1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề môi trường nổi bật ở dải ven bờ biển phía tây vịnh Bắc Bộ - Emergent environment problems in the western coastal zone of the Tonkin Gulf

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 117 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu D?i ven bờ biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế trải dài trên 1000km, bao gồm các hệ sinh thái tiêu biểu như đảo, cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn

Trang 1

Trần Đức Thạnh, Lưu Văn Diệu, 2006 Những vấn đề môi trường nổi bật ở dải ven bờ biển phía tây vịnh Bắc Bộ - Emergent environment problems in the western coastal zone of the Tonkin Gulf Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, 06/2006; 6(1- phụ trương):3-14

NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI BẬT

Ở DẢI VEN BỜ BIỂN PHÍA TÂY VỊNH BẮC BỘ

Trần Đức Thạnh và Lưu Văn Diệu

1 Mở đầu

D?i ven bờ biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế trải dài trên 1000km, bao gồm các hệ sinh thái tiêu biểu như đảo, cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn (RNM), rạn san hô và thảm cỏ biển v.v Có khoảng

5000 loài sinh vật có mặt ở vùng biển và ven bờ phía bắc Tài nguyên sinh vật và phi sinh vật hết sức phong phú và đa dạng cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng như giao thông – cảng, nông lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp, khoáng sản, du lịch – dịch vụ Đây là vùng có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên

có giá trị: Di sản thế giới vịnh Hạ Long, VQG Bái Tử Long, VQG Cát Bà, Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, Khu bảo tồn đất ngập nước Xuân Thuỷ; VQG Bạch Mã Đây cũng là vùng tập trung dân số có mật độ cao nhất nước Hoạt động của con người ở cả dải bờ biển và trên lưu vực đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên và môi trường dải bờ biển Những biến đổi khí hậu gần đây làm gia tăng nhiều thiên tai và sự cố môi trường Báo cáo này đánh giá tổng quan thực trạng môi trường ven bờ phía bắc nhằm góp phần xây dựng định hướng chiến lược và các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường theo định hướng phát triển bền vững Công trình này nhận được sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học tự nhiên

2 Áp lực phát triển

Dân số và đô thị hoá ven biển Vùng ven biển phía bắc là nơi tập trung dân

cư và có mật độ dân số cao nhất nước, đặc biệt là châu thổ sông Hồng (CTSH) có mật độ dân số trên 1000 người trên 1 km2 Nhiều đô thị lớn nằm gần biển hoặc sát biển như Hạ Long, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế v.v Tốc độ đô thị hoá xảy ra khá nhanh ở nhiều địa phương ven biển như Hạ Long, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế v.v làm gia tăng dân số cơ học, kéo theo phát triển cơ sở hạ tầng và làm tăng mạnh

áp lực đối với tài nguyên và môi trường [2] Có nơi vấn đề đổ thải rác sinh hoạt trong vùng ven bờ đã trở thành vấn đề môi trường rất nhạy cảm như trường hợp bãi rác Tràng Cát (Hải Phòng)

Nông lâm nghiệp và khai hoang lấn biển CTSH là vùng đất thấp bao trong

hệ thống đê sông dài 3200km và biển dài 1500km xây dựng trong cả nghìn năm qua Do vậy, hình thái bờ và phân bố dòng chảy bùn cát bị thay đổi nhiều so với tự nhiên, là tiền đề cho úng lụt, xói lở và sa bồi ven bờ Trước năm 1985 là thời kỳ phát triển mạnh khai hoang nông nghiệp ven biển, sau đó là trào lưu đắp đầm nuôi thuỷ sản mặn lợ Một diện tích rất lớn RNM ở Quảng Ninh và các tỉnh ven bờ châu thổ Hồng biến thành các khu nông nghiệp hoặc đầm nuôi thuỷ sản cho năng xuất

Trang 2

thấp và hiệu quả kinh tế kém [8] Từ năm 1958 đến 1995, có 24.103 ha đất bồi ven biển CTSH được khai hoang nông nghiệp, mỗi năm có 985ha đất bồi, chủ yếu là RNM được khai hoang thành đất nông nghiệp, đầm nuôi nước lợ, trong khi tốc độ bồi tụ chỉ 361ha/ năm [3, 12] Trong 1938 - 1992, chỉ riêng vùng cửa sông Bạch Đằng có khoảng 14.738 ha RNM bị khai hoang nông nghiệp Rừng đầu nguồn cũng bị tàn phá nặng nề do chặt gỗ, phá rừng làm nương rẫy và cháy rừng, làm tăng xói mòn đất và thay đổi cân bằng nước ra biển Trong thời gian 1943 – 1991, rừng

ở vùng núi phía bắc có độ phủ giảm từ 95% xuống 17% và vùng trung du từ 55% xuống 29%

Vùng phía bắc có diện tích lớn đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa tập trung ở đồng bằng CTSH Hàng năm, một lượng lớn nước sông dùng cho tưới và một khối lượng đáng kể phân hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng và

dư lượng của chúng được tải ra dải ven biển [6]

Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản Tiềm năng diện tích nuôi mặn lợ ven biển

khá lớn, khoảng 96.910ha (Quảng Ninh-Quảng Bình) và đã nuôi trên 37.100 ha với 26 đối tượng Nghề nuôi đang phát triển mạnh, chủ yếu nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và phần nhỏ bán thâm canh, thâm canh Đối tượng nuôi gồm các loại giáp xác (tôm, cua), cá, thân mềm và rong biển Trước đây, năng xuất nuôi quảng canh thấp Với nuôi quảng canh cải tiến rồi tiến tới bán thâm canh và thâm canh, năng xuất tăng dần [7] Việc phát triển nuôi trồng mang lại lợi ích kinh tế đáng kể nhưng cũng gây tổn thất nhiều diện tích nơi cư trú sinh vật, bãi giống, bãi đẻ và gần đây nổi cộm những vấn đề lớn về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh

Vùng biển VBB thuộc Việt Nam có trữ lượng cá nổi nhỏ 390.000 tấn, cá đáy 291.166 tấn, tổng 681.166 tấn Khả năng khai thác cá nổi 156.000 tấn, cá đáy 116.467 tấn, tổng cộng 272.467 tấn [5] Các ngư trường thường phân bố ở vùng nước nông ven bờ có độ sâu dưới 50m, mùa vụ đánh bắt chủ yếu từ tháng 6-11, sản lượng đánh bắt chủ yếu tập trung vào vùng ven bờ (trên 80%) và đã vượt quá mức

độ cho phép []1 Các phương tiện đánh bắt còn thô sơ, còn nhiều các hình thức đánh bắt hủy hoại môi trường và nguồn giống như mắt lưới nhỏ, mìn, điện và hoá chất

Du lịch Du lịch là một trong nhữmg thế mạnh của miền duyên hải Bắc Việt

Nam Tiềm năng du lịch trong khu vực là rất phong phú, du lịch biển đang phát triển mạnh ở vịnh Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò Lượng khách du lịch đến khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng ước tính đến năm 2010 có khoảng 4-6

triệu lượt khách một năm Hoạt động du lịch tăng mạnh trong những năm gần đây

tại nhiều điểm dọc bờ biển, suốt từ Trà Cổ tới Lăng Cô Du lịch làm gia tăng nguồn chất thải, đặc biệt là chất thải lỏng, rắn gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Ngoài ra do lượng khách du lịch gia tăng sẽ tác động mạnh đến các hệ sinh thái nhạy cảm nhưng rất hấp dẫn khách du lịch như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái đảo ven biển v.v

Cảng và giao thông thuỷ Dọc bờ biển có nhiều cảng lớn như Cửa Ông, Cái

Lân, Hải Phòng, Cửa Lò, Nghi Xuân, Vũng áng và Chân Mây và hàng trăm bến cá Trong đó có cảng Hải Phòng lớn nhất phía bắc Hệ thống cảng đang phát triển mở rộng nhưng hiêu xuất sử dụng nhiều cảng thấp do không tạo được vùng hấp dẫn, không thu hút được hàng hoá qua cảng do quản lý yếu, sa bồi luồng bến v.v Hoạt

Trang 3

động cảng và giao thông thuỷ gây tác động môi trường đáng kể do các hoạt động xây dựng mới và cải tạo , nạo vét luồng, bốc dỡ hàng Một vài điểm cảng còn là nơi tạo ra vấn đề môi trường xuyên biên giới (chở động vật, rác thải, hoá chất độc hại nhập cảnh) Một số cảng đã và sẽ tạo nên những vấn đề nhạy cảm đối với môi trường, đặc biệt là đối với các khu di sản và bảo tồn thiên nhiên Ví dụ: Cái Lân với Vịnh Hạ Long, Cảng nước sâu Lạch Huyện (dự kiến) đối với khu Dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà, Chân Mây đối với Khu bảo tồn biển Hải Vân – Sơn Chà

Công nghiệp Trên lưu vực các sông đổ ra ven bờ phía bắc có nhiều khu

công nghiệp lớn Một khối lượng lớn nước thải công nghiệp mà hầu hết chưa qua xử

lý được đổ thải vào sông đưa ra biển Khu công nghiệp Hà Nội – Việt Trì - Hải Phòng ở phía bắc hàng năm thải ra 657 - 820 nghìn m3 nước thải mỗi ngày

Khoáng sản Việc khai thác mỏ ven bờ, ví dụ khai thác than, cát cuội xây

dựng và sa khoáng là một hoạt động quan trọng làm biến dạng cảnh quan tự nhiên, tạo ra chất thải lỏng và rắn và làm gia tăng xói lở bờ biển [2] Mỏ than Quảng Ninh hàng năm khai thác 10 - 15 triệu tấn than và đổ thải một khối lượng lớn chất thải rắn và chất thải lỏng Nhiều hoạt động khai mỏ trên lưu vực gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường ven biển Các hoạt động khai thác cát cuội phục vụ xây dựng rất phổ biển ở các bãi biển, lòng sông ven biển

Xây dựng đập chứa trên lưu vực Việc xây dựng và điều tiết hồ Hoà Bình

làm mất một khối lượng bùn cát lớn (khoảng 50-60 triệu tấn mỗi năm) [15] và thay đổi phân bố và lưu lượng nước, bùn cát, dinh dưỡng đưa ra biển, đã ảnh hưởng lớn đến môi trường và tài nguyên không gian rộng lớn ở cửa sông và biển ven bờ Một trong những tác động lớn nhất là suy giảm nguồn lợi cá biển ven bờ do giảm dinh dưỡng; thay đổi điều kiện sinh thái cửa sông và biển ven bờ; mất nơi cư trú, mất hoặc tác động đến bãi giống, bãi đẻ và chặn đường di cư đi đẻ một số loài thuỷ sản; gia tăng và tập trung chất ô nhiễm ở môi trường ven bờ [13] Khi xây dựng đập thuỷ điện Sơn La, sức ép đối với môi trường sinh thái cửa sông ven biển sẽ càng tăng

3 Những vấn đề môi trường ven bờ nổi bật

3.1 Tai biến ven biển

El - Nino, La – Nina và sự dâng cao mực biển Hầu hết các thiên tai ở ven

biển phía bắcViệt Nam có liên quan tới biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển Hiện tượng El - Nino gây giảm lượng mưa, tăng nhiệt độ, hạn hán và gia tăng xâm nhập mặn Trong thời gian El – Nino đặc biệt mạnh 1997 – 1998, có hiện tượng san hô chết trắng ở Bạch Long Vỹ Vào những năm El- Nino, dinh dưỡng vùng biển ven bờ giảm hẳn và thất thu nghề cá biển La - Nina gây mưa nhiều, ngọt hóa và đục hóa nước ven bờ cũng là nguyên nhân gây chết san hô, như trường hợp ở

Hạ long – Cát Bà vào cuối năm 1998 Vào các năm La - Nina, ví dụ 1998 – 1999, hay xảy ra ngập lụt nặng nề ở Bắc Trung Bộ Hiện tượng mực nước biển dâng cao gây mất đất, tăng cường ngập lụt, gia tăng xói lở dọc bờ biển và cửa sông, gây mặn hóa và gia tăng xâm nhập mặn và làm đảo lộn cân bằng tự nhiên, sinh thái ven bờ Mực nước ghi tại trạm Hòn Dấu dâng cao 2,24 mm/năm trong 1957 – 1990 [17]

Bão, nước dâng do bão và ngập lụt ven bờ Đây là vùng có nhiều bão đổ bộ

nhất nước, mỗi năm 4,4 cơn Ven biển Bắc Bộ là vùng đất thấp nằm bao trong đê sông và đê biển, thủy triều biên độ lớn và bão thường kèm theo nước dâng nên khi

Trang 4

vỡ đê gây thiệt hại rất lớn [9] Bão kèm theo mưa lớn và ngập lụt ven bờ là thiên tai

nặng nề hàng năm ở Bắc Trung Bộ, nhất là do tính chất bất thường gần đây (bão sớm, bão lớn, bão nhiều) tăng lên Nước dâng trong bão kết hợp với nước triều dâng cao gây sóng lớn xói lở phá hủy bờ biển, tạo dòng nước chảy vào xiết ở ven bờ, nước biển tràn sâu vào lục địa, lật chìm tàu thuyền và góp phần làm úng ngập ven

bờ Thống kê và tính toán cho thấy khi bão đổ bộ vào dải ven biển phía bắc, mực nước biển thường dâng cao 1,5 m và tối đa là 2,8 m Bão Cecil (1985) gây nước dâng cao 2,27m ở Cửa Tùng và 1,20m ở cửa Thuận An Bão, nước dâng và mưa lớn

có thể gây vỡ đê, úng ngập, nhiễm mặn và ô nhiễm môi trường trên diện rộng Trong lịch sử có những cơn bão lũ gây thiệt hại thảm khốc Bão Kate (1955) đổ bộ vào Hải Phòng - Quảng Yên gây sạt lở 158 đoạn đê, thiệt hại hàng nghìn người,

20000 ha lúa và 1 000 ha hoa màu Cơn lũ lịch sử ở miền Bắc vào tháng 8 năm

1971 đã làm vỡ đê sông Hồng làm thiệt mạng nhiều nghìn người, úng ngập 250

000 ha và hơn 2,7 triệu người bị ảnh hưởng Bão Frankie (1996) làm 100 người bị thiệt mạng, 194 000 căn nhà bị hư hại và hơn 177.000 ha bị úng ngập Ngập lụt ven bờ Thừa Thiên - Huế tháng 11 năm 1999 làm thiệt hại trên ba trăm sinh mạng

và hơn 1 500 tỉ đồng

Xói lở bờ biển Bờ biển Bắc Bộ (Quảng Ninh – Thanh Hoá) bị xói lở trên 51

đoạn với tổng chiều dài 114 km, tốc độ trung bình 6.0 m/năm, có nơi 10-15m/năm

và có lúc 50m/năm, mỗi năm mất 68 ha đất Xói lở bờ biển điển hình ở Cát Hải (Hải Phòng), Hải Hậu (Nam Định), Hậu Lộc (Thanh Hóa) và Hải Dương (Thừa Thiên Huế) [12, 18] ở Hải Hậu, xói lở làm tuyến đê biển dài khoảng 20 km cứ khoảng 10 năm phải lùi vào 100 - 200m, làm nhiều hộ phải di dời Các tỉnh ven biển, đặc biệt là Bắc Bộ có mật độ dân số và tỷ lệ tăng dân số cao, các khu vực dân

cư, kinh tế quan trọng nằm trên nền đất thấp có đê biển bao bọc Nếu xói lở làm vỡ

đê sẽ cực kỳ nguy hiểm, nhất là khi xẩy ra có bão lớn, triều cường, nước dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn cho những vùng dân cư và kinh tế trù phú, rộng lớn trong đê Nhiều nơi ven bờ BắcTrung Bộ nằm trên vùng bờ cát, hết sức nhạy cảm và xói lở

bờ biển bất thường khi có bão và lũ Có những điểm dân cư hiện đang ở trạng thái hết sức nguy hiểm do xói lở như làng Hải Dương và Thuận An ở Thừa Thiên - Huế Chỉ trong thời gian 11/1999 - 3/2001, khu vực bãi Thuận An bị xói lở đẩy lùi 40m Khu Hải Đăng bị đẩy lùi 29m, cách đây 64 năm, khu này còn cách biển 2 700m

Sa bồi Ngành giao thông - cảng chịu thiệt hại lớn nhất do sa bồi gây ra như

trường hợp các cảng Hải Phòng và Cửa Lò Nhiều cảng nhỏ gần đây có hiệu quả sử dụng rất thấp do sa bồi luồng cửa, điển hình là cảng Hải Thịnh Bồi lấp cửa sông và đầm phá ở ven bờ Bắc Trung Bộ làm mất lối ra biển cho tàu thuyền, gây ra tình trạng ngập lụt thường xuyên, ngọt hóa kéo dài, thiệt hại trực tiếp cho dân sinh – kinh tế, gây đảo lộn cân bằng sinh thái, giảm đa dạng sinh học và tăng cường ô nhiễm môi trường Vào những năm đóng cửa Tư Hiền, số lần ngập lụt ven bờ Thừa Thiên - Huế nhiều hơn, lụt thường lớn và hậu quả nặng nề hơn Ngập lụt là tai biến đồng hành với bồi lấp cửa sông và đầm phá Gần nửa thế kỷ qua có gần 7 trận lụt lớn thì có 6 trận xảy ra vào thời gian bồi lấp cửa Tư Hiền, trong đó có trận lụt khủng khiếp năm 1999

Xâm nhập mặn và ngọt hoá Xâm nhập mặn do vỡ đê biển thường gặp ven

bờ Bắc Bộ Xâm nhập mặn thẩm thấu qua thân đê làm suy giảm đáng kể sản lượng lúa các vùng đất mới khai hoang Sự kết hợp các yếu tố như mực biển dâng cao,

Trang 5

thời tiết khô hạn, giảm tải lượng sông do xây đập thuỷ điện và sử dụng nước tưới nông nghiệp đã dẫn đến xâm nhập mặn tăng lên [14] Do áp lực triều, xâm nhập mặn vào sâu 30 – 40 km trên hệ thống sông Hồng Xâm nhập mặn nhiều năm gây khó khăn tưới lúa cho các tỉnh ven biển vào mùa khô Trên sông Hương, dù có đập ngăn mặn Thảo Long nhưng mặn vẫn lấn sâu lên, có năm lên quá nhà máy nước Vạn Niên, cách cửa sông 30 km Hàng năm, ven đầm phá Huế có đến 2.000 - 2.500

ha lúa bị nhiễm mặn Ngọt hoá bất thường gây thiệt hại cho nuôi trồng thuỷ sản ở ven bờ CTSH, mấy năm qua nghề nuôi Ngao bị thiệt hại nặng do ngọt hóa vùng triều Ngọt hóa và đục hóa gần đây cũng đã làm cho san hô vùng Hạ Long – Cát Bà

bị chết nhiều

Cát di động Quá trình “cát bay” và “ cát chảy” làm các cồn cát nhiều chỗ di

lấn về phía lục địa 2 – 15 m/năm Cát di động gây hậu quả nghiêm trọng - bồi lấp đất canh tác, gây ách tắc dòng chảy và hạn chế khả năng thoát lũ, sa bồi và vô hiệu hóa hạ tầng thủy lợi và giao thông nông thôn, bồi lấp ruộng vườn, nhà cửa, thu hẹp đất thổ cư, v.v., gây ảnh hưởng rất lớn tới các điều kiện sinh cư của cộng đồng vùng cát ven biển Bình Trị Thiên [4] Quảng Bình 39 000 ha, Quảng Trị 13 000 ha diện tích cồn cát Trong khoảng thời gian 1993 - 1996, tổng diện tích bị cát bồi lấp của 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy (Quảng Bình) lên tới 153 ha, riêng năm 1996 là 21,88 ha

Sự cố môi trường Từ năm 1995 đến nay đã xảy ra nhiều sự cố môi trường như

tràn dầu, rò rỉ hoá chất độc hại trên vùng biển ven bờ Việt Nam Theo thống kê, từ năm 1995 đến tháng 3 năm 2003 đã xảy ra 36 vụ tràn dầu lớn trong vùng biển ven

bờ Việt Nam, với lượng dầu tràn lên đến trên 90.000tấn

Trong vùng biển ven bờ miền Bắc cho đến nay chưa ghi nhận được các vụ tràn dầu lớn, nhưng các vụ tràn dầu nhỏ vẫn thường xuyên xảy ra Tại Hải Phòng, năm 1994 dã phát hiện được hiện tượng thải dầu cặn ở vùng biển Đồ Sơn Váng dầu và cặn dầu bám đen trên bãi biển, loang trên mặt nước với thời gian kèo dài hàng tháng, làm suy giảm chất lượng bãi tắm khu vực, tác động tiêu cực đến ngành du lịch và các hệ sinh thái khác Nồng độ dầu có nơi trong nước đạt 3 đến trên 6 mg/l, vượt GHCP khoảng 10 đến 20 lần Trong trầm tích, hàm lượng dầu lên đến 1280 mg/kg vượt GHCP 1,3 lần Vào tháng 12 năm 2004 đã xảy ra vụ chìm tàu Mỹ Đình do đâm phải đá ngầm trên vùng biển Cát Bà Trong quá trình trục vớt kéo dài đến tháng 7 năm 2005, một lượng dầu đã rò rỉ ra môi trường biển

3.2 Ô nhiễm môi trường

Nguồn vật chất từ lục địa đưa ra biển có vai trò lớn đối với chất lượng môi trường ven biển Dinh dưỡng cung cấp cho vùng ven bờ CTSH từ nhiều nguồn khác nhau Nguồn từ sông hàng năm khoảng 40.296 tấn tổng nitơ khoáng hòa tan ; 1.200 tấn phospho khoáng hòa tan ; 17.600 tấn silic khoáng hòa tan Nguồn dinh dưỡng nitơ ở hai dạng NO3- và NO2- từ nước mưa cung cấp trực tiếp cho vùng cửa sông khoảng 1.066 tấn/năm RNM ven bờ hàng năm cung cấp từ 6.237 tấn nitơ và 205.435 tấn Ch/c [3] Tổng tải lượng thải chất gây ô nhiễm hàng năm trên dải ven

biển Quảng Ninh-Thanh Hoá chủ yếu do sông đưa ra, gồm 109,6 nghìn tấn BOD; 157,9 nghìn tấn COD; 76,2 nghìn tấn nitơ; 39,1 nghìn tấn phospho; 121,9 triệu tấn chất rắn lơ lửng, gần 830 tấn HCBVTV và một lượng lớn kim loại nặng gồm 6,8 nghìn tấn Cu; 5,4 nghìn tấn Zn; 885 tấn Pb; 790 tấn Sa; 282 tấn Cd và 28 tấn Hg So

Trang 6

với cả vùng Quảng Ninh -Thanh Hoá, khu vực cửa Ba Lạt hàng năm nhận trên 70% lượng chất hữu cơ, 54 - 65% chất dinh dưỡng, 96% lượng thuốc trừ sâu, 52% phân hoá học, 36% lượng dầu thải và từ 70 - 96% kim loại nặng, từ nguồn lục địa đưa ra biển Các chất có tiềm năng gây ô nhiễm tích luỹ thành một số điểm nóng ven biển như Cửa Sông Cấm, cửa Ba Lạt và từ đó có thể phát tán ra các khu vực lân cận, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái nhạy cảm Đã có bằng chứng về sự phát tán các tác nhân

ô nhiễm từ cửa Bạch Đằng lên phía bắc đến ngoài khơi vịnh Hạ Long (đảo Phượng Hoàng) và từ cửa Ba Lạt về phía nam cho đến gần Đà Nẵng [6]

Về cơ bản, chất lượng môi trường ven biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ còn khá tốt, hệ số tai biến môi trường năm 2003 đối với đời sống thuỷ sinh vật (RQ) <1, mặc

dù bị nhiễm bẩn bởi một số yếu tố với các mức độ khác nhau đã được ghi nhận tại nhiều nơi Nhiễm bẩn dầu là quan trọng nhất Tại vùng biển ven bờ, nồng độ dầu tăng cao theo thời gian, phổ biến ở mức vượt tiêu chuẩn cho phép Nhiễm bẩn kim loại nặng như Fe, Zn và Cu cũng đã được xác nhận tại một số nơi Tương tự, ô nhiễm vật chất hữu cơ còn có tính cục bộ, nhưng tại một vài vị trí lại hết sức nặng

nề Phú dưỡng là một vấn đề môi trường đáng quan tâm ở phía nam Nhìn chung, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật còn ở mức dưới giới hạn cho phép, nhưng cũng có nơi đã vượt giới quá hạn cho phép, ví dụ như ở ven bờ CTSH

Ô nhiễm nước

ở ven bờ miền Bắc, năm 2003, nồng độ nitrit trung bình 15,9 g/l, vượt 1,6 lần; nồng độ nitrat trung bình 175,4 g/l, vượt GHCP khoảng 2,9 lần; nồng độ Phosphat (28,2g/l ) vượt khoảng 1,9 lần Nồng độ dầu trong nước khá cao, trong

đó khu vực biển ven bờ miền Bắc, trung bình vượt GHCP 1,7 lần; nồng độ kẽm vượt GHCP trung bình 1,2 lần Coliform trong nước biển thường tập trung cao trong các khu vực có liên quan đến nguồn nước thải sinh hoạt và gần các khu vực bãi tắm Tại khu vực biển ven bờ miền Bắc, mật độ coliform phần lớn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước biển ven bờ Việt Nam, riêng ở Cửa Lục, trung bình vượt GHCP (1000 MNP/100ml) khoảng 1,2 lần

Ô nhiễm trầm tích

Hàm lượng dầu trong trầm tích vùng biển ven bờ nhìn chung không lớn khi so sánh với tiêu chuẩn trầm tích của Trung Quốc đối với vùng nước nuôi trồng và bảo tồn tự nhiên (500 mg/kg khô) Hàm lượng dầu trung bình trong trầm tích 235,4 mg/kg Khu vực Cửa Lục (Quảng Ninh) có hàm lượng dầu cao, trung bình 581.12 mg/kg, vượt GHCP khoảng 1,2 lần Các địa phương như Sầm Sơn (Thanh Hoá) Hàm lượng đồng, chì và cadmi khá cao, có hệ số TELQ>1 Tuy nhiên hàm lượng các kim loại nặng vẫn chưa vượt qua mức PEL (PELQ<1), do vậy các kim loại đã nêu có hàm lượng ở mức có thể có tác động (possible effect) nhưng chưa thực sự tác động đến đời sống sinh vật (probable effect)

Dư lượng các hợp chất thuốc trừ sâu cơ clo trong trầm tích vùng biển ven bờ thường vượt qua ngưỡng tác động (TEL: Threshold Effect Level) theo tiêu chuẩn chất lượng trầm tích của Canada (1993) 4,4’DDT có hàm lượng cao, luôn vượt mức TEL từ 2 đến 13 lần và vượt mức tác động (PEL : Probable Effect Level) tại một số trạm: Cửa Lục, Đồ Sơn, Ba Lạt, Cửa Lò Dieldrin vượt mức TEL tại Cửa Lục Chất lượng trầm tích trong vùng biển ven bờ phía Bắc suy giảm theo thời gian qua so sánh hệ số PELQ của các thông số gây ô nhiễm trong thời gian 1999 – 2003

Trang 7

Hệ số PELQ trung bình năm của các kim loại nặng và HCBVTV trong trầm tích vùng biển ven bờ phía bắc tăng dần từ năm 1999 (0,22) đến năm 2003 (0,32), mức tăng khoảng 1,5 lần trong 5 năm, trung bình năm khoảng 6%

3.3 Biến dạng cảnh quan thiên nhiên và văn hoá

Cảnh quan thiên nhiên ven biển phía bắc hết sức phong phú, đa dạng và là một dạng tài nguyên đặc biệt mang lại các giá trị văn hoá và tinh thần, tình yêu đối với quê hương đất nước, duy trì chất lượng cuộc sống và hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái ở mức độ khác nhau, các vùng, kiểu cảnh quan RNM, rừng trên đảo, vùng núi đá vôi, hang động, bờ cát biển, thạm chí cả cảnh quan các rạn san hô ngầm, các thảm cỏ biển đã và đang bị tổn hại, có khi ở mức nghiêm trọng do các hoạt động kinh tế như xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác khoáng sản – vật liệu xây dựng, thuỷ sản Vùng nước nhiều nơi có nguy cơ bẩn và đục, làm mất đi vẻ đẹp của cảnh quan biển như Đồ Sơn, Cát Bà và Hạ Long ở nhiều điểm du lịch, các công trình nhà nghỉ

và cơ sở giải trí đã làm hỏng cảnh quan tự nhiên Một số di chỉ khảo cổ nổi tiếng ví

dụ như Tràng Kênh và Cái Bèo (Hải Phòng), Đầu Dằm (Quảng Ninh) cũng bị tổn hại do các hoạt động kinh tế

3.4 Tổn thất tài nguyên sinh vật

Mất nơi cư trú, bãi giống - bãi đẻ và đường di cư đi đẻ Diện tích RNM suy

giảm nghiêm trọng, nhất là Quảng Ninh và Hải Phòng đo khai hoang nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và chặt phá lấy củi, tanin và phân xanh Độ phủ các rạn san hô giảm rất nhiều do lấy san hô bán, đánh bắt huỷ diệt trên vùng rạn và do cả nhiễm bẩn, đục hoá, ngọt hoá và hiện tượng El Nino Diện tích rạn giảm rõ rệt ở khu vực Đông nam Cát Bà, Vịnh Hạ Long và Bạch Long Vĩ [11,19] Độ phủ rạn ở phía Đông bắc đảo Bạch Long Vĩ trong 1993 - 1999 từ 95% xuống 20% Các thảm cỏ biển trước kia rất phổ biến ở ven bờ Quảng Ninh, nay rất hiếm gặp Trên vùng núi ven bờ

và các đảo, rừng bị tàn phá đáng kể Hồ Hoà Bình đã chặn đường di cư từ biển lên thượng nguồn đi đẻ của một số loài cá kinh tế như cá mòi và cá cháy Khoảng 500 triệu cá bột (khoảng 40 50%) cá bột sông Hồng bị giảm do xây đập Vùng nước trước cửa sông Hồng là các bãi giống bãi đẻ của các loài thuỷ sản, tập trung khoảng tháng 4-9, bị xáo động sinh thái do điều tiết hồ Hoà Bình (Bộ Thuỷ sản, 1996)

Giảm đa dạng sinh học Do ô nhiễm môi trường, đa dạng sinh học Vịnh Hạ

Long bị suy giảm rõ Các khu vực ven bờ Bãi Cháy, phía Đông - Bắc vịnh Cửa Lục

bị ô nhiễm có chỉ số đa dạng thấp (2,4 - 2,9), còn khu vực trung tâm vịnh, môi trường sạch hơn, chỉ số đa dạng (H’) cao, đạt 3,0 - 3,3 [16] Nhiều loài sinh vật quý hiếm và đặc hữu ven biển phía bắc có nguy cơ diệt chủng Loài đặc hữu Voọc đầu trắng trên đảo Cát Bà trước kia gồm nhiều bầy đoàn hàng trăm con, nay chi còn vài chục Loài thú biển Dugong ở Tiên Yên – Hà Cối nay hầu như biến mất Tôm hùm gần như mất hẳn ở Cát Bà Sản lượng Bào ngư Bạch Long Vỹ từ 35 - 50 tấn/năm (trước năm 1990), chỉ còn còn vài tạ/năm (1995 - 1998) Các loài cá mòi, cá cháy,

cá phèn trước kia rất phổ biến, nay sản lượng hầu như không đáng kể [1]

Giảm nguồn lợi thuỷ sản Sự suy thoái các hệ sinh thái ven bờ: ngọt hoá,

đục, phú dưỡng hoặc thiếu dinh dưỡng, nhiễm bẩn, mất nơi cư trú đã làm thay đổi cân bằng sinh thái, suy giảm năng xuất và đa dạng sinh học [1,10] Nghề cá biển,

Trang 8

chủ yếu ở dải ven bờ đã phải đối mặt với suy giảm nguồn lợi và nghề nuôi mặn lợ đã phải chịu nhiều thiệt hại do dịch bệnh phát sinh do ô nhiễm môi trường

ở các đầm quảng canh, quá trình o xi hoá và quá trình khử gây yếm khí ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của sinh vật trong đầm Các đầm thủy sản thường cho sản lượng ổn định trong 1 - 2 năm đầu, sau khi phá RNM sau 3 - 5 năm sử dụng, năng suất giảm từ 50 - 90% và lâu dần có thể trở thành hoang hoá ở các vùng bán thâm canh và thâm canh, do những vấn đề ô nhiễm môi trường, dịch bệnh không được khống chế, rủi ro và tổn thất nhiều khi rất lớn về kinh tế, điển hình là nuôi tôm trên cát ở Bắc Trung Bộ gần đây

Qua nhiều năm, trữ lượng cá biển ven bờ VBB phần Việt Nam giảm đi 185.500 tấn, bằng khoảng 24,6% tổng trữ lượng cá ban đầu Trong đó, việc xây dựng và điều tiết hồ thuỷ điện Hoà Bình làm giảm trữ lượng 42.665 tấn Năng suất đánh bắt các loại hải sản ở vùng biển ven bờ tây VBB thời kỳ 1988-1990 giảm khoảng 40-50% so với nhiều năm trước Sức ép đối với môi trường sinh thái cửa sông ven biển do hồ thượng nguồn ngày càng tăng và tổn thất đối với nghề cá biển ven bờ sẽ càng lớn, nhất là sắp tới xây dựng đập Sơn La Khi quy hoạch quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Đà nói chung và xây dựng đập thuỷ điện Sơn La nói riêng, cần đánh giá chi tiết tác động đến nguồn lợi cá biển ven bờ để có những giải pháp ứng xử thích hợp

Sự tích luỹ độc tố trong cơ thể sinh vật thực phẩm do ô nhiễm và vấn đề tảo độc xuất hiện trong các vùng nuôi ven bờ có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng thuỷ sản, đặc biệt là thuỷ sản xuất khẩu

4 Kết luận

Dải ven biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ là nơi phát triển kinh tế sôi động và có mật độ dân số cao Trong mối quan hệ tương tác lục địa và biển, các hoạt động nhân sinh trên cả lưu vực và tại chỗ như phá hủy rừng đầu nguồn, RNM, xây đê, đập, đào kênh, các hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và sinh hoạt

đã gây ra ảnh hưởng lớn đến môi trường bờ Ngoài ra, biến động khí hậu cũng gây

ra tác động quan trọng đến chất lượng và động thái môi trường Những tác động này đã dẫn đến một số vấn đề nổi bật về môi trường ven bờ như gia tăng các tai biến như ngập lụt, xói lở, sa bồi, xâm nhập mặn, nhiễm bẩn môi trường do dầu, vật chất hữu cơ, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng ở mức độ khác nhau; mất habitat và suy giảm tài nguyên sinh vật Chắc chắn, những tác động này còn tăng lên dưới áp lực phát triển kinh tế và dân số Bảo vệ môi trường ven biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ bao gồm cả ngăn ngừa, kiểm soát, giảm thiểu, các tác động tiêu cực từ các yếu tố nhân tác tham gia vào quá trình tương tác lực địa–biển ở dải bờ biển và chiến lược ứng xử thích hợp với biến động khí hậu là một yêu cầu cấp bách và chỉ

có thể thành công nhờ phối hợp toàn diện với quản lý lưu vực

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Thuỷ sản, 1996 Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam

2 Cục Môi trường, 2001 Hiện trạng môi trường biển và ven bờ Việt Nam đến

năm 1999 Lưu trữ tại Cục Môi trường, Hà Nội

3 Nguyễn Đức Cự và nnk, 1998: Điều tra khảo sát chất lượng môi trường và động

thái dinh dưỡng vùng cửa sông CTSH Báo cáo đề án điều tra cơ bản cấp nhà

Trang 9

nước trong hai năm 199701999 Lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển

4 Nguyễn Hữu Cử và nnk, 2001 Tổng hợp và xử lý tài liệu điều tra cơ bản về tài

nguyên và điều kiện tự nhiên các tỉnh Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hóa tới Thừa Thiên – Huế) Lưu tại Bộ Khoa học và Công nghệ

5 Bùi Đình Chung, Chu Tiến Vĩnh , Nguyễn Hữu Đức, 2001 Nguồn lợi cá

biển-cơ sở phát triển của nghề cá biển Việt Nam Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển Tập II Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Tr 199-210

6 Lưu Văn Diệu, Nguyễn Thị Phương Hoa và nnk, 2001 Đánh giá mức độ ô

nhiễm do nguồn thải từ lục địa, đề xuất giải pháp kiểm soát, quản lý ô nhiễm vùng biển ven bờ phía bắc (từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá) Lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển

7 Vũ Dũng, Đỗ Văn Khương, 2001 Hiện trạng và một số giải pháp sử dụng hợp

lý diện tích vùng triều để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở ven biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển Tập II Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Tr 392-401

8 Hong D.N and San H.T., 1993 Mangrove of Vietnam Published by ICNU p.1

- 173

9 Phạm Văn Ninh, Đỗ Ngọc Quỳnh và nnk., 1991 Chế độ nước dâng do bão ở

Việt Nam Tuyển tập báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học toàn quốc về biển

lần thứ III, tập II, trang 81 - 87.

10 Đào Mạnh Sơn, 2002 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và môi trường ở

Vịnh Bắc Bộ trong những năm qua Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo “Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường Vịnh Bắc Bộ” Hải Phòng, 2002 Tr.54-61

11 Trần Đức Thạnh, nguyễn Chu Hồi, Đỗ Công Thung và nnk, 1999 Điều tra cơ

bản môi trường biển Bạch Long Vĩ Báo cáo lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển

12 Trần Đức Thạnh, Nguyễn Đức Cự, Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Đình Chiến và Nnk,

2001 Nghiên cứu dự báo, phòng chống sạt lở bờ biển Bắc bộ từ Quảng ninh tới Thanh Hóa Báo cáo dự án KHCN - 5A Lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển

13 Trần Đức Thạnh, Đỗ Đình Chiến, 2003 bước đầu đánh giá Tác động của hồ

hoà bình đối với nguồn lợi cá biển ven bờ Tài nguyên và Môi trường biển T.X Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

14 Ngô Trọng Thuận, 1991 Xâm nhập mặn ở đồng bằng Bắc bộ Tuyển tập báo

cáo khoa học tại Hội nghị khoa học toàn quốc về biển lần thứ III, tập II, trang

191 - 199

15 Ngô Trọng Thuận, 1997 Diễn biến lòng sông Đà do ảnh hưởng vận hành hồ

Hòa Bình trong những năm đầu Khí tượng thủy văn số 9 Trang 1 - 6

16 Đỗ Công Thung, M Sarti, 2004 Bảo tồn đa dạng sinh học dải ven bờ Việt

Nam Báo cáo đề tài hợp tác song phương Việt Nam – Italy Lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển

Trang 10

17 Nguyễn Ngọc Thụy và Bùi Đình Khước, 1994 Hiện tượng El - Nino, sự ấm

lên của khí hậu toàn cầu và mực nước biển Việt Nam và Biển Đông Khí tượng

và Thuỷ văn Số 5 Tr 16 - 23

18 Phạm Huy Tiến, Nguyễn Văn Cư và nnk, 2001 Nghiên cứu dự báo, phòng

chống sạt lở bờ biển Trung Bộ Dự án KHCN – 5B Lưu trữ tại Viện Địa Lý

19 Nguyễn Huy Yết, Lưu Văn Diệu, Nguyễn Đăng Ngải, Lăng Văn Kẻn, 2000 Sự

suy thoái hệ sinh thái san hô vịnh Hạ Long-Cát Bà trong thời gian gần đây Tài Nguyên và Môi trường biển Nxb, KH&KT T.VII Hà Nội Tr 146-59

Tóm tắt

NHữNG VấN Đề MôI TRườNG NổI BậT ở DảI VEN Bờ BIểN PHíA BắC vịnh bắc bộ

Trần Đức Thạnh và Lưu Văn Diệu

Dải ven bờ biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế trải dài trên 1000km, bao gồm các hệ sinh thái tiêu biểu như đảo, cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm cỏ biển v.v có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị ứ Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng như giao thông cảng, nông lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp, khoáng sản, du lịch dịch vụ Đây còn là nơi có mật độ dân số cao

Trong mối quan hệ tương tác lục địa và biển, các hoạt động nhân sinh trên cả lưu vực và tại chỗ như phá hủy rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, xây đê, đập, đào kênh, các hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và sinh hoạt đã gây

ra ảnh hưởng lớn đến môi trường bờ Ngoài ra, biến động khí hậu cũng gây ra tác động quan trọng đến chất lượng và động thái môi trường Những tác động này đã dẫn đến một số vấn đề nổi bật về môi trường ven bờ như gia tăng các tai biến như ngập lụt, xói

lở, sa bồi, xâm nhập mặn, nhiễm bẩn môi trường do dầu, vật chất hữu cơ, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng ở mức độ khác nhau; mất habitat và suy giảm tài nguyên sinh vật Chắc chắn, những tác động này còn tăng lên dưới áp lực phát triển kinh tế và dân số Bảo vệ môi trường ven biển Phía tây Vịnh Bắc Bộ bao gồm cả ngăn ngừa, kiểm soát, giảm thiểu, các tác động tiêu cực từ các yếu tố nhân tác tham gia vào quá trình tương tác lực địa biển ở dải bờ biển và chiến lược ứng xử thích hợp với biến động khí hậu là một yêu cầu cấp bách và cần phối hợp chặt chẽ với quản lý lưu vực

Abstract:

EMERGED ENVIRONMENT PROBLEMS IN THE WESTERN COASTAL ZONE OF TONKIN GULF

Tran Duc Thanh & Luu Van Dieu

Stretching over 1000km from Quang Ninh to Thua Thien Hue, The coastal zone

in the North Vietnam consists of typical ecosystems as islands, estuaries, lagoons, bays, mangroves, coral reefs, seagrass beds, and have a lot of natural conservation areas of great worth The rich and diverse natural resources provide a great potential

to develop many important economical sectors such as water way and port, agriculture

Ngày đăng: 31/08/2022, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w