những kẻ đã chết " Tuy nhiên, một tác phẩm thơ thật sự có giá eị, một nhà thơ gắn bó với đời bằng ắt cả nỗi đam mê cổng hiến và sáng tạo thì chắc chấn sẽ có thể "đương đầu trong sự đào thải nghiệt ngã, nhưng, công âm và sông phẳng của thời gian”

“Trong bãi "Thư thơ” viết năm 1972, Trần Đăng Khoa đã có những câu thơ

lửa cháy: Cao hơn trang thơ, hơn cá cuộc đời/ Là Tổ Quắc đang một côn một

mắt Muời bin tub, Trin Đăng Khoa đã nhận thức và nối lên được môt tong, những vẫn đề cơ bản nhất của thơ ca, đây là

sống: Khi đắt nước cần, thơ cũng biết xung phong, nhà thơ trở thành chiến f Đã có i quan he giữa thơ và hiện thực cuộc

“một thế hệ nhà thơ ra trên rong tâm thể người lính, thơ tr thành hành trang cũng,

"Trần Đăng Khoa cũng đã

họ trên con đường hành quân “dt đến mọi chẩn

thành nh thơ mặc áo lnh với tính thần cao đẹp ấy

1.2.2 Quan niệm về thơ hạp

“Thơ cốt phải hay, nhưng không phái ï cũng có th làm được thơ hay, và thế nào là thơ hay th cũng cần có một quan niệm đầy đã và xác đáng

‘Tran Dang Khoa phát biểu rất rõ rằng: “Thơ hay là thơ giảm đị, xúc động và:

đám ảnh” Nhà thơ hi, cả đời cằm bắt của mình là để "vươn đến loại thơ đó" Có

Te iy cing li mong muốn của bắt kỉ nhà thơ nào Như một quy luật nghiệt nã, thơ

số thể tăm bãi nhưng được gọi là “thơ hay" tì chỉ cố “một vãi", để người đọc Không thôi thân thức

“rong thời ỗi trẻ hãm hở và tự ta của mình, Trần Đăng Khoa đã tìm đến với Trường ca như một cuộc thữ súc, khám phá Và nhà thơ đã nhận được cả lời khen lẫn ý ph binh, gop ý từ người thầy Xuân Diệu Nh ai ki mm này, Trin Đăng Khoa muốn góp thêm một lời bản về thơ ông chế tối đã viết bằng sự

mã thơ thì đồi hỏi phải chân chân chân, thật

thông mình, viết khảo quá, kĩ xảo qui

thật thật Ngôn ngữ và

mắt đường thơ "[19, tr 41] Dù Trần Đăng Khoa không hoàn toàn nhất trí với

“Xuân Diệu khi bản vỀ trường ca nhưng những ý kiến của nhà th lớn vỀ yêu cầu

xảo phát triển vượt bậc, nhưng trường ca dường như đã lạc

đối với thơ calà hoàn toàn chính xác Thơ cần sự chân thật Hơn nữa, “thơ cốt gi,

Trang 28

chứ không phải kế” Trần Đăng Khoa đánh giá cao ai câu thơ kiệt xuất của Xuân Điệu * Trái đắt ba phẩn tr nước mẫU/ Đi nh giợi lệ giữa không trung” vì cho rằng

đồ là "Hai sâu thơ hay trong kho tảng th ca nhân loại Hay ở sự giãn dị ở tằm lớn, -ử sức khái qut rất cao, ở cả cái tải nghệ đưa thực tế vào thơ nữa" 9, tr 53]

cố 9 câu các ý trong bài rồi rạc, khắp khẩnh nhưng khi gộp tt cả lại, nằm trong

“một tổng thể, bài thơ hay đến la làng Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ Nó hoàn ton sigu thoát, là ái hẳn phàng phắt đầu đó đẳng sau những con cht tất sáng tô mà lại vời vợi mông lung kia (19, t 57] Bài thơ vì lẽ đó đã tr thành,

Nam và chỉ sy ra có một lin” vi “Bai tho vn ven

ấm ảnh đối với bao người

“Theo Trần Đăng Khoa, trong thơ Việt Nam, hình như Tố Hữu là người duy

nhất đủ tầm để đưa vào thơ những lời "hoan hô”

vẫn cứ hay, vẫn lâm lòng người xúc động “Hoan hở Chiến sĩ Điện Biến” là một

` những câu "khẩu higu” ma thor

trong những bài thơ như vậy Trần Ding Khoa din ra hai câu đặc sắc "Mường Thanh, Hằng Clim, Him Lam’ Hoa ma lai tring, vein cam lại vàng” và nhận xết

6 đây, địa danh không côn là địa danh nữa, nó là kỹ nghệ chơi chữ cao cường, chơi chữ mà không thấy dẫu vt của việc chơi chủ, chỉ có hai câu thơ với tên rũng, tên núi cụ thể mà Tổ Hữu đã kết thành một vòng hoa rực rỡ sấu màu Đẩy là vòng

bị sinh ở khoa tưởng niệm các liệt sĩ ến trường Điện Biên lịch sử "(19, tr I8]

XNhận xết của Trần Đăng Khoa có thể nhận được sự đồng tỉnh của nhiều người đọc, nhất là những aĩ yêu thơ Tổ Hữu như y

Đăng Khoa cũng có thêm một phát hi

“rỗi, sau ba câu như là khẩu hiệu "Hổ Chí Minh muôn năm", Tổ Hãu hạ một câu thơ thần tình "Phút giáy thiêng anh gọi Bác ba lin” “Va thé la ngay lập tức, mẫy câu khẩu hiệu kia đã không côn là khẩu hiệu nữa, nỗ đã thành tỉnh cảm, xúc cảm,

>u một phần lịch sử, tâm hỗn đất nước Trần

“Trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn.

Trang 29

thành nỗi niềm thiêng iêng của cả một đồi người ở cái giây phút hiểm nghèo nhất Người đọc bỗng ứa nước mắt ĐẤy là tải nghệ của một bút pháp lớn Bút pháp bậc thấy (19, tư 23) Làm người đọc xúc đông rơi nước mắt, những bài thơ, câu thơ như thể sao có thể nói là không phải thơ hay?

Bằng sự núng động tính tẾ của một hồn thơ và cái nhìn tỉnh táo của một nhà phê bình, Trần Đăng Khoa đã thứ tìm về lục bat qua Š bài lục bất của Š nhà thơ Khác nhau, đơn giản

hay thi Iai khó vô cũng Lục bát th thách bốt lực các thỉ

ngẫu hứng này, Trần Đăng Khoa đã có thêm những lời bàn sâu sắc để âm rõ thêm,

Tục bắt ai cũng có thể làm được nhưng viết lục bát cho

°x Trang lẫn đạo chơi

quan niệm về thơ hay của mình Chẳng hạn như trường hợp bài thơ “ở sông vẫn gió": “Diy 1a bai tho hay nit wong đồi thơ Trúc Thông Bài thơ vit tho lối cổ điễn Lấi chất, ý sâu Câu chữ như rút ruột mà thành 19, tr 213] Trúc Thông là nhà cách tn Nhưng ở bài thơ này, trong một hình thức cỗ điễn, tì chính sự giảm

di, sie dm dink và niềm xúc động mà nó gợi lên trong lòng người mới là cái làm cho

nó trở thành "bài thơ bay nhất

'Với Trần Đăng Khoa, thơ ca vừa là thành công đã có vừa là cái dich cn &

phía trước Bằng khát vọng của một hồn thơ chân chính, Trần Đăng Khoa đã nỗ lực rong hành trình tìm kiểm, vượt lên chính mình, để thơ là đời, thơ là nỗi niềm người,

là buồn vui hạnh phúc Nhà thơ không thôi tăn trở _ “Cát đi rú rứ đã quai Ngấy

‘mai cin lat bide 1a mdy ai?/Nhdp nhỏ toàn những thiên tà Cuối cùng thơ vẫn ở ngoài tần ty/ Giữ gìn những gi cùng máy/ Đã là máy giỏ tì bạy về tàu Viết sao cho hết niềm người "(Với bạn) Ta sẽ gặp nhiều trong thơ Trần Đăng Khoa giả đoạn sau này những nỗi niềm nhân sinh thể sự, đơn gin vì nhà thơ bao giờ và trước

"hết cũng là những con người nặng trích nhiệm với đời, dù vẫn biết “đới người mắp chắc mã thành có họa " Vi "thần đồng” ngày hôm qua va a

thơ Trần Đăng Khoa của ngày hôm nay, khái niệm vinh quang không nằm ở những lời ngợi ca,

những sự tung hô, mã chính là ở chỗ: thơ mãi còn lại giữa cuộc đời

Trang 30

Chương 2

CÁI TÔI TRỮ TÌNH

'TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA SAU 1975

“Tho tr tình là một th loại được xem như “vương quốc chủ quan bởi ính chủ quan vừa là nguyên tắc tiếp cân đồi sống vừa là nguyên tắc xây dụng th giới nghệ thuật `Ý thúc trữ tình, ý thức chủ quan ấy được thể hiện trong một khái niệm

"mang nội dụng xác định bản chit thé logit tinh: Citi trữ tỉnh”"{25, tr 5] Theo

Lẻ Lưu Oanh, "cái tôi rữtình là thể gi

được thể hiện rong tác phẩm rữ tỉnh bằng các phương tiện của thơ trữ tình C chủ quan, thé giới nh thần của con người

trữ tỉnh là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trờ tỉnh Ở đó, cá tính

người rữ tỉnh với mọi phong thái, ấn tượng, sự độc đáo chiếm địa vị chủ đạo và

người đọc thông qua đó mà lĩnh hội thế giới Cuộc sống được nhận thí

đánh gi ước mơ, cảm xúc bằng chính nhân cách người rỡ tỉnh", [2S, tr 18] “Hơn bất cứ một thể loại nào, thơ cần khẳng định được cái tôi của nhà thơ cảng đặc sắc

cảng tốt” [II, tr 9]

“Chính vì thể, iệc tìm hiễu thể giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 phải được thể hiện chủ yếu thông qua việc xác định điện mạo và bản chất cái ti tình Theo đánh giá của nhà văn Đình Kính "Nhà văn chỉcó thể đồng góp cái gì đó

cho nén văn học khi họcó cái gì đó của riêng mình Trần Đăng Khoa có ái Tôi của tiêng mình trong thơ” A1, ứ ] Cá ôi trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 tắt nhiên sẽ được đặt trong mỗi quan hệ với ci tôi tròng thơ Trần Đăng Khoa thời

niên thiểu cũng như trong mỗi quan bệ với thơ ca đương đại Việt Nam

Trang 31

"Đọc thơ Trần Đăng Khoa cả hai giả đoạn sáng tác trước và sau 1975, người đọc nhận ra ở đó một cái tôi rữ tỉnh với cá tính sắng tạo độc đảo Cá tôi Ấy có sự biến đối sâu sắc qua từng chăng đường cằm bút, theo từng bước trưởng thành của nhà thơ trên hành trình cuộc đời và sắng tạo nghệ thuật, nhưng vẫn nhất quần trên

nh phương dign Bi vio thé gi nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1915, ta sẽ

sặp lại cái tôi của thời “góc sân và khoảng trời” mộc mạc, chân qué, được vui buồn

"hòa bình của đất mud

cùng với cái tôi = người lính trong những nại › và được sẽ

chia cig efi tôi ăn tớ, suy tr, chiêm nghiệm về những vấn đề nhân sinh, thé

sư Từ thơ thiểu nhỉ đến thơ thôi kì trưởng thành, tử tư duy hướng ngoại đến tr duy hướng nội,

trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa đã vận động một cách tự

nhiên theo hướng về gần hơn với cái hàng ngày, với những nỗi

"nghĩa là đúng với bản chất của thơ ca

1 Cả ôi trữ tình tiẾp tục mạch từ "góc sân” đến "khoảng trot”

:m con người,

Có thể hình dung hai giai đoạn trong sáng tác thơ ca của Trần Đăng Khoa qua

hai hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng - Đó là “góc sản” và “khodng trởi” Trần

Đăng Khoa đã đi ti "góc sấu" nhà mình, mang theo những bãi thơ thiểu nhỉ làm nên tên tuổi thẳn đồng để đến với "khoáng tri” rông hơn, cao hơn và cho rađồi lập

thơ “Bên cửa số máy bay” cùng những bài thơ khác viết trong giai đoạn trưởng

thành Có người hoài nghĩ cho rằng: Tắt nhiên là có một Trần Đăng Khoa trẻ con và một Trân Đăng Khoa người lớn Nhưng có hay không một nhà thơ Trần Đăng Khoa thiểu - nhỉ và một nhà thơ Trần Đăng Khoa người- lớn? Thực tế đã khẳng định: Có

“một nhà thơ Trần Đăng Khoa người lớn in dẫu ấn phong cách của mình trong thơ Việt Nam những năm sau 1975 Trong một cuộc trồ chuyện, nhà phê bình Lại

"Nguyễn Ân đã nêu lên những nhận xế về cá tính sáng tạo trong thơ Trần Đăng

Khoa: “Về mặt xã hộ “một con người trở thành người lứ có một cá ính nhất định

— là một điều hiển nhiên Điều chúng ta nói ở đây là tong lĩnh vực sáng tác nghệ thuật Không thể đo cá tính, bản lĩnh nghệ thuật bằng tuổi tác, bằng "thâm ni

"bằng số cuỗn sách được in, số năm thing trong nghề, thậm chí bằng những chức vụ

sao nhất đã ải qua rong các hội đoàn văn nghệ, Phải đo bằng dấu Ấn riêng mà

Trang 32

"người ấy gốp vào văn học chúng, phải do bing chit giong riêng mà người fy góp,

ào tiếng nói văn học chung, phải đo bằng mức đồng góp riêng của người ấy vào diễn mạo chung của văn học một giải đoạn." [32] Có thể thấy rằng tong giai đoạn sing tie sau 1975, di chua thật định hình nhưng Trần Đăng Khoa đã và đang miệt mãi tìm cho mình một diện mạo mới, một cá tính nghệ thuật riêng không lặp lại

“Tuy nhiên, vẫn dễ nhận ra trong the Tr Đăng Khoa một ci it tinh tgp tục

", Nghĩa là, rong thơ Trần Đăng Khoa người lớn vẫn có thể nhận ra bóng đáng que thuộc của tho Trin Dang Khoa thi

mạch thơ từ "góc sân” đến *khoảng ti

niên thiểu ở những nết nổi bật nhất n tượng nhất Chính sự tiếp nỗi dy lại là yêu tổ tạo nên một nết phong cách trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975

Trước 1975, Trần Đăng Khoa cũng đã có mặt trong dai sng văn học Việt Nam cũng với thể hệ những nhà thơ trẻ thời chẳng Mĩ như Hoàng Nhuận Cằm,

“Thanh Tháo, Bằng Việt, Nguyễn Duy một thể hệ đ viết lịch sử âm hỗn của dân 6e, cña thời đại mình bằng thơ trên báng súng Thể hệ nhà thơ rẻ thời chống Mĩ đã cầm bút, cằm súng đi qua chiến tranh, và lại ếp tục hình trình thơ ca rong giả đoạn sau 1975 với những tìm tôi đổi mới So với họ, Trần Đăng Khoa vừa có những điểm tương đồng vừa có những khác biệt lớn Cái mốc lịch sử 1975 với Trần Đăng

Khoa không chỉ có ý nghĩa là mốc phân định hai giai đoạn trong sáng tác như

các nhà

biệt của Trần Đăng Khoa vớ

thơ trẻ thổi chống Mĩ chính là ở điểm này

Sau 1975, những nhà thơ trẻ thời chống Mĩ iẾ tục cằm bút sing tic trong một bầu không khí khác, với một tâm thể khác Sự tải nghiệm của bản thân trong những,

Trang 33

tháng năm chiến tranh đã cho họ một cách tiếp cân mới đối với hiện thực cuôc sống

CC tôi trăn trở tìm một cách thể hiện mới, hướng đến hiện thực đời thường đa dạng, nhiều chiều Nhưng để làm mới chính mình trong thơ thì không đơn giản và thâm, chi không thiểu những đau đón, mắt mát Riêng ở Trần Đăng Khoa, sự thay đổi

‘Trin Đăng Khoa thời niên thiểu vẫn xuất hiện và trở về trong những sáng tác sau

“này của nhà thơ, tất nhiên à có sự phát triển ở mức độ cao hơn Tìm hiểu cái tôi trừ

tình thơ Trằn Đăng Khoa sau 1975, không thể không chú ý đến những đặc điểm

này

Có thể nhận ra ở thơ Trần Đăng Khoa cãi tôi ni tiếp mạch thơ từ "góc sin” đến "khoảng tröi" qua ba phương điện chủ yÊu sau:

-311 Cái tôi chân chất, đôn hậu và đầm thắm

Đọc thơ Trần Đăng Khoa qua bai giai đoạn sing tác, người đọc sẽ có một cảm, nhận: Cậu bể làm thơ năm xưa trở thành người lớn, nhận thức, suy nghĩ có sự thay

in nhiên tuổi thơ dẫn

đổi cơ bản, thế giới nội tâm rộng mỡ, phong phú hơn, cái

được thay thể bằng sự suy tự sâu sắc của một người trưởng thành Nhưng làm sao

có thể lầm thay đổi hàn toàn một tính ách thuộc về một con người, một cá nhân

Vi thé, trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, vẫn

chat, đôn hậu và đằm tì

tho Trin Dang Khoa thai ni thiểu

Trang 34

Nếu cần tìm cái mới, cái lạ trong tha Trin Bing Khoa, e ắng bạn đọc sẽ phải thất vọng Không cầu kì, bóng bấy, không bảo nhoáng bề ngoài, Trần Đăng Khoa vẫn đến với người đọc bằng "gương mặt mộc” giản dị dễ gần dễ mến của mình, Hình như thơ Trần Đăng Khoa không biết làm đáng, nhưng li có duyên — cái duyên

sm lãng lặn vào bên trong những vẫn tho dim sâu nỗi niềm Hãy thử đọc lại mấy

đông thơ của Trần Đăng Khoa thuở bé, ta sẽ nghe lòng dịu đi biết mắy:

'Em nghệ thầy đọc bao ngây

Trắng thơ đỏ nắng, xanh cấy quanh nhà

"Mi chảo nghiễng mặt sông xa Băng khuâng nghề vọng tiổng bã năm sưu

“Nghe trăng thở đồng tàu da đào rào nghe chuyển cơn mưa giữa tời "

(Nghe thy doc tho) Những câu thơ đ sức lảm thức dậy cả một vũng thương nhớ rong tâm thức của mỗi người Ấy là kỉ ức tuổi thơ, kí ức làng quê, là những xúc cảm hỗn nhiên

mà ngày xưa t nhiều gì sĩ cũng có Thương câu thơ của thấy đọc vì cm thương quá quê hương mình: có đồng sông êm tồi, có iếng bà m giấc tran bồng bềnh câu chuyện cô, có vằng trăng trong và cơn mưa rảo ngày hạ Câu thơ không một chút

‘miu mẻ, chỉ là cảm nhận, là hình dung của cậu bể khi “nghe thiy doe thơ”, và tâm,

Câu lục bát của Trần Đăng Khoa đã ôm chứa được bẾy nhiều tâm tỉnh đó, tròng một điệu thơ

hẳn câu gợi lên bao nhiều cảm xi dim thắm, thân thương, ìu mn

"gọt ngào như thể lời rủ

ều bài

“Sau bạo nhiêu năm, cậu bé ngày xưa đã thành một người từng tri NI thơ được viết ra từ bao chiêm nghiệm lẽ đời Nhưng vẫn còn đồ cái duyên xưa không mắt đi cùng năm tháng, Như trong “Mita xuân cña lính biển phòng”, chỉ bằng mấy câu giản dị, Trần Đăng Khoa đã ghỉ lại được cái hồn nhiên bing bột và

đấm say của những người linh trẻ nơi "đình trời” chỉ có mây và nú

“.„Vã thể là mùa xuân tối Trong từng vó ngưa tẫn tr

Trang 35

[Nong sing bin chén rao rec

“Muốn làm ely dé tré hoa Con sudt ta iu trim me

ii hia ching tra mong mer

Cổ cây rực mẫu tiếu nữ Từng buông làn sương ðm ở:

Ca bai tho day ấp không khí mủa xuân và nồng nàn cảm xúc Người lính biên

phòng làm bạn với núi rừng, giữa bốn bề mây núi, lắng nghe mùa xuân bừng đây

<quanh minh, trong tim hỗn mình Nhà thơ đã nhận ra cái khát khao thằm lặng trong ảnh ảnh “nông súng bổn chổn rợo nực/ muốn làm cấy để rổ hoa” Bao nhiều là

ấm say, mơ mông, tỉnh tứ tròng cái nhìn của người lính “cổ cấy rực màu th nữ/

“Rừng buông lần sương ðm ở” Ta nhận ra tong bài thơ một cái tôi trẻ trung mà dầm thắm, chan chứa nỗi niềm Gi

bao nhiều giọng thơ cách tân mới mè của thời lên đại, câu thơ của Trần Đăng Khoa vẫn et neo vio lòng người cái cảm xúc ¡ Để có được những câu thơ giản đị và trong trẻo như thể, nhà thơ không cần

inh,

cdụng công nhiều mà quan trọng là phải iết bằng cả tâm hỗn

Mười tui, Trần Đăng Khoa đã viết những cầu thơ làm người đọc tng thốt

va xtc dong: “Hat gao ling ta/Cé bao tháng bảy/Có mưa thắng ba/Giọt mỏ hỏi

sa/Nhimg trưa thẳng sáu Nước nh ai nấu Chất cả cá cở/Cua ngơi lên bi/Me em

“xuống cát Bao nhiêu chữ là bẩy nhiều tỉnh Câu thơ thật đến nhối lông và vì thế

"mà hay đến không ngờ Mười mẫy năm sau, lin dầu tiên được bay lên bầu trời cao ông, ngắm nhìn mặt đất trải ma dưới đôi cánh máy bay, nhà thơ đã ghỉ lại cảm xúc của mình qua những vẫn thơ như những lời tự sự chăn thành

“Me ơi, Con dang bay trên cao thắm bầu trời

.Như hoàng tử trong câu chuyện xưa mẹ kế:

Thước mặt con li vim xanh êm

Vain từng xanh trên mái nhà mình

Trang 36

“Những câu chữ xù xi, thô mộc” — như cách nói của Trần Đăng Khoa ~ lai là nơi dụng chứa nhiều nhất những cảm xúc chân thật, da diết của tâm hồn Người con nhớ

về một thời thơ bé "Con thường nằm trong cái nong/Trải trên sân đẳ/Mẹ chỉ lên

vm xanh bắt ngấ/ Bảo đậy là thiên đường " ĐŠ già đây từ trên cao xa vài vi, con mới nhận ra, thiên đường có thật chính là mặt đất dịu dàng, nồng hậu ân tỉnh,

nơi ấy có mẹ, ngôi nhả của tuôi thơ, có tình thương của mẹ sưởi tri âm con xua

đi bao lạnh giá, cho con

lại bình yên sau những đớn đau, khó nhọc của cuộc đồi:

Trang 37

* G dy eb nàng tiên Bids hit din a va bids ely hia

“Bi đến với con kh con đơu Khổ

à sau mỗi chẳng đường gian lao Con lại vở về

mà mà là

"Người đọc có cảm giác những câu thơ này không phải được ví

được chất ra từ những yêu thương, nên đọng lại thành nước mắt và đẹp như nước máu

Đi qua thời gian, tải nghiêm cuốc sống bằng nhiễu cách khác nhau, chứng kiến bao đổi thay, nhưng trong thơ giai đoạn sau, Trần Đăng Khoa vẫn nhìn cuộc đời bằng cái nhìn đôn hậu Nếu trước đây, câu bé dành tỉnh thương cho những sự

ật bình đị quanh mình như lá trằu, bông hoa duỗi, con ché Vàng thân thất, chiếc

"ngõ nhỏ, mảnh sân con, những chủ gà iếp nhiẾp hì sau này, cũng với sự mổ rộng của phạm vi nhận thức, nhà thơ hướng đến những đối tượng mới để nhìn ngẫm, chiêm nghiệm và tải lông ra để đón nhận, sẽ cha Vẫn đôn hậu như xưa nhưng cấi nhìn của nhà thơ trở nên nồng ấm và thắm thía hơn, sâu láng hơn Hình ảnh “chiếc

_g@y tre” trong tay người lính trở về làng sau khi kết thúc cuộc chiến tranh qua cảm

nhận của nhà thơ trở thành một niềm ám ảnh không nguôi, về nỗi đau vã sự bỉ sinh Không đồi hỏi được đền đáp: “Anh, mở vẻ lồng quê tự đây en/ Chc gộy te đ tước một bước/ Gió thải hai hàng xoan xao xác/ Màu thư đã vẻ đấu đố ở trên AHông "(Về làng) Trước đá Mi Châu, Trần Đăng Khoa nghĩ về bí kịch tỉnh yêu dẫn đến bi kịch mắt nước bằng cái nhìn thắm đượm sự cảm thông và tu nặng tinh

người: "Tối đứng lang trước em/ Không phải trước

"Nhớ vận mước có một thời chùm nổt/ Bắt đầu từ một tình yêu "(Trước đá Mị

(Chav) Qua Riza, nh về Xecgsy Exenhin, nhà thơ lăng lẽ ngắm nhìn "Thấp

thoảng căn nhà gỗ! Nương hỗn xưa nước Nga ” và ngẫm nghĩ về cái

cái nhất thời và cấi vĩnh cửu:

Trang 38

löng, mét ei ti dm hu, im thắm như thuở thiểu thời, không phải vì không đủ

ức đổi thấy mã đơn giản đó là một sự lựa chọn ~ chọn một cách thể hiện, một nết tiếng không trộn lẫn cho mình giữa bộn bề "chợ thơ” với những nữ từ không đễ xác định chân giá

3:12 Cái tôi gắn bó sâu nặng với làng quê và với mẹ

Mỗi nhà thơ đều có cho riêng mình một "vùng thẩm đặc lệt Với Trắn

"Đăng Khoa, vũng thẩm mĩ ấy hình như bắt biến qua thời gian, đồ cuộc đời như một đồng sông Không ngững ôi chảy, dù con người hôm nay phải khác hôm qua và chẳng aĩ có thé ấy lại những gì đã mắt Trong thơ Trin Đăng Khoa ở cả hai giả đoạn sắng tác, hình ảnh lãng quê luôn hiện lên trong đau đầu nỗi yêu thương Quê

"hương nghèo khó trở đi ở lại tong thơ Trần Đăng Khoa như một hình tượng nghệ thuật giàu sức goi, được cảm nhận bing tim lòng của một người con gin bé mu

thịt với mảnh đất nơi mình đã inh mụ và lớn lên Từ những bài thơ đầu iên viết

bằng cảm xúc của một chủ bé lên tắm đến những bài th viết tub tu, ái ti

trữ tình của nhà thơ bao giờ cũng hiện lên với một nỗi niềm qué hương da diết

'Có người cho rằng Trần Đăng Khoa luôn muốn tô đậm bản chất nông dân,

cốc gác làng quê của mình trong thơ một cách đầy ý thức Nhận xét này không phái

không có lý, nhưng lại không mấy thiện chí Nên nhìn nhận vấn đề bằng cái nhìn

ccủa người trong cuộc Với Trần Đăng Khoa, tỉnh cảm quê hương đã có sẵn và chan chứa trong tâm hỗn- đó là một thứ tỉnh cảm tự nhiền, giản dị và sâu sắc mà không,

Ai số thể tự tạo ra bằng cách này bay cách khác, Cái gốc rễ sâu bền ấy, nhà thơ đã diễn tả trong thơ mình bằng một điệu hồn riêng dim thắm nén rit dB dem lại cho

người đọc sự đồng cảm Mấy ai viết về quê hương da diết như Trin Đăng Khoa:

“Mãi gianh ơi lời mái gianh/ Ngắm bao mưu nắng mà thành quê hương” Hai câu thơ được xem là bay nhất trong đồi thơ Trần Đăng Khoa đã thành nơi gới gắm nỗi

Trang 39

Thể giới hình tượng tong thơ Trin Đăng Khoa thời niên thiểu chủ yêu gắn liền với thể giới gằn gũi xung quanh: là cái ân nhỏ rước nhà, vườn nu cái đang lên ging, con trầu đen lông mượt, dòng sông Kinh Thầy chở theo cánh bum bể nhỏ, cánh điều no gió như hạt cau phơi rên nong rời, cánh đồng làng sau vụ gặt thom

"mũi rơm mới Dường như với cậu bể, ắt cả những sự vật bình dị nơi lãng quê yêu dấu đều có thế bay bồng thành thơ Bằng cái nhìn trẻ thơ, Trần Đăng Khoa đã gh lại

"bức tranh quê chỉ bằng vải nét phác họa tỉnh tế:

“Bên nà là nú uy nghiêm

“Bên ki là cánh đẳng li chân máy Xém làng xanh mất bồng cây Sông xa trắng cảnh b

Bổn câu thơ xinh xắn gợi về cái bình yên muôn thuổ của làng qu Việt Nam, hue rong ca dao bao di nhs trong thơ Bảng Bá Lân, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cử,

‘Anh Tho ngay trước, nhưng vẫn nhận ra ở đó một nét khác biệt bởi “Thơ Trần Đăng Khoa là

cảnh sắc quê hương đắt nước"[34] Nhà thơ đã kéo bầu trời mênh mông, đưa ngọn

bay lung rời” (Quê em)

1g din muôn điều cũa đứa trẻ thơ đã có điều kiện ngõ nghiềng

núi, đồng sông, xôm lãng xanh mát vào thơ mình một cách dung đị, hồn nhiền, dễ đăng như tỏ chơi con trẻ

Đi rồi tên hành trình cuộc đời, nhà thơ đã vượt qua nhiều đồng sông rộng lớn hơn, ngắm nhìn những ngon núi cao hơn, gặp những cánh đồng bắt ngất, phì nhiều hơn nhiều lần cánh đồng quê thời thơ ấu, nhưng khi ngoái nhìa về nơi chốn

cử, trái im nhà thơ lại đặp những nhịp bồi hồi

.Ở đấy có ngồi nhà tranh vách đắt 1Ä lâu đài của mẹ con mình Thước cứ, giậu cúc tẫn sanh Sau ung, mảnh ao làng

Trăng lên có trổng cá quây:

Câu chữ lâm sao nói tâm nh, khi mỗi hình ánh được nhắc đến đền gợi

nhớ thương khắc khoải “Giãu cúc tn xanh” địu dàng, mm mại đã trở thành một

Trang 40

phần kí ứe làng quê mà ít nhất trong thơ mình, có đến ba lần nhà thơ nồi về bằng

“một tỉnh cảm ru mến vô bờ Tỉnh quê bên chặt đã cho nhà thơ những cảm nhận thắm thía về đất ~ đắt đai chỗn quê nhà nghèo kh đã nuôi lớn bao cây con non dạ

"mà mỗi khi nghĩ về ạ thấy thương đến thất lông:

Tôi sục bản chân trẫn trụi xuống bùn

CC gì rất quê hương làm tìm tối run rấy

Nh hương mẹ và thương cách đẳng héo hon

năm xưa không bit nổi sao cho hết

“Khi tôi sục bàn chân trần tụi xuống bùn "

Wii) Khoảnh khắc "sục bàn chẩn tẫn trụi xuống bin, 48 nghe mii bin dit qué

"hương thắm vào lòng, ta nhận ra mình mắc nợ quê hương nhiều quá: nợ ơn mẹ cha tinh thành, nợ hạt lúa cũ khoai cho ta thành hình hài vóc đáng, nợ đồng sông nước trong cho ta tim mit, và nợ biết bao ân nghĩa cuộc đồi ta nhận được từ quê hương Đọc câu thơ của Trần Ding Khoa, chọt nhớ về câu thơ của Dinh Nam Khương

“Gat rdi, can gốc ra thôt/ Và bao nhiêu vết chân người mới nguyên/ Giữa đồng tôi

ng lặng yên/ Chân tôi chan ra st én én nhau/ Từ trong những vũng chấn trâu Cợt nghe con nhát đạp màu đất non/ Biết rằng sự sống mãi còn/ Bánh chưng uống, bánh giấy tồn lä đấy " (Từ những vễt chân người) Đã có một sự gặp gỡ trong cách cảm nhận của hai nhà thơ về đất dai, mia mang va su sống Đất và Người! Chăn người sục vào đất, rễ cây cắm vào đất, và nhờ th, cuộc sống mãi trường tổn trên mặt đt này

Ốt đời mình, từ thuở ấu thơ cho đến lú trường thành, Trần Đăng Khoa đã

dành cho quê hương một tỉnh yêu duy nhất Chỉ khác là tình cảm ấy mỗi lúc mỗi

chín đằm hơn, sâu sắc hơn, tỉ ệ thuận với tuổi đồi và những khoảng cách không

gian ma nha the 43 di qua va tim đến Dẫu đi xa đến đâu, làng quê bé nhỏ vẫn là nơi

nhà thơ vọng hướng trở về sau bao năm tháng mái miết trên đường đời (đủ rằng đầy

cũng chỉ là ao ước): “Trả miễn vui cho cỏ! Trả nỗi bun cho cấy/ Tại áo tơi nồn

Ngày đăng: 31/08/2022, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Đình Kinh (2007), "Đọc lại thơ Trần Đăng Khoa", Báo Vấn nghệ số m ngày 2362007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại thơ Trần Đăng Khoa
Tác giả: Đình Kinh
Năm: 2007
33. Nguyễn Xuân Nam (1985), Tơ = tim hid vd shucng thie, NXB Ti phẩm mới 24, Nguyễn Chu Nhạc (2009), "Trấn Đăng Khoa và những bài thơ nước Nga",NX Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trấn Đăng Khoa và những bài thơ nước Nga
Tác giả: Nguyễn Xuân Nam (1985), Tơ = tim hid vd shucng thie, NXB Ti phẩm mới 24, Nguyễn Chu Nhạc
Nhà XB: NXB Ti phẩm mới 24
Năm: 2009
1. Aridôt - Lưu Hiệp (199), Nghệ thuét tho ca - Van tâm điêu long, NXB Văn học, Hã Nội Khác
13, Tein Bang Khoa (1974), Khúc hát người anh hing (rường ca), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Khác
14. Trần Đăng Khoa (1985), Bài thơ bền cửa số máy bay, Nxb Tác phẩm mới, Hà Khác
15, Tin Dang Khoa (2000), Đáo ciờn, Nxb Thanh niễn, Hà Nội Nội Khác
16. Trin Dang Khoa (201), Người thường gặp, Nxb Thanh niễn, Hà Nội Khác
17. Trin Dang Khoa (2001), Tho tink muyền, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội 18, Trân Đăng Khoa (2007). Thơ với tui sho, NXB Kim Đẳng, Hà Nội Khác
19. Trần Đăng Khoa (1998), Chẩn dụng và đái hoại, NXB Thanh niga, Hà Nội Khác
(2001), Tiền trình thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Khác
22. Nguyệt Minh (chủ biên) (2009), Truyện kể về các nhà văn Việt Nam, NXB Giáo. diye, HAN Khác
26, Trin Đình Sử (1997), Những tế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
21. Đỗ Lai Thúy (2000), Con mắt tơ, NXB Văn hỏa thông , Hà Nội Khác
28. DB Lai Thúy (2001), Nghệ thuật như là thủ pháp, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm