Thống kê thu nhập của người lao động: o Thống kê các nguồn hình thành thu nhập của người lao động; o Thống kê tổng quĩ lương của doanh nghiệp và phân tích sự biến động cũng như tình hì
Trang 1BÀI 2: THỐNG KÊ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
Hướng dẫn học
Đọc kỹ bài giảng, nghe giảng trực tuyến
Thảo luận với giáo viên và các học viên khác về các vấn đề chưa nắm rõ
Trả lời các câu hỏi và làm bài tập ở
cuối bài
Làm rõ ý nghĩa và nhiệm vụ của thống kê
lao động trong doanh nghiệp
Trang bị các kiến thức cơ bản về thống kê
lao động và thu nhập của người lao động
trong doanh nghiệp
Hướng dẫn học viên cách tính toán và phân
tích các chỉ tiêu thống kê lao động và thu
nhập của người lao động trong doanh nghiệp
Thống kê lao động trong doanh nghiệp
Thống kê thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp
Trang 2TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP
Tình hu ống: Quản lý xí nghiệp may mặc gia đình
Với xí nghiệp may mặc được gia đình giao cho quản lý, bạn quyết định sẽ thực hiện một cuộc
cải cách mới Nhớ lại bài học về kỹ năng quản trị doanh nghiệp, các quyết định phải xuất phát từ
việc phân tích nguồn thông tin Trong đó, nhóm thông tin đầu tiên bạn quan tâm là các nguồn
lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như lao động, vốn, Vì vậy, bạn đến
bộ phận thống kê của xí nghiệp và yêu cầu cung cấp các thông tin liên quan đến nguồn lực quan
trọng thứ nhất: lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp
Các thông tin mà bạn quan tâm đó là số lượng lao động trong doanh nghiệp hiện nay, sự biến động của nó như thế nào, chất lượng lao động cao hay thấp, thu nhập của người lao động có
tương xứng với sức lao động họ bỏ ra hay không, phân phối đã công bằng chưa
1 Với những yêu cầu hết sức chung chung đó, không biết bộ phận thống kê lao động của
doanh nghiệp bạn sẽ giải quyết ra sao?
2 Họ sẽ thu thập những thông tin nào, tính toán và phân tích những chỉ tiêu nào?
3 Với nguồn nhân lực đó, hãy xác định nội dung và phương pháp huấn luyện thích hợp?
Trang 3Lao động của con người là nhân tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của quá trình sản xuất xã hội Trong mọi xã hội, mọi thời đại, dù trình độ khoa học kỹ thuật phát triển đến đâu thì lao động vẫn là yếu tố không thể thiếu được Với mỗi doanh nghiệp, lao động là nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất ra các sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động trong mỗi doanh nghiệp?
2.1 Ý nghĩa và nhiệm vụ của thống kê lao động trong doanh nghiệp
2.1.1 Ý nghĩa của thống kê lao động trong doanh nghiệp
Thống kê lao động và thu nhập của người lao động là
những vấn đề không thể thiếu trong tổ chức quản lý
hoạt động của mỗi doanh nghiệp Từ những thông tin
thu thập được thông qua hoạt động thống kê lao động,
các nhà quản trị doanh nghiệp có thể quản lý và sử
dụng nguồn lực này một cách hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, với những thông tin thu thập từ hoạt
động thống kê thu nhập của người lao động, phần nào
chúng ta có thể đánh giá khái quát được quy mô, chất
lượng của lao động cũng như đời sống của người lao
động trong doanh nghiệp
Đây là vấn đề có tính chất quyết định trong việc làm tăng khối lượng sản phẩm sản
xuất cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm để tiến tới mục đích lớn hơn là tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp
2.1.2 Nhiệm vụ của thống kê lao động trong doanh nghiệp
Để thực hiện tốt vai trò của mình, thống kê lao động trong doanh nghiệp phải thực
hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Thống kê lao động:
o Thống kê số lượng và kết cấu lao động của doanh nghiệp;
o Nghiên cứu biến động lao động trong doanh nghiệp;
o Thống kê tình hình sử dụng số lượng lao động và thời gian lao động của doanh nghiệp;
o Thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp và phân tích biến động năng
suất lao động do ảnh hưởng của các nhân tố
Thống kê thu nhập của người lao động:
o Thống kê các nguồn hình thành thu nhập của người lao động;
o Thống kê tổng quĩ lương của doanh nghiệp và phân tích sự biến động cũng như tình hình sử dụng tổng quỹ lương;
o Thống kê tiền lương bình quân và phân tích sự biến động của tiền lương bình quân trong doanh nghiệp;
o Nghiên cứu mối quan hệ giữa tốc độ tăng tiền lương và tốc độ tăng năng suất lao động nhằm đánh giá khả năng tích luỹ của doanh nghiệp trong việc sử dụng lao động
Trang 42.2 Thống kê số lượng và sự biến động lao động trong doanh nghiệp
2.2.1 Thống kê số lượng lao động trong doanh nghiệp
2.2.1.1 Khái niệm và phân loại số lượng lao động trong doanh nghiệp
Khái niệm
Số lượng lao động trong doanh nghiệp là toàn bộ lực lượng lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do doanh nghiệp quản lý và trả lương
Mỗi doanh nghiệp thường bao gồm nhiều loại lao động khác nhau Mỗi lao động
có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức, quản lý và sử dụng khác nhau Do vậy, để thống kê được số lao động thì trước hết ta phải tiến hành phân loại lao động trong doanh nghiệp
Phân loại lao động trong doanh nghiệp
Căn cứ vào việc tổ chức quản lý, sử dụng và trả lương, người ta chia lao động làm
việc ở doanh nghiệp thành hai loại: Lao động trong danh sách của danh sách của doanh nghiệp và lao động và ngoài danh sách của doanh nghiệp:
o Lao động trong danh sách của doanh nghiệp: là
tổng số lao động đã được ghi tên vào danh sách lao động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp
quản lý, sử dụng sức lao động và trả lương, trả công hoặc bằng hình thức thu nhập hỗn hợp (tiền công và lợi nhuận của sản xuất kinh doanh)
Như vậy, bộ phận quan trọng quyết định đến kết
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là lao động trong danh sách của doanh nghiệp Đây
cũng là đối tượng thường xuyên và chủ yếu của
thống kê lao động trong doanh nghiệp
o Phân loại lao động trong danh sách của doanh nghiệp
Để đáp ứng yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người ta có
thể phân loại lao động trong danh sách của doanh nghiệp theo một số tiêu thức
có tính chất đột xuất, thời vụ hoặc ngắn hạn tạm thời
Căn cứ vào tính chất của lao động, lao động trong danh sách được chia thành: Lao động làm công ăn lương: là những người được doanh nghiệp trả lương theo mức độ hoàn thành công việc được giao, gồm có: Tổng số lao động và
người học nghề (nếu họ được nhận tiền công, tiền lương của doanh nghiệp);
Những người làm việc bên ngoài doanh nghiệp nhưng được doanh nghiệp
trả lương (như: nhân viên bán hàng, quảng cáo, sửa chữa, bảo hành sản
phẩm ) và lao động không được trả lương, trả công là những người làm việc
tại doanh nghiệp nhưng thu nhập của họ không được thể hiện bằng tiền
Trang 5lương hoặc tiền công mà bằng thu nhập hỗn hợp gồm cả tiền công và lợi nhuận của doanh nghiệp
Căn cứ vào tác dụng của từng loại lao động đối với quá trình sản xuất kinh doanh, lao động làm công ăn lương được chia thành hai loại: Lao động trực tiếp
sản xuất: gồm những người lao động và người học nghề được trả lương - là
những người lao động trực tiếp gắn bó với quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp; lao động làm công khác: gồm những lao động làm công
ăn lương còn lại mà công việc của họ không trực tiếp gắn với quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: cán bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế,
quản lý hành chính, bảo vệ, giám sát
o Lao động ngoài danh sách của doanh nghiệp: là những người tham gia làm việc
tại doanh nghiệp nhưng không thuộc quyền quản lý lao động và trả lương hay sinh hoạt phí của doanh nghiệp
2.2.1.2 Phương pháp tính số lượng lao động trong danh sách của doanh nghiệp
Số lượng lao động trong danh sách của doanh nghiệp
có thể được xác định tại từng thời điểm hoặc tính bình
quân cho một thời kỳ nào đó
Số lượng lao động trong danh sách thời điểm là chỉ
tiêu phản ánh số lượng lao động trong danh sách tại
một thời điểm nhất định nào đó Đây là căn cứ để đánh
giá quy mô lao động của doanh nghiệp tại một thời
điểm nhất định, đồng thời là căn cứ để lập bảng cân đối lao động và tính số lượng lao động bình quân của doanh nghiệp
Số lượng lao động trong danh sách bình quân là chỉ tiêu phản ánh mức độ điển hình về
số lượng lao động trong danh sách của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này được sử dụng phổ biến trong tính toán các chỉ tiêu kinh tế
Người ta có thể tính được chỉ tiêu này tuỳ theo điều kiện số liệu mà doanh nghiệp
hạch toán được trong kỳ
Nếu doanh nghiệp hạch toán được số lao động trong danh sách hàng ngày, số lao động trong danh sách bình quân được tính:
n i
i 1
LL
n
Trong đó: Li là số lượng lao động có ở ngày thứ i trong kỳ nghiên cứu (i = 1,n )
Những ngày nghỉ lễ, nghỉ thứ bảy, chủ nhật thì lấy số lượng lao động có ở ngày
liền trước đó
Nếu doanh nghiệp hạch toán được số lao động trong danh sách tại thời điểm đầu
kỳ và cuối kỳ, số lao động trong danh sách bình quân được tính:
Trang 6 Nếu doanh nghiệp hạch toán được số lao động trong danh sách ở một số thời điểm
nhất định, các thời điểm này có khoảng cách thời gian bằng nhau, số lao động trong danh sách bình quân được tính:
từng thời kỳ
Trước hết, ta phải tính số lao động bình quân từng tháng
Số lao động trong danh sách bình quân tháng 1 là số lao động bình quân của tất
cả các ngày trong tháng 1 Giả thiết biến động số lao động các ngày trong tháng
là tương đối đều đặn Vậy ta sẽ tính số lao động bình quân tháng 1 dựa vào số lao động ngày đầu tháng và cuối tháng (ở đây, có số liệu vào ngày 01/02, được coi là số liệu của ngày 31/01)
Trang 7L tL
t
Trong đó:
Li là số lượng lao động có tại thời điểm i trong kỳ nghiên cứu
ti là khoảng cách thời gian có số lao động Li tương ứng
2) Có tài liệu về số lao động trong danh sách của doanh nghiệp A trong tháng 4/n:
Ngày 01/4 doanh nghiệp có 180 lao động Đến ngày 10/4, doanh nghiệp tuyển
dụng thêm 5 lao động Ngày 15/4, tuyển dụng tiếp 3 lao động Đến ngày 21/4,
i 1
L t5.513
30t
2.2.1.3 Thống kê biến động số lượng lao động trong doanh nghiệp
Để nghiên cứu biến động số lượng lao động trong doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu,
thống kê thường sử dụng phương pháp bảng cân đối
Bảng cân đối lao động là báo cáo thống kê tổng hợp tình hình lao động của doanh nghiệp và thường được lập vào các báo cáo tổng kết quý, năm Bảng cân đối này có
thể được lập cho cả lao động trong danh sách của doanh nghiệp và lao động làm công
ăn lương của doanh nghiệp
Trang 8B ảng cân đối số lượng lao động trong danh sách của doanh nghiệp
Đơn vị tính: Người
Trong đó Chỉ tiêu Số lượng
III Số giảm trong kỳ
Nghỉ chế độ (trước tuổi hưu trí)
Điều động đi
Chuyển tuổi lao động (ra khỏi độ tuổi lao động)
Cử đi học, đi nghĩa vụ quân sự
Giảm khác
Trong đó:
Cho thôi việc
Tự bỏ việc, bị thải hồi
IV Số có cuối kỳ (I + II – III)
B ảng cân đối số lượng lao động làm công ăn lương của doanh nghiệp
Đơn vị tính: Người
So với nhiệm
vụ kỳ sau Chỉ tiêu
Loại lao động
Số có đầu
kỳ
Số tăng trong kỳ (theo mọi nguyên nhân)
Số giảm trong kỳ (theo mọi nguyên nhân)
Số có cuối
Trang 9Dựa trên bảng cân đối lao động ở trên, có thể tính được một số chỉ tiêu phản ánh biến
động số lượng lao động của doanh nghiệp, gồm có:
Số lượng lao động tăng trong kỳ (theo mọi nguyên nhân)
Tỷ lệ biến động tăng
lao động = Số lượng lao động có đầu kỳ ×100
Số lượng lao động giảm trong kỳ (theo mọi nguyên nhân)
Tỷ lệ biến động giảm
lao động
=
Số lượng lao động có đầu kỳ × 100
Số lượng lao động tuyển dụng
mới trong kỳ
Tỷ lệ đổi mới lao động = Số lượng lao động có cuối kỳ × 100
Số lượng lao động nghỉ việc theo chế độ
trong kỳ
Tỷ lệ lao động nghỉ
việc theo chế độ
=
Số lượng lao động có đầu kỳ × 100 Bên cạnh những chỉ tiêu trên, bảng cân đối còn là cơ sở để tính số lượng thiếu hoặc
thừa so với yêu cầu nhiệm vụ sản xuất để doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch
tuyển dụng hoặc cắt giảm lao động cho phù hợp
2.2.2 Thống kê tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp
2.2.2.1 Thống kê tình hình sử dụng số lượng lao động
Để thống kê tình hình sử dụng số lượng lao động của
doanh nghiệp, người ta thường tính các chỉ tiêu sau:
Chỉ số đánh giá sự biến động về số lượng lao động
kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc (hoặc thực tế so với kế
hoạch) (IL )
Có hai phương pháp để tính chỉ số này như sau:
o Phương pháp so sánh trực tiếp:
1 L 0
L
I 100L
Khi đó, biến động tuyệt đối về quy mô lao động sẽ là:
L L1 L0
Trang 10Trong đó:
1 0
L , L : Số lượng lao động tham gia sản xuất bình quân kỳ nghiên cứu và kỳ
gốc tương ứng (hoặc thực tế và kế hoạch)
Nếu IL = 100: Tình hình sử dụng lao động không thay đổi
Nếu IL > 100: Số lao động được sử dụng tăng lên (doanh nghiệp tuyển thêm lao động)
Nếu IL < 100: Số lao động được sử dụng giảm đi (doanh nghiệp cắt giảm lao động)
Phương pháp này tiến hành khá đơn giản và cho phép đánh giá cụ thể về mức
độ chênh lệch số lượng lao động kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc (hoặc thực tế so
với kế hoạch) Tuy nhiên, nó không đánh giá được thực chất tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp là tiết kiệm hay lãng phí
o Phương pháp so sánh có tính đến hệ số điều chỉnh:
1 L
QIQ
: Chỉ số phản ánh sự biến động của kết quả sản xuất
0 Q
L I : Số lượng lao động kỳ gốc (hoặc kế hoạch) được điều chỉnh theo chỉ số
kết quả sản xuất
Nếu IL < 100: Doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm lao động và ngược lại
Như vậy, phương pháp này cho phép đánh giá thực chất việc sử dụng lao động
của doanh nghiệp ở hai thời gian nghiên cứu Tuy nhiên, kết quả tính toán cũng
phụ thuộc khá nhiều vào sự biến động của chỉ tiêu kết quả sản xuất được chọn
Chỉ số số lao động thực hiện so với kế hoạch được tính:
Số lao động trong danh sách bình quân (người) 180 200 Giá trị sản xuất (GO) (triệu đồng) 3.600 3.800
Trang 111 L 0
L 200
L 180
lần hay 111%
Lượng tăng tuyệt đối: L L1L0= 200 – 180 = 20 người
Như vậy, số lao động trong danh sách bình quân năm n đã thực hiện vượt
mức so với kế hoạch đề ra là 11% ứng với số tuyệt đối là 20 người
Phương pháp so sánh có tính đến hệ số điều chỉnh:
Chỉ số số lao động thực hiện so với kế hoạch được tính:
1 L
Tỷ trọng các loại lao động trong doanh nghiệp
Thông qua nghiên cứu kết cấu hay tỷ trọng của từng loại lao động được sử dụng trong kỳ nghiên cứu, ta có thể đánh giá và đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng lao động một cách hữu hiệu nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu này được tính:
i i
Trong đó: Li là số lượng lao động loại i trong kỳ nghiên cứu
Tuổi nghề bình quân của lao động (T ) n
Tni: Tuổi nghề thứ i của lao động
Li: Số lao động có tuổi nghề thứ i tương ứng
Chỉ tiêu này có thể tính cho từng bộ phận thuộc lao động làm công ăn lương Tuy nhiên, nó chỉ có hiệu quả quan sát ở một giới hạn nhất định nào đó chứ không phù
hợp trong mọi tình huống đánh giá
Hệ số đảm nhiệm công việc của lao động (Id)
Trang 12Hệ số đảm nhiệm công việc của lao động là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tương quan giữa trình độ lành nghề thực tế của lao động với trình độ kỹ thuật của công
việc yêu cầu Đây là một trong những căn cứ để đánh giá chất lượng sản phẩm sản
xuất của lao động
Để tính hệ số đảm nhiệm công việc của lao động, người ta phải dựa vào bậc lương bình quân và cấp bậc công việc bình quân
Bậc lương bình quân là chỉ tiêu phản ánh trình độ thành thạo của lao động và là thước
đo trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất của lao động Chỉ tiêu này được tính:
n
i i
i 1 n i
i 1
B LB
Li: Số lao động của bậc lương thứ i
Cấp bậc công việc bình quân là chỉ tiêu phản ánh trình độ kỹ thuật của sản phẩm hay công việc yêu cầu và được tính:
n
i i
i 1 n i
i 1
C tC
ti: Thời gian định mức cho bậc thợ i phải hoàn thành
Khi đó, hệ số đảm nhiệm công việc của lao động được tính theo công thức:
d
BIC
Nếu Id > 1: Trình độ thành thạo của lao động cao hơn yêu cầu kỹ thuật của công
việc đòi hỏi và ngược lại
Các chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng lao động của doanh nghiệp
Quản lý và sử dụng lao động của doanh nghiệp có thể được mô tả qua sơ đồ sau:
Số lượng lao động hiện có
Số lượng lao động có mặt Số lượng lao động vắng mặt
Số lượng lao động được giao việc Số lượng lao động chưa
được giao việc
Số lượng lao động được giao đúng việc
Số lượng lao động được giao việc tạm thời
Trang 13Dựa trên những thông tin trên, có thể tính được các chỉ tiêu phản ánh trình độ sử
dụng lao động của doanh nghiệp như sau:
Số lao động có mặt bình quân trong kỳ
Hệ số có mặt của lao động = Số lao động hiện có bình quân trong kỳ
Số lao động được giao việc bình quân trong kỳ
Hệ số lao động được giao việc = Số lao động có mặt bình quân trong kỳ
Số lao động được giao đúng việc bình quân trong kỳ
Hệ số lao động được giao đúng việc = Số lao động được giao việc bình quân trong kỳ Ngoài các hệ số trên, ta có thể tính được các hệ số: hệ số vắng mặt của lao động,
hệ số lao động chưa được giao việc, hệ số lao động được giao việc tạm thời bằng cách lấy 1 trừ đi các hệ số tương ứng ở trên
Trên đây là một số chỉ tiêu chủ yếu thường dùng để phản ánh tình hình sử dụng số
lượng lao động của doanh nghiệp Nhưng chúng ta đều biết rằng, quá trình sản
xuất kinh doanh không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng số lượng lao động mà còn
phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng thời gian lao động như thế nào nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Vì vậy, thống kê tình hình sử dụng thời gian lao động trong doanh nghiệp là một nội dung quan trọng của thống kê lao động
2.2.2.2 Thống kê tình hình sử dụng thời gian lao động
Trong thống kê tình hình sử dụng thời gian lao động và
đánh giá trình độ sử dụng thời gian lao động của doanh
nghiệp, người ta thường sử dụng các nhóm chỉ tiêu chủ
yếu sau:
Quỹ thời gian lao động theo ngày công
Đây là những chỉ tiêu đầu tiên phải xác định khi
thống kê thời gian lao động trong doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu này có thể được mô
tả qua sơ đồ sau:
Tổng số ngày công theo lịch
Số ngày nghỉ lễ, thứ
7, chủ nhật
Tổng số ngày công theo quy định trong lịch
Tổng số ngày công có thể sử dụng cao nhất
Số ngày công nghỉ phép năm và nghỉ được Luật BHXH quy định Tổng số ngày công có mặt theo
chế độ lao động
Số ngày công vắng mặt
Số ngày công làm thêm ngoài chế độ
Tổng số ngày công thực tế làm việc theo chế độ lao động
Số ngày công ngừng việc
Tổng số ngày công thực tế làm việc Trong đó:
Trang 14o Tổng số ngày công theo lịch: là toàn bộ số ngày công tính theo số ngày dương
lịch mà doanh nghiệp có thể sử dụng của lao động trong kỳ nghiên cứu
Tổng số ngày công theo lịch =
Số lao động bình quân kỳ nghiên cứu ×
Số ngày công theo lịch của kỳ
nghiên cứu
o Tổng số ngày công theo quy định trong lịch: là toàn bộ số ngày công mà chế độ Nhà nước quy định lao động của doanh nghiệp phải làm việc trong kỳ
Tổng số ngày công theo quy định trong lịch
= Tổng số ngày công
theo lịch –
Số ngày nghỉ lễ, thứ 7, chủ nhật trong kỳ nghiên cứu
hoặc:
Tổng số ngày công theo quy định trong lịch
= Số lao động bình quân kỳ
nghiên cứu ×
Số ngày làm việc theo chế độ bình quân cho 1 lao động trong kỳ nghiên cứu
o Tổng số ngày công có thể sử dụng cao nhất: là toàn bộ số ngày công doanh nghiệp có thể sử dụng tối đa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ Tổng số ngày công
có thể sử dụng cao nhất
= Tổng số ngày công theo quy
định trong lịch –
Số ngày công nghỉ phép năm
và nghỉ được Luật BHXH quy
định
o Tổng số ngày công có mặt theo chế độ lao động: là toàn bộ số ngày công mà
người lao động có mặt tại nơi làm việc theo quy định của doanh nghiệp Đây là
quỹ thời gian lao động tính theo ngày công mà doanh nghiệp có thể sử dụng hoàn toàn vào sản xuất, kinh doanh nếu không có các thiếu sót về mặt tổ chức
quản lý sản xuất do doanh nghiệp gây ra
Tổng số ngày công có mặt theo chế độ lao động =
Tổng số ngày công có thể sử dụng cao nhất –
Số ngày công vắng mặt
Số ngày công vắng mặt trong kỳ là toàn bộ ngày công người lao động không có
mặt tại nơi làm việc vì các lý do như: ốm đau, thai sản, đi học, hội họp hoặc nghỉ không lý do
o Tổng số ngày công thực tế làm việc theo chế độ lao động: là toàn bộ số ngày công người lao động đã thực tế làm việc trong tổng số ngày công có mặt theo
chế độ lao động
Tổng số ngày công thực tế làm việc theo chế độ lao động =
Tổng số ngày công có mặt theo chế độ lao động –
Số ngày công ngừng việc
Số ngày công ngừng việc là toàn bộ số ngày công người lao động có mặt tại
nơi làm việc nhưng thực tế không làm việc do các nguyên nhân khách quan
như: mất điện, máy hỏng, thời tiết xấu
o Tổng số ngày công thực tế làm việc: là toàn bộ số ngày công người lao động đã
thực tế làm việc trong kỳ (cả trong và ngoài chế độ)
Trang 15Tổng số ngày công thực tế làm việc trong kỳ =
Tổng số ngày công thực tế làm việc theo chế độ lao động
+ Số ngày công làm thêm ngoài chế độ
Số ngày công làm thêm ngoài chế độ là toàn bộ số ngày công mà người lao động thực tế làm việc theo yêu cầu của doanh nghiệp vào các ngày nghỉ chế độ
Chỉ tiêu tổng số ngày công thực tế làm việc phản ánh toàn bộ thời gian lao động thực tế đã sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ Đây là cơ sở để tính
ra một số chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng lao động và thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp
Quỹ thời gian lao động theo giờ công
Các chỉ tiêu phản ánh quỹ thời gian lao động theo giờ công được mô tả trong sơ đồ:
Tổng số giờ công theo chế độ lao động
Số giờ công làm thêm ngoài chế độ lao động
Tổng số giờ công thực tế làm việc theo chế độ lao động
Số giờ công ngừng việc nội bộ
ca Tổng số giờ công thực tế làm việc Trong đó:
o Tổng số giờ công theo chế độ lao động: là toàn bộ số giờ công mà chế độ Nhà
nước quy định người lao động của doanh nghiệp phải làm việc trong kỳ
Tổng số giờ công theo chế độ lao động =
Tổng số ngày công thực tế làm việc ×
Số giờ công của một ca làm việc theo chế độ lao động
Số giờ công của một ca làm việc theo chế độ lao động ở Việt Nam hiện nay là
8 giờ Đối với các doanh nghiệp sản xuất đặc biệt, độc hại và nguy hiểm, số giờ công theo chế độ của một ca làm việc ít hơn Điều này được quy định rõ trong
Luật Lao động
o Tổng số giờ công thực tế làm việc theo chế độ lao động: là toàn bộ số giờ công
người lao động đã thực tế làm việc trong những ngày làm việc thực tế của kỳ nghiên cứu
Tổng số giờ công thực
tế làm việc theo chế độ lao động
=
Tổng số giờ công theo chế độ lao động
–
Số giờ công ngừng việc nội bộ ca
Số giờ công ngừng việc nội bộ ca, là toàn bộ số giờ công người lao động không làm việc trong ca làm việc do các nguyên nhân như: thiếu nguyên vật liệu, máy
hỏng, hội họp, ốm đau bất thường
o Tổng số giờ công thực tế làm việc: là toàn bộ số giờ công mà lao động trong doanh nghiệp đã thực tế làm việc trong kỳ (cả trong và ngoài chế độ lao động)
Tổng số giờ công thực tế làm việc =
Tổng số giờ công thực tế làm việc theo chế độ lao động
+
Số giờ công làm thêm ngoài chế độ lao động
Số giờ công làm thêm ngoài chế độ lao động là toàn bộ số giờ công người lao động của doanh nghiệp thực tế làm việc vào thời gian ngoài ca làm việc quy định (không kể có đủ ca hay không đủ ca)
Trang 16Xuất phát từ mối liên hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh thời gian lao động ở trên,
thống kê có thể tính được các chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng thời gian lao động của doanh nghiệp
Các hệ số sử dụng quỹ thời gian theo ngày công
o Hệ số sử dụng quỹ thời gian theo quy định trong lịch (H1):
Tổng số ngày công có thể sử dụng cao nhất
H 1 =
Tổng số ngày công làm việc theo quy định trong lịch
o Hệ số sử dụng quỹ thời gian có thể sử dụng cao nhất của lao động (H2):
Tổng số ngày công có mặt theo chế độ lao động quy định
H 2 =
Tổng số ngày công có thể sử dụng cao nhất
o Hệ số sử dụng quỹ thời gian có mặt theo chế độ lao động (H3):
Tổng số ngày công thực tế làm việc theo chế độ lao động
H 3 =
Tổng số ngày công có mặt theo chế độ lao động
Các chỉ tiêu phản ánh độ dài thời gian lao động
o Số ngày làm việc thực tế bình quân một lao động ( N ):
Tổng số ngày công làm việc thực tế kỳ nghiên cứu
N =
Số lao động bình quân kỳ nghiên cứu
o Độ dài bình quân một ngày làm việc thực tế ( d ):
Tổng số giờ công làm việc thực tế
d =
Tổng số ngày công làm việc thực tế
2.2.3 Thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp
2.2.3.1 Khái niệm năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hay
mức hiệu quả của lao động trong quá trình sản xuất của
doanh nghiệp
Mức năng suất lao động của doanh nghiệp được biểu
hiện bằng số lượng (hay giá trị) sản phẩm sản xuất ra
trong một đơn vị lao động (số lượng lao động hoặc
thời gian lao động) hoặc số đơn vị lao động đã hao phí
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Như vậy, năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả đầy đủ (hay toàn phần) và nó được
biểu hiện dưới hai dạng: thuận và nghịch
2.2.3.2 Phương pháp tính các loại chỉ tiêu năng suất lao động
Có nhiều cách để phân loại chỉ tiêu năng suất lao động khác nhau
Căn cứ vào dạng biểu hiện thuận nghịch
Chỉ tiêu năng suất lao động được chia thành hai loại:
o Năng suất lao động dạng thuận: là kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trên một đơn vị lao động
Trang 17QWT
(*) Trong đó:
Q: Kết quả sản xuất của doanh nghiệp
T: Số đơn vị lao động đã hao phí
o Năng suất lao động dạng nghịch: là số đơn vị lao động đã hao phí cho một đơn
vị kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Căn cứ vào đơn vị đo lường của năng suất lao động
o Năng suất lao động dạng hiện vật: là số lượng đơn vị sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị lao động
Trong công thức (*) ở trên, Q là sản lượng được tính bằng đơn vị hiện vật
Chỉ tiêu này được dùng để xác định định mức
năng suất lao động đối với từng loại sản phẩm
Nó cho phép đánh giá trực tiếp hiệu quả của lao động và có thể so sánh trực tiếp mức năng
suất lao động giữa các bộ phận cùng sản xuất
một loại sản phẩm Tuy nhiên, nhược điểm của
nó là chưa phản ánh đầy đủ mức năng suất lao động hao phí cho các loại sản phẩm trong doanh nghiệp, chưa đề cập đến chất
lượng sản phẩm
Chỉ tiêu này được áp dụng chủ yếu với doanh nghiệp sản xuất cùng một loại
sản phẩm và có trình độ chuyên môn hoá cao
o Năng suất lao động dạng giá trị: là giá trị sản phẩm sản xuất ra trong một đơn
vị lao động
Trong công thức (*) ở trên, Q là giá trị sản phẩm sản xuất ra được tính bằng đơn vị giá trị Đó có thể là giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, doanh thu của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này nhìn chung đã khắc phục được những nhược điểm của chỉ tiêu
năng suất lao động dạng hiện vật Bên cạnh việc đã phản ánh đầy đủ mức hiệu
quả của lao động, chỉ tiêu này còn cho phép tổng hợp chung được các kết quả
sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp đã tạo ra trong kỳ (thành phẩm, nửa thành phẩm, sản phẩm dở dang ) Tuy nhiên, nhược điểm của nó là chịu ảnh
hưởng của sự thay đổi quy mô và kết cấu sản phẩm sản xuất có lượng nguyên
vật liệu và giá trị nguyên vật liệu khác nhau
Hiện nay, ở nước ta đang áp dụng rộng rãi cách tính năng suất lao động dạng giá
trị với Q là giá trị sản xuất của doanh nghiệp
Trang 18 Căn cứ vào đơn vị đo lường lao động hao phí
Năng suất lao động bình quân giờ: là số lượng hay giá trị sản phẩm sản xuất ra trong một giờ công làm việc thực tế
Trong công thức (*) ở trên, T là tổng số giờ công làm việc thực tế
Năng suất lao động bình quân ngày: là số lượng hay giá trị sản phẩm sản xuất ra trong một ngày công làm việc thực tế
Trong công thức (*) ở trên, T là tổng số ngày công làm việc thực tế
Năng suất lao động bình quân kỳ nghiên cứu: là số lượng hay giá trị sản phẩm do
một lao động sản xuất ra trong kỳ nghiên cứu (tháng, quý, năm )
Trong công thức (*) ở trên, Q là toàn bộ kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong
kỳ nghiên cứu, T là số lao động bình quân trong kỳ nghiên cứu
2.2.3.3 Thống kê sự biến động của năng suất lao động trong doanh nghiệp
Để thống kê sự biến động của năng suất lao động trong doanh nghiệp, người ta thường tính 3 chỉ số chủ yếu sau
Chỉ số năng suất lao động dạng hiện vật
Chỉ số này thường dùng để đánh giá sự biến động năng suất lao động dạng hiện vật
của một loại sản phẩm nào đó
Công thức:
1 1 1
w
0 0
0
qTW
I
qW
W , W : N0 ăng suất lao động hiện vật bình quân kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
q1, q0: Lần lượt là sản lượng hiện vật của từng bộ phận trong doanh nghiệp kỳ nghiên
Trang 19Sản lượng (sản phẩm) Số lao động làm việc bình quân (người) Phân xưởng
Kỳ gốc (q 0 )
Kỳ nghiên cứu (q 1 )
Kỳ gốc (T 0 )
Kỳ nghiên cứu (T 1 )
Tổng 3.600 3.900 45 52 Yêu cầu: Đánh giá sự biến động năng suất lao động bình quân chung hai phân xưởng
kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc
Từ bảng số liệu trên, tính được năng suất lao động bình quân chung của hai phân
xưởng kỳ nghiên cứu và kỳ gốc, tương ứng là:
1 1
W 75
I 0, 9375
80W
lần hay 93,75%
Tương tự ta có thể tính được năng suất lao động bình quân chung của hai phân xưởng
dưới dạng nghịch, đó là hao phí lao động để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm
1 1
t 0, 0125
I 0, 9375
0, 0133t
Kết luận: Năng suất lao động bình quân chung của hai phân xưởng kỳ nghiên cứu
giảm 6,25% so với kỳ gốc
Chỉ số năng suất lao động dạng giá trị
Chỉ số dùng để đánh giá sự biến động của năng
suất lao động dạng giá trị đối với nhiều loại sản
phẩm căn cứ vào giá trị kết quả sản xuất và lượng lao động hao phí cho từng loại sản phẩm đó
1 1 1
w (p)
0 0
0
QTW
I
QW
Trang 20Q1, Q0: Lần lượt là giá trị kết quả sản xuất của từng loại sản phẩm kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
T1, T0: Lần lượt là lượng lao động hao phí cho từng loại sản phẩm kỳ nghiên cứu, kỳ gốc
Chỉ số năng suất lao động dạng thời gian
Chỉ số này dùng để đánh giá sự biến động năng suất lao động đối với nhiều loại
sản phẩm dựa trên thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
q1: Sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm kỳ nghiên cứu
t 1 , t 0 : L ần lượt là thời gian lao động hao phí cho một đơn vị sản lượng của từng loại sản
ph ẩm kỳ nghiên cứu, kỳ gốc (năng suất lao động dạng nghịch)
là phân tích sự biến động đó nhằm xác định nhân tố ảnh hưởng và vai trò ảnh
hưởng của các nhân tố
2.2.3.4 Hệ thống chỉ số phân tích sự biến động của năng suất lao động bình quân
Có thể sử dụng nhiều hệ thống chỉ số để phân tích biến động của năng suất lao động bình quân như hệ thống chỉ số số bình quân, hệ thống chỉ số theo các nhân tố sử dụng
thời gian lao động hay hệ thống chỉ số xây dựng dựa trên cách phân loại lao động Tuy nhiên, nội dung bài giảng sẽ đề cập đến phương pháp phân tích dựa trên hệ thống
chỉ số số bình quân – là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất
Theo hệ thống chỉ số này, năng suất lao động bình quân của doanh nghiệp phụ thuộc vào hai nhân tố sau: