Mặc dù không được quy định trong Luật Phá sản 2014, nhưng dựa trên Luật Phá sản 2004, thủ tục phá sản bao gồm những bước như sau: - Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; - Phục hồi hoạt
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
NỘI DUNG 1
I Một số khái niệm 1
1 Phá sản 1
2 Thủ tục phá sản 2
II Bình luận về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật hiện hành 3
1 Nhóm người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 4
2 Nhóm chủ thể có nghĩa vụ phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 9 3 Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng (Điều 98 Luật Phá sản 2014) 12
4 Nhận xét về quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 12
III Đề xuất giải pháp 13
KẾT LUẬN 14
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong một nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hợp tác, cạnh tranh bình đẳng với nhau Sự cạnh tranh trên thương trường diễn ra vô cùng khốc liệt những doanh nghiệp thích nghi tốt sẽ làm ăn có lãi và phát triển, ngược lại những doanh nghiệp không thể thích nghi với thị trường, làm ăn thua lỗ sẽ dễ lâm vào tình trạng phá sản Đó là một kết quả tất yếu của quá trình cạnh tranh lành mạnh, giúp cân bằng nền kinh tế
Một doanh nghiệp bị phá sản, tức là bị rời khỏi thương trường Vấn
đề phá sản một doanh nghiệp phải được giải quyết một cách thỏa đáng và hợp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, người lao động và cho cả doanh nghiệp Vì vậy, pháp luật về phá sản đã ra đời, quy định rõ về điều kiện và thủ tục phá sản Trong đó, vấn đề chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định đầy đủ và tương đối chặt chẽ Đó là cơ sở để thực hiện vai trò bảo vệ chủ nợ, bảo vệ người lao động, bảo vệ doanh nghiệp của luật phá sản Để làm rõ vấn đề chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo pháp luật hiện nay, bài luận xin được chọn đề tài:
“Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản”
NỘI DUNG
1 Phá sản
“Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”1
1 Khoản 2 Điều 4 Luật phá sản 2014
Trang 3“Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”2
2 Thủ tục phá sản
Thủ tục phá sản là toàn bộ những công việc mà các chủ thể có liên quan cần phải thực hiện Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục phá sản bao gồm thủ tục thông thường thủ tục rút gọn Mặc dù không được quy định trong Luật Phá sản 2014, nhưng dựa trên Luật Phá sản 2004, thủ tục phá sản bao gồm những bước như sau:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
- Phục hồi hoạt động kinh doanh;
- Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
- Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của pháp luật, Thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục: Phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thanh lý tài sản, các khoản nợ; hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ; hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.3
Dựa trên thủ tục phá sản, ta có thể nhận thấy, cho dù một doanh nghiệp
có làm ăn thua lỗ, kém hiệu quá tới đâu, thậm chí mất khả năng thanh toán, nhưng nếu không có chủ thể nào nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, cơ quan chức năng sẽ không thể tiến hành phá sản doanh nghiệp được Vì vậy, pháp luật đã quy định những chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
2 Xem Điều 4 Luật Phá sản 2014
3 Xem Điều 5 Luật Phá sản 2004
Trang 4mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
theo quy định của pháp luật hiện hành
Luật phá sản năm 2014 phân các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thành hai nhóm: nhóm có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhóm có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Việc phân định thành hai nhóm như vậy không được Luật Phá sản 2014 quy định rõ,
mà chủ yếu căn cứ vào quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Luật Phá sản 2004 Nhóm chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu bao gồm: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần; Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng; Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã Những chủ thể này có quyền lựa chọn có nộp đơn yêu cầu phá sản hoặc lựa chọn hình thức khác để thanh toán khoản nợ trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Những chủ thể bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao gồm: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
Trang 51 Nhóm người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
a) Chủ nợ không có bảo đảm hay có bảo đảm một phần (Khoản 1 Điều 5)
Chủ thể đầu tiên có quyền nộp đơn mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là các chủ nợ không có đảm bảo hay có đảm bảo một phần Chủ nợ của doanh nghiệp là người cho doanh nghiệp vay tài sản thông qua một hợp đồng vay
nợ Theo cách phân loại trong luật phá sản 2014, có 3 loại chủ nợ của doanh nghiệp, đó là: chủ nợ có đảm bảo, chủ nợ không có đảm bảo và chủ
nợ có đảm bảo một phần
Chủ nợ có bảo đảm là người cho doanh nghiệp vay nợ mà khoản nợ đó được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của một bên thứ ba Giá trị của tài sản đảm bảo không nhỏ hơn giá trị khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã
Chủ nợ có bảo đảm một phần là người cho doanh nghiệp vay nợ mà khoản nợ đó được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của một bên thứ ba, nhưng giá trị của tài sản bảo đảm đó nhỏ hơn giá trị khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã
Chủ nợ không bảo đảm là người cho doanh nghiệp vay nợ mà khoản nợ
đó không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của bên thứ ba.4
Về nguyên tắc, mọi chủ nợ của doanh nghiệp đều bình đẳng, pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp ưu tiên thanh toán cho chủ nợ nào trước, chủ
nợ nào sau “Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ nợ này được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản”5, chỉ có chủ nợ không đảm bảo hoặc đảm bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối khi
4 Xem Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 4 Luật Phá sản 2014
5 Xem Tạp chí Tòa án nhân dân số 21 tháng 11 năm 2005, trang 11
Trang 6nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không thể trả các khoản nợ Quy định như vậy là hợp lý, vì ngay cả chủ nợ có bảo đảm một phần mặc dù có quyền yêu cầu doanh nghiệp thanh toán nốt phần nợ không có bảo đảm, tuy nhiên việc doanh nghiệp có thanh toán hay không cũng không chắc chắn Như vậy, với phần nợ không có bảo đảm, chủ nợ bảo đảm một phần cũng phải chịu rủi ro như chủ nợ không có bảo đảm Hơn nữa, nếu quy định cho chủ nợ có bảo đảm có quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, con nợ sẽ gặp thêm áp lực và khó khăn Do đó, quy định như vậy là không cần thiết
b) Người lao động (Khoản 2 Điều 5 Luật Phá sản 2014)
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động,
làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.6
Việc Luật phá sản 2014 quy định cho người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một sự kế thừa quy định tại Khoản … Điều … của Luật phá sản 2015
Người lao động là người đóng góp trực tiếp công sức của mình để duy trì hoạt động của doanh nghiệp Họ đem sức lao động của mình để trao đổi lấy tiền lương thông qua hợp đồng lao động với doanh nghiệp “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.”7
Có thể nhận thấy, khi một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán, không dễ gì để doanh nghiệp đó có thể giải quyết các khoản nợ, bao gồm
cả nợ lương của người lao động Người lao động hầu như không có gì bảo đảm khi bị nợ lương, trong khi sức lao động của họ thì đã đóng góp cho doanh nghiệp Hơn nữa, tiền lương còn là nguồn thu nhập chính của họ,
6 Xem Điều 3 Bộ luật lao động 2012
7 Xem Điều 90 Bộ luật lao động 2012
Trang 7thậm chí của cả gia đình họ Ngoài lương, người lao động còn có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp nợ 3 tháng trở lên các khoản … bao gồm trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểu y tế, quyền lợi khác theo ký kết hợp đồng lao động và thỏa ước lao động lao động tập thể đã ký Vì vậy, sẽ là hợp lý khi quy định cho người lao động có thể tự nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Việc cho người lao động có thể tự nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một bước tiến của Luật Phá sản 2014 so với Luật Phá sản 2004 Luật Phá sản 2004 quy định người lao động thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản thông qua người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn mà không được nộp đơn trực tiếp, tức là chỉ có tập thể người lao động mới được nộp đơn yêu cầu phá sản Luật Phá sản 2014, bên cạnh công đoàn cơ sở, quyền được nộp đơn yêu cầu phá sản còn được trao cho người lao động và công đoàn công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, trong trường hợp công đoàn cơ sở chưa thành lập Hơn nữa, nó còn cho phép người lao động không cần phải nộp lệ phí khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.8
Quy định của Luật Phá sản 2014 đã bảo vệ quyền và lợi chính đáng của người lao động, những người đã tham gia đóng góp trực tiếp sức lực của mình vào hoạt động của công ty Tuy nhiên, trên một khía cạnh khác, việc người lao động có thể được trực tiếp nộp đơn yêu cầu cũng ít nhiều gây khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã, dễ xảy ra tình trạng đơn yêu cầu không trung thực, vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Phá sản 2014
8 Xem Điều 22 Luật Phá sản 2014
Trang 8c) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông lớn của doanh nghiệp (Khoản 5 Điều 5 Luật Phá sản 2014)
Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần.9
Để phù hợp với các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, đồng thời bảo vệ lợi ích của các cổ đông trong công ty cổ phần, đặc biệt là nhóm cổ đông lớn, Luật Phá sản 2014 quy định cổ đông cổ đông hoặc nhóm cổ đông
sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất
06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán.10 Quy định này hoàn toàn kế thừa từ khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản 2004
Lý do Luật Phá sản 2014 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải đáp ứng điều sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên và phải sở hữu liên tục ít nhất 06 tháng mới được nộp đơn yêu cầu phá sản là nhằm tránh việc các cổ đông nộp đơn tùy tiện, gây khó khăn cho doanh nghiệp Các nhà lập pháp cho rằng, những cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm đã đạt đủ điều kiện nêu trên có trách nhiệm cao hơn và nắm rõ hơn hoạt động của công ty Tuy nhiên, Luật Phá sản 2014 cũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định Quy định như vậy có phần thu hẹp đã phạm vi điều chỉnh của Điều lệ công ty trong việc trao quyền nộp đơn yêu cầu phá sản của công ty cổ phần, nếu đặt trong tương quan với Khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản 2004.11
9 Xem thêm Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014
10 Xem thêm – Tạp chí Tòa án Nhân dân số 21 tháng 11 năm 2005, trang 11
11 Khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản 2004: Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông Trường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành được đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó.
Trang 9Theo quan điểm cá nhân của người viết, quy định của Luật Phá sản
2014 là hợp lý hơn Vì việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp này là một quyền của cổ đông, vì vậy, pháp luật có trách nhiệm bảo vệ quyền này, nhưng cũng phải có những yêu cầu nhất định dành cho chủ thể thực hiện quyền để tránh gây khó khăn cho doanh nghiệp, mà vẫn bảo vệ được quyền và lợi ích của các cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ trong công ty cổ phần Vì vậy, pháp luật chỉ trao cho Điều lệ quyền cho phép cổ đông không đủ điều kiện theo luật định có được nộp đơn yêu cầu phá sản,
mà không cần phải ưu tiên thực hiện công việc này theo Điều lệ như Luật Phá sản 2004 Nó cũng hạn chế được sự vi phạm nghĩa vụ khai báo trung thực theo quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Phá sản 2014
d) Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (Khoản 6 Điều 5 Luật Phá sản 2014)
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này …
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.” 12
Liên hiệp hợp tác xã là tập hợp những hợp tác xã liên kết tự nguyện với nhau
Như vậy, thành viên của hợp tác xã cũng là những người có đóng góp xây dựng hợp tác xã đó Vì vậy, khi hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, họ cũng là những người có quyền được nộp đơn yêu cầu
12 Xem Điều 1 Luật Hợp tác xã 2003
Trang 10tòa án mở thủ tục phá sản Nếu như ở Luật Phá sản 2004, đại diện hợp pháp của hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản, thì ở Luật Phá sản
2014, đây trở thành một quyền, và quyền đó được trao cho các thành viên hợp tác xã, đại diện của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã Đây
là một điểm mới của pháp luật về phá sản hiện hành, giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các xã viên
Tuy nhiên, cách quy định như vậy trong Luật Phá sản 2014 cũng gặp phải những hạn chế như sau Thứ nhất là việc các xã viên nộp đơn yêu cầu phá sản một cách tùy tiện, gây khó khăn cho hoạt động của hợp tác xã Thứ hai, đối với quy định “người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn khi liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán”, pháp luật vẫn chưa quy định rõ việc mất khả năng thanh toán của liên hiệp hợp tác xã là như nào, có giống với việc mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp không ? Do đó, quyền và lợi ích của các hợp tác xã thành viên vẫn chưa được bảo vệ triệt để
2 Nhóm chủ thể có nghĩa vụ phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã (Khoản 3 Điều 5 Luật Phá sản 2014)
“Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”13
Luật quy định việc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán là một nghĩa vụ bắt buộc mà
13 Xem Khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014