Xác định hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc các hành vi lạm dụng VTĐQ được pháp luật quy định?...3 2.3.. Bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT CẠNH TRANH
Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
: NHÓM
: LỚP
HÀ NỘI - 2022
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM
Nội dung: Bài tập nhóm môn Luật Cạnh tranh
Tên bài tập: Đề bài số 02
Môn học: Luật Cạnh tranh
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số: 02 Kết quả như sau:
• Giáo viên chấm thứ nhất: ………
NHÓM TRƯỞNG
• Giáo viên chấm thứ hai: ……….
Kết quả điểm thuyết trình: ……….
• Giáo viên cho thuyết trình: ……… Nguyễn Thị Kim Thi
Điểm kết luận cuối cùng: ………
Trang 3MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 TÓM TẮT VỤ VIỆC – ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 PHÂN TÍCH VỤ VIỆC 2
2.1 Xác định Vinapco có được coi là Doanh nghiệp có VTĐQ hay không? 2
2.2 Xác định hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc các hành vi lạm dụng VTĐQ được pháp luật quy định? 3
2.3 Chế tài xử lý 5
3 BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VTĐQ 6
3.1.Những điểm tích cực của pháp LCT hiện hành về hành vi lạm dụng
VTĐQ so với LCT 2004 6
3.1.1.Bổ sung tiêu chí xác định doanh nghiệp có VTĐQ 6
3.1.2.Về các hành vi lạm dụng VTĐQ bị cấm mở rộng phạm vi áp dụng đối với các hành vi lạm dụng bị cấm 7
Một là, hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ; giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng 7
3.1.3 Bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng VTĐQ 8
3.2.Những điểm hạn chế của quy định pháp luật về hành vi lạm dụng
VTĐQ 9
3.2.1.Pháp luật cạnh tranh vẫn thừa nhận nhiều lĩnh vực độc quyền Nhà nước với cơ chế kiểm soát riêng 9
Trang 43.2.2.Hạn chế về xác định vị trí độc quyền - điều kiện để kiểm soát hành vi
lạm dụng VTĐQ của doanh nghiệp 10
3.2.3.Hạn chế về vấn đề xác định các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm của doanh nghiệp độc quyền 11
3.2.4.Hạn chế trong công tác phát hiện và tiến hành điều tra hành vi lạm dụng VTĐQ 14
3.2.5.Về các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm 14
4 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 15
4.1 Đối với quy định về độc quyền Nhà nước 15
4.2 Đối với việc xác định doanh nghiệp có VTĐQ 16
4.3 Đối với những quy định về hành vi bị cấm 17
4.4 Đối với cơ quan thực thi pháp luật về kiểm soát hạn chế cạnh tranh 19 4.5 Chế tài đối với hành vi vi phạm 19
KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, luôn tồn tạinhững doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, VTĐQ Độc quyền thị trường không viphạm pháp luật, tuy nhiên việc lạm dụng VTĐQ thông qua các hành vi mà phápLCT quy định là vi phạm pháp luật Các hành vi này có thể là việc doanh nghiệpgiữ VTĐQ tác động mạnh mẽ đến các yếu tố thị trường hay triệt tiêu khả năngcạnh tranh của đối thủ nhằm duy trì vị thế của mình, xâm hại đến lợi ích củangười tiêu dùng Và để ngăn chặn, xử lý các hiện trạng trên pháp luật nước ta đã
có những quy định cụ thể tại LCT năm 2018 và các văn bản pháp luật có liênquan khác Để tìm hiểu rõ hơn về hành vi lạm dụng VTĐQ cũng như các quyđịnh của pháp luật về hành vi này nhóm chúng em xin phép được chọn để phân
tích và làm rõ hơn, đề bài như sau : “Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi
Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp Bên phía PA cho rằng “mức tăng như vậy là phù hợp nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA).” Sau đó, Vinapco có văn bản yêu cầu PA phải chấp nhận mức phí mới, đồng thời có văn bản gửi cho các các xí nghiệp xăng dầu của Vinapco ở
Trang 6các khu vực đề nghị các xí nghiệp này ngừng tra nạp nhiên liệu JET A-1 cho mọi chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 01 tháng 4 năm 2008 cho đến khi có chỉ đạo mới bằng văn bản của Vinapco, ép buộc PA phải chấp nhận với mức phí
mà Vinapco đưa ra Tháng 5 năm 2008, Cục Quản lý cạnh tranh đã quyết định điều tra chính thức vụ việc Hội đồng kết luận công ty Xăng dầu hàng không VINAPCO đã có hành vi lạm dụng độc quyền trên thị trường nhiên liệu hàng không vi phạm các khoản 2 và 3, Điều 14 của LCT Hội đồng quyết định phạt Vinapco 3,378 tỷ đồng về các hành vi vi phạm và 100 triệu đồng phí xử lý vụ việc 1
Vụ việc trên đặt ra một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, ta cần xác định Vinapco có được coi là doanh nghiệp có VTĐQ
hay không?
Thứ hai, các hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc hành vi lạm dụng VTĐQ
được pháp luật quy định hay không?
Thứ ba, chế tài đối xử lý đối với hành vi nêu trên.
Ngoài ra, chúng em xin phép được bình luận các quy định của pháp luật về
vấn đề nêu trên đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật vềhành vi lạm dụng VTĐQ thị trường
2 PHÂN TÍCH VỤ VIỆC
2.1 Xác định Vinapco có được coi là Doanh nghiệp có VTĐQ hay
không?
Căn cứ Điều 25 LCT năm 2018 quy định về “Doanh nghiệp được coi là có
VTĐQ nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.”
1 http://www.hoidongcanhtranh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&id=97
Trang 7Theo đó, Vinapco là doanh nghiệp độc quyền nhà nước hoạt động trong thịtrường dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng - Vinapco Vinapco làdoanh nghiệp độc quyền cung cấp nhiên liệu bay cho các hãng hàng không dândụng tại các sân bay dân dụng của Việt Nam Khi Vinapco dừng cung cấp nhiênliệu bay cho bất kỳ công ty kinh doanh vận tải hàng không nào, công ty ấykhông thể tiếp tục hoạt động vì không có nguồn cung thay thế
Như vậy, Vinapco được coi là doanh nghiệp có VTĐQ tại thời điểm đó
2.2 Xác định hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc các hành vi
lạm dụng VTĐQ được pháp luật quy định?
Theo hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Vinapco bị điều tra vì đã thực hiện hai hành vi
hạn chế cạnh tranh theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 27 LCT 2018 về hành vi
áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Doanh nghiệp bị áp đặt các điều kiện bất lợi và có giao kết hợp đồng bị hủy bỏvới Vinapco là Pacific Airlines (PA) - nay là JPA Vào thời điểm xảy ra hành vi,trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay trong nước chỉ có PA vàVNA trực tiếp cạnh tranh với nhau mà Vinapco là doanh nghiệp trực thuộcVNA Với tình trạng này, có hai vấn đề cạnh tranh được đặt ra:
Một là, nhiên liệu bay là đầu vào thiết yếu cho các hãng hàng không.
Vinapco là doanh nghiệp độc quyền cung cấp nhiên liệu bay cho các hãng hàngkhông dân dụng tại các sân bay dân dụng của Việt Nam Khi Vinapco dừng cungcấp nhiên liệu bay cho bất kỳ công ty kinh doanh vận tải hàng không nào, công
ty ấy không thể tiếp tục hoạt động vì không có nguồn cung thay thế
Hai là, trong vụ việc này, những hành vi mà các cơ quan tiến hành tố tụng
tiến đến điều tra chủ yếu là gây ra những khó khăn cho PA trong hoạt động kinhdoanh
Trang 8• Với hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh
Những nghĩa vụ này gây khó khăn cho PA trong quá trình thực hiện hợpđồng: Ở khía cạnh này, HĐCT đã dựa vào kết quả hiệp thương giá cung cấpxăng dầu hàng không do Bộ Tài chính tổ chức là 725.000 đồng/tấn (theo Côngvăn số 261/BT-BTC ngày 14/7/2008) để kết luận mức phí mà Vinapco đề nghịban đầu với PA (750.000đ/tấn) là cao Bên cạnh đó, khi Vinapco ngừng cungcấp nhiên liệu bay cho PA vào ngày 01/4/2008 đã dẫn đến việc các chuyến baycủa PA trong thời gian này bị chậm hoặc hủy chuyến Như vậy, PA gặp khókhăn trong việc thực hiện hợp đồng
• Với hành vi lợi dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp
đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng:
+ Vinapco có hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kếtbằng việc ngừng cung cấp nhiên liệu bay
+ Vinapco dựa vào lý do không liên quan trực tiếp đến các điều kiện cần thiết
để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng
Hội đồng cho rằng mức phí cung ứng là yếu tố không liên quan trực tiếp đếncác điều kiện cần thiết để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng bởi theo Hợp đồng
số 34/PA2008 chỉ duy nhất một trường hợp Vinapco có thể tạm ngừng việc thực
Trang 9hiện Hợp đồng, đó là do PA chậm thanh toán Cho đến ngày 01/4/2008, PA chưa
hề chậm thanh toán cho Vinapco
Như vậy, Vinapco đã thực hiện hai hành vi vi phạm LCT 2018 (hành vi lạmdụng VTĐQ bị cấm) đó là áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụngVTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có
lý do chính đáng
2.3 Chế tài xử lý
Chế tài xử lý hành vi lạm dụng VTĐQ được quy định tại khoản 1 Điều 111LCT 2018 và Điều 9 Nghị định 75/2019/NĐ-CP Theo đó, hành vi lạm dụngVTĐQ phải chịu mức phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu của doanhnghiệp trong năm tài chính liền kề
Ở đây, Vinapco đã có hai hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường vi
phạm pháp luật về cạnh tranh đó là hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp có VTĐQ và hành vi lợi dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng Vậy, Vinapco phải bị phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị
trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi viphạm cho cả hai hành vi trên
Cụ thể, tổng doanh thu trên thị trường liên quan của Vinapco trong năm tàichính liền kề trước năm thực hiện hành vi lạm dụng VTĐQ là năm 2007 vớitổng doanh thu là 3.378.086.700.000đ Như vậy, Vinapco phải chịu mức xử phạt
với mỗi hành vi từ 33.780.867.000 đồng đến 337.808.670.000 đồng Như vậy tổng mức xử phạt là 67.561.734.000 đồng đến 675.617.340.000 đồng
Ngoài ra, Vinapco còn thể phải chịu hình thức xử phạt bổ sung là tịch thukhoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi 2 và các biện pháp khắc phục
2 Khoản 2 Điều 9 Nghị định 75/2019/NĐ-CP
Trang 10hậu quả như: buộc loại bỏ những điều khoản liên quan đến việc tăng chi phícung ứng nhiên liệu khỏi hợp đồng; Loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt choPacific Airlines, tiếp tục cung ứng nhiên liệu như đã thống nhất trong hợpđồng3…
3 BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VTĐQ
3.1 Những điểm tích cực của pháp LCT hiện hành về hành vi lạm
dụng VTĐQ so với LCT 2004
3.1.1 Bổ sung tiêu chí xác định doanh nghiệp có VTĐQ
Khái niệm về xác định vị thế độc quyền theo pháp luật Việt Nam được quy
định tại Điều 12 LCT 2004 “Doanh nghiệp được coi là có VTĐQ nếu không có
doanh nghiệp nào khác cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan” LCT Việt Nam 2018 về xác định doanh
nghiệp độc quyền cũng quy định tương tự tại Điều 25 Như vậy tại Việt Namđộc quyền được hiểu là hiện tượng chỉ có duy nhất một nhà sản xuất, kinh doanhtrên thị trường hàng hóa, và không có bất kỳ đối thủ cạnh tranh trên thị trườngliên quan
Trải qua quá trình thực thi LCT 2004 đến nay đồng thời kế thừa trên cơ sởchọn lọc các tiêu chí của thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện nền kinh tế thịtrường tại Việt Nam, LCT 2018 đã bổ sung quy định mới về sức mạnh thịtrường như một tiêu chí xác định về doanh nghiệp độc quyền, bên cạnh tiêu chíthị phần
Mặc dù doanh nghiệp độc quyền tại Việt Nam được hiểu là doanh nghiệpnắm giữ 100% thị phần trên thị trường liên quan vì không có đối thủ cạnh tranhthì việc quy định xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp độc quyền vẫn
3 Khoản 3 Điều 9 Nghị định 75/2019/NĐ-CP
Trang 11cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc, độ phủ bao quát cho các cơ quanquản lý Nhà nước trong quá trình xử lý các vụ việc liên quan đến hành vi lạmdụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp.
3.1.2 Về các hành vi lạm dụng VTĐQ bị cấm mở rộng phạm vi áp dụng
đối với các hành vi lạm dụng bị cấm
LCT năm 2004 quy định về các hành vi lạm dụng vị thế độc quyền bị cấm tại
Điều 12, Điều 14 thuộc Mục 2 và Mục 4 Nghị định 116/2005/NĐ/CP Còn tại
LCT năm 2018 quy định tại Điều 27 với 7 nhóm hành vi cụ thể nhưng theo
hướng mở rộng phạm vi áp dụng đối với các hành vi lạm dụng bị cấm Theo
đó, LCT năm 2018 nêu rõ hơn mục đích của các hành vi lạm dụng VTĐQ củadoanh nghiệp nhằm gây ra thiệt hại cho khách hàng và người tiêu dùng Về cơbản, các hành vi lạm dụng Tuy nhiên, vẫn có một số sự thay đổi VTĐQ bị cấmcủa doanh nghiệp quy định tại LCT 2018 so với LCT năm 2004 là tương tự nhưsau:
Một là, hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ; giới hạn thị
trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng.
Trước đây, theo hướng dẫn của nghị định 116/2005/NĐ-CP thì hành vi này
được chia thành ba nhóm hành vi chính gây thiệt hại hoặc có khả năng gây ra
thiệt hại cho khách hàng, đó là
(1) hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ;
(2) giới hạn thị trường kinh doanh và
(3) cản trở sự phát triển về khoa khả năng gây thiệt học kỹ thuật vàcôngnghệ
LCT năm 2018 đã đưa ra tiêu chí gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại 4nhằm đề cao mức độ ảnh hưởng và gây hậu quả pháp lý của nhóm hành vi
4 Kh năng gây thi t h i trên th c têế là gìảệ ạ ự
Trang 12này là rất nghiêm trọng, bóp méo cả cấu trúc của hệ thống cũng như triệt tiêucạnh tranh tự do của nền kinh tế Điều này cũng nhằm thể hiện sự thống nhất vớimục tiêu mà chính sách cạnh tranh Việt Nam thông qua quy định của LCT 2018
đã đề ra là tăng cường khả năng tiếp cận thị trường của mọi chủ thể trên thịtrường
Hai là, áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng.
Hành vi này được quy định tại LCT 2018 đã kế thừa nguyên vẹn từ quy địnhcủa LCT 2004 Do vậy hành vi áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng đượchiểu theo đúng hướng dẫn chi tiết của NĐ 116/2005/NĐ-CP Theo Điều 32 Nghịđịnh 116/2005/NĐ-CP thì đây là hành vi buộc khách hàng phải chấp nhận vôđiều kiện những nghĩa vụ gây khó khăn cho khách hàng trong quá trình thựchiện hợp đồng
Hành vi bị cáo buộc của Vinapco là buộc PA chấp nhận vô điều kiện nhữngnghĩa vụ, mà cụ thể ở đây là doanh nghiệp độc quyền áp đặt đối với khách hànggây ra khó khăn cho khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng doanhnghiệp độc quyền áp đặt đối với khách hàng gây ra khó khăn cho khách hàngtrong quá trình thực hiện hợp đồng Tuy nhiên pháp LCT Việt Nam chưa đưa racăn cứ xác định thế nào là sự chấp nhận vô điều kiện các nghĩa vụ phải thực hiện
và thế nào là sự khó khăn, bất lợi mà những nghĩa vụ đó gây ra đối với kháchhàng của doanh nghiệp độc quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng
3.1.3 Bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng VTĐQ
Ngày 14/4/2009, Hội đồng xử lý vụ việc ra quyết định xử lý vụ việc Theoquyết định này, Vinapco bị xử lý vì đã thực hiện hai hành vi hạn chế cạnh tranhtheo Điều 14 của LCT (là áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợidụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết màkhông có lý do chính đáng) và bị xử phạt với mức 0,05% doanh thu của Công ty
Trang 13này trong năm 2007 (năm trước đó) tương đương số tiền 3.378.086.700 đồng.Nếu như trong LCT 2004, tỉ lệ để tính mức xử phạt được dao động từ 0% đến10% thì đến LCT 2018 mức tỉ lệ này được điều chỉnh là từ 01% đến 10% Có thểthấy so với LCT 2004 thì mức tỉ lệ trong LCT 2018 cao hơn, và trong trườnghợp này, nếu được xử lý theo LCT 2018 thì Vinapco sẽ phải chịu số tiền phạtlớn hơn
Quy định về căn cứ xác định mức phạt và giới hạn mức phạt tối đa của LCT
2018 vẫn kế thừa quy định của LCT 2004 Tuy nhiên, những thiếu sót của LCT
2004 về xác định mức phạt trong trường hợp tổng doanh thu của doanh nghiệp
có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trướcnăm thực hiện hành vi vi phạm được xác định bằng 0 (không) và thiếu cơ sởthống nhất, cụ thể để xác định mức phạt cụ thể đối với từng hành vi vi phạm đã
được LCT 2018 khắc phục: “Trường hợp tổng doanh thu của doanh nghiệp có
hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm được xác định bằng 0 (không) thì theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 75/2019, áp dụng mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng”
Ngoài ra, việc tách riêng biện pháp tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việcthực hiện hành vi vi phạm ra khỏi biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện được
sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợinhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm như quy định của LCT 2004
là phù hợp với bản chất, khoản lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm khôngphải và không thể là tang vật hay phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi viphạm Về các biện pháp khắc phục hậu quả, LCT 2018 đã khắc phục được hạnchế của LCT 2004 - quy định liệt kê cứng nhắc, điều chỉnh trực tiếp theo biểuhiện bên ngoài của hành vi, do đó một biện pháp chỉ có thể phù hợp đối với mộtvài vụ việc với một hành vi vi phạm nhất định