Luận văn Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh có cấu trúc gồm 3 chương trình bày các nội dung: Truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và hành trình sáng tạo văn chương của Thanh Tịnh; đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh - Nhìn từ đề tài và hình tượng nhân vật; đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh - Nhìn từ đề tài và hình tượng nhân vật.
Trang 1
Ma sé: 602.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
"Người hướng dẫn khoa hạc: TS, HA NGOC HOA
Trang 2
“Tôi xin cam đoạn đây là công tình nghiên cấu cña in ôi
“Các số iệ, ết quả nghiên sứu nê trong luận văn là trung thực, được sắc đẳng tác giả chủ pháp sử dụng và
sông trình nào khác ưa từng được sỉ công bỗ trong bắt kỳ
Tie git Ksor Lut
Trang 3MỤC LỤC
“TRANG PHY BIA,
LOI CAM DOAN
“CHƯƠNG 1 TRUYỆN NGẮN VIET NAM DAU THE KY XX VA HANI
“TRINH SANG TẠO VĂN CHƯƠNG CỦA THANH TỊNH >
111.3 Quá tình phá miễn ca tmyện ngẫu Hit Nam đẫu thề ký XX 15
Tả, Thạnh Tịnh và hành trình xăng lạ văn chương »
124 Thanh Tia cue di it dyn ng vin lac, "
(CHUONG 2 ĐẶC DIEM TRUYỆN NGÂN THANH TỊNH - NHÌN TỪ ĐỀ:
(CHUONG 3 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGÂN THANH TỊNH - NHÌN TỪ
BL Ket citi ý
3.1.2 Kẳ cu muyện Nông cóct muyện
L1 Ngôn ngữ
Trang 42.21 Ngo ngữ đổi hoại
-333 Ngôn ngữ đc (loại
-331 Ngôn ngữ người chuyận
33, Thôi gian và không gian nghệ thuật
-3k1-Thời gian nghệ thuật
_312 Không gian nghệ thuật
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
'QUYẾT ĐỊNH GIÁO DE TAL
“
“
n 4
Trang 5mopAU LLY do chon ab tat
1 Văn học Việt Nam gai đoạn 1930 45 pất tiễn một cách mạnh mẽ
và đạt được những thành tựu ø lớn Những thành tựu đó đã làm thay di
«ign myo vin hoe của dân tộc, mang tới cho nó một bộ mặt mới ca nên văn
"học hiện đại Cũng với sự phất iển nhanh chống của thơ ca (đặc bit
phong trảo Thơ mới là sự phát iễn cũng mạnh m không kêm cỗ về số lượng lẫn chất lượng của ác th loi văn xuôi nghệ thuật nh du thay, truyện ngắn, phông sự, tủy bức, nghiền cứu phế bình Do sự phúc tạp của ciện mụo văn học giai đoạn này cũng như yêu cầu cấp tiết củ việ dội mới, hiện đại hóa văn học, nhiều tác giá cổ thế sáng tá rất nhiễu thể loại khác
“nhau, mã ở mỗi th loi đễu có những thành công nhất định Điễu đồ nối lên
sử phít tiễn mạnh của văn học giả đoạn này không chỉ về số lượng, chất lượng te phẩm mã còn cả về số lượng và chất lượng tác gid Nhắc đến Vũ Trọng Phụng, người ta Không chỉ nhắc đến tiêu thuyết mã còn lã những bi hông sử khiến âng được mệnh danh là óng vu pióng sự đất Bắc, Xuân Diệu, nhà dơ mới nhất trong những nhà thơ mỏi lạ số những truyện ngắn trữ tình tất hay Nhà phẻ bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan ngoài những bài nghiên
cu, những tập bất ký, ông còn gi công chúng Việt Nam iếp cận với tiêu thuyết phương Tây qua bản dịch tếng Viết của mình, Nhà thơ Thể Lũ có những truyện đường rừng dẫy bí hiểm, hắp dẫn Báo chí, nhà n, nhà xuất bản cũng góp phần làm sôi dộng thêm vân học giải đoạn này bằng ích đãng
Trang 6‘ui hing wim tiga shu, hing npn aya nai, phd sy, ey bit, truyện ký,
đã loại,
3 Trong sự phát iễn bừng nỗ của văn học, truyện ngắn đã trưởng thình vượt bộc và sớm trở thình một th loi mạnh với những đại diện
nhục Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyen Hing, Ta Hoi, Thạch
“Thanh Tịnh, Kim Lần Mỗi tác giả là một quản điểm, một phong cách
"iềng nhưng đều có đồng góp thành công vào th loi này ưong nề văn học
biên
chủng Các tác phẩm tuyện ngấn giả đoạn này dã phản ánh một cích toàn
đời sống xã hội đương thời Bên cạnh những tác phẩm phê phản,
hân ảnh, ổ cáo mặt tải của hiện thực xã hội, là những te phẩm đi sâu vào
khám phá th gii tâm bồn sâu kí, hảthiệ vẻ dẹp dời sống nội tâm của con người với ngôn ngữ tính t, gợi cảm, giảu hình ảnh mà điễn hình là tuyện ngắn Thanh Tịnh, Có thé noi cho đến nay, ruyền ngắn Thanh Tịnh ẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan âm, im hiểu nhiễu, vẫn chưa có được những nhận xết thỏa đáng cho một con người lặng lề công
văn học nước nhà Vì thể chúng tôi quyết định chọn đề ti luận văn "Dặc điểm truyện ngắn Thanh Tính” lâm để tải nghiên cứu với mong muỗn phất
hi cả cuộc đủi cho nền
biển và khẳng định thêm những đóng góp của ông cho truyện ngắn Việt Nam, 1930-1948,
3.1ịeh sử vẫn để
Để đàng nhận thấy, so với Thach Lam và Hỗ Doánh, số lượng các bài nghiên cứu về Thanh Tịnh không nhiều Chưa cô công trình nào nghiền cửu, hảo luận về Thanh Tịnh một cách dệng biệ độc lặp Từ rước tới nay mỗi chỉ cổ luận ân Phố Tiến sỹ của Phạm Thị Thu Ilương (1995) à đặt vẫn đề
Trang 7nghiên cứu những đặc trưng vỀ phong cách aya ngin eis ba te gi Thach Lam- Thanh Tịnh- Hỗ Danh và nghiền cửu về Thanh Tịnh nh
‘quan chong với hai te giá ke Trong luận án của mình, Phạm Thị Thì Hương đồ tim ra một số nết đc sc rong tuyên ngắn của Thanh Tịnh, đí sâu vào phân ch Khổng gien lông Mỹ lồ, dặ làng giữa không gian sông đối coi
trọng tương,
ắc hình lượng động sông, con tuy, câu bỏ, nỏ ga, cơn tầu, ng cải là sắc BiỂu rừng Cô thể nồi đây là những phân ích sắc sảo vã sâu sắc Bến cạnh đồ luận án côn để cập đến nghệ (hut truyện ngắn của Thanh Tịnh như tâm hiểu chất thơ trang văn xui, giọng điệu trần thuật xen trảo phng nhẹ hàng Mặt đủ vảy, do yêu cầu cũng như mục đích đặt ra của đề ti nên luận
"hiểu phong cách mã chưa đi sâu vào khai thác biện
ấn đồng lại việ ti
chững của tâm hin
Ngodi công minh của Phạm Thị Thủ Hương, côn có các bài vế, bài nghiên cứu về Thanh Tịnh của Hà Minh Đức, Nguyễn Hoãnh Khung, Huy
“Cần, Vương Trí Nhân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Mạnh Trinh, Thạch Lam, Bồi
“Việt Thắng, Trần Hữu Tá, Lưu Khánh Thơ Iầu hết các bài đều viết theo
‘thé lai chin dung te gid, trong đồ có lược qua toàn bộ sự nghiệp ca Thanh,
‘Tinh bao zim ci uyện ngắn, truyện dải thơ, độc ấu, ịch, Nội chung, các đánh giá về uyện ngắn Thanh Tịnh rước 1945 là khổ hồng nhất đều kuyện ngắn của Thanh Tịnh như một hài thơ vịnh gọn và có dự
vi ữ ảnh lắng câu" (Trần Hãu Tổ)
Có thể nổi người đu liên nhận a tả năng văn xuỗi ca Thanh Tịnh chính
là Thạch Lam Khi ông viết li ựa ch tập tuyện ngắn đẫu tiến Qué me cia
“Thanh Tịnh xuất bản 941 Thạch Lam đã đồng những câu chữ đẹp nhất để ca
"gi nó, Ông đã hiễu và nhận thấy sự chỉ phối mạnh mẽ của con người thì ở
Trang 8“Thanh Tịnh đối với cảch nhĩa nhận cuộc sông: "Cổ 1 inh hin người ở đấy cên nhiễu mẫu sắc khác nhau, tong cuộc sống còn nhi bị kịch khác, nhưng,
mã tác giá chí tả cổ cái vẽ êm ä và ên thơ, Tâm hỗn ưa thích cái gì vừa đẹp
đề vữa nhề nhẹ tắc giả không lch đi sâu, nhưng đăng lại một lần gi, ở
"một cải thoảng hương thơm của boa cỏ bến mùa" Ông nhận thấy ở Thanh
“Tịnh mật tình yêu quê hương xứ sử đẫm thâm, thiết tha, "Thanh Tịnh đã muôn âm người mục đồng ngồi dưới bỏng tethội sâo để ca hat mg dm mây và lần gió lướt bay tên cánh đồng ca hất những vẻ đẹp của đời thôn
ue [60, 1 380),
Trong bi viết của mình Vũ Ngọc Phan đã xếp Thanh Tịnh vào củng dòng
"du huyết tinh cảm” với Thạch Lam, ông cho ằng: "Thủ tỉnh cảm ở iểu thuyết Thanh Tịnh là thứ tỉnh êm đậu, nh nhẳn, thứ tỉnh côa những người dân quê hồn hậu Trung kỹ, diễn ra tong những khung cảnh sông nước, đồng rung Ci tn qué trong bẳu hết các truyện ở tập Quế mẹ bao giờ cũng, nang tỉnh, lạ láng tròng những đêm trăng sắng, trên những mặt sông im hay trong những buổi chiu tà gió bu bất thổi, Tính, trăng, nước, đó là tt cả những ci àm tả liệu cho Thanh Tịnh đề xây đụng nền những truyền trưng tập Quê mỹ |49 193)
Đi xã hơn Vũ Ngọc Phan, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã so sảnh sự gin ghi về chất tình, chấthơ rong sáng tá của Thanh Tịnh và một số nhả văn Khác với nhà văn Nga Padôprdd:* t hợp giữa phần ánh và bộc lộ cảm
"xe nn dm chit ti nh, chất thơ như sắng tác của Pamôpxl¿, Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, "[16, 39], *Có thể nồi mạch truyện Thạch Lam, Hỗ Doễnh, Thánh Tịnh đã ni lên vẻ đẹp nội cảm củ tâm hẳn trước
suố sống [l6 tr3T]
Trang 9
"hà thợ Huy Cận phát hiện ra,
của Thanh Tịnh: "Hi muốn nội thêm một đều: bao ông văn dẹp Ấy gợi đâm, un vi quế rất đâm” trang truyện ngắn lồng yêu quê hương đất nước, yêu những gì là văn mính, văn hóa nước nhả, lại có những tác phẩm mà "mãi vị đất quê” ắt đậm (hư các truyền ngẫn của Thánh Tịnh) tht là đăng gân ọng 7, 11369]
“røng khi hầu hết các nhà nghiên cứu khắc thường chỉ đặt Thánh Tịnh trong mach liền trồng tối các tác giá, ác phẩm gn gti cùng giả đoạn tì Nguyễn Hoành Khung, rong một số ải tiểu luận của mình đã dành nhiễu sự chủ ý tới Thanh Tịnh: "Và cả Thanh Tịnh, Hồ Danh, nếu như được gọi những cây bút hiển thực một thứ hiện thực trữ nh th đầu phải là không có căn cử” [30, 10], “Cây bát ử Huế ấy có một ồn tơ li lắng, ngợi ngào, mạn mác, từ tnh " [30 tr40, "Đăng nh cố người nhận xế, mỗi tuyền ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ, Vái một quê hương đẫm thắm, Thanh
“nh không những đựng nên mật bức tranh thiên nhiên th vi mã còn đi vào những cuộc đời hin lành, lắm lại mả đảng quý, đán thương của người dân
“quế đặc bit là người phụ nữ [30, 40], “Mỗi truyện ngắn của Thánh,
“Tink là một bãi thư, mang chất thơ của cảnh vật và tâm hỗn cơn người Việt
cm ảnh vềsố phận thế thâm của cơn người nghéo khổ rong cuộc sống vặt lộn
di đội với đời ng [32,14]
Tương ự như Nguyễn Hoành Khung lá những nhận định thuyết phúc của
nhà nghiên cứu Vương Tế Nhân: "Chỗ khác của Thanh Tịnh so với một số
tác giá thời tin chiến, là ki diễn tã những nỗi bắt hạnh của con người không làm cho nỗ chối lên quả đáng, nhân vật rong truyện cũng như ác giả không
Trang 10kêu o sau các tang sách, song sự bắt hạnh vỉ thể lại hiện ra không aỉ có thể cưỡng lạ nỗi, nó như không khí bao quanh người ta, vã ống lầu với nó, tr
[s9,w210
-q0enđi lúc nào không biế
Điễm qua những công nh, những bà nghiên cứu về Thanh Tịnh chúng tôi nhận thấy được: mặc đồ các công trình nghiên cửu về Thanh Tịnh chữa thải nhiều như một số
“hận sự đồng gốp của Thanh Tịnh trong nỀn văn bọc nước nhà nồi chung và giá khắc những hầu hết các ý kiến đánh giádến thừa trong th loi truyền ngắn i riêng
Xã ắt cả những ý kiến tên đều là những gơi ý quý báu cho chúng tôi trồng quá tình thực hiện luận văn này
-3,.Đii tượng và phạm vì nghiên cứu
3l Đối tượng nghiên cứ
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tuyện ngắn Thanh Tỉnh giả đoạn 1930-1945,
5.2 Pham vinghién ctu
"Phạm vi nghiên cứu cha hận văn là những đặc điểm của truyện ngẫn
“Thanh Tịnh ên bai phương diện nội dụng và nghệ thuật
-4 Phương pháp nghiền cứu,
"Để thực hiện đỀ àinghiền cấu luận văn sử dụng các phương pháp chủ yêu -.1 PÄương pháp lịch sẽ
`Với những phương pháp này, chúng tôi đặt truyện ngắn Thanh Tịnh vào
Trang 11trong quá tỉnh phát iễn của lịch sử văn học Việt nam giải đoạn 1930 -1945
để phân ích và lý giả các đặc điểm
43 Phương pháp cấu trúc -hệ thống
“Sử dụng phương pháp này, chủng tôi xem truyện ngẫn Thanh Tịnh là một
"hệ thống bao gốm nhiễu yêu ổ và làm rõ mỗi quan hệ của cc yếu tổ cn thành sính thể nghệ thật của truyền ngắn lãng mạn Việt Nam 1930-1945
Đồng góp cña luận văn
~ Kt quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ gốp hn nhận diện những địc điểm cơ bản của tuyên ngắn Thanh Tịnh giai đoạn 1930 1945 tên cả hai
"ảnh điện ội đung và hình thức
- Luận vân cũng góp phần nhận diện đặc rưng th loại tuyện ngắn từ góc nhìn phương pháp sing tác
6 Chu tre cia tag văn
"Ngoài pin mg du vi két adn, uận văn được tiễn khai trung 3 chương
“Chương Ì: Truyện ngẫn Việt Nam du thé ky XX vin tinh sing ao vin chương của Thanh Tịnh
Trang 12“Chương 2: Đặc điện truyện agin Thanh Tinh - Nhin tr 4 iv inh mong shin vat
“Chương 3: Dặc điềm của truyện ngắn Thanh Tịnh 1930 - Nhân ừ phường thức th hiện
Trang 13Đầu thể ký XX, xã hội Việt Nam buổi giao thời luôn có sự đụng chạm cọ tia phương Dóng với phương Tây giữa cổ tuyền với hiện đi giữa cái
Vi cli mới, giữa cá nhân và cộng đông, ích thích những người cm bột
ti ti LY tung thie mỹ của thời đại đã thay đỗi Quan niệm dễ cao cơn người cả nhân của phương Tây như làn gió mới, thối bùng lên khát vọng giải phỏng, khit vọng tự do Sự thức nh của ÿ thức cá nhân trước hết xuất hiện ở tông lớp tí thức Tây học, vì ọ sớm có điều kiện được Êp xúc với dời ng văn mình Đã có sự gặp gồ giữa chất phống túng, cao ngạo côa nhân cách kế
sử Tất năng khuất” với cải ti phá phách, nội loạn củ các trường phái wit
“học tự sản mới đủ nhập vào (chủ ng]ĩa hiện nh, chủ nghĩa siêu nhân, chủ nghĩa xẽ địch.)
Trên cơ sở nỀn lãng của văn xuôi tự sự tung đại, sự hình thỉnh và phát tiền của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ cuỗi thé ky XIX, ruyện ngắn Vi Nam đấu th ky XS đã pht iễn theo những chăng đường sau
* Từ đâu tế ý XY độn năm 1935, Đây là bước chuẩn h, thâm độ về khã
năng hình thành của th lại ruyện ngắn hiện đại Phần lớn ruyện ngắn ch ý
“nhiều đến vẫn đểsuythoái của đạo đức ty thông, kết cầu chưa tích khối cảnh hưởng cña truyga dân gian và văn xuôi trung đại Những thoát ra khối những bước đi chập chững đầu tiên ấy, ruyện ngắn Việt Nam đã dạt được những thành tựu nhất định gắn lida với các tác giả như Nguyễn Bá Học, Phạm
Trang 14Duy Tén, Phan Boi Chiu, Nguyén Ai Que wi Khong íttie phẩm chất lượng, sốp phần quan rong thú dây tiền nh hiện dại hóa sẵn văn học trên lĩnh vúc
* Từ năm 1936 đỗn năm 1932, Đày là chăng đường vân động đa dạng của tyện ngẫn trên cơn đường hình thành của th lai, Đặc điểm lớn nhất của chăng dưỡng này là sự phân hóa đù chưa rõ rằng của ruyện ngắn theo hai huynh hướng: hiện thục và lăng mạn, ở chăng đường thứ bai này thấy nỗi bit ên vai rồ của một số bảo, tạp chỉ như Nam phong tgp chi, An Nam tap chí, Đông Dương tạp chí tong việc đăng ti tuayện ngẫn thời bếy gi
“Cũng với tuyển ngẫn tên bảo chỉ, cc tập ruyện ngần của Nguyễn Tường Tum, Tam Lang, Thể Lũ gộp phẫn tô đậm bc anh dẫy màu sắc của vẫn học ừ đu thể kỹ XX đến 1932
Trong quản niệm của các cậy bút đầu thể kỷ XX, các khá niệm tryyện
‘agin, truyện vừa, ễu huyết chư tích bạch rõ rũng và cũng khổ có thể ch
"bạch được, Do vây quả ình bình thành thể loại ruyện ngắn, ước hốt nằm,
‘wong gui nh hình thành thể loại tiểu thuy Xuất phát từ quan niệm như
th chúng ôi đŠ cập đến qu tình ình tình thể lai tiêu thay, rong đồ cố gắng chủ ý nhắn mạnh đến những yếu tổ ít nhiễu khu biệt tạo nề sự hình thành th loại ruyện ngắn
nào hình thành, tước hết cũng xuất phát từ yêu sầu của cuộc sống xã hội và tực iếp nhất à yêu cầu của công chứng, của Bắt sứ một thể loi v người đục Sự hinh hành thể loại truyện ngắn gii đoạn tử dẫu thể kỹ XX đến căm 1948 cũng nằm tong quy luật chung đó Vì thể, di im gu tình hình thành th loại ruyện ngẫn, không thể không để cập sơ qua bối cảnh lịch sử xã
Trang 15hội cối thể kỹ XIX đẫu thể ký XX đã đẫn dến sự hình thành của một loi Hình công chúng mới của văn họ Sự ính tình ã hội mai theo hướng Âu bán ở Việt Nam đẫu thể kỹ XX như vừa nói, đã lâm thay đối suộ sẵng vật chất lấn tinh thin, tim 1 va eich suy ng của các giai ep, ting lop mới, cđinhiênchủ yêu là ở thành thị Người ta phải tư diễu chin dễ tịch ứng trong điều kiện ca xã hộ phức tạp, sồi đồng vàđĩ hiên là mới lạ Và như thể, có một bộ phận công chúng mới hình thành ở thành thị
in Viê Nanvà rên th giối
Ruby V Ringer wong Bich na toàn dự Mỹ(Enciclopadyn American)
xe nh: "Tuyên ngẫ ã một hình hố văn học, bán hit ea a Bao ion trong nhữn ừ lần Dành phần o nn tên gợi của nó, Với các là một câu
uy, a mit hui skin hae mt idm ein quan đến con ng ong oot dg thé eit hoe in thin Vi giống mọi hình ae vin xi
hư cấu hóc, nỗ mô tà bằng ngôn tc và thinh cng ea n6 py hue vio se
"tấp xó rực tấp đ được gia người đạc và đội ượng miu Với ech
Ui wuyéa agin df ahi 6 king th thục hiện mi tấp ức rực ep ny i
ec phuong tie phổ ign di iu tuyệc hu xy dmg nn vit hi
Trang 16Tả, miệu tả thật chỉ tất và lấp lạ Đặc biệ là nó hãi miễu ả với độ nhanh
g như mộtlắm gương” (dẫn theo Lê Huy Bie) [5,19]
nhạy và won ven gh
“Tương ty những nhận định rên ở Việt Nam, Nhiễu nhà nghiên cứu lý luận phế bình như Hà Minh Đức, Lê Bá Hán, Vương Trí Nhân, Nguyễn Ngoc,
“Trần Định Sử, Bồi Việt Tháng đưa rà hàng loạt các Ki niệm và đặc trương cửa ruyện ngắn, Hầu hết các tác giá đu thông nhất ruyớn ngất là tóc phẩm
tự sự sỡ nhỏ Nội đung thể logi bao âm hầu hết các phương diện cửa đời sống: đời tực thể sự hạy sử thí những cái độc đáo là ngắn Tất nhiên về khái niệm dung lượng ngẫn của truyền ngắn đã, dang và sẽ là một vấn để côn nhiễu tranh ci, có điều mọi người thông nhất tuyên viết ma để tếp hủ liền một mạch, dọc một hơi không nghỉ Truyền ngắn hiện dại thuộc một kiểu tr
uy mới mang cũ tính ng tao, một cách nhịn chốc đời, nắm bắt đời sống
Tiếng mang tính chất th lại Một rừng những đặc điễm của uyễn ngẫn hiện
“đi là gắn iễn với báo chí Khuôn khổ báo chí quy định tính chất ngắn gọn
‘ia tuyén agin Tuy nhiên những đặc trưng mang ỉnh chuẪn mực của tuyện,
‘nin hign dai chỉ có thẻ lấy làm iu eh để nhận điện, phân định túc phẩm khỉ
nổ thứ sự hoàn thiện Côn trong giai đoạn hình thảnh vận động của th li,
“khái niêm truyện ngắn có tính lịch sử của nó
Theo Bũt Việt Thing "Tuyên ngắn rất ngắn trước hết là một truyện ngắn heoÿ nghĩa thông thường, ói chung có ngủĩa là nó không phải là một truyện
đi, đường nhiên, Những tắt ngắn đến mức độ ảo kế cũng khó ti buậc nổ một cách dứt khoá, tuyệt đổi (độ đãi của một truyện ngắn ắt ng thưởng từ
«im che eho én dim trăm ch) Nếu đồng hình ảnh tì truyền ngắn rất ngắn
là một "đá sản” của truyện ngắn thông thường: mà đã
Mặc tần” tỉ thường
"iểm và có kh là đất Nhưng nó hội đủ những đặc điểm của tuyn ngắn với
Trang 17t cách à một thé log văn học cỏ lịch sử lâu đời, có vị tí cũng như sông
"năng lớn trung bệ thẳng các th lại ăn bọc nỗi chung, văn xuỗi nôi rễng”
"Nhà văn Nguyễn Minh Chiu (1930-1989) đã có một ý kiến khi định nghĩa truyện ngắn: “Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như mặt cắt giữa
một ân hy fe Ci ie gu những đương ăn tên tag
tròn kia, di sau trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời của thảo mộc" Dinh nghĩa
"nảy có thể giúp bạn hiểu một cách giản dị rằng truyện ngắn thông thường hay
dai sing”, trong đỏ nhà vẫn chủ
“iể kim một khóc cười, một nết cười, một khía cạnh của ái cười sing khoái
và vài sing Những theo tối nghi, sòntm ở Tiểu lâm có một sấ gỉ có nh chất kỹ thuật viết tuyển ngắn tật ngắn nữa Nhiều tuyền Tiểu lâm chỉ ngắn hông tới mười dòng", Rõ rắng thấy, nhà văn Nguyễn Tuân đã đưa ma một thuật ngữ tất Việt Nam là tuyện ngắn thật ngắn Truyền ngắn rắt ngắn phủ hợp với quy lut sáng tic khi iy chất lượng làm tiêu chuẳn hàng dẫu
`Và theo “Từ điễn thuật ngữ văn học" Trin Dinh Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, * tuyền ngẫn thường hướng tới việc khắc họ một hệ
‘hit ign mgt nt bin chit ương quan hệ shin sinh hay doi ống của tâm hỗn tượng, con người Cất truyện của yện ngắn thưởng diễn ra ông một thời mm,
và không gian hạn chế, chúc năng của nó nôi chung là nhận ra một điều gỉ đỗ sảu sắc về cuộc dời và nh người ấu tổ quan ong bộc nhất của uyện
Trang 18
ngắn
n tạo cho túc phẩm những hiều sấu chưa nói hết"J23, 371] những chỉ tết cổ đủc, có dụng lượng ồn và lồi ảnh văn mang nhiễu
Từ những ý kiến, nhận định trên cho tẤy ruyện ngắn là một hình (hức cỡ nhỏ nhưng chứa đựng một dụng lượng lớn” của đời sống Nó có thể lã Nồi
"ải bảy dặm)" đưa người đục qua khắp cõi nhân nh để ải nghiệm những, tbuển vi của đối người
`Yếu tổ quan trọng bậc nhất của tuyền ngắn là những chỉ tết cô đúc, cổ đăng lượng lớn và lỗ hành văn mang nhiều ân ý, to cho tắc phẩm những ghiễu su chưa nối hết Truyện ngắn là th lại gẵn gũi với đối ng hằng
"gây, súc ch, để đọc, ï thường gắn lin vi boại động báo chí, do đồ có tác dung, dh ung kip thải rùng đôi sống Nhiễn nhà văn lớn trên th gii và
"ước a đã đại ới nh cao của sự nghiệp síng ạo nghệ thuột chủ yếu bà
Mặc đà thuật ngữ truyện ngẫn ra đi muộn (khoảng coỗi thể kỹ XIX)
“hưng bản thần tuyển ngắn đầ xuất hiện v tổn ti ngay tử buổi bin mình của nhân loi, khí con người biết sáng ác văn chương Trả qua bảng ngàn
“im, với bao biển cổ thăng trầm của th loi, ngây nay truyện ngẫn đã chiếm lĩnh được vị tí quan trọng trên văn đân rung kỉ nguyên Hiện đi, Hậu hiện đai, khỉ con người bị đổn ép vỀ mặt thời gian hơn bao giờ hỗ Con người không có di thời gian cho những bộ têu thuyết đồ mu: Tay ae, Tam cuc diễn nghĩa, Thuỷ li, Hỗng Lân Mộng, Những người kiến thổ, Chiến
“anh và hỏa Bình, Sông đồng êm đền uyễn ngắn đã hàm chữa cải th vi của những điều sâu sắc tong một nh thúc nhỏ, gon, ảnh xinh và đây
Trang 19‘maya cam, tuyén dia cực nhanh những thông ta, nhanh cũng là một thể
"mạnh để tuyện ngắn chính phục độc giả đường dại
Raymond Carver ~ mt trong nhimg bộc thầy truyền ngẫn thể giới ghỉ hận: ngây my tác phẩm hay nhắc tác phầm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về shiễu mặt thậm chí sổ tắc phẩm cổ cự hộ lớn nhất để trưởng tổ, w
tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn” Truyền ngắn gắn chặt với báo
chí, Dây là một lợi th lớn, bởi hiện gi báo chí kế cả báo điện tử đang bùng
tổ với tốc độ chồng mặt Người đọc quen và thích dọc truyện ngắn rong vài chục phút hoặc trong một vải iỡ.IÍơn nữa, sau nhiều năm chiếm lĩnh văn dân, thơ, kịch, ti thuyết dưỡng như vất kiết vỀ khá năng hỗ nh và đối
“mới th loi Trong khi đồ truyện ngắn côn là mành đất ương đối rồng, điều
“ấy tạo điễu kiện hit site thuận li để ác cây bút khẳng định tả năng 1.13 Quả ình phát tiễn của truyện ngẫn Việt Nam đầu thé by XX
"Nhữ chững ta đã biệt loi hình tự ự tong văn học đân gian nữ ruyện cổ tích thẫn thoại và ưuyện cưi là nguẫn gốc muỗi dưỡng và hỗ rợ những kinh
"nghiệm nghệ thuật cho việc sáng tác truyện ngắn buổi bạn đẫu, Tryện ngắn
út được những kính nghiệm quí bán của truyện cổ tích trong sự khá quát cao, các biện php wie Ie tượng trừng của tần hoại và ngẫn gọn bắt ngờ của tiêu lâm
‘Vin nati sự thể kỷ XIV- XVI khẳng định thành tr của thể loại ruyện
“gắn dân tộc như "Việt điện u inh” (Lý TẾ Xuyên), "Thánh Tông đi tháo” (Œê Thánh Tông), "Lĩnh Nam chính quất” (Vũ Quỳnh và Kiễn Phủ) và tiên biến nhất vẫn là "Truyễn kỳ mạn lạ” cha Nguyễn Dữ Tuy dưới nh thức là
“Smuyễn kỳ" nhưng hầu hết các tuyện đều phin ánh những vẫn để xã hội
Trang 20đương thời "Dưới hình thúc những tuyện hoang đường, “Truyén kỹ mạn ye" phn nh được một phần sự thật xã hội đương thời Nội dung  điền đạt hằng mộtlỗi văn giản sứ tưởng tương, các nhà văn hiện đại của ta được
6 thé tm thấy trong độ nhiễu để lý hút (Bài Kỹ)
Xi quan niệm "Văn đi ti đo"
"si hình tự sự được nhà nước phong kiến quan tâm, phổ biển nhưng, như cquy luật vận động của đồi sống, nó vẫn phát tiễn “ự nhiên nhỉ nhiền",
“Thỉ đã ngôn chí” mười thể kỹ trang đại
“Chính văn học dân gian và loi hình tự sự trung đại đã "âm tằm” nuôi cđưỡng mằm mống truyện ngắn sau này, Cuối thể kỹ XIX đầu hể kỹ XX, khi chữ quắc ngữ thoát
sắn Thì tuyên ngắn quốc ngữ dã bất dẫu ình thành, khối bốn bức tưởng của tu viện và hôa nhập vào dối
Sau khỉ quen cích viết "rơn tuột như lõi nối" của Trương Vĩnh Ký,
"Huỳnh Tịnh Của, du thé kỷ XX, truyền ngắn Việt Nam bắt đầu phất tiễn, gắn hến với tên ỗi bai nhà văn "khai sơn, phí hạch” Nguyễn Bá Học (1857 1921) va Pham Duy Tén (1881- 1924) Tuy số lượng tác phẩm it 6i những tyện ngẫn cña bai ống
“Đặt những tuyện ngắn của Nguyễn Bá Học bên những truyện cổ diễn, hũng ta côn nhận ra nhiễu tính cách liên lạc giữa ha th ti, hi lấy một
“đêm trước” của văn xuỗ giải đoạn sau
tuyện của Phạm Duy Tến đem đặt cạnh một troyện cổ diễn, ta thấy có một
sự đ, một sự gián cách đột n
(Thanh Lãng)
t, bắt ngờ c về tr tưởng lẫn nghệ thuật"
`Vào những năm hai mươi, rên văn đàn xôn xao hiện tượng Phan Bội
“Châu, Nguyễn Ái Quốc, Những nấm thing rung ngọc Quảng Châu (1913- 1917),những năm tháng "May áo cho người alẬy chẳng" (Lời của Phan Bội
Trang 21(Chau), Phan Bội C
tuyên” kêu gọi, cổ vũ lòng yêu nước Nhưng, chắn động dự luẫn hơn cả vẫn
là tmyện ngắn của Nguyễn Ái Quắc như Với dan văn của ñd Trơng Trc (1922), "Con người bit mũi hun khối” (1922), Ví hãn: (1923), Những mở lồ Soy Varen và Phan Bội Châu (1939) Chỉnh nhờ những truyện ngắn này mà văn xui đân tộc được bỗ sung thêm một yêu tổ mới và vã cùng quan trọng”
vấn trøng quế tỉnh sảng tạo được để can Nhà văn thấi không côn là người ngược lạ kí tưởng tượng, hư cầu của nhà
hí hấp ịth sứ đồi sống một cách khô khan, mã đứng ngha là người ti tao đâi ng, “phụ sinh” đồi sống
Từ năm 1930-1945, truyện ngắn Việt Nam phát kiến rựcrữ và liên tiếp gặt hài những vụ ma bội thu Có thé thy su ha ewe tp dt Kin, ta" Bong đương tạp chí" rồi “Nam phong tạp chí" và phải kế từ Tân Đã “người mỡ đầu gia thể văn xuối tự truyện Quốc agữ” (Phong Lê), KE hữa kinh nghiệm, thành tựu của những người đi trước, câu văn xuôi nhanh chứng chuyển sang
“một chất lượng mới, qua công phu gọt rũ, trau chut mã vít hỗ câu Văn nằm
tá Khẩu ngữ của lời nồi thường để ở thình cu văn nghệ thuậc Gần liền với truyền ngắn gai đoạn nà là những gương mặt *àng ; Khái Hững, Nhất Lính, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Hỗng, Xuân Điệu, Thanh Tinh, Kim Lin, Bùi Hiển, Nguyễn Công Hoan, VO Trọng
"hung, Mạnh Phú Tư, Dỗ Tỏn, Hoàng Đạo Mỗi người một phong eich tao
"nên sự độc đáo, mới ạ cho vấn học giai đoạn này, Nếu như rong "Thị nhân
“Việt Nga, Hoài Thanh - Hoài Chân đã khẳng định các kiểu “ei wi
“hân” ca các nhà Thơ Mái "Đôi chúng ta nằm tong vòng ch tối Mắt bŠ
Trang 22tông, ta đi im bŠ sâu, những cảng đ m cảng lạnh Ta thất lên trên cũng Thể Lũ, ta điền cuồng cũng Hàn Mặc Tứ, Chế Lan Viên, ta đấm sy cũng
“Xuân Diện thì dy, qua inh van hoa” ea thể giới hả văn, chẳng ta
cũng để đảng nhận ra được những phong cách độc đá, sing tạo của từng cổ nhân iệng lẻ
Từ năm 1929-1932, trên chuyên mục "xã hội ba đảo k
chí, Nguyễn Công HHeon đã tình làng trên đười 20 truyện ngắn, khẳng định phong cách ro nhúng của mình như "On tả mon", “Thất là phúc", “Răng cơn chỗ của nhà tư sim” Với Nguyễn Công Hoan, mỗi tuyện ngắn chỉ khai thác một nh huồng, một mẫu thuẫn, Ông biết côch đầy mẫu thuẫn lên tật cao rồi kết thúc đột ngộ Với Nguyễn Công Hoan, có thể nói tuyện ngắn
cửa An Nam lạp
hiện vả ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại đã hình thân
Khác với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao về chất hiện thực củ đời sông, thì Nguyễn Tuần, Thạch Lam và kế cả Thanh Tịnh đã gẵn nhau ở cải cốt sích lăng man, Hữ tỉnh, nn thơ trong truyén agin Qua ngôi bút Nguyễn
“Tuân, ngưổi đọc như được tử vỀ “mái nhà xư với những ký niệm vàng son cửa một thời vang bóng Trong nuyện ngắn của mình, Nguyễn Tuân dưỡng
‘hur quên đi cái hiện thực St sỉ là is ba phêg” (Nguyễn Công Hoan, để
"mơ về ci đẹp của ngây xưa, sống với cuộc sống của ngày xưa Tuyền ngắn
"Nguyễn Tuân cuỗn hút người đọc không phải ìcấ truyện, tinh tế, nhân vật
"nà bởi các không khí truyện, cái tâm tráng con người được thể hiện bằng
“một thứ ngôn từ điều luyện
Trên hành nh di timed dẹp, Gió đẫu mủa, Nẵng rong vain dng ảnh cuộc đội Thịch Lam vào rong ch Nồi như nhà nghiền cứu Bùi Vit
Trang 23“Thắng “Thạch Lam như một người làm vưên thẫm lãng chăm chữt ta xới, chất chu từng mằm xanh nụ lá Tuyền của ông xinh sắn, tơi nguyễn và trong trẻo Nhưng không vỉ thể mã yêu kêm giá tị nhân văn và ý nghĩa ích c6 Thạch Lam viết nhiễu vỀ những hỗi e, kỹ niệm thời thơ ấu và thức đây mỗi người những rung động sâu xa Bao nhiều năm qua rồi, cuộc sống của
ghị en Liên, của ci Hiện, của gia đình mẹ Lễ, của ất cả những cơn người
“Abi nghèo wong com rạ” (Chế Lan Viên) tong tuyện ngắn của ông, vẫn Xhiến nguời đọc không rãnh Khối những khoảnh khc xa lông,
Diễm qua một vài gương mặt "vàng" của truyện ngắn Việt Nam 1930
1945, chủng tôi nhận thấy, bằng những nổ lực của mình, bảng công việc niệt
"mài tên cảnh dông chữ nghĩa, dội ngũ những tên tỗi này đã di ất xa cái đích chúng mà nhiễu thể hệ người iết đến san, tong suất thể kỷ 30 vẫn chưa Vượt được Vã trong khu vưỡn "âm họa dua nổ” ấy, có một nhà vân lặng lẻ đầy mơ mộng, bằng khuảng cái bãng khuảng buổi đầu Ti đi học, vẫn mang theo sốt hành trình là đồng sông, là câu hộ má nh, mái đấy, là ngộ tng
"miễn Trang xa lắc đẫy những ký de tub tơ, đây những con người vừa quen
va lạ để ỗicẫn mẫn trả li sho đời những trang văn mượt mã, sâu lắng và thấm đẫm chất nhân văn - Nhà văn Thánh Tịnh
L4 Thanh Tịnh và hành trình sáng tạo vẫn chương
41.2.1, Thanh Tinh ~ cuộc đời và đgyên nợ văn chương
“Trong suộ đội ng tắc của mình, Thanh Tịnh luôn ao ác "Ước gỉ
“mủa su Một câu một chữ đượm mẫu dân gian, Phi chăng những mong uốn hỏa nhập vào cuộc sẵng của “nguới rồng dân, trồng ga" và những
oi niệm tỗi thơ ở làng Mỹ Lý xa ngấi ở miễn Trung, khiến văn chương,
Trang 24cua Thanh Tinh bao gi cũng man mắc, rữ tình và sâu ng 7 ải man mée,
ữtùnh của điệu hò mái nhỉ, mi dẫy văng
cuộc đội và khiến ông tạo nên một phang cách iêng, không th ẫnlận trong đông chấy của truyện ngắn Việt Nam 1980-1945
gi in sống dã heo ông suốt cả
Thanh Tịnh ên thật là Trin Thanh Tịnh, sinh năm T911 ti xóm Gia Lạc,
‘Ven séng Huong, ngoi 6 thành phố Huế và mắt năm 1988 ại Ha Ni Lie
hủ Thanh Tịnh, được gia định cho theo học chữ Nho, đến năm 1 tỗi, ông chuyên sang học tiêu học và ếp tụ lên rung học Những năm thắng miệt tài tên ghế nhà tường Thanh Tịnh đã bam thích văn chương, Những tác phẩm của hai nhà văn Pháp A Daudt và
chính sự say mế nảy, dã khiến Thanh Tịnh di theo con dưỡng vẫn chương và hấu ảnh hướng nhát định từ lai nhà văn tên, Năm 1953, Thanh Tịnh đi lâm các xử tự tỗ sau để lâm nghề đạy học Thôi gian này, ông bắt
lâm thợ Vã công tác với sc từ bảo nổi ng như Phong bóa, Ngấy my,
“Thanh Nghị, Tiêu thuyết thứ năm
(1937) mang phong cách lãng mạn đậm nế Thơ ông thường mượt
"mổ, tinh tế nhưng man mác ban và bồng khung, thơ mồng của con người Sinh bên cạnh một động sông “Huế øỉ, quê mẹ củ ts "(Tổ Han) Thành sông hơn cả là ác tập tuyên ngẫn Qu mẹ (1941), C ved em (192), dm
"gi tìm trần (1983)
Sau cách mạng thắng tắm, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hỏa cứu quốc
“Trung bộ, Từ năm 1954 ở đi, ông tham gia phụ ch rồi làm chủ nhiệm tạp
Trang 25ch Văn nghệ quân đội Ông sing nhi thy tỉnh, thơ đã kích, ca dao hội ký đăng tên các báo Nhân dân, Quân dội nhân din, Văn nghệ, V cuân đội giải đoạn nảy, ông ông tác các ác phẩm san Những giợ ước
‘ign ấp truyện ngắn, 1956), Đi từ giữu một mũz sơn (uyện thơ, 1936),
“Tho ca” (1980) Tuy sing tie nhiéw và gạt bái những thành cổng nhất định, nhưng cũigiọng điển man mde, ttn Ay gi Không côn đâm nế hay
nghệ
gỗ thê nổi ch khảe, rong tâm hẳn người đọc, nỗ đã tồi về nơi xa im Tap tuyện ngẫn Những giọt nước biển phần lớn gồn những bãi ông vit tome thối kỹ kháng chiến chẳng Pháp MỖI cầu chuyện "như một bài thơ nhá" (iẫn Hữu Tả) ghỉ hình ảnh những người nông dân dẫu miễn xuôi hay
“miễn múi đổu gan dạ, ũng cản, ng lẽ nhục vụ sơ nghiệp đănh giậc cứu
dải Kế về thối
đắp ủ dự định “đi
tấm hình ảnh của nước” (Chế Lan Viên) Truyện tho di gn hai nghĩn câu, được chỉa làm tăm don, Dây là túc phẩm được Thanh Tịnh viết và miệt mài sửa chữ rang nhiễu năm Tắc phẩm viết đưới hình th kỄ chuyển, mang
âm phong ích dẫn gian và phủ bợp với giong diều tâm tỉnh của the Ong
"ước Thyện thơ Di t giữa mộ màa sơ là một cầu chu
ign thiểu của bác H từ lúc chảo đời cho đến năm lŠ tu
hin chung, tác phẩm của Thanh Tịnh đậm chất rỡ nh, Thông qua tâm,
bm túc giá, hiện thự cuộc sống được phản nh giản đị mà âu sắ, không phải chỉ ở b ngoài, mã ở các lịnh hồn sâu lắng bên trong Văn Thanh Tịnh luồn mượt mà, sâu ng và gợi cảm "truyện ngắn nào hay đễu có chất thơ, và
Đi thơ nào hay đều có cất ruyện” (Thạch Lam)
1.2.2, Hanh trình sáng to
Thánh Tịnh là một rong số không nhiễu những tác giả én tuổi vừa làm,
Trang 26thơ vữa viết văn xuối giai đoạn 1982- 1945 như Thể Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy
“Cảm, Xuân Diệu, Hồ Ảnh Những cũng gng như Hỗ Danh, Thạnh Tịnh nỗi tiếng và để ị dẫu ấn tải năng của mình tong truyện hơn là trong thư, mắc đủ ông đã từng đoạt giải nhất cuộc tị thơ do HN Báo tổ chức năm,
1936, đã suất bản một tập khả hay: in chin rng (1987), trae Ki được các tấp tuyên ngắn đặc sắc: Quế mẹ (1901), Ngắm ngất lớn mắm (098)
ca những nhà văn cũng thôi: ông gimn mang ính sông đổi
rong Oud me vit Nim ng tìm trần Thanh Tịnh thường tr đit lạ với
"một địa danh có súc khơi gợi địc biệt làng Mỹ Lý Có lẽ, đúng như Thạch, Lam nhận xế, cải lâng Ấy không có thật rên bản đồ, nhưng tải năng của Thanh Tịnh dã khiến nó trở thành một ngôi làng của ấn tượng, ngũ làng sống thực tung tâm cảm,
"ảnh làng ấy có một đồng sông cũ kỹ chủy qua những bên bờ xanh ngất ding ia vay tre, có những con thuyền chớ những cô gi làng di ly chồng
xe rở về quê mẹ (Con sơ ề nhà ng, Quể mọ), chữ những khát vọng âm thầm
về một hạnh phúc móng manh (Bắn nứaJ, hay chữ những câu hồ điệu hát làm sao động cả không gian và thời sian én ma, Que ban, Tink trong câu ái,
Trang 27ng song - Con thuyền - Câu hồ, đã là nhàng iễu trưng một thứ thiệt ghế" ĩnh hằng của mỗi làng Việ cổ: cấy
chớ che tế nhị để không lâm tổn thương đến ng tự ái, niêm kiểu hành và
“hd mẹ); chị Sương giã bảy với một câu học rồ về mỗi tình thẳm kín giữa mình với tây xếp ạa (Tinh da); những đội tai gi bấy tô nh yên sy đìm
và nỗi dau chia Ha (de ma, Qué bon, Tinh tong cw hi); St ng ching
đã hóa hỗ cũng tim một "êm trăng mở cuối tu” để ở về thâm lạ vợ con (gdm aga tia toẫm) Truyện ngắn Thanh Tịnh ân ngập ảnh tăng, và đồ
là không gian iềng của làng Mỹ Lý, cũng như không gian óng ti đối với
Trang 28phổ huyện của Thạch Lam, không gian ciể đố với no chia mo hd cia Hỗ TDoánh, không gian chọng vụng iu hắt đố với những kiếp người võ danh võ ngdĩa của Xuân Diện
Thù hợp với c không gian thôn dã cổ điền ấy, nhân vặt của Thanh Tịnh những con người gắn hồ chặt chẽ cuộc đời
nh với cộng đẳng làng xám, và cũng bị chỉ phối chặt chế bởi những lễ luật của cộng đồng, đồ là những con
"người bình di, mộc mạc nguyên sơ như đất đài, cây có Ho di si, Sn me, nd tăng, hành xử vẫn y như khỉ thể gii của họ vẫn nguyễn vạn, và với bản tính nhẫn nại, cam phận, dù gặp phải bất hạnh cũng chỉ thé di boặ đổ cho cđuyền sổ Ở họ còn nguyễn ỗi sợ hã, me quỹ, thánh hẫn, cũng niém tn vio
Sa lin ứng của ái th giới kỹ bí, mông lung vừa là chỗ dựa hạ vừa là nỗi khiếp đảm của họ; cn nguyên những quy tắc ứng xư kiến "phép vua thua lệ láng) và "inh lăng nghĩa xôn
xưa vẫn là những giá ị đạo đức, nh cảm không hễ thay đối Những bền cạnh đó, cũng đẳng thời ẫn ti những quan niệm cỗ hủ, những in nhiệm bên vững nhất luôn vươn cính tay ra níu chân những kẻ dâm ừ bỏ, thay i hay
vi pham lễ uật của làng Tắt š những đặc điểm đó, một mặt sẽ gi lại cho "tịnh cảm ga tộc, những điễu nhân nghĩa cổ
làng quế những nét cỗ tyỄn riêng, mặt khác ĩtọo nên sự tr lt ếu một
hi thối cuộc thay Ai
Tuy nhiền, ong cái không gian tưởng như khếp ín vã cổ phân th lăng
y, đồng sông bẻ là yêu tổ mở ã động: nỗ mớ rộng phạm vì ông và giao lữ của cộng đồng, gip con người vượt thoái khối sự tỉ từng, Bn đỏ, bã sống là nơi số những xao xác chíaly, nơi chứng kiến bao nhiêu b kịch lớn nhỏ cha kiếp người cũng những đổ thay "hương bá tang dit” eta cue di Chi điều, những biển đổi của cuộc đời cùng những bí kịch của con người đường
Trang 29đã cổ từ xa xưa, và người ta đã quen tấy, quen sống, quen chấp nhận nỗ
Do viy, sự vận động của đông sông, xế đến cũng, vẫn nằm rong vũng tuẫn hoàn đến địa, cổ tuyễn của nhịp sẵn, nhịp thôi gian, và người ta có thể huận toàn kiểm soát hoặc chế ngự nổ bằng "lẽ làng", ng những răng buộc võ Hình nhưng vỗ cũng chộtchẽ khác
Có thể nồi ng nhà văn nào cũng phải ùm cho mình một điểm nha, điểm, tựa để hổi ngun cảm hững sắng tạo và đ bảy tổ quan niệm của mình về thể giỏi Đ hoài im, Thạch Lam để cập đến một mỗi tường tính lẻ, phổ huyện, tới con người có thể lự de đi theo bai hướng: thị thành hoặc thôn quê Hồ
HD nh chọn một quê hương đẹp đề nhưng không thực, Lưu Trọng Lư chọn Chic căng Xanl còn Thanh Tinh gin di hon, ông chọn lông Qua góc nhìn của ông, ái lắng qué nông nghiệp Việt Nam vừa tiêu đề xơ xắc vừa khốn khổ nhọc nhẫn tung hầu bổt sắn tác của các nhà văn hiện thực đã gẵn như không hiến diện hoặc đã hiện diện dưới một ánh sing Khe, Vio thải idm ấy, cơn bảo không hoàng kinh tế đã ào qu và tần phá làng Nghĩa Đã của Tô Hoài (Qu người, đã đẫy nhiều làng quê khác vào cảnh bần cũng, nhưng ại không hễ chạm đến làng Mỹ Lý Ngược li, em bão văn mình từ phương Tây tổilới ngỡ như chỉ trăn vào các đồ tị lớn ạ xâm nhập mình, cất này, ph vỡ không gian eb try của làng, áp đặt sự hiện diện của n lên
“một xử sở đã bị dảnh bạ nhưng không chịu khuất phục, và khoảnh khắc xung đặt mới cũ, hiện đại cổ tuyền ấy đã được Thanh Tình kế lại bằng một
‘gong du hin shin pha chit hil hue nh ning, vita che di efi phần nghiệt
"ngã, tản nhẫn của hiện thực lại vừa tạo nên cảm giác những xung đột ấy đến
hư một quy lu ất yêu
Tuy chưa bị biển thành không gian nữa phổ nữa làng mã pÖfø phổ với phổ
Trang 30“huyện, chơ luyện, nhà ga được nhìn trực diện phía làng, như không gian trong truyện ngắn của Thạch Lam, bay không gian “nữa mũi hôn 6, nữa đã tị
° như Nguyễn Tuân tùng miễn tả (Đế bế đẳng mt cua), nhưng không gian ling Mỹ Lý của Thanh Tịnh cũng Không côn nguyễn ven mua G pha bến k làng đã xuất hiện một con dường sắt, với những con ấu kỳ lạ khi tì
“hấp tập vội văng nhữ người đi tấn nạ”, lâm cho "sẻ hai hên đường cũi rạp
"hiệu sự xuất hiện của nổ,
"Như vậy, bê cạnh biểu trưng - Đông sông = Con thuyễn = Cấu hô, Làng IMs Lyla côn tiếp nhân một biển tug thi: Đường sắt (nhà go = con tàn
~ Hng ci Dù chúc năng ha bên sô phần giống nhau, những ý nghĩa của chúng thậtlà khác biệt một bên là đặc tưng cho nền văn minh làng xã Việt
"Nam, là không gian văn hộa truyền thông, cần bản kí là iu biểu chờ nn văn mình 6 thị hiện di, là yếu tổ được áp đặ từ bên ngoài chứ vẫn không cằm tong cứ cấu nội ại của xã hội Việt Nam theo mổ bình phong kiến, Con tn, với những vòng quay nhanh, mệnh, gẤp gấp, với ng cội tế lên trang đêm vắng, đã Nhân nhiền và ngạo ngh Tạo thẳng vào sự yên á của làng, vừa phá vỡ một thể giới cũ bình yên những tủ túng, lại via mở r một thể giới khác ty lở mũ, bắt rắc nhưng lạ t mới lạ và không phải là không hip dia, Nhung “hảy xắp ga" xuất hiện ở lãng với đảng dấp của những
“hoàng từ cải rang khiến cho bao cô gi lăng bì mê hoặ; một cá ga lam đã
Trang 31khiến cho “bao nhigu dung 6 lang M9 Ly Au quay dn v8 dy We” en con ding st); ning người nông dân quê mùa chất phác bắt đầu nhận r cái thủ được xê địch bằng một phương tiện gian thông hiện đại, phất iệnra cách tính tối gian mới: lu hoi đề đến, Th lä mui al gid” (chun xe end
‘nd; cing nh pt hiện ra cách kiếm sing nhờ vảo sự vận inh cia con tu
‘vb oh ga (Am er ~ By 26) King chi 6 thé, cũng với nhà ga và con tân, tường học được dụng lên, te coa từ bộ chữ Hân dễ bất đâu học chữ quốc ngủ, chữ Pháp, vã quên dẫn những trổ chdï nh nghịch cũ do lối bọc "cử tứ" đem lạ, và tư đuy theo kiểu "Khẳng Từ vế” nghữa là “ử Không Từ nói ing" (Dai ban qué chi i)
Sự kiện tr ngiy nh muse bit eon ding sit dt qua ling” (inh she) ở thành một mốc thời gan để tính đến những thay đôi lớn nhỏ trang lân, đến thân phận hay duyễn phận những con người đang dẫn đẫn phụ thuộc vào nổ một cách vô thức, Đối với người này, đồ là cơ hội để hước sang một cuộc đổi Khác sung sướng hơn, "năm ngoái chị Hỗ chẳng lấy ông đắc trường Mỹ Lý đó Côn chị Viêm con búc cả Lai hi đã có thy day thẳng Thuyên sắp đến hôi" Xinh h); đổi với kẻ khá, đồ là khao khát là hy vong về một cơ bội tương
tự như thể những cô gái làng coi việc ấy được một tắm chẳng danh gi, làm
“¬hẫy không thấy ký ở các tính lớn" hay ch là hẫy xếp gậ" (Bán con đường:
st, Bến nào, Tnh th), boặc "Ấy chẳng Kế Chợ” dé được "ăn tring mie tron (Qué new - Tô Hoà), hay “li chồng giàu rồi ên buôn bán tên nh” (Co hing xế - Thạch Lam) là một điều may mắn khỏ khăn, Dây không chỉ
là sự lựa chọn døn thun theo bản năng sống, mã cò là một nết lâm lý mới
cửa mội lớp người mới trong hoàn ônh bấy giữ, à chứng lô sự tha đổi khổ
Trang 32"rảnh khỏi của một quan niệm sống, một phong cách sắng đã có tải được coi
là thuẫn mực,
Tuy nh
vẫn về nhà mẹ "Lai gi rong làng vẫn say bà như say bìa ng (Bồn + cuỗi cùng,qu bao nhiều đổi dồi, biển động ở làng Mỹ Lý "sơn
“»aj, những cân hỗ mãi nhỉ mái đầy xẵ nh tử Vang lên trên các đng sông,
"một phí vẫn là chiếc cầu nỗi tâm bồn những chẳng tr cỏ gái với nhau (ùn trong câu lát, Quế hạn) Trong các phiền ch không thấy xuất hiện những
tả áo ân thời, những sản phẩm của nền kỹ nghệ hiện dai như tong phiên chợ cửa Cô bằng xến (Thọch Lam) Cá làng Mỹ Lý bì xé làm đôi ấy vẫn ấp ue nhịp ng đặc trừng của ninh: vừa bị cuỗn tho lại vừa cường chống lại cải lực hút võ hình đến từ bản ngoài, vừa muốn vất bộ lại vừa ra sức giữ lạ những giác
‘Tim tang twing ehimg miu thuẫn đố không phải chỉ có ở iệng Thanh Tĩnh Xưa nay cảnh "bãi bể nương đâu” ẵn thường gọi cm hing bi thương, trong âm hồn văn nhân, tỉ nhân Tuy không thuộc íp nhỉ văn "hay thương tiếc những cái đã quá” như Ngọc
tra lãng mạn, Thánh Tịnh cũng như Thạch lon, Hỗ Dznh, Lưu Trọng Lư,
iao, nhưng vỗ là một tắc giá thuộc rio Nguyễn Tuân đãnhĩn thấy nguy eơ "ái đẹp bị lâm nguý” ngay tong lông Bắt cử một sự phát ign vật chất nào Lưu trọng Lư thời đó đã từng nhớ tiếc con đường qua trông rũ ng ngoại ngày xưa, nay đã được san phẳng, vã cải hành trinh hi vị cá một đêm xuyên rũng nạy chỉ đi có nười lầm phô đồng hồ, bằng ô tố nhớ tếctểng m của một bả mẹ, tổng lục lạc cột ở chân
một đứa bế, “iỗng rùng của một thấi đã sạp đó, đã đổi vỗ" Vã bắt lực *ồi sản biết ni thể nào được? Vì sự nhanh chẳng Ấy, người ta gọi là sựiến bộ Xảa mà" (Chắc cáng xanl) Còn Nguyễn Tuân tì ao ie due ti a“
Trang 33thôi người đai lữ khách chỉ đi bằng sức vó ngựa”, chứ không mun phụ thuộc
ảo vận tốc nhanh mạnh và giờ gắc nghiềm ngặt của một con tu hôa, vỉ “cái giắng mấy móc nó vẫn võ th (chiếc đồng mắt a)- Không phi và thể giới uôn thay đội theo hiều hung xu, ma vi chin tong con ng nh vin báo gờ cũng iễn ra một sự "phân thận” muốn thườ giữa một bên là cái Dep,
“sản mặt bê là những g được co à tiễn bã” (nói then cách Lưu Tượng Lư) nhưng ạ phá vỡ cải đẹp đó, mặc dã đõ à ự vận động tất y của cuộc sống,
là cũ giá phải trả cho bấ kỹ một sự nhất iến kính, khoa học nào
Trang 34CHƯƠNG3
"ĐẶC ĐIÊM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH - NHỈN TỪ
‘BE TÀI VÀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẶT
sao đang na ry trên tổng không, VỀ phia a, cảnh rừng mai đã loang loáng hơi một màu trắng sữa Một mùi hương nhe ớp thơm, cả khí tồi Cơn gió lạnh thoảng tron rồng thông nghe mơ mảng như bản đản mái đạo trước mái
âm tranh cây sơn trồ ngập ngừng thì rơi tổng chiếc lí một (Mi độm xin) Năm rong mạch uyện ngân uữ tỉnh nền uyện của Thanh Tịnh cũng xoay quanh những để tải que thuộc của các nhà văn cũng phong cách Ông
viết nhiều về đễ ải nh hoạ, phong tục chốn lãng xôm, hương thôn miễn
“Trung - nơi ảng đã nh thành - những kỹ ức luôn đeo đuổi ông trong suất cuộc đi Ở đó ông để cho ngôi bột của mình được thoải mái tang hoành KẾ
và về thiên nhiên, v ập te, về inh hoi đời thường của làng và người đân
Trang 35ling aghin cit cho hiy, tuyện ngắn của Thanh Tịnh thường xoáy quanh sắc đồ am
-3L1 Cảnh sắc quê hương,
Trong truyện ngắn lăng mạn, nhi te giả viết về cảnh sắc quế hương, Họ
đã dịng lên được bức phong cảnh quế hương xứ sở với nét đẹp vừa thân quen Minh đị vừa thơ mộng, hữu tỉnh Đặc biệt, đi thiên nhiên chiếm một vị uí
TẢ quan trọng ng sng tác của các nhà vẫn Thiền nhiền vừa là nơi con người hỏa mình gắn bỏ, nơ ký thác tâm tnh đẳng tải nố cũng trổ thành đổi tượng thắm mỹ khơi nguẫn cảm xúc sing tạo cho văn nghệ sf: "Tỉnh cảm, thiên nhiên gốp phân lm nên cảm hứng lãng mạn, sắc tấi cảm xúc của câu huyện kỂ, bằng những bức tranh thiền nhiên chân thực, gốp phản làm nên linh hồn câu chuyện TS3, S7] Dây cũng chính là về đợp da dạng của cô cây, sông nước, mây tờ là những nết họa đẹp tơi mà các nhà văn đã điểm to vào bức anh cuộc sống, nó làm cho cuộc sống thêm phần đáng yéu, ding
Truyện của Thanh Tính thường gợi ên được những bức ranh quê hương
“đu đãng sắc hương và võ cũng gi căm Miễn Trung với làng Mỹ Lý xa ngấi của ông báo gi cũng đẹp và yên bình: “Gió ti 3 dat dio
ne vi Kh Bén kia ding téng hb dap nude cin wing ving vang Ten giữa bóng chiều sắp ất Tiếng bò rời nạe và buỗn buôn nghe như đần ve xâm thả
n đồng lúa chí
iong ngân rên cuối hạ” (Cơn sơ vẻ nhà mơ) “Đường đã khúe Khuyu chy đọc một mê sửng An Cựu và vươn qua nhiễu đảm mộng sắn sinh ơi Gió thổi đẫu đều trong ngọn cây vì rụng nhẹ những tia ming abot” (Lim), “mot busi chiều vàng rùng mệnh mông” (Tink rong ct hd) ta có tế cảm được cấi
Trang 36hanh Bình, cải vn ä cải lãng quế Viết Nam với những cảnh đẳng lõa mệnh
"rồng, với những lũy te xanh ken đây, với những dòng sông yên š và tếng hộ mãi nh, mái đấy của bạ chải ngăn dải vọng về Bức tranh cảnh lãng quê này cảng thêm th vị vào những dễm cổ ãng, khibẫu tới đền chỉ cổn trăng ngư
tr, kh mà tăng rộng lượng bạn phát cái ảnh sáng dịu dàng, thanh thời khiến cho cảnh vật thêm thơ mộng và tâm hỗn của con người thêm ae ain, khoảng đạ, xe nhỏa đi những vụ lo, phiễn muộn, vắt v lúc bạn ngày: " cảng khuya trăng cảng tố Tiếng nối qua hi ịu dẫn cho đến lúc câu chuyện thành nhạt nhẽn võ đuyên th si ấy đều Ím tiếng Cánh vật của i đêm lặng
lẽ báo vậy giấc ng say sưa của mọi người" (Quế bạn) Tuyện của Thánh
“Tĩnh trần ngập ánh trăng, nhưng tả tỉnh l ở chỗ trăng đã được ông thổi hồn
"người nên nó không chỉ cò là nk sing tựnhiền củ tiến hiền nữa Nó đã
"mang âm trang con người Trăng trong Ägớm ngủitừntrễm đã không còn vẻ thánh bình, nỗ mở áo, ma quả bạo trùm cảnh vật, nô khiến cho ông người thêm hoàng mang, lo sợ trước sự huyễn bí, kỳ lạ của núi rừng thượng ngàn Tmả tr tệ con người sôn chưa hiểu hổi được: "giữa một đêm trăng mở cưỗi thụ, bác Diệm gái bỗng nghệ ếngrũ sa xa đứt quảng rồ kéo dit áo não”,
“ảnh trăng thủ giấy bụi vàng nhạt
ia im be gi giật minh" "mổ lóc đi đơn nhấy của con người kỳ
rong bu nh sing nhạt, nhuộm sương khuya”,
“Son vật quay mình lắng lạng đi vào phía ni Trui, ri biến dẫn rong ảnh trăng xanh nhạt" và trăng của tỉnh yêu nam nữ cũng ãng mạn, cũng bằng hung, hỗ hộp như người tong cuộc
Trang 37thiếp chị lạnh lũng thiếp cam” (In nữg); "Chiều chiu rà đứng của sau
dũng dầu giường / Tôi trưng mất ch / Tôi đầy sự sc/ Tối đây sợsệt Sợ họ gặt hết ầa đồng it Ngõ về quế mẹ rut dau chin chu” (Qué me):
“Tôi đến đấy mốt lượng ừ B / Một điễu akin nghla, chit mit chi tia ai” (Con so vẻ nhà mẹ; "Thuy ai ỗi tước / Ch tối lưới đn cũng / Chiều đã
VỀ ti đất mang lung / Phái uyên thì xích li cho đỡ não nàng tiếng sương”
“Ti một vũng đêm đải không bạn / Mượn giõ chiễu hồi bạn ngân sống /
“Thân em là gii chưa chẳng / Tơ duyên có chắc như dòng nước không?
“Tình về Đại Lược / Duyên ngược Kim Lang Đến đấy là chỗ ẽ cũa lông /
“ấp nhau còn bit rên sông bến nào” Tịnh trong cấu lá) Bản thân mỗi câu
ca đồ đã là một câu thơ chứa đựng những tâm nh của ông người nuốn giã” biy, chị sẻ Ở những chỗ, thời diễm mà ngôn ngữ rực iếp kh diễn tả được
bi ving trên cung đồng lúa mộng Phương Ấm con ra ngồi tước mi, gương
"mặt tự nhiền ứng hồng và đẹp một cích hit hiv", “Phuong et đầu nhìn uống sản thuyễn bái má đô như gắc Dưới ính ng, gương tnãt củ Phương
trông hồng hồng tươi xinh như bằng sáp Lòng Thảo hỏi hộp như cánh
"bướm", “Mặt răng lúc ấy đã lẫn hình rong đầm mày đen; mầu xanh bạc của
Trang 38canh ha, tỉ không thấy một bóng người qua lạ Thể nhưng, nhùng đêm, trăng sắng, người ta lạ tấp nập đua nhau dị chơi và nổi chuyện vàng cổ đường, My con ch trong xám cử đưa mỗm ra đường ha Không ngá”
tia trước cổng, cách hàng rảo tre thưa lá là cảnh đẳng mông mệnh chạy đi đến
‘chin oi xa thậm, Phú Ấy hãng trồng xuống think thoi và tri ngập cả con sing do dang win minh vươn qua đẳng lửa mộng” (Côn so về nhỏ mọi
“Thiền nhiên ở đây, tuy bun nhưng nô mang một về dẹp hữu tính, luôn gợi
‘ho người đọc có cảm giác như mình đang lạc vào nh cảnh của nhân vật trang truyện
Đến với tuyện ngắn Thanh Tịnh người đọc không chỉ tấy tính yê lăng
"xöm tình yêu quê hương nồng nàn mi cò có tính yêu đồi lữa nhưc thy Trew
vi sô Duyễn "Qua mùa đông năm sau, giữa một đêm mơ gió dầm dể, cô Tuyền chợ tính tự nhiên nghệ bên ngoài cd ig soi Có ta đưa bai ty dụi
she in sng fami khắp nhỏ, thấy Trưu mới đến vất io to dn lung ghi, xi dim dm ding
mắt rỗi sử soạng trong bông ti để tìm ỗi đi",
nhìn cô Duyên không chớp mắt Gương mặt cô Duyên tuy không ơi bằng trước, nhưng cấi đuyên xua, cái duyên mộc mạc trên đi mỗi hồng tắm, trên
‘ip mi lim dng in ẫn còn mơn món như đóa hơi hồng buổi sing Thiy
đồ đc rong nhà ngin ngang và đấy bụi bậm, (hy Trưu cũng đoán biết cảnh
“hà cổ Duyên ra thể nào rồi Biết cô Duyên ngượng vì mình đúng nhìn quá lâu, thầy Trưu đưa ty phúi bụi mưa tên cái mũ dạ tim vi Bi." (Bn con đường su,
'Nhiễu ryyện ngẫn của ông mang đẫy phong vi Huế và tạo ring cho dng một thị phấp văn xuối độc đảo Là một nhà thơ ng mạn, Thanh Tịnh đã
"mang vào truyện ngắn chất rữtình âu lắng, Tập "Quê me” man mắc tinh qué
Trang 39ương, tỉnh người, từng trang viết cũa ông thắm đươm hương vì ling aus, một làng quế miễn Trung với những vé dep thanh binh, êm ä nhưng cũng Không hiểm những cảnh đi khổ đau, ngan tái Những trang văn đã làm Sắng đây tước mắt người đọc khung cảnh êm đềm, thơ mộng của một ling
‘qué Lắng Mỹ Lý nhỏ bé, nằm kế bên một dộng sông đã rở thành một địa chỉ
“quen thuộc, một biểu rừng aghề thuật của tỉnh yên quê hương Cá tên Mỹ
Lý được xuất hiện nhiễu lẫn ong các truyện ngắn khác nhau của nhà văn
“Thanh Tịnh Quê hương, nh yên quê hương như là sự nỗi đãi mã tành in| yên đất nước
"Đọc truyền ngắn của Thanh Tịnh, chúng ta căm nhận rắtô điều này, Một làng quế nhỏ bể đ là cất nỗi tâm hồn nuôi dưỡng những tác phẩm của ông Ở đã chủng ta gập gữ và đẳng cảm với tác giả tong mỗi tỉnh quê ang rin, a láng ong khung cảnh sống nước niộng đồng Dưỡng như tâm hẳn ông gẵn
gi và ưathịch với những vẻ đẹp nhề nh, những nt bu lặng lãng
“Truyện ngắn Thính Tịnh kế về một bến đ Hu hấ, một dộng sông với con
đồ dạ Ấn hiện những lới ao duyên nh tứ, vỄ nỗi nhớ quê mẹ của một người
‘on gi ily ching xa, vé mit nhà ga nho nhỏ giữa cánh đồng với con âu bộ
lại đng sau nó những boii niệm về một tỉnh yêu không bao giờ ti, về nỗi tong bin sin cia một cũ gái quê hi phải chía tay với người bạn ti sau mùs ath
Đọc những truyện ngắn của Thanh Tịnh, người la thường ít ch ý đến ct tuyện mã chỉ nhớ
Không khi, cải dr vi quyéa luyén ngot ngào, cỏ phe chất ngậm ngủi buỗn (hương, Cảm giá ấy lắng sâu rong tâm hỗn người doe
Trang 40vã cũng với cảm giác độ là một ấm hưởng bun buển tắm thía qua những, trang vấn
-2.L3 cuộc ắng người ân quê
Sống hôa đẳng với thiên nhiên, đồi sống tâm hổn của con người như cũng trữ nên mộng mơ, ãng mạn, tá tim của bọ cũng tử nên nhạy cảm, chan chứa cân nh hơn trước cuộc đời Bồi vậy, trong sảng táe của mình tác giá Thanh Tĩnh vữa làm người đọc rụng cảm trước vẻ đẹp đăng yêu củ cảnh sắc qué
“hương đất nước, mặt khác ông lâm Ẩm áp lòng người rước những mỗi chân tính
Tỉnh cảm đối với guê hương là một trong những thứ nh cảm thing ing shit cia cơn người Văn chương dân tộc xưa nay đã vất t nhiễu về ảnh yêu
y của người Việ Những trang văn chứa chan cảm xe nhất của truyền ngắn Thanh Tịnh nối riêng văn lãng mạn nói chung đây cũng là những trang vẫn viết về nh cảm can quỹ nhất giảnh cho cuộc sẵng của son người
"Đẳng cây bútnh tế điều luyện, đẳm thắm nh người, nh đời của mình Thanh Tịnh không chỉ bit ti miều tả thể giới nội tâm, ả cảm xúc, cảm, giúc kiểu như Thạch Lam mà ông còn miễu Là những rung động nhất trung tâm hẳn con người, gi Gn ải hồn quê bit bao kỹ niệm đang mang tho và chân cất rong mình, ng đ trải qua bit ba thing trim ong sự nghiệp của mình những vẫn không quên cũng mã igo sinh ra và tưởng thành Độ cũng cổ thể là lắng Mỹ Lý, bên cạnh đường sắt tuy cuộc sống ở nơi đây gấp rắt nhiễu khó khăn rong vige Tim ăn nhữ người 1a đơng ên ở vùng này một cải ga tam, khách qua li cũng đông, buôn bán tam đô sẵng điền hình là nhân vặt cô Duyên "Dân tong ng ty ở địa phận mình có cái ga Ấy th vú thích