Mục tiêu của đề tài Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ là tìm hiểu cơ sở lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ, kí hiệu học, về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn; xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại tín hiệu hiệu thẩm mĩ chỉ về người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm;... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM
Trang 2ĐỂ hoàn thành luận văn, bản thân tôi đã trực tiếp sưu tằm tài liệu và
thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, trách nhiệm của
TS Trần Văn Sáng
Tôi xin cam đoan rằng, mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tải khác Tôi cũng xin cam đoan rằng,
Trang 3Tôi xin bay tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thay giáo, TS Trần Văn Sáng,
người đã tân tỉnh chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên
Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện
u làm luận văn
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn nay,
Mặc dù đã rắt cố gắng trong quá trình học tập, nghiên cứu để thực hiện luận văn, song luận văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được
Trang 4Cải biểu dat
Cái được biểu đạt
Cung oan ngâm khúc
Chinh phụ ngâm khúc
Trang 53 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5.1, Thai pháp thẳng kế, phân loại
3.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
6 Đóng góp của đễ tài
7 Cấu trúc luận văn
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐÈ
IN QUAN seein
1.1.1 Về khái niệm kí hiệu, tin hiệu, dấu hiệu 6
1.1.2 KÍ hiệu học hai bình diện của E de Saussure 9 1.1.3 Kí hiệu học ba binh dign ctia C Pierce " 1.1.4, Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương „12
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp — " 1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương 24 1.3 GIỚI THIỆU VE CUNG OAN NGAM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM 27
1.3.2 Về tác phẩm Chinh phụ ngâm 29
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGẬM
KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGẬM NHÌN TỪ BÌNH ĐIỆN CÁI BIÊU DAT 31
Trang 62.1.1 Hinh tượng người phu nit trong Cung oán ngâm &húc, xét ở cấp độ tín
hiệu thẳm mĩ hằng thể 31
2.1.2 Hinh tượng người phụ nữ trong Cung oán ngdm khtic, xét 6 edip 46 tin
2.2 SỰ BIÊU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHY NU’
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong Chính phụ ngdm, xét 6 cắp độ tín hiệu
CHƯƠNG 3 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGẬM
KHÚC VÀ CHINH PHY NGÂM NHÌN TỪ BÌNH ĐIỆN CẢI ĐƯỢC BIÊU
3.1.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong
3.1.2 Giá tị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ biển thể chỉ người phụ nữ trong
3.2 GIA TRI BIEU TRUNG CUA TÍN HIỆU THÁM MĨ CHÍ NGƯỜI PHỤ NU!
3.2.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẳm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong,
3.22 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẳm mĩ biển thể chỉ người phụ nữ trong
Chinh phụ ngâm „102
Trang 7TAL LIEU THAM KHẢO
PHY LUC 1 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỈ
Trang 82.1 [Kết quả khảo sắt tín hiệu hang thể chỉ hình tượng người phụ |_ 32
nữ trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc
22 | Số lượng và tần số xuất hiện của tín hiệu biến thể chỉ người | 34
phụ nữ trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc
2⁄3” | Két qua khao sắt, phân loại các biễn thể từ vựng chỉ người | ˆ 35
phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc
24° | Tin hiệu kết hợp là động từđộng ngữ trong tác phẩm Cung | 39
oán ngâm khúc
25 | Tín hiệu kết hợp là tính từtính ngữ trong tác phẩm Cung |_ 45
oán ngâm khúc
2.6 | Tan s6 và tan suất của các biến thé hang thể chỉ hình tượng |_ S3
người phụ nữ trong tác phẩm Chỉnh phụ ngâm khúc
2.7 | Số lưỡng và tan số xuất hiện của tín hiệu biển thể người phụ nữ | 55
trong tác phẩm Chỉnh phụ ngâm khúc
28 | Tần số và tần suất của các biến thể từ vựng chỉ hình tượng |_ 56
người phụ nữ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm
Trang 91 Lí do chọn đề tài
Tín hiệu thẩm mĩ, giá trị biểu trưng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương là một vấn để hấp dẫn, là một cánh cửa rộng mở cho việc tiếp cận thể giới
nghệ thuật ngôn từ Đó +h tiếp cân liên ngành ngôn ngữ - văn hóa về hệ thông
tin higu thm mi tồn tại trong ngôn ngữ văn chương
chương Cách tiếp cận này vừa đảm bảo được tính khách quan trong khi khảo sát đữ
liệu, vừa phát hiện được những nét đặc trưng trong chất liệu ngôn ngữ cũng như
trong ngôn ngữ hình tượng của tác phẩm
'Việc tìm hiểu giá trì nghệ thuật ngôn ngữ thơ trong Cương oán ngâm khúc và
Chính phụ ngâm từ lâu đã là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, việc xem xét hệ thống hình tượng/biểu tượng trong ngôn ngữ hai tác phẩm
nghiên cứu ngôn ngữ và nhân học của thế kỉ XX Có thể nói như vậy, bởi một lẽ,
mãi đến năm 1916, năm mà Giáo trình ngồn ngữ học đại cương của E.de Saussure [61] được xuất bản, người được xem là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện dại và cũng là
một trong những người khai sáng chủ nghĩa cấu trúc, thì người ta mới chú ý đến vai
trò của kí hiệu học Luận điểm của F.de Saussure đề xuất: ngôn ngữ là một hệ thống
kí hiệu, và ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu học, xét theo một phương điện
Trang 10sau như “chức năng thi pháp” và tính đa chức năng của ngôn ngữ trong nghiên cứu RJakobson [60], “edu miic kí hiệu học biểu thị và ki hiệu học hàm thị" của
R.Banhes [58]; đặc biệt là các nghiên cứu về "ý thuyết kí hiệu học tam điện” của
Ch Pierce, lý thuyết "kí hiểu hoc văn hóa" của Yuri M Lotman [59], ý “huyết kí hiệu học của Umberto Eco 56], của Daniel Chandler [55]
Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ, một phương diện ứng dụng của kí hiệu học trong nghệ thuật, được nói đến trong những năm gẳn đây cũng được hình thành từ
én dé lý luận nói trên Ở Việt Nam, những vấn đẻ vẻ kí hiệu học, đặc biệt là
lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ, đã được áp dụng từ những năm 70 của thế kỷ XX
những
Những công trình được xem là khởi đầu của khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn chương từ góc nhìn kí hiệu học phải kế đến la Tir hi phdp hoe dén kí hiệu học
ia Hoàng Trinh [50],
học của Đỗ Hữu Chi
Lai [22], Ngón ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán [#4], Tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn |27|, Tỉn hiệu thẩm mĩ trong ngôn
6|, Ngồn ngữ với sáng tao và tiếp nhận văn học của Nguyễn
ngữ văn học của Mai Thị Kiều Phượng |30|, Tín hiệu thẩm mĩ - sóng đôi của Trần
Van Sang [40] Trong đó, khuynh hướng đáng chú ý nhất vẫn là cách giải mã thơ
và ca dao duéi ánh sáng của lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ Tuy nhiên, trong việc vận
dụng lý thuyết kí hiệu học vào nghiên cứu trong mỗi lĩnh vực trong đó có văn
chương, cho đến nay, vẫn chưa có được cách tiếp cận thống nhất và chưa vạch ra một bộ khung lý thuyết đủ rõ và nhất quán để vận hành nó một cách hiệu quả, đặc
biệt là có sự khu biệt khá rõ giữa cách tiếp cận theo quan điểm của kí hiệu cấu trúc
và kí hiệu học hậu cấu trúc trên các phạm vi ứng dụng: kí hiệu học ngôn ngữ, kí hiệu học văn hóa, kí hiệu học văn chương
“Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy số những công trình nghiên cứu riêng biệt
ng dụng các lý thuyết kí hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương trong một tác giả cụ thể không thật sự nhiều mà chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ vẻ lí thuyết và/hoặc các phương diện nào đó của kí hiệu học.
Trang 11kí hiệu học như đề tải của chúng tôi
.3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Muc tiêu nghiên cứu:
Luận văn tập trung hướng vào những mục tiêu cu thé sau:
~ Xác lập được vị trí, vai trò của các hình thức ngôn ngữ biểu đạt về người phụ nữ như là một bộ phận làm nên bình diện "cái biểu đạt” của hình tượng người phụ nữ tong Cung oán ngâm khúc và Chính phụ ngâm
~ Chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng của hiệu thẩm mĩ hằng thể và tín hiệu
thấm mĩ biến thể chỉ về người phụ nữ trong Cưng oán ngâm khúc và Chỉnh phụ
ngâm khúc; qua đô góp phần chỉ ra những đặc trưng văn hóa dân tộc và quan điểm
xã hội, cách nhìn của hai tác giả về người phụ nữ,
3.2 Nhiệm vụ cũa luận văn
~ Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ, kí hiệu học, về hoạt động giao
tiếp trong ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn;
~ Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại tín hiệu hiệu thẩm mĩ chỉ về
người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chỉnh phụ ngâm;
~ Phân tí
„ miêu tả đặc điểm hình tượng người phụ nữ được khảo sắt trên bình diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong Cung oán ngâm &húc và Chỉnh phụ ngâm; tìm hiểu, so sánh các đặc điểm về sự biểu đạt bằng ngôn ngữ và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thắm mĩ chỉ người phụ nữ trong hai tác phẩm
4, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đắi tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định là: hình tượng người phụ nữ trong
.Cừng oán ngâm khúc và Chính phụ ngâm từ góc nhìn lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ
Trang 12khúc và Chinh phụ ngâm
Về tr liệu khảo sát: luận văn khảo sát trên tác phẩm đã công bố rộng rãi trong
nhà trường, in bằng chữ quốc ngữ:
- Những khúc ngâm chọn lọc ~ Chinh phụ ngâm khuie va Cung oán ngâm khúc
do các tác giả Lương Văn Dang, Nguyễn Thạch Giang và Nguyễn Lộc biên soạn của [Nha xuất bản Dại học và Trung học chuyên nghiệp,
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
3.1 Thủ pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các loại tín hiệu hằng
thể và tín hiệu biến thể và phân loại theo những tiêu chí cụ thể
$2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ"
Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu
các hình thức biểu đạt về người phụ nữ, tức cái biểu đạt, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miều tả
đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa biểu trưng của chúng và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp
thấm mĩ trong tác phẩm văn chương; xác lập được một số cơ sở và thao tác để
ig thé/bién thé duge sir dụng trong hoạt động giao
van dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa -
văn học vào nghiên cứu hình tượng biểu tượng trong tác phẩm chương
Trang 13việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương từ góc nhìn kí hiệu học
T Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
“Chương !: Cơ sở lí luận và những vẫn để liên quan Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đề
lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ, lý thuyết kí hiệu
;š hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương cũng như các khái niệm liên
về người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúe và Chính phụ ngâm
Chương 2: llình tượng người phụ nữ trong Cung oẳn ngâm khúe và Chính phụ ngâm nhìn từ bình diện cái biểu đạt
“Trong chương này, dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi tập trung phân tích,
lểm hình tượng người phụ nữ được khảo sát về hình thức biểu đạt,
miều tả đặc
đồng thời tìm hiểu, so sánh các đặc điểm vẻ sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của tín hiệu
thấm mĩ chỉ người phụ nữ trong hai tác phẩm
Chương 3: Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chính phụ ngâm nhìn từ bình diện cái được biểu đạt
“Trong chương ba chúng tôi sẽ chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng của các tín hiệu thm mi hing thể và tín hiệu thắm mĩ biến thể chỉ về người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chỉnh phụ ngâm; qua đô góp phần chỉ ra những đặc trưng văn hóa
dân tộc và quan điểm xã hội, cách nhìn của hai tác giả về người phụ nữ trong giai đoạn này
Trang 14hiệu thẩm mĩ cũng được sử dụng đồng nhất Theo cách gọi phỏ dụng, chúng tôi sir
dụng thuật ngữ sin higu, tin higu ngôn ngữ, tín hiệu thảm mĩ làm cơ sở lí luận của để tải; cồn khái niệm 7 hiệu học cũng là khái niệm quen ding nên được chúng tôi sử
dụng đồng nhất với tín hiệu học và đấu hiệu học Luận văn chọn cách dùng thuật
ngữ kí hiệu học
Cuộc sống của con người được bao quanh bởi các tín hiệu như: tín hiệu đèn
giao thông, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu hàng hải, các nghĩ lễ, biểu tượng, các hoạt
động giao tiếp, đường nét, âm thanh, màu sắc, tiếng kêu của động vật mỗi một sự
vật, hiện tượng đều có thể trở thành một tín hiệu Như vậy, điều gì làm cho một sự vật, hiện tượng trở thành một tín hiệu?
Có nhiều các quan niệm khác nhau về rín hiệu liên quan đến cách hiểu rộng
hẹp khác nhau của các tác giả Trong số những cách quan niệm khác nhau đó, đề tài
của chúng tôi đồng ý với quan niệm của P.Guiraund vẻ tín hiệu ngôn ngữ theo
nghĩa rộng đã được tác giả Dỗ Hữu Châu để cập trong giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa
học từ vựng ” như sau: “một tín hiệu là một kích thích mã tác động của nỗ đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác ” [§, tr-S1] Theo quan niệm nay,
tắt cả những hình thức vật chất nào gợi ra một “hình ảnh ký ức” đều được xem là tín
hiệu/kí hiệu
Trang 15
đối tượng nào đó Nếu không mang nội dung thông báo, tín hiệu không còn là tín hiệu Noi dung thông báo đó được các nhà nghiên cứu lý thuyết thông tin goi 1a những yêu tổ mang “rin”; edn các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi là các yêu tổ mang
“nghĩa” Trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông, md đỏ gợi cho ta thông tin
“không được pháp di”, màu vàng gợi cho ta một ý niệm về “sự chuẩn bị”, màu xanh đồng nghĩa với thông báo “người tham gia giao thông được phép di” Dam mây gợi cho ta một hình ảnh “cơn ømzz”, một câu hỏi “bạn có đỏng hỏ không?" chỉ muốn biết thông tin về giờ giấc thời gian, chứ không phải tim hiéu vật sở hữu của người khác
Từ sự phân tích các quan niệm của các tác giá trên, chúng tôi thống nhất
quan niệm tín hiệu trong đề tài như sau: tín hiệu là đơn vị có hai mặt: cái biểu đạt và
cái được biểu đạt, được chủ thể lý giải, nhân thức và lĩnh hội trong một hệ thống
nhất định
1.1.1.2 Các điều kiện của tín hiệu
“Theo quan niệm cita P Guiraud, một "kích thích” có thể gợi ra “hinh ảnh ký
ức” đối với những kích thích khác là quan niệm có tinh bao quát, vừa đề cập đến tín
hiệu tự nhiên và nhân tạo, vừa bao hàm cả tín hiệu giao tiếp lẫn tín hiệu phi giao
tiếp Và điều kiện để mot “Rich shích ” trở thành một tín hiệu được tác giả Dỗ Hữu Châu [3] trình bây
sau đây: Thứ nhất, nó phải được các
đạt Thứ ba, cái biểu đạt và cái được biểu đạt phải được chủ thể thức, lĩnh hội
Thứ tư, phải nằm trong một hệ thống nhất định
“Trong khi đi tìm một cách hiểu về tín hiệu, các nhà nghiên cứu đã phân chia
các tín hiệu thành nhiều loại khác nhau dựa trên những tiêu chí phân loại không
giống nhau Ở đây chúng tôi trình bày một cách khái quát nhất các cách phân loại của các tác giả đã được trình bày trong giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng ”
Trang 16Đặt trong mối quan hệ với sự vật, người nói, người nghe, Buhler đã thấy được rằng ứng với ba yếu tố nói trên, tin hiệu thực hiện đồng thời cả ba chức năng: chức năng
biểu thị, chức năng biểu cảm và chức năng thỉnh cằu Tín hiệu có thể được xem là những “ðiểu wong” (Symbole), ning “hinh higu” (icones), những “chỉ hiệu” (indices) trong cách phân loại của Ch.Pierce Tuy nhiên, theo tác giả, tín hiệu chỉ là cái biểu đạt tách riêng; trong khi cơ chế tín higu hoe theo F de Saussure [61], ti
hiệu là hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu đạt Về sau, Ch.Morris bỗ sung vào mô hình của Ch.Pierce bằng cách thêm vào các “chi hiểu” (sign indices) và các “định
‘higu” (sign caractevisant) Ngay trong các “định hiệu ” cũng tin tai cde “hinh hiệu”
và các "biểu trưng ”
Từ cách nhìn tổng thể về những“kíeh shich” cua thể giới cảm tính, Guiraud không đặt các tín hiệu trong sự lưỡng phân giữa tín hiệu tự nhiên và
tin hiệu giao tiếp mà đặt trong mối quan hệ giữa thực tẾ và nhận thức của con
người Theo đó, tín hiệu là những “kích thich lién ning” bao gồm nhiều loại
khác nhau: tín hiệu tự nhiên, tín hiệu nhân tao, các hình hiệu và ước hiệu trong
mồi quan hệ hoặc võ đoán (đối vị ước hiệu) hoặc có lý do (đối với cá hiệu có tính hình hiệu )
Van dụng nhiều tiêu chí phân loại khác nhau, tác giá Đỗ Hữu Châu |8] đ
được bảng phân loại tín hiệu một cách đầy đủ và bao quát nhiễu loại hình khác
nhau Bằng cách này, tín hiệu được phân thành tín hiệu giao tiếp và tín hiệu phi giao
nguồn trúc cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tín hiệu, chức
năng của tín hiệu cũng như đặc tính vật lý cái biểu đạt của tín hiệu Đây cũng là
quan niệm về tín hiệu của chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đẻ tài, góp phần
nhận điện tín hiệu trong tính chỉnh thể, tính hệ thông
Trang 17Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt Tín hiệu ngôn ngữ được xác định là loại tín hiệu thính giác, tin hiệu giao tiếp, tin hiệu nhân tạo, ước hiệu (võ đoán) Như vậy, dưới góc nhìn kí hiệu học, ở bắt kỳ góc độ nào, một tín hiệu ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu đạt) tương ứng với một nội dung, ngữ nghĩa (cái được biễu đạt) và ở bắt kỳ cắp đô nào, giá trị tín hiệu ngôn ngữ cũng
phải do những mồi quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định
Về vẫn đề ly được nhà ngôn ngữ học E.de Saussure đề cập trong Giáo trinh
ngôn ngữ học đại cương, chia ra hai loại quan hệ hệ thống có tính phổ biến trong
hiệu ngôn ngữ có nghĩa
không phải bản thân tự nó có nghĩa Nó có nghĩa là vì nó ở thế đối lập với các yếu
tố khác cùng hệ thống, một yếu tố ngôn ngữ nào đó mới có nghĩa
Trình bày về cặp quan hệ thứ bai, F.de Saussure lưu ý đến tương quan ngữ
tính, nó xác định nại
đoạn nồi kí từ theo một trật từ tuyi cho các từ, và
tương quan liên tưởng giữa một từ với các từ có một hay một số nét chung nào đó
do ký ức ta gợi nên Mỗi nhóm như vay “tao nén chudi tiém tai trong trí nhớ, kho
ˆký ức” theo nhận xét của R Barthes
Ngôn ngữ học hiện đại bổ sung các loại quan hệ mới, sau hai cặp quan hệ mới Saussure đã để ra Dó là: quan hệ tôn tỉ giữa các cắp độ ngôn ngữ; quan hệ hiện thực hóa bình diện trừu tượng và cu thé, giữa điển dang và hiện dạng của tín hiệu
năng của tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện được dùng không chỉ để giao
tiếp mà còn phục vụ cho tư duy: “Một đơn vị ngôn ngữ phải vừa phục cho giao tiếp
vừa phục vụ cho tư duy Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt tín hiệu ngôn ngữ và
Trang 18vụ quan trọng của mình, ngoài chức năng làm phương tiên để giao tiếp và công cụ
để tư duy còn thực hiện chức năng làm công cụ để tổ chức xã hội, duy trì những
quan hệ giữa người với người, duy
‘Ching tôi nhận thấy rằng, chức năng thẩm mĩ thường được coi là chức năng
iêng biệt của thơ ca, nhưng thực ra trong các hoạt đông ngôn ngữ khác, sự phân tích ngôn ngữ học về văn chương cũng không nên bị hạn chế trong chức năng thẩm
mỹ Nếu nội dung phân tích ngôn ngữ về chức năng thẩm mĩ phải vượt ra ngoài
anh giới văn chương, thì mặt khác, sự phân tích ngôn ngữ học vẻ văn chương cũng, không nên bị gi
chứng giữa chức năng thẩm mĩ với
ác giả Đỗ Hữu Châu [8| lưu ý đến tính đa chức năng của ngôn ngữ thông
lệc thực hóa các từ trong hoạt động nói năng Theo đó, ngôn ngữ có chức năng
miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn và chức năng cú học
Trang 19
biểu đạt và tính hệ thống cấu trúc Vi thé, có thể xác định ý nghĩa “rin hiểu” của
ngôn ngữ trên tắt cá các đơn vị mang nghĩa ở nhiều
đoạn, văn bản Một từ, một phát ngôn không những thực hiện chức năng miêu tả, chức năng định danh mà còn thực hiện chức năng bộc lộ, thỉnh cẩu, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng thắm mĩ Một phát ngôn nhur “xin 16i!” hoàn toàn có chức
p độ khác nhau: từ, ngữ, câu,
năng thỉnh cầu khi nó chỉ có nghĩa là *Xiz ánh đường cho tôi!" Một người có thể
nói “irời rét nhỉ!" mà không nhằm miêu tả về thời tiết mà chỉ nhằm mục đích gợi
chuyện để làm quen với người khác
Như vậy, các đặc trưng kí hiệu học của ngôn ngữ, những nguyên tắc của
đồng nhất và đối lập, của kết hợp va liên tưởng, của trừu tượng và cụ thể trong hệ
thống tín hiệu ngôn ngữ cũng chính là những vẫn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về tín hiệu ngôn ngữ trong quá trình hoạt động, thực hiện các chức năng của ngôn ngữ:
trong giao tiép nói chung, và trong giao tiếp nghệ thuật nói riêng,
1.1.3 Kí hiệu học ba bình diện của C.Pieree
tùng thời với F de Saussure, Ch S Peirce xuất phát từ triết học ngữ nghĩa
đã trở thành người nghiên cứu kí hiệu học vào loại sớm nhất Ông cho rằng tư duy
chính là kí hiệu và nó tổn tai đương nhiên trong các kí hiệu Tắt cả mọi vật
lóa/ kí hiệu hóa (Semiosis), theo d6 kí hiệu lều
lệu nếu nó được
được tr giác là
là một tam phân với ba diện
~ Cái biểu đạt (Represemtamen!), là phương tiện chuyển tải và trì giác được
- Đối turomg (Objet) là cái được biểu đạt được đại diện là vật thể tương liên
với cái bigu dat
Trang 20
hóa là quá trình sử dụng tư duy để làm trung gian cho mối quan hệ giữa cái biểu đạt (kí hiệu) và đối tượng Trọng tâm lí luận của Ch S Peirce đặt vào cương vị giải quyết kí hiệu trong công đoạn Äí hiệu hóa (Semiosis)
'Ngôn ngữ học hậu cấu trúc ra đời với các khuynh hướng nghiên cứu như lí thuyết phân tích diễn ngôn, ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng, lí thuyết ba bình
điện trong phân tích câu đều được hình thành trên cơ sở và gợi dẫn từ lí thuyết kí
hiệu học ba bình diện của Ch.S Peirce và C.Morris; đặc biệt là vai trò của bình diện thứ ba: bình điện dụng học, bình điện người lí giải
1.1.4 Tín hiệu thắm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
1.1.4.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thấm nữ (hay kí hiệu thắm mĩ) là khái niệm được đưa vào mĩ học do
có liên quan đến việc lý giải các quá trình nghệ thuật từ lập trường kí hiệu học Tín hiệu thắm mỹ (THTM) ra đời gắn liễn với chủ nghĩa cấu trúc trong nghệ thuật và mĩ
học trong những năm 60 của thế kỷ XX Những nghiên cứu về “aguyên lý tín hiệu
la R Jakobson, *
kí hiệu học"
'Ch.Pierce, đều góp phần miêu tả THTM trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều phương
diện khác nhau [dẫn theo 41, tr.12}
Theo từ điển “150 thuật ngữ văn học” [3], tín hiệu thâm mĩ được miêu tả gắn
hoc” cha E.de Saussure, “chite năng thí pháp” sấu trúc kí hiệu
Học” của R Banhes đặc biệt là “#7 thu la Ch.Monis và
liến với nhiễu quan niêm khác nhau của nhiễu trường phái nghiên cứu trên thế
Trang 21trúc, tính phổ quát và sự tương ứng với các quan hệ giá trị được Ch.Morris nêu như những đặc tính cơ bản của THTM
ới nghiên cứu Xô Viết những năm 60 ~ 70 của thé ki XX, khảo sát THTM
trong tương quan với hình tượng nghệ thuật Theo họ, THTM được xem như “một cấu trúc của hình tượng nghệ thuật Ngoài chức năng thay thế thực tại và chức năng làm phương tiện thông tin các tín hiệu trong nghệ thuật còn có đặc tính bắt
biến, lặp lại, khác với đặc tính độc đáo duy nhắt của hình tượng nghệ thuật ” [dẫn
theo 41, tr, 13]
'Ở Việt Nam, khái niệm THTM được biết đến qua các công trình, bài viết của
một số tác giả như Nguyễn Lai, Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi
Minh Toán, Trần Văn Sáng,
Theo đó, THTM có thể là những an dụ, những hoán dụ cổ định, các phúng,
dụ, tượng trưng, những hình tượng đã được “sài mòn”,
lóa ” VỀ mặt ý nghĩa trong quan niệm của Kharapchenko [57]; một bức họa, một vỡ múa, một hình ảnh an đụ, một hình thể từ ngữ trong văn học mang đặc tính biểu trưng (Symbole) trong phân tích của Hoàng Trinh |dẫn theo 41, t3]: "những đấu hiệu mang tink tượng trừng, ước lộ, én du, hoán dụ” mà từ ngữ, THTM chỉ là "phương tiện của
quá trình gợi dẫn ” theo nhân xét của Nguyễn Lai [24]; những “than cú ”, những sự
kết hợp ngôn ngữ một cách “fệch chuẩn ”, những tín hiệu mang phẩm chất thắm mĩ,
những “chuỗi kết hợp bắt thường về nghĩa” vì mục đích thẩm mĩ trong sự phân
tích của tác giả Phan Ngọc, Hữu Đạt, Dinh Trọng Lạc; nhing “movip”, những
“cong thức truyễn thẳng ” những kết cầu nghệ thuật trong quan niệm của Nguyễn Xuân Kính, Bùi Mạnh Nhị; những “iín hiệu có tính biểu trưng cao” trong thơ và ca
dao trong sự nghiên cứu của tác giả Trần Văn Sáng được đề cập trong các công
trình nghiên cứu công bố gần đây [dẫn theo 41, tr.13]
Từ những “chất liệu” cái biểu đạt, chúng ta có thể xét đến nguồn gốc các
'THTM ở bai khía cạnh khác nhau
Thứ nhất, tín hiệu thẩm mĩ là các yếu tố của hiện thực (cảm giác, cảm quan),
của nội tâm, sự kiện có nguồn gốc ngoài ngôn ngữ: cáy đó, bến nước, sản đình, con
Trang 22thể giới hiện thực và xây dựng nên, sắng tao ra” theo sự phân tích của tác giả Đỗ Hữu Châu [dẫn theo 41, t.14]
“Thứ hai, tín hiệu thẩm mĩ bắt nguồn từ ngay trong các sự kiện của ngôn ngữ
tự nhiên Trong thực tế, ngôn ngữ tự nhiên tự nó cũng là một hiện tượng trong hiện thực khách quan Ngôn ngữ tự nhiên có thể được dùng với tr cách là một tin hiệu để
nói lên một cái gì đó ngoài nó ra Ngôn ngữ sinh ra “vấn để nói về đối tượng giờ
day lại là công cụ nhận thức đối tượng” [14, tr 73] Đó chính là quá trình biểu
trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ Khi đi vào tác phẩm văn chương, các từ ngữ, kiểu câu tự nó mang những tín hiệu nhất định; các hành vi ngôn ngữ (hỏi, hứa hẹn, cam đoạn, cảm thán ) được dùng như những THTM P.Guiraud có một nhận xét
mà chúng ta đáng phải lưu ý “ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ
te nhiên đã sáng tạo lại đã được một ngôn ngữ khác chủng lên Ngôn ngữ tự nhiên
là phương tiện để chuyên chớ các tin hiệu thắm mĩ” [dẫn theo 41, tr.14]
Hệ
tống THTM tổn tại và hoạt động theo những quy luật của tín hiệu và
quy luật của tín hiệu ngôn ngữ vì mục đích biểu đạt giá trị thẩm mĩ Do vậy, THTM
mang trong mình những đặc tính nhằm mục đích biểu đạt hình tượng và ý nghĩa thấm mĩ Về vấn đề này, tác giả Trương Thị Nhàn [27] đã có dip trinh bay và phân
tích khá chỉ tiết khi nghiên cứu
Theo đó, THTM có những đặc tính sau: Thứ nhất,
ic “tin hiệu thẩm mĩ ~ không gian” trong ca dao
ih đăng cấu xét trong tương,
quan hệ thông chất liệu khác nhau hoặc trong tương quan giữa các hệ thống của 'THTM Thứ bai, tính tác động của THTM trong ban chất của một “kick thich wat
chất” và trong sự thực hiện chức năng giao tiếp nghệ thuật Thứ ba, tính biểu hiện
của THTM qua sự thực hiện chức năng phản ánh hiện thực - chức năng chung của nghệ thuật Thứ tư, THTM không đừng lại ở nội dung mang tính tải hiện hiện thực
mà còn mang thông tin thẩm mĩ, đó là tính biểu cảm của THTM Thứ năm, THTM
có tính biểu trưng tương quan trong tương quan cái biểu đạt và cái được đạt,
một mỗi quan hé “khdng hoàn toàn vỡ đoán ” Thứ sáu, tính trừu tượng và tính cụ
Trang 23giả, tác phẩm Thứ tám, tính hệ thống, THTM phải đặt trong một hệ thống thẳm mĩ
cổ định Giá trị các THTM là kết quả tổng hòa của các mỗi quan hệ trong đơn vị cấu trúc ~ chức năng cụ thể, Và cuỗi cùng là tính cắp độ của THTM, THTM vừa là cấp
độ cơ sở, vừa có cấp độ xây dựng, THTM là một đơn vị có thể dùng xây dựng nên những THTM mới
Với cách n
nguồn gốc THTM, mặt thể chất cuả THTM, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái
như trên về THTM, các tác giả đã bao quát được các vấn đề
được biểu đạt của THTM cũng như vấn đề chức năng và đặc tính tô c† tủa
'THTM Theo đó, THTM được xác định là tín hiệu nhân tạo; tín hiệu thính giác; tín
hiệu sơ cấp, chưa nguyên mã; tín hiệu giao tiếp có chức năng thắm mĩ, chức năng,
bộc lộ, biểu cảm, chức năng hệ thống; và là tín hiệu ~ biểu trưng nghệ thuật
“Từ sự phân tích về các đặc tính của THTM cũng như mỗi quan hệ giữa tín
hiệu với THTM, có thể hinh dung THTM theo sơ đỗ hai mặt của tín hiệu như sau:
CBĐ: tín hiệu ngôn ngữ
'CDBD: ý nghĩa thâm
1.1.4.2 Phân loại tín hiệu thẫm mĩ
'Về phân loại tín hiệu thẳm mĩ, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau của Đồ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi Minh Toán, Trần Văn Sáng trong l
mang hàm ý biểu trưng
văn này, chúng tôi trình bày cách phân loại của Mai Thị Kiều Phương trong cuối
“in hiệu thẳm mỉ trong ngôn ngữ vẫn học ” như sau:
~ Dựa vào tiêu chí tính quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu dat trong tín hiệu ngôn ngữ thấm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẳm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thâm mĩ đơn; tín hiệu ngôn ngữ thâm mĩ phức
~ Dựa vào tiêu chí tính hằng thé va biến thể trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mï,
ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẳm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm
mĩ hẳng thể, tín hiệu ngôn ngữ thâm mĩ bidn thé
~ Dựa vào tiêu chí tính tạo nghĩa trong tin hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể
Trang 24~ Dựa vào tiêu chí tỉnh chất trong tín hiệu ngôn ngữ thẳm mĩ, ta có thé chia tin higu ngôn ngữ thẳm mĩ thành ra bai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ /rừw ượng khái quái; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ cụ thé
~ Dựa vào tiêu chí tính chất có mặt và vắng mặt về ý nghĩa trong tín hiệu ngôn ngữ thấm mĩ, ta có thể chia tin hiệu ngôn ngữ thắm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ điển dạng; tin hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ hiện dạng,
~ Dựa vào tiêu chí chức năng giao tiếp trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm, ta có
thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẳm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ
miêu tả; tín hiệu ngôn ngữ thâm mĩ phi miêu tả
~ Dựa vào tiêu chí (ính chất từ loại được cấu tạo trong tín hiệu ngôn ngữ thấm mĩ ở cấp độ rừ, ta có thể chia
hiệu ngôn ngữ thắm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thắm mĩ /hực sử; tín hiệu ngôn ngữ thắm mĩ ñư rừ
~ Dựa vào tiêu chí dính chát từ loại các từ xét vẻ mặt cấu tạo của tín hiệu
ngôn ngữ thẳm mĩ ở cấp độ từ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai
loại: tín hiệu ngôn ngữ thâm mĩ có cấu tao là sử đơn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ có
cấu tao là từ phức (từ láy, từ ghép)
~ Dựa vào tiêu chí tính chất quan hệ của tín hiệu ở tín hiệu ngôn ngữ thẩm
mũ, la có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra ba loại: tín hiệu ngôn ngữ thấm mĩ thuộc bình điện kết lọc; tín hiệu ngôn ngữ thắm mĩ thuộc bình điện nghĩa học, tín hiệu ngôn ngữ thâm mĩ thuộc bình điện dụng học
~ Dựa vào tiêu chí tính cắp độ các đơn vị ngôn ngữ trong tín hiệu ngôn ngữ
mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thắm mĩ thành ra ba loại: tín hiệu ngôn
ngữ
pháp: mĩ ở cấp độ sử vựng - ngữ nghĩa; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mũ cấp độ ngữ độ văn bản
~ Dựa vào tiêu chí chuyển mã nhiều hay chuyển mã it, chúng ta có thể chia
hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở
tín hiệu ngôn ngữ thắm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẳm mĩ chuyển ma
nhiều tằng nghĩa
n hiệu ngôn ngữ thắm mĩ chuyn mã ít tẳng nghĩa
Trang 25hảm ấn; tin hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ í “ng ý nghĩa hàm ấn
1.1.4.3 Biểu trưng hóa, cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mi trong ngôn
ngữ vẫn chương
Khi đề cập đến các đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ, các nhà nghiên cứu thường
nói đến những đặc tính sau:
ih đăng cắu, tính tác động, tính biểu hiện, tính biểu
cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thé,
h truyền thống và cách tân, tính
hệ thống Trong công trình này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu tính biểu trưng - một
đặc tính quan trọng bậc nhất việc tiếp cân các giá tri hàm ản của các hình tượng
trong ngôn ngữ văn học Về đặc tính biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi dựa
vào kết quả nghiên cứu trong công trình “Biểu (rung hóa, cơ chế hình thành tín hiệu
thâm mi trong ngôn ngữ vấn chương " của tác giả Trần Văn Sáng [41] như sau:
«a Về khái niệm tín hiệu biểu trưng
'VỀ khái niệm biễu trưng và biểu trưng trong thơ ca đã được tác giả Trin Van
Sáng trình bày một cách hệ thống và chỉ tiết, với sự phân tích những ví dụ cụ thể
trong từng lĩnh vực qua các bài viết “Một số vấn dé
biểu trưng và ý nghĩa biểu
trưng của tin hiệu thẩm mĩ trong văn học”, “Hoa mai, ẩn ngữ và biểu trung”,
chương, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm về biểu trưng và biểu trưng hóa
“Biểu trưng, hay còn gọi là biểu tượng (symbol), là một hiện tượng khá lý thú
và phổ biến ở các dân tộc Biểu trưng là lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu
hiện một cách tượng trưng, ước lệ một cái gỉ đồ có tính chất khái quát Cái cân biểu
trưng cho công lý Hoa hồng biểu trưng cho tình yêu và sắc đẹp Chim Bổ cấu
trưng cho hòa bình Khi một sự vật, hiện tượng mang giá trị biểu trưng, nó sẽ gợi
Trang 26
Ucraina lại liên hội với lòng thủy chung và sự trung thực, trong khi người Ba Lan
thì gắn màu trắng với sự bình tâm, thanh thản Như vậy, biểu trưng phản ánh quan
niệm tâm lý của mỗi dân tộc và liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, lich sử, văn hóa, phong tục tập quán của cộng ding Didu nay giải thích tại sao ở một số nước văn hóa như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, con zỏng là biểu trưng
cho các bậc vua chúa, được tôn thờ ở những nơi tôn nghiêm như đền, đài, lãng tắm
Người Việt còn xem rồng là biểu tượng của dòng giống cao quí: con
ing chau
tiên; trong khi văn hóa châu Âu quan niệm rồng đơn thuần chỉ là một loài bò sát,
một con vật tưởng tượng có thể phun ra lửa, thậm chí là con vật ác trong truyện cổ tích
Biểu trưng, như đã nói, là một hiện tượng tâm lý xã hội, do đó cách thức hình thành,
ï xếp đặt, cách giải thích biểu trưng được nhiễu ngành khóa học quan tâm 'Quá trình biều trưng hóa các sự vật làm mắt đi giá trị biểu vật và biểu niệm, thay vào đó nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng được phát huy tác dụng
Cou ng quan niệm: nghĩa biểu trưng thuộc nghĩa văn bản, được hình thành trong văn bản, do những mối quan hệ nhất định Đó là những nghĩa hàm
ẩn, mang tính liên hội
i, điều gì làm cho một tín hiệu ngôn ngữ thông thường (/huyễn, bến là
hóa các tin hiệu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp văn chương Nôi biểu trưng
khóa là muốn thiên về biểu thị cái quá trình biến những từ ngữ thông thường thành
những ấn dụ, những biểu trưng, biểu tượng, nghĩa là những từ ngữ có nghĩa bóng nghĩa biểu trưng Cũng như vậy, khi dùng cơ c/
iếu trưng hóa là muốn nÏ
mạnh ring biéu trưng hóa điễn ra theo một cơ trình với những quy tắc riêng của nó
Nếu như biểu (zưng hóa là một cơ trình, tức một quá trình diễn ra có tính quy tắc,
giống như sự hành chức của một bộ máy, thi biéw trưng là hệ quả, là sản phẩm của
Trang 27bản chất của các biểu trưng (biểu tượng) với tư cách là những tín hiệu thâm mĩ
b Về cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
“Từ sự nhân đôi mô hình lưỡng phân CBD và CBD trong tín hiệu ngôn ngữ của F.de Saussure, ca L Hjelmslev và R.Barthes đều xem THTM là một loại “siêu tín hiệu”, tín hiệu chồng lên tín hiệu so với tín hiệu ngôn ngữ thông thường Cái gọi
là ngôn ngữ đặc biệt, siêu
hiệu của THTM trong văn chương đều được nhìn từ
bình diện kí hiệu học Ở đây, chúng tôi chỉ bàn luận giản lược về cơ chế hình thành
'THTM trong văn chương từ lăng kính kí hiệu học qua
luận điểm sau:
Thứ nhắt, trong ngôn ngữ văn chương, hệ thôngTHTM tổn tại và hoạt động
theo những quy luật của đít hiểu và tín hiệu ngón ngữ Do vậy, THYM được xác định là
mĩ, chức năng biểu cảm, chức năng hệ thống và là tin hiệu ~ biểu trưng nghệ thuật hiệu nhân tạo, tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp có chức năng thắm
Các tín hiệu ngôn ngữ con đao vàng, lá trẩu vàng xuất hiện trong cau ca dao: Con đao vàng rọc lá trầu vàng — Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa, trở thành những
tín hiệu thẩm mĩ con đao vàng, lá trầu vàng nhằm biểu đạt các giá trị thẩm mũ: sự
hải hòa, cân xứng đến mức tuyệt mi trong tinh yêu, cũng đã trải qua quá trình tạo nghĩa của tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ:
“Thứ hai, khác với THTM trong các ngành nghệ thuật điêu kh
nhạc , THTM trong văn chương được biểu đạt bằng tín hiệu ngôn ngữ Có thể nói,
hội họa, âm
ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn chương vừa là chính nó, vừa là cái biểu
đạt cho THÍM, Dễ trở thành các THTM thuyén, bén, rau, cau dii c6 thé bat
nguồn từ chính các sự vật này trong cuộc sống thì khi đi vào văn chương, chúng
đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ, đó chính là các danh từ: zhuyển, , cau trong tiếng Việt, nghĩa là chúng được kí hiệu hóa thêm một lẫn nữa để
trở thành THTM
Thứ ba, tham gia vào vai trò CĐBĐ, THTM phải trải qua con đường biểu
trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ, nghĩa là tham gia vào quá trình tạo nghĩa ham dn
Trang 28Đây là quy luật mà L HjeImslev đã chỉ ra khi nĩi đến đặc điểm của ngơn ngữ liên
hội: ngơn ngữ với CBĐ và CĐBĐ của mình đến lượt nĩ lại trở thành CBĐ cho một
'CĐBĐ khác R Banhes cũng cĩ quan điểm tương đồng khi ơng cho rằng văn chương thuộc trường hợp này vì bản thân ngơn ngữ đã là một hệ thống kí hiệu, kí hiểu lọc biểu thị, đâm nhận chức năng CBD của THTM; cịn hệ thống kí hiệu thứ hai là siêu ngơn ngữ, tức kí hiệu học hàm thị, đảm nhận chức năng CDBD cho THTM Nhờ biểu rưng hĩa mà trăng khơng cịn mang nghĩa biểu vật, biểu niệm nữa (là một thiên thê)
"mà đã chuyển sang biểu thị ý nghĩa ham Ấn, ý nghĩa thẩm mĩ để chỉ tâm lí tình cảm
của con người: Trăng nằm sĩng soải trên cành liễu (Hàn Mặc Từ)
Thứ tư, trong mỗi quan hệ giữa THTM với tín hiệu ngơn ngữ - CBĐ cũng
chính là các biển thể và các hằng thể, các hiện dạng và điển dạng của chính THTM
đồ trong tác phẩm văn chương, Khơng chỉ cĩ /răng, máy, trdu, cau, mâm, sập, mà
cĩ cả trăng vàng, trăng thơn thức, trăng hở hiững, trằu vàng, cau xanh, sập vàng, 'Nghiên cứu bình điện biểu đạt của THTM cũng chính là nghiên cứu hoạt động của các biển thé và các hằng ;hẻ trên các đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ: dụng, theo quy luật của tín hiệu ngơn ngữ thơng thường
Tir ly thuyết kí hiệu học, cĩ thể sơ đồ hĩa về cơ chế hình thành THTM trong
ngơn ngữ văn chương như sau:
CBD: dm thanh
TỈNHIEUTHẢM _ CB thiệu ngơnngữ thật ) CBD: Fn MI (bac 2) CĐRD: ÿ nghĩa thấm mĩ
Ching hạn, ta cĩ 2 hình thái: TRANG (1) (kí hiệu ngơn ngữ) được xem là
CBD cua THTM và TRĂNG (2) (tín hiệu thẩm mĩ) là khác nhau 7zăng 1) biểu thị một hành tỉnh nhìn thấy về ban đêm, gân trái đắt nhất trong hệ mặt trời; ?răng (2)
nơi dung của nĩ chứa đựng những ý nghĩa thẩm mĩ nhất định: “Trăng” trong sự
miêu tả - cụ thể hĩa cĩ sự khác nhau giữa “trăng trịn”, "trăng lạnh”, “trăng nằm sĩng sội trên cành liễu ”, đều được liên tưởng tới những ý nghĩa thẩm mĩ khác nhau, là đinh cảm, là nhân tình, và khơng cịn được hiểu là hành tỉnh nhìn thầy vẻ
ban đêm, gằn trái đắt nhất trong hệ mặt trời
Trang 29Mối quan hệ trên cho thấy cùng một dấu hiệu hình thứcthể chất cho ta hai giá trị khác nhau: giá tị tín hiệu ngôn ngữ (thuộc hệ thống ngôn ngữ tự nhiên) và
giá trị tín hiệu thảm mĩ (thuộc hệ thống ngôn ngữ - tín hiệu thẳm mĩ)
Như vây, trong bốn đặc trưng kí hiệu học của tin hiệu thẩm mĩ nêu trên, biểu
trưng hỏa được chúng tôi xem là đặc tính quan trọng nhất trong bốn cơ chế hình
thành THTM, đặc biệt là quá trình chuyển mã ngôn ngữ (thuộc CBĐ) sang ma hinh tượng, mã thẩm mĩ (thuộc CĐBĐ) trong ngôn ngữ văn chương Rõ ràng, ngoài những đặc tính khác của THTM (như tính đẳng cầu, tính truyền thống, tính cụ thể hóa ), việc một tín hiệu ngôn ngữ thông thường trải qua một quá
liên tục để trở thành một THTM, chắc chắn phải trải qua một cơ cỉ
inh tạo nghĩa
chuyển nghĩa theo hướng biểu trưng hóa các tin hiệu ngôn ngữ
1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỌNG GIAO TIẾP
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cùng toàn bộ các nhân tổ tham gia vào
hoạt động đó chính là không gian sống, là cái nôi mà ở đó ngôn ngữ THTM tồn tại Trong luân án này, việc tìm hiểu những nhân tố cụ thẻ của hoạt đông giao tiếp
(người tạo lập, người tiếp nhận, ngữ cảnh cụ thể, diễn ngôn ) cũng chính la tim
hiểu những yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong việc sử dụng và tiếp nhận ngôn
ngữ thẩm mĩ của các tác phẩm
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
.Có nhiễu hệ thông phân loại và miêu tả các nhân tố giao tiếp theo quan điểm ngữ dụng học Một cách khái quát nhất, theo tác giả Đỗ Hữu Châu tổng kết [9], có
thé ké ra ba nhân tổ giao tiếp cơ bản là: Ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Do tính
quan yếu ở các mức độ khác nhau đối với để tài, dưới đây, chúng tôi chỉ trình bảy chỉ tiết tiếp nhận của mình về nhân tố ngữ cảnh; hai nhân tố còn lại, luận án chỉ 'bày ở mức khái quát nhất
Trang 30Đối ngôn là người tham gia giao tiếp (nên còn được gọi là nhân vật giao
tiếp) Một cuộc giao tiếp cẳn có ít nhất hai đối ngôn Giữa các đối ngôn có hai kiểu
quan hệ tác đông qua lại, chi phối lẫn nhau: quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân Trong đó, quan hệ tương tác là quan hệ luân phiên giữa vai người nói và vai người nghe trong một cuộc giao tiếp
Hiện thực ngoài diễn ngón được hiểu là "tắt cả những cái tạo thành môi trường cho một cuôc giao tiếp” loại trừ điễn ngôn và đối ngôn của nó [9, tr.106] và được phân thành một số hợp phần chính như sau:
Hoàn cảnh giao tiếp: Là một hợp phần rất rộng, “bao gồm toàn thể các nhân
tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo
sọi là môi trường xã hội ~ văn hóa ~ địa lí cho các cuộc giao tiếp” [9, tr.111] Rồi
cảnh rộng lớn ấy giống như những chỉ dẫn quan trọng, như hệ tọa độ để người xem
có thể định vị, đánh giá đúng những yếu tổ còn lại của giao tiếp đang diễn ra trên
sân khẩu ngôn ngữ
Thoại trường hay hiện trường giao tiếp: Là không gian, thời gian cụ thể, xác
định mà ở đó diễn ra cuộc giao tiếp “Thoi gian, không gian thoại trường không tách nhau Nó
hiện thực khách quan), cũng có thể là yếu tố nào đó nằm trong diễn ngôn đã có trước
đó hoặc trong diễn ngôn đang được tạo lập (goi là hiện thực dé tai trong diễn ngôn), 1.3.1.2 Ngôn ngữ
Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nảo đó làm phương
tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tổ giao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ cụ thể với các biển thể mà các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của
Trang 31
nhân tổ thuộc về ngữ cảnh và ngôn ngữ kể trên cần thiết được các đổi ngôn
Tĩnh hội, hiểu biết về chúng và có ý thức đưa chúng vào hoạt động giao tiếp Các đối
ngôn của một cuộc giao tiếp cũng không phải có hiểu biết hoàn toàn giống nhau về
các nhân tố đó, tuy nhiên, giữa học buộc phải có một số điểm thống nhất, những
hiểu biết chung quan yếu và cằn thiết đối với cuộc giao tiếp đó, tạo thành cái gọi là
“hiểu biết nền” (baekground knowledge) hay "tiền giả định bách khoa” để giao tiếp được diễn ra một cách suôn sẻ Như vậy, xét cho cùng, nhân tổ con người (mà ở đây
cụ thể là các đối ngôn) vẫn giữ vai trở trung tâm, quyết định đối với các nhân tố côn
lại của hoạt động giao tiếp
1.2.1.3 Diễn ngôn
“Di
hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các
diễn ngôn và cụ thể hoa thành các thành phan của diễn ngôn” [9, tr.148] Hiểu như
ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói vả tổ hợp các sự kiện lời nói
vậy, diễn ngôn là khái niệm chỉ sản phẩm sau cùng của cuộc giao tiếp giữa các đối
ngôn, trong đó lại bao gồm các diễn ngôn riêng của từng đối ngôn trong giao tiếp
Diễn ngôn có hai phương diện: Hình thức và nội dung Hình thức của diễn
ngôn bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (thuộc ngữ âm, từ vựng ngữ pháp, ngữ
ic déi
dụng ) và các yếu tố phi ngôn ngữ (yếu tố kèm lời và phi lời) được dùng khi
ngôn tạo ra diễn ngôn Nội dung của diễn ngôn gồm hai thành phần: thành phần nội
dung thông tin (hay nội dung miêu tả) "thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp,
thuộc lĩnh vực nghĩa học của tín hiệu học và bi quy định bởi tính đúng - sai lgich” [9, tr.148]; va thành phẫn nội dung liên cá nhân ứng với các chức năng còn lại của
, hành động) thuộc về lĩnh vực dung học của tín hiệu học và không bị quy định bởi tính đúng - sai logich Tuy
lao tiếp (các chức năng: tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải
nhiên, hai thành phần nội dung này không tách rời nhau trong diễn ngôn
Các diễn ngôn viết, do đặc thù bởi tính cách cách, “sự vắng mặt” và
phản hồi ngay lập tức của một bên đổi ngôn, việc không đồng thoại trường giữa các
đối ngôn sẽ tạo ra những khó khăn, rào cản nhất định cho việc thuyết giải diễn ngôn
đúng với ý đổ của người tạo lập Đây là trường hợp phố biến khi xem xét các diễn
Trang 32ngôn văn học từ góc độ lý thuyết hoạt động giao tiếp
Tom lai, các nhân tố giao tiếp kể trên (ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn) không
tách rời nhau trong từng cuộc giao tiếp, mà ngược lại, chúng nhất thiết phải phối hơp chất chế và ác động lẫn nhau, tạo thành sự vận động chung của cuộc giao tiếp mà ở đó con người - người tham gia giao tiếp - nắm giữ vai ò điều phối và tác động lẫn nhau Giao tiếp trong văn chương là một hình thức giao tiếp đặc thù với những đặc trưng riêng biệt Điều này sẽ được chúng tôi trình bảy ở mục 1.2.2 sau đây
1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương
1.2.2.1 ĐI ngôn (tác giả và bạn đọc)
a LỄ độc giả (người nhận)
Số lượng độc giả trong giao tiếp văn chương có thể rất lớn chứ không phải
chỉ là một hay một vài người nghe như trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường Tác
phẩm cảng có đời sống lâu dài bao nhiêu thì lượng độc giả cảng lớn bẩy nhiêu, ngược lại số lượng độc giả cảng lớn thì đó là đầu hiệu vẻ sức sống của tác phẩm
Dộc giả trong giao tiếp văn chương có thể thuộc vẻ những thời gian văn hóa
và không gia văn hóa khác biệt với tác giả Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường,
người nói và người nghe (hường cùng một ngữ cảnh: cùng hiện diện trong một thời
gian văn hóa hoặc cùng cả không gian văn hóa (một nền văn hóa) Trong giao tiếp văn chương, giữa tác giả và độc giả cũng có những trường hợp cũng thời gian và
không gian văn hóa như vậy: Những người tiếp nhận tác phẩm của một tác giả sống
cùng với thời mình và cùng dân tộc với mình
Sự khác biệt về thời gian và/hoặc không,
sing tác) và độc giả (quá trình tiếp nhận) chẳng những là một thách thức đối với In văn hóa giữa tác giả (quá trình
hoạt động lĩnh hội, hoạt động giao tiếp giữa và độc giả, mà còn tạo ra những hứng
thú, khoái cảm nghệ thuật như khi đến với những miền đắt lạ
Trang 33như trong tác phẩm Đổi mắt của Nam Cao, hai nhân vật chính là Độ và Hoàng thực hiện nhiều cuộc nói chuyện với nhau về cuộc kháng chiến chống Pháp đương thời,
về dân ta, về bộ đội, về dân tộc ta, về Bác Hồ; qua đó thể hiện hai sự đánh giá khác
nhau, hai điểm nhĩn khác nhau Nhưng đó chỉ là những nhân vật bề nổi Đẳng sau bai nhân vật đó là tác giã muốn giao tiếp với độc giả về những vẫn đề mà hai nhân
Hoài, Dề mèn kể lại câu chuyện cuộc đời của nó, nhưng thật ra nó chỉ đóng vai thể
phát, còn người phát là tác giả Tô Hoài Qua lời kể của Dễ Mèn, tác giả muốn phát
lộc giả thiếu nhỉ nói riêng về những thăng
đi thông điệp đến độc giả nói chung
trầm, những ưu điểm và hạn chế, những kinh nghiệm và sự non nớt trong quá trình trưởng thành của một con người
Rất thường gặp là trường hợp tác phẩm không có người kể chuyện, đương nhiên vẫn có tác giả Đây là trường hợp thường được gọi là kể chuyện ở ngồi thứ
ba Tác giả không xuất hiện trong tác phẩm dưới bắt cứ hình thức nào, nhưng lại
như là người biết tắt cả câu chuyện (tác giả toàn tri), đứng ngoài các biển cỗ và để
cho câu chuyện diễn ra trước mắt người đọc, hiển hiện với tắt cả mọi phương điện
cụ thể của nó (thời gian, địa điểm, nhân vật, sự kiện bên ngoài, tâm lý bên trong,
điểm bắt đầu và điểm kết thúc, nguyên nhân và hệ quả ) Chỉ thông qua sự lựa
chon, sự quan sát, góc nhìn nhận, từ ngữ sử dụng, kết cấu tác phẩm mà tác giả thể hiện tư tưởng thẳm mĩ của mình Chẳng hạn như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt
đền của Ngô Tất Tổ, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan là những tác phẩm được sáng tạo theo phương thức này
Như vậy, trong văn chương, liên quan đến vai tác giả, cần phân biệt nguồn
phát và thể phát, người kể chuyện và tác giả, tác giả và nhân vật, những thực thể
này có quan hệ với nhau nhưng không phải trùng hợp, càng không phải đồng nhất
Trang 34với nhau Ngay một nhân tổ như điểm nhìn đối với sự vật, sự việc được trần thuật trong một tác phẩm tự sự, thì giữa tác giả, người kể chuyện va cả các nhân vat trong
truyện có thể đồng nhất trùng hợp, nhưng cũng có thẻ khác biệt
1.3.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp
'Ngữ cảnh trong giao tiếp văn học cũng hết sức đặc biệt và đóng vai trò quan
“một yếu tố quan trọng dẫn đến việc hiểu thông điệp tác phẩm cũng thay đổi
Những sự khác biệt giữa tác giả và độc giá về thời gian và không gian văn
những kiến thức nền hay những tiền giả định tương đương bởi vì cả hai thường
sống trong cùng một thời gian và không gian văn hóa Chẳng hạn, khi giao tiếp mua
bán ở các chợ Việt Nam giữa người mua và người bán trong những năm đầu của thể
ky XXI, cum tir za sạch đã được nói đến và lĩnh hội với một cùng một ý nghĩa,
nghĩa này có thể khác với nghĩa của cụm từ đó ở thế kỷ XX về trước: rau sạch:
không phải là rau không lắm bùn đất hay rác rưởi mà là loại rau không nhiễm hóa uit, cho nên lành, không độc hại cho cơ thể
1.2.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngừ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn
chương Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thắm mĩ
của con người Đó là thứ ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ
ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ cao
Trang 35ï nhắn gởi trực tiếp hay gián tiếp,
kín đáo hay công khai của người viết vế cuộc đời và cuộc sống Bằng sáng tạo nghệ
thuật theo phong cách riêng của mình nhà văn tao ra tác phẩm bao gồm yếu tố khách quan và chủ quan nhằm gây một tác động đặc biệt lên tâm hồn người doc Ngôn ngữ nghệ thuật khá đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biển hóa về tính sáng tạo và thống nhất ở ba đặc tính cơ bản là tính hình tượng, tính biểu
cảm và tính hảm s
c THTM trong tác phẩm văn chương là một hình thức tồn tại
đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật
1.3 GIỚI THIỆU VỀ CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM Trong văn học Việt Nam, thể loại ngâm khúc được ra đời từ giữa thế kỷ
XXVIHL Đến nữa đầu thể kỷ XIX, thể loại này đạt được những thành tựu rực rỠ, góp,
phần quan trọng vào quá trình phát triển nền văn học nước nhà
'Văn học Việt Nam thời kỳ này đạt những thành tựu rực rỡ vì đã chứng kiến sự
a đời nhiễu tác phẩm Nôm xuất sắc ở cả hai mặt: nội dung phân ánh thời đại sâu sắc
và trình độ nghệ thuật điều huyện Các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này có thể
kế đến là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Chính phụ ngâm khúc của Đăng Trần Côn Sự ra đời của thể ngâm khúc cùng với những đổi thay quan niệm về
con người thời trung đại đã đem đến cho thể loại này những riêng, nỗi bật
Con người công đồng phai nhạt nhường chỗ cho con người cá nhân, con người nhân
văn, nhân bản với những khát vọng sống chính đáng Thành tựu của thể ngâm khúc
đã góp phẩn vào thành tựu chung của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa cuối thể kỉ XVIII
đâu thể kí XIX - một chăng đường văn học với nhiễu định cao rực rỡ, đồng thời
'khẳng định một cách vững chắc thể ngâm trong văn học của giai đoạn này:
1.3.1 Về tác phẩm Cung oán ngâm khúc
Cung oán ngâm khúc là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát Đây là một bai ca ai
oán cho thân phận của một người cũng nữ tải sắc vẹn toàn, lúc đầu được vua én
sủng, yêu thương thắm thiết nhưng chẳng bao lâu lại bị bỏ rơi Ông đã dùng ngòi
bút của mình với lối văn độc thoại để giải bày tâm trạng đau đớn của người cung nữ:
Trang 36khi bị nhà vua ruồng bỏ Nẵng ý thức rõ được phẩm chất và tài năng của mình nên
lang lẽ tố cáo cuộc sống xa hoa phe phỏn của vua chúa đã biến người phụ nữ thành
mĩn đồ chơi để thỏa mãn dục vọng một cách vơ đạo Sống trong cung cắm với nỗi
cơ đơn, tù túng nảng muốn thốt ra ngồi để trở về với cuộc sống “cục mịch nhà
quê” của ngày xưa nhưng nàng vẫn bị giam cầm với bao nỗi niềm chất chứa Cuối cùng, nàng vẫn khát khao được sự ân sing nhỏ nhọ của vua như ngày nào nhưng,
đĩ chỉ là một ước mơ đẩy tuyệt vọng Và nàng nhận ra cõi đời này chỉ là những phù
du, hư vọng, khơng thật như vừa tỉnh một giắc mơ
Cũng ốn ngắm &húc được xem như một bản cáo trang tổ cáo chế độ phong
kiến đã chà đạp con người thơng qua là tiếng thét ai ốn của một trang tố nữ tài sắc vẹn tồn và tỉnh cảm trong sáng, cao quý mả bị ruồng bỏ Hình ảnh cung nữ chính
là nạn nhân của chế độ phong kiến mang đầy bản chất ích kỷ hẹp hỏi đến vơ đạo
của vua chúa đã biến họ thành mĩn đỗ chơi để thơa mãn thú tính rồi ném bỏ khơng thương tiếc vào quên lăng Nguyễn Gia Thiểu đã thấy được cảnh này khi lui tới trong phủ chúa nên cảm thương cho nỗi lịng của người cung nữ Với tắm lịng, nhân đạo ơng di
bắt hủ, đau đớn đến xé lịng về cuộc đời nàng Nhưng ý nghĩa c¡
àn hết tâm huyết và văn tải của mình để viết nên một tác phẩm
ic phim khơng sâu xa hơn là Nguyễn Gia Thiều đã
chỉ đừng lại ở đĩ mà cịn mang một ÿ nghĩ
mượn lời cung nữ để nĩi lên tâm sự bể tắc của mình, cũng là sự bể t
Nho thời đại ơng, đầy chán chường và mệt mỏi
“Qua tác phẩm Cung ốn ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiễu bày tơ tâm sự của một kẻ sĩ đã nhìn tÌ
chính ơng là người đã sống trong những biến cí
bao tang thương, thăng trằm, biển đổi của cuộc sống mà
Sự bể tắc của một thời đại với
những tắm bi kịch đến tê tái trên thân phận kiếp người thơng qua lời của người cung
nữ đã vẻ nên một bức tranh ảm đảm cho xã hội phong kiến lúc bấy giờ Nhưng
đường như ơng chỉ mượn tâm sự của người cung nữ để nĩi lên nỗi niềm u uắt của
ơng và cũng là của bao nhiêu người khác phải chịu nhiều bắt cơng dưới chế độ
đình điểm ơng đã lăng quên tâm trạng của người
sủa mình về kiếp người, vẻ cuộc đời với
phong kiển Đến khi nỗi u uắt
cung nữ mả trực tiếp bộc lộ vẻ suy nạl
Trang 37triết lý hư vô rải rác trong tác phẩm và vô cùng sắc xảo đến từng chỉ tiết cũng như câu chữ
1.3.2 Về tác phẩm Chỉnh phụ ngâm
Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sing tác vào khoảng nữa đầu thể ki XVIII Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh - Nguyễn phân tranh, đắt nước chia làm hai nữa Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng Nông dân
của những nạn nhân trong
chế độ thối nát ấy Tác phẩm Chink phy ngdm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận
được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ, Nhiễu ban dich xuất hiện, trong đó
bản dich sang chữ Nôm của bà Doàn Thị Diễm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác
Noi dung Chink phu ngâm phân ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến
phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lửa đôi của con người Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây
Người chỉnh phụ vốn dòng dõi trâm anh Nàng tiễn chồng ra trận với mong
muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý
với chỉ
tranh phi nghĩa Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo
trong văn chương; một thời, đó là tư tưởng đòi quyển sống quyền được hưởng hạnh
phúc rắt chính đáng của con người
Trang 38Như vậy, có thể nói Chính phụ ngâm là một trong những tác phẩm tiến bộ của văn học cỗ điễn đã quan tâm đến vận mệnh của con người Những khát vọng
hạnh phúc, khát vọng ái ân rất trần thể của con người đã được tác giả dé cao Người
chỉnh phụ trong tác phẩm này vì quá yêu chồng mà oán ghét chiến tranh và thái độ oán ghét Ấy cảng tăng lên khi lòng khao khát hạnh phúc, cùng ý thức về quyền sống
cá nhân ở nàng rỗi dậy mạnh mẽ Thật ra, tiếng nói oán ghét chiến tranh đã có mặt
trong văn học từ lâu Nhưng phải đến thể kỷ nảy thì tiếng nói đó mới trở nên sâu sắc, quyết liệt, vì đây là tiếng nói xuất phát từ sự thức tinh về quyền sống hạnh phúc
của cá nhân Ghi nhân được điều này là một đóng góp độc đáo của thi si Dang Ti
ngữ tín hiệu thẩm mĩ, mỗi quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ, kí hiệu học trong ngôn
ngữ với tín hiệu thẳm mĩ trong tác phẩm văn chương Cũng trong chương I, chúng
tôi điểm qua vải nết về tác phẩm Cung côn ngâm khúc và Chính phụ ngôm Khác
Những vẫn đề này sẽ là cơ sở ý luận để chúng tối iép tục phát triển ở các chương
Trang 39CHƯƠNG 2
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NU TRONG CUNG OÁN NGAM KHUC VA CHINH PHỤ NGÂM
NHÌN TỪ BÌNH ĐIỆN CÁI BIÊU ĐẠT Nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm &húc và chỉnh phụ trong Chính phụ ngâm khúc đã khai mào cho trảo lưu văn học viết về phụ nữ của nhà nho giai đoạn
thế kỷ XVIII — đầu XIX với cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa Lần đầu tiên người phụ
nữ bước vào văn học, trở thành nhân vật chính trong tác phẩm trữ tình có quy mô
dan khai thác sâu vào đời sống tình cảm, nỗi niễm của những phận má hồng truân
ic Lần đầu tiên,
chuyên, những khao khát bản năng về ái ân, về đời sống thân
nhân vật nữ xuất hiện trong văn học mang đậm yếu tố giới, qua cái nhìn trân trọng,
cảm thông của tác giả
Để giải mã được những nội dung mang tính nghệ thuật nói trên, chúng ta phải xuất phát từ việc tìm hiểu ngon agữ biểu đạt của hình tượng tượng người phụ
nữ trong hai tác phẩm ra làm sao Dó cũng là nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm được chúng tôi đề cập trong chương 2 này
2.1 SỰ BIÊU ĐẠT BẢNG NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
'TRONG CUNG OÁN NGẬM KHÚC
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc, xét ở cắp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể
Qua việc khảo sát hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc,
chúng tôi đã thống kê được các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ xuất
hiện trong khúc ngâm là 7 lần Có thể xác định các tín hiệu hằng thể theo hai nhóm:
nhóm hình tượng phụ nữ nói chung và hình tượng cung nữ Ở đây, chúng tôi chỉ
Trang 40xem xét hình tượng người phụ nữ trong tính hằng thể là người cưng nữ Thông qua
hình tượng cung nữ, các tín hiệu hằng thể là những từ ngữ đồng nghĩabiểu thức
đồng quy chiếu về hình tương người cung nữ trong tác phẩm
Người cung nữ được xem như là “va vật” (người phụ nữ đẹp) và họ cảm
thấy tự mãn nguyện với hạnh phúc hiện tại của mình:
Vẽ vưu vật trăm chiều chải chuốt,
Lông quân vương chỉ chủt trên tay:
AMá hằng không thuốc mà say,
Nước kia muốn đồ thành này muốn long
[Câu 165 - 168]
Hình ảnh biểu trng này được miêu tả qua các từ ngữ như á sương khuế, vị