1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XU HƯỚNG tái cấu TRÚC KINH tế THẾ GIỚI và THỰC TIỄN tái cấu TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ nước ở VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn PHÁT TRIỂN mới

17 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 209,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XU HƯỚNG TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ THẾ GIỚI Nền đại công nghiệp cơ khí, với các công nghệ và mô hình tiêu dùng truyền thống, đang đi đến những giới hạn khách quan về tài nguyên chẳng hạn, đến

Trang 1

XU HƯỚNG TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ THỰC TIỄN TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI

TS Nguyễn Minh Phong

Phó Ban Tuyên truyền lý luận, Báo Nhân dân

I XU HƯỚNG TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ THẾ GIỚI

Nền đại công nghiệp cơ khí, với các công nghệ và mô hình tiêu dùng truyền thống, đang đi đến những giới hạn khách quan về tài nguyên (chẳng hạn, đến khoảng năm 2050, giọt dầu mỏ cuối cùng của thế giới

sẽ bị vét lên - chấm dứt nền văn minh công nghiệp dựa trên dầu mỏ),

về môi trường, về chi phí sản xuất, về thị trường và xã hội mà chúng dựa vào, cũng như những giới hạn nội tại của bản thân các công nghệ

và nền sản xuất đó

Cuộc cách mạng công nghệ lần 3 đang định hình với các đặc trưng mới về chất như: có tính tự động hoá cao, là sự kết hợp giữa công nghệ

vi điện tử, công nghệ tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ và đáy đại dương cùng các công nghệ chế biến sâu không có phế liệu; sử dụng nguyên vật liệu mới có khả năng tái sinh, không gây ô nhiễm môi trường; làm hài hoà quan hệ giữa con người với thiên nhiên, đặt con người vào trung tâm sự tăng trưởng, trí tuệ hoá lao động và giải phóng con người khỏi lao động đơn điệu, độc hại cũng như những giới hạn sinh lý cá nhân khách quan v.v

Nói cách khác, thế giới đang đứng trước nhu cầu và khả năng hướng đến một mô hình kinh tế - công nghệ nhân đạo hơn, trí tuệ hơn,

có khả năng tự bảo vệ, vì thế hiệu quả và bền vững hơn Cùng với việc tạo ra những công nghệ mới, đang xuất hiện những điều kiện kinh doanh và cơ cấu tiêu dùng mới Thế giới ngày càng trở thành mạng lưới dày đặc và nhạy bén hơn các quan hệ giao tiếp và tương tác lẫn nhau, làm tăng các cơ hội cho tự do cá nhân, làm xói mòn các lợi thế cũ và

Trang 2

tạo ra những sức mạnh, cùng lợi thế mới v.v Cả ở cấp vi mô lẫn vĩ mô đang khởi động những quá trình tái cấu trúc vĩ đại chưa từng có trong lịch sử, trong đó:

Đối với các sản phẩm: đang và sẽ có sự cải thiện căn bản về danh mục, chủng loại, chất lượng, hình dáng, công dụng và giá cả của hàng loạt sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ theo hướng đa dạng hơn, gọn nhỏ hơn, nhiều chức năng hơn, tiện lợi, tinh xảo hơn, tiết kiệm năng lượng

và rẻ hơn, do đó, phổ cập rộng rãi hơn Sẽ xuất hiện hàng loạt sản phẩm

và dịch vụ hoàn toàn mới Vòng đời sản phẩm sẽ ngắn đi, thậm chí rất ngắn Trong cơ cấu tiêu dùng mới, tỷ trọng lớn sẽ thuộc về thông tin và những phương tiện cung cấp, xử lý và phân tích thông tin Đặc biệt, thế giớ sẽ ngày càng ưa chuộng và mở rộng sản xuất, cũng như tiêu dùng các sản phẩm “xanh, sạch, và bảo vệ sức khoẻ con người bằng những công nghệ có hàm lượng khoa học ngày càng cao và thân thiện với môi trường v.v Công nghệ mới khiến giá trị của thông tin trở nên đắt hơn Chất lượng nắm bắt, xử lý các thông tin trở thành nhân tố quyết định chất lượng sống, cũng như sự thành công của mỗi cá nhân và doanh nghiệp, do đó, của cả quốc gia

Đối với các công ty: sẽ có hai xu hướng song song diễn ra Một mặt, nền kinh tế quốc gia và thế giới càng lớn và mở rộng hơn thì các công ty trung bình và nhỏ sẽ càng thống trị và có tương lai hơn Các doanh nghiệp sẽ được tổ chức theo quy mô nhỏ (thậm chí có công ty một người), phi tập trung hoá, giảm bớt các khâu trung gian, cơ cấu thành nhiều đơn vị độc lập, có quyền tự chủ cao, giảm bớt tệ nạn quan liêu, được chuyên môn hoá cao, có tinh thần hợp tác, hoạt động mang tính toàn cầu, chặt chẽ và tuân thủ những tiêu chuẩn đạo đức ngày càng cao hơn (hiện tại, các công ty nhỏ dưới 19 người đang tạo ra 50% giá trị hàng xuất khẩu ở Mỹ và CHLB Đức Có tới 90% giá trị nền kinh tế Mỹ

là do các công ty dưới 500 người tạo ra)

Mặt khác, sự hợp nhất để trở thành lớn hơn, mạnh hơn, giảm chi phí

và có sức cạnh tranh hơn, đáp ứng những nhu cầu to lớn của nền kinh

tế tương lai sẽ trở thành xu hướng vận động của các tổ hợp kinh doanh dịch vụ tài chính ngân hàng và thông tin Sẽ ngày càng có nhiều tập đoàn xuyên quốc gia có giá trị tài sản lớn hơn GDP của một nước, thậm chí

Trang 3

của nhiều nước (tháng 4/1998 thế giới đã chứng kiến vụ siêu sát nhập giữa ngân hàng Citicorp và tập đoàn môi giới thương khoán bảo hiểm Trevelers Inc với tổng giá trị tài sản 700 tỷ USD, gần bằng GDP của Trung Quốc và bằng 1,8 lần tổng GDP toàn khối ASEAN) Các công ty xuyên quốc gia đang kiểm soát 2/3 chu chuyển ngoại thương và đầu tư quốc tế và sẽ không mất đi vai trò to lớn của chúng trong việc tạo động lực cho tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu Trong tương lai, các công ty này sẽ được điều chỉnh theo định hướng: toàn cầu hoá chiến lược kinh doanh; đa nguyên hoá các chủ thể đầu tư; đa dạng hoá thị trường và lĩnh vực đầu tư; địa phương hoá xí nghiệp của các công ty

ở nước ngoài và quốc tế húa cả về hướng kinh doanh, cơ cấu sản phẩm, công nghệ, nguyên liệu, nhiên liệu, nhân lực và vốn đầu tư v.v…

Đối với các nền kinh tế: các cấu trúc ngành nghề sẽ chuyển dịch theo hướng: thu hẹp và mất đi các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống và xuất hiện những ngành khai thác, chế biến nguyên liệu mới thích hợp; các ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong nền kinh tế quốc gia và quốc tế; các công nghệ mới, các xa lộ thông tin, vận tải toàn cầu phát triển, đang thu hẹp lại khoảng cách của các quốc gia, đồng thời mở rộng giới hạn không gian kinh tế và sinh tồn của con người lên khoảng không, xuống đáy đại dương hay các vùng sa mạc, các vùng băng tuyết quanh năm v.v

và đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển các yếu tố của hoạt động tái sản xuất kinh tế - xã hội Các công ty và quốc gia không chỉ lập kế hoạch cho thị trường trong nước, mà còn phải cho cả thị trường khu vực và toàn cầu Nền công nghiệp mới, tự động hoá và có tính toàn cầu sẽ xuất hiện cùng với nền kinh tế thị trường toàn cầu Chế độ tổ chức lao động của công ty và quốc gia cũng thay đổi mạnh, sẽ bớt đi kiểu làm việc tập trung tại công sở và chế độ ăn lương suốt đời tại một công ty, một quốc gia Con người lao động mới sẽ có tri thức toàn diện hơn, năng động,

tự chủ hơn, di chuyển chỗ làm việc thường xuyên và trên phạm vi ngày càng rộng hơn Đô thị hoá sẽ tăng nhanh, các cấu trúc chính trị và giao lưu văn hoá-xã hội quốc gia và quốc tế sẽ có sự dịch chuyển tương ứng

“Nền kinh tế nợ” sẽ trở thành đặc trưng cho mọi công ty và quốc gia Nói cách khác, mỗi công ty và mỗi nước sẽ ngày càng có nhu cầu và

Trang 4

khả năng tiếp cận rộng rãi, thường xuyên hơn với các nguồn vốn bên ngoài, cũng như tích cực đầu tư ra bên ngoài hơn Tăng trưởng với tốc

độ nhanh nhất so với tất cả các hoạt động kinh doanh khác, các hoạt động tài chính - tín dụng sẽ ngày càng trở thành vũ khí cạnh tranh và công cụ “đồng hoá” một công ty, một quốc gia lợi hại nhất Tình trạng

nợ khó đòi và tín dụng không hiệu quả sẽ ra tăng, kéo theo những xung lực tiềm ẩn gây bất ổn định thị trường tài chính - tiền tệ quốc gia và quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu bức bách hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát an toàn tài chính - tín dụng cả ở cấp vi mô lẫn cấp vĩ mô (cấp quốc gia lẫn khu vực và quốc tế)

Tóm lại, do sự tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau của các

xu hướng đã nêu trên đây, toàn cảnh nền kinh tế thế giới tương lai sẽ

là một bức tranh không cố định cả về mầu sắc và bố cục Độ nhạy cảm

và phụ thuộc lẫn nhau giữa các vấn đề và sự kiện trong và ngoài nước gia tăng Biên giới và chủ quyền quốc gia theo nghĩa truyền thống sẽ bị

“mờ” dần Các định chế khu vực và quốc tế ngày càng ảnh hưởng chi phối chính sách và định hướng sự phát triển của mỗi nước Tuy nhiên, các siêu cường vẫn luôn gây ra những ảnh hưởng khu vực và toàn cầu Các nhân tố văn hoá - xã hội cùng các đặc tích quốc gia vẫn đóng vai trò chi phối quan trọng và tạo ra tính đa dạng nhiều vẻ trong sự phát triển thế giới Quá trình phát triển của mỗi quốc gia và khu vực sẽ được đẩy nhanh hơn cùng với những giao động quá độ được đặc trưng bởi những cải cách mạnh ở lĩnh vực này chưa động bộ với ở lĩnh vực khác; những thành công và cả sự đổ vỡ sẽ ra tăng về quy mô và tốc độ trong môi trường kinh doanh quốc gia và quốc tế vừa đầy tính cạnh tranh, vừa đề cao sự hợp tác Quá trình cơ cấu lại nhanh và hiệu quả toàn bộ nền kinh

tế quốc gia và quốc tế trên cơ sở các công nghệ mới về chất đang và sẽ

là động lực chủ yếu quy định sự phát triển và bộ mặt nền kinh tế quốc gia và kinh tế thế giới tương lai Những cơ hội và thách thức mới đang

và sẽ đặt ra cho mỗi nước nguyên tắc tối cao của thành công trong bối cảnh đó là “ai thấy trước được và chuẩn bị tốt cho tương lai, người đó sẽ thắng” như lời của Bill Gates, tỷ phú trẻ và giàu nhanh nhất nước Mỹ

Trang 5

II THỰC TIỄN TÁI CẤU TRÚC DNNN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI

1 Tái cấu trúc DNNN là một quá trình mở, đã triển khai từ lâu

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (diễn ra từ ngày 6-10/10/2011), đã nhấn mạnh: trong năm 2012 và những năm tiếp theo, Việt Nam sẽ ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước v.v…

Ngày 17/1/2012, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị

số 03/CT-TTG về việc đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN Theo đó, các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cần tập trung hoàn thiện đồng

bộ cơ chế, chính sách đối với DNNN, tạo thuận lợi hơn cho đổi mới, tổ chức hoạt động, quản lý, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu DNNN, trong quý I/2012 trình Thủ tướng hoặc ban hành theo thẩm quyền v.v…

Trên thực tế, quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam đã được khởi phát với tên gọi đổi mới và sắp xếp lại các DNNN từ đầu thập niên 1990, với chủ trương buộc giải thể, cho thuê, sát nhập một số DNNN hoạt động kém hiệu quả; tiến hành cổ phần hóa một bộ phận lực lượng DNNN (thí điểm từ năm 1993 và tăng tốc mở rộng từ năm 1996); xây dựng các tổng công ty (90 và 91) năm 1994, ban hành Luật DNNN năm 1995, thí điểm

tổ chức tập đoàn kinh tế nhà nước năm 2005 v.v Cho đến nay, khu vực DNNN đã giảm nhanh về số lượng Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011và Báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp ngày 15/2/2011, từ khoảng 12.000 DN vào năm 1991, tính đến cuối năm

2010, cả nước có 1.207 DNNN là công ty TNHH một thành viên và 1.900 doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần chi phối Cả nước hiện có

101 tập đoàn, tổng công ty và 2 ngân hàng thương mại do Nhà nước giữ 100% vốn, trong đó có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước thành lập, hầu hết

Trang 6

dựa trên nền tảng của các tổng công ty 90, 91 có quy mô lớn về vốn điều

lệ và tài sản, có mặt trong hầu hết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Khu vực DNNN đã và vẫn đang chiếm vai trò quan trọng trong việc định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội quốc gia, đầu

tư mồi, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng, tạo việc làm xã hội

và bảo đảm sự ổn định chung của nền kinh tế

Tuy nhiên, tính đến thời điểm 1/7/2010, khi Luật DNNN hết hiệu lực, mục tiêu tổ chức sắp xếp lại DNNN đề ra đã không đạt được, tiến trình cổ phần hóa bị trì trệ Nhiều DNNN độc lập hoặc tổng công ty nước cần cổ phần hóa, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mang tính hình thức từ công ty nhà nước thành Cty TNHH một thành viên Hàng năm có khoảng 12% DNNN bị lỗ trong sản xuất kinh doanh, trong khi khu vực doanh nghiệp nói chung là 25% Tuy nhiên, mức lỗ bình quân của một DNNN lại cao hơn 12 lần so với các doanh nghiệp khu vực khác Chỉ tiêu hệ số thu nhập trên tài sản và hệ số thu nhập vốn cổ phần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 20,8%, thua xa khu vực đầu

tư trực tiếp nước ngoài Quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 540.701 tỷ đồng (tăng 11,75% so với năm 2009); tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỷ đồng; chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng thương mại Đặc biệt, có đến 80% tổng số lợi nhuận trước thuế đến từ 4 tập đoàn: dầu khí, viễn thông quân đội, bưu chính viễn thông và cao su, nghĩa là ở các tập đoàn, tổng công ty còn lại, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu còn thấp hơn nữa)

Báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho hay, DNNN hiện chiếm tới 70% vốn đầu tư toàn

xã hội, 50% vốn đầu tư Nhà nước, 60% tín dụng và 70% tổng nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA v.v…

Trong khi đó, theo Vụ Đổi mới doanh nghiệp, Văn phòng Chính phủ, hàng năm khu vực kinh tế nhà nước, mà nòng cốt là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và DNNN, chỉ đóng góp khoảng 35% GDP của cả nước, tạo ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu)

Trang 7

Về tổng thể, các DNNN đang chiếm giữ một nguồn lực rất lớn của nền kinh tế, nhưng sự đóng góp cho nền kinh tế hoàn toàn không tương xứng, xét về tỷ trọng đóng góp cho GDP, giải quyết việc làm, hiệu quả

sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đai, tiền vốn, nguyên vật liệu v.v…)

Cơ chế quản lý vẫn còn nhiều bất cập, như chưa rõ ràng quyền quản lý nhà nước đối với DNNN, vai trò của chủ sở hữu hoặc người đại diện chủ sở hữu, vai trò và cơ chế trách nhiệm, quyền lợi của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên; trong khi quyền chủ động điều hành sản xuất, kinh doanh của DNNN lại bị hạn chế; cơ chế tài chính và cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, sự gắn kết lợi ích vật chất với trách nhiệm của người quản lý và đội ngũ lao động v.v…chưa được luật hóa Hoạt động của nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chí với mức độ ngày càng nặng nề, làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực to lớn và kéo dài khác về ép lạm phát, mất cân đối vĩ mô - trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy - tiêu dùng, cũng như mất cân đối và gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, địa phương và bộ phận dân cư trong xã hội; tăng tình trạng tham nhũng và bóp méo cơ chế kinh tế thị trường; hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội nhập v.v…

Đặc biệt, trong quản lý DNNN vẫn còn sự nhập nhằng giữa mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, quản trị kém hiệu quả và chưa đảm nhận được vai trò sự can thiệp mang tính chủ đạo của lực lượng kinh

tế nhà nước ngay cả trong cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng và các ngành kinh tế có hiệu quả sinh lời thấp, nhưng cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, như cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ, thị trường bất động sản thứ cấp, ứng dụng và phát triển công nghiệp công nghệ cao v.v… Nhìn lại chương trình cải cách DNNN 20 năm nay, đó

là quá trình cải cách đầy “mâu thuẫn, trăn trở và đau đớn” và thời điểm hiện nay kế hoạch cải cách khó khăn hơn rất nhiều, vì liên quan đến ý thức hệ, các tập đoàn lớn, nhóm lợi ích Yếu kém của DNNN nằm ngay trong bất cập về lý luận, quan điểm, mục tiêu phát triển DNNN vừa qua Đặc biệt, khu vực DNNN vẫn còn chịu sự áp đặt khiên cưỡng và tham vọng khi cùng lúc phải thực hiện, trong khi thiếu phân biệt cơ chế

Trang 8

hoạt động và giám sát thích hợp, với cả 2 tư cách: vừa phải hướng tới lợi nhuận và hiệu quả trong sự cạnh tranh thị trường với các loại hình doanh nghiệp khác, đồng thời vừa phải là công cụ chủ lực để Nhà nước can thiệp ổn định kinh tế vĩ mô và xã hội theo mục tiêu lựa chọn Thậm chí, có DNNN hiện còn không phân biệt rõ có mục tiêu chính là gì, mục tiêu phụ là gì? Dẫn đến hiện tượng phổ biến trong khu vực DNNN là tư tưởng chụp giựt, tranh thủ “đục nước béo cò”, lạm dụng đầu tư không hợp lý, thiếu tập trung và dứt điểm cho các công trình trọng điểm có khả năng lan tỏa, dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế; chế quản lý kém, thiếu minh bạch, khép kín, nạn tham nhũng, lợi ích cục bộ, phe nhóm, địa phương, sự nể nang cảm tính và tư duy nhiệm kỳ; thiếu kiểm soát

và chế tài kịp thời, nghiêm khắc, trách nhiệm chưa rõ ràng và nhất là do thiếu phối hợp đồng bộ các chính sách, các cấp, ngành và các bên hữu quan trên cơ sởmộtLuật Đầu công tư còn thiếu vắng ở nước ta v.v…

Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng, khung pháp luật hiện hành liên

quan đến tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) gồm nhiều loại quy định khác nhau: (i) quy định chung áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, bị chi phối bởi Luật Doanh nghiệp; (ii) các quy định riêng về TĐKTNN; (iii) quy định áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc

sở hữu nhà nước Nhiều nội dung liên quan đến thành lập, quản lý điều hành, nguyên tắc quản lý giám sát của chủ sở hữu nhà nước chưa được quy định cụ thể, chi tiết hoặc chưa có hướng dẫn gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện cũng như tạo ra sự tuỳ tiện trong tổ chức thực hiện Hầu hết quy định về điều kiện thành lập TĐKTNN chưa được định lượng hóa; đồng thời vẫn chưa có quy định về cơ chế tổ chức, phối hợp các đầu mối thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước; việc quản

lý, giám sát của chủ sở hữu và trách nhiệm của các cơ quan liên quan nên khó có thể phát hiện nhanh, kịp thời những vẫn đề của TĐKTNN

để điều chỉnh v.v…

2 Những nguyên tắc và điểm nhấn tái cấu trúc DNNN trong thời gian tới

Cả về lý thuyết, cũng như thực tiễn cho thấy, để quá trình tái cấu trúc DNNN thực sự góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công nói riêng,

Trang 9

hiệu quả kinh tế - xã hội đất nước nói chung, cần chú ý một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, tái cơ cấu DNNN trên cơ sở, tôn trọng, vận dụng

đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường và tuân thủ pháp luật

Cần xem nhu cầu thị trường, cơ chế thị trường và hiệu quả, lợi ích là căn cứ chính để quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển; đồng thời, có biện pháp tích cực ngăn ngừa và khắc phục những hạn chế, mặt trái của cơ chế thị trường Yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững đòi hỏi Nhà nước không bao cấp rủi ro cho doanh nghiệp, nhưng cũng không tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp bằng các quyết định hành chính của mình Cần sớm khắc phục một nghịch

lý là, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế chưa cao là do

sự can thiệp của Nhà nước, ở nhiều cấp chính quyền khác nhau, không phù hợp với sự vận động của thị trường; nhưng mặt khác, Nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra

Thực tế, do nhiều nguyên nhân, cho đến nay nhiều DNNN của Việt Nam vẫn hoạt động có tính độc quyền cao do chưa có cơ chế cạnh tranh thị trường đầy đủ Thậm chí, đã có lúc người ta thấy có sự vận dụng ngược trình tự quy luật thị trường, tức chủ trương cho phép các doanh nghiệp độc quyền được định giá xăng dầu theo giá thị trường thế giới, mà không phải cạnh tranh thị trường; trong khi cần làm ngược lại, phải cho cạnh tranh thị trường đầy đủ và lành mạnh trước khi tự

do hóa giá cả thị trường để tránh biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp và tạo cơ hội thu lợi nhuận độc quyền kép cho doanh nghiệp độc quyền

Vì vậy, cần khẩn trương xây dựng Luật Quản lý vốn Nhà nước

hoặc Luật Đầu tư công tạo cơ sở pháp lý cần thiết điều chỉnh bằng Luật

đối với các hoạt động đầu tư công, trong đó có đầu tư của các DNNN cho 2 mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận

Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật

về tổ chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế và quản lý, giám sát của

Trang 10

Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế, trong đó, cần sớm có quy chuẩn về

cơ chế hoạt động tài chính, giao dịch thương mại nội bộ tập đoàn, tổng công ty; chuẩn mực kế toán, các biểu mẫu báo cáo: báo cáo tài chính hợp nhất, quy định minh bạch hóa và công khai giao dịch tài chính giữa các doanh nghiệp thành viên; các nguyên tắc quản trị, minh bạch hóa thông tin trong tập đoàn; quy định về tiêu chí sử dụng cụm từ “tập đoàn”, “tổng công ty” trong đặt tên doanh nghiệp để tương xứng với quy mô của doanh nghiệp, góp phần làm minh bạch hóa thông tin của doanh nghiệp

Đặc biệt, cần phân định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ của từng cấp từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác

Các Bộ được giao làm đại diện chủ sở hữu tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp theo cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước Việc đầu tư, kế hoạch sản xuất hàng năm, huy động vốn v.v… thực hiện theo quy định của pháp luật tương ứng Nghiên cứu để phân cấp cho Hội đồng thành viên có thẩm quyền quyết định việc thành lập chi nhánh Việc thành lập mới doanh nghiệp phải báo cáo chủ sở hữu Việc huy động vốn có liên quan đến ngoài nước phải có thẩm định của Bộ Tài chính Nội dung phê duyệt, thẩm định, chấp thuận cần được cụ thể hóa trong văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định này; xây dựng Nghị định riêng đối với Tổng công

ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo nguyên tắc tập trung vốn của các doanh nghiệp nhỏ để đầu tư cho doanh nghiệp lớn v.v…

Không nên đóng khung sự phối hợp chính sách chỉ trong nội bộ các

cơ quan chính phủ với các doanh nghiệp nhà nước, mà cần gắn kết chặt chẽ, mở rộng dân chủ hóa với giới doanh nghiệp và viện, trường và các tầng lớp dân chúng khác Sử dụng chuyên gia trong nước và nước ngoài

có trình độ và khách quan nhằm đánh giá, phản biện độc lập các tác động hai mặt của dự án đầu tư công lớn Làm tốt việc này sẽ hạn chế bớt

Ngày đăng: 31/08/2022, 11:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w