ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) BỀN VỮNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÂM THÁI XUYÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN
NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) BỀN VỮNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÂM THÁI XUYÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN
NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) BỀN VỮNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS TRƯƠNG HOÀNG MINH
2011
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học TràVinh, Ban Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Đại Dương, KhoaThủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiêncứu nâng cao trình độ trong thời gian qua
Xin cảm ơn tất cả các thầy cô trong Khoa Thuỷ sản, Trường Đại họcCần Thơ đã dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thờigian học tập Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với giáo viên hướng dẫn -Tiến sĩ Trương Hoàng Minh đã dìu dắt, động viên cũng như truyền đạt kiếnthức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viếtluận văn
Xin cảm ơn các cán bộ thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôncác tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Bến Tre đã cung cấpcho tôi số liệu để tôi hoàn thành luận văn Xin cảm ơn các giảng viên TrườngĐại học Bạc Liêu, Trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật Cà Mau, Trường Caođẳng kinh tế kỹ thuật Cần Thơ, Trường cao đẳng cộng đồng Sóc Trăng,Trường cao đẳng cộng đồng Kiên Giang, Trường Trung cấp nghề Kiên Giang
đã góp những thông tin quý báu Xin cảm ơn đến các chuyên gia tư vấn vàchứng nhận tiêu chuẩn như Nguyễn Trọng Hưng (Qualisupport), Nguyễn ĐìnhHuynh và Nguyễn Hồng Ngọc Trân (Qualiservices), Võ Đức Gia và Lê VănBằng (SGS), Nguyễn Khắc Hiếu (TUV), Nguyễn Đức Thịnh (TMT) Xin cảm
ơn các công ty, các trang trại nuôi tôm và bà con nuôi tôm tại các tỉnh CàMau, Kiên Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trìnhphỏng vấn thông tin Xin cảm ơn ông Nguyễn Hữu Thành – Tổng Giám đốcCông ty Cổ phần Thực phẩm Đại Dương đã tạo điều kiện về mặt thời gian vàcông việc từ đó giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Cảm ơn tất cả anh, chị, em lớp Cao học Nuôi trồng Thuỷ sản khoá 15,Khoa Thủy sản, Trường Đại Học Cần Thơ luôn sẵn lòng hỗ trợ tôi trong lúchọc tập và thực hiện đề tài
Sau cùng là lòng biết ơn đến gia đình, những người thân, bạn bè và đặcbiệt là Thạc sĩ Lâm Thị Ngọc Trân (vợ) và Lâm Thái Tuấn Kiệt (con trai) đãđộng viên, tạo điều kiện thuận lợi cũng như cho tôi niềm tin để hoàn thành tốtchương trình học này
Trang 4TÓM TẮT
Một đánh giá về nuôi tôm sú (Penaeus monodon) đạt và chưa đạt chứng
nhận ở ĐBSCL đã được thực hiện từ tháng 05-12/2010 tại các tỉnh Cà Mau, BạcLiêu, Kiên Giang, Sóc Trăng và Bến Tre Tổng số 72 trại nuôi tôm theo các tiêuchuẩn chứng nhận và 76 hộ dân nuôi tôm thông thường đã được khảo sát Bêncạnh đó, 8 cán bộ quản lý Ngành thủy sản, 6 giảng viên chuyên Ngành NTTS, 7chuyên gia tư vấn cấp chứng nhận nuôi tôm sú đạt chuẩn và 5 doanh nghiệp vừanuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu cũng đã được phỏng vấn
Kết quả cho thấy, có năm hình thức chứng nhận cho nuôi tôm sú gồm:tôm sinh thái, Viet GAP, BMP, BAP và Global GAP đang được chứng nhận chonuôi tôm sú ở ĐBSCL, trong đó nuôi tôm sinh thái đã được thực hiện lần đầu tiênvào năm 2001 tại tỉnh Cà Mau Chứng nhận BAP đã được thực hiện từ năm 2005
và hiện nay có 5 trại nuôi đạt chứng nhận đang có hiệu lực Một trại nuôi đạtchứng nhận Global GAP vào tháng 01/2010 Một số trại nuôi theo tiêu chuẩnViet GAP được áp dụng nhưng chưa được cấp chứng nhận Nuôi tôm sú theo tiêuchuẩn BMP vẫn chưa được thực hiện ở Việt Nam Các trại nuôi tôm sú đạt chuẩntôm sinh thái, Global GAP, BAP, Viet GAP tuân thủ không sử dụng thuốc, hóachất cấm và kháng sinh; chính sách an toàn lao động, bảo vệ môi trường, an toàn
vệ sinh thực phẩm và đáp ứng tốt việc truy suất nguồn gốc sản phẩm, trong khicác trại nuôi tôm thông thường chưa tuân thủ các tiêu chí này Hiệu quả sản xuấtcủa các trại nuôi tôm đạt chứng nhận cao hơn so với các trại nuôi chưa đạt chuẩn.Giá tôm bán ra từ các trại nuôi đạt chứng nhận cao hơn 7%, giá thành sản xuất70.825 đồng/kg thấp hơn 7.167 đồng/kg và tỷ suất lợi nhuận cao hơn 87,1% sovới các trại nuôi chưa đạt chứng nhận Nhận thức của “4 nhà” đồng tình với việc
áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận trong nuôi tôm sú Giải pháp chính phát triểnnghề nuôi tôm trong thời gian tới ở ĐBSCL là hình thành các đơn vị hợp tác như
tổ hợp tác và hợp tác xã để thực hiện nuôi tôm đạt tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế
Từ khóa: BAP, BMP, chứng nhận, ĐBSCL, GAP, Global GAP, Penaeus monodon, tôm sinh thái, tôm sú.
Trang 5An assessment on certified and non-certified standards for black tiger shrimp
(Penaeus monodon) farming in the Mekong Delta was carried out from May to
December 2010 in Ca Mau, Bac Lieu, Kien Giang, Soc Trang and Ben Treprovinces Total of 72 certified shrimp farms and 76 non-certified shrimpfarms were interviewed in this study In addition, 8 aquaculture provincialmanagers, 6 aquaculture lecturers, 7 experts in standardized certifying forshrimp farms and 5 shrimp farming and processing companies were alsoinvestigated through the study
As the result, five kinds of Certification for standardized shrimp productionincluding organic shrimp, Viet GAP, BMP, Global GAP, BAP, of whichorganic shrimp has certified firstly since 2001 in Ca Mau province BAPCertification has been applied since 2005 and 5 certified shrimp productioncompanies at present Only one shrimp farming company has obtained thestandard of Global GAP Certification in Jan 2010 Some shrimp farms haveapplied Viet GAP, but not yet certified BMP Certification has not beenapplied in Vietnam Certified shrimp farms for organic label, Global GAP,BAP, Viet GAP meet strictly criteria for certifying such as no using antibioticsand banning chemicals, labor security, environmental protection, food sanitarysecurity and tracebility Meanwhile, non-certified shrimp farms have not metthe mentioned criteria Production effect of certified shrimp farms and benefitper cost are higher 7% and 87.1% respectively, and production cost (70,825VND/kg of shrimp) is lower 7,167 VND/kg than that in non-certified shrimpfarms The awareness of “4 groups of key person” (farmers, administrators,scientists and businessmen) sympathizes for application of these standardizedCertifications for shrimp farming Main solution for further shrimp farming inthe Mekong Delta that is establishing shrimp farming groups and cooperatives
to apply these international Certifications
Key words: BAP, BMP, certification, Mekong Delta, GAP, Global GAP, Penaeus monodon, organic shrimp, tiger shrimp.
Trang 6CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quảnghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất
cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cà Mau, ngày 11 tháng 02 năm 2010
Lâm Thái Xuyên
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
CAM KẾT KẾT QUẢ iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu tổng quát 2
1.3 Nội dung của đề tài 3
Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan tình hình nuôi thủy sản trên thế giới 4
2.2 Tổng quan tình hình nuôi thủy sản Việt Nam và ĐBSCL 10
2.3 Các xu hướng nuôi thủy sản hiện nay 20
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thời gian và địa điểm nghiêu cứu 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Tổng quan tình hình nuôi tôm sú được chứng nhận ở các tỉnh ĐBSCL 37
4.1.1 Chứng nhận tôm sinh thái 38
4.1.2 Chứng nhận BAP 40
4.1.3 Chứng nhận Viet GAP 43
4.1.4 Chứng nhận Global GAP 44
4.1.5 Trang trại tôm sú sạch Sáu Ngoãn Bạc Liêu – Việt Nam 45
4.1.6 Chứng nhận BMP 45
4.2 Phân tích quy trình cấp chứng nhận tôm sú nuôi ở ĐBSCL 46
4.2.1 Quy trình cấp chứng nhận tôm sinh thái 46
4.2.2 Quy trình cấp chứng nhận BAP 52
4.2.3 Quy trình cấp chứng nhận Global GAP 55
4.2.4 Quy trình cấp chứng nhận trang trại nuôi tôm sú sạch 57
4.3 Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm sú được và chưa được cấp chứng nhận .60
4.3.1 Hiện trạng về kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm rừng thông thường và tôm rừng sinh thái 60
4.3.2 Khía cạnh về kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm sú thâm canh theo tiêu chuẩn chứng nhận 76
4.4 Phân tích nhận thức và vai trò của “4 nhà” đối với các mô hình nuôi tôm sú chứng nhận ở các tỉnh ĐBSCL 94
4.4.1 Điểm mạnh (S) 94
4.4.2 Điểm yếu (W) 95
4.4.3 Cơ hội (O) 96
4.4.4 Thách thức (T) 96
4.5 Định hướng - đề xuất phát triển 98
4.5.1 Kỹ thuật nuôi tôm 98
4.5.2 Kinh tế-xã hội 98
Trang 8Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 100
5.1 Kết luận 100
5.2 Đề xuất 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC A: BIỂU MẪU PHỎNG VẤN NÔNG HỘ 115
PHỤ LỤC B: SỐ LIỆU GỐC 124
PHỤ LỤC C: BẢNG XỬ LÝ THỐNG KÊ CỦA CÁC MÔ HÌNH 145
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sản lượng NTTS phân theo khu vực năm 2000-2008 12
Bảng 2.2: Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2008 và 2009 12
Bảng 2.3: Diện tích nuôi tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2007-2010 15
Bảng 2.4: Sản lượng tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2001-2008 16
Bảng 2.5 Tình hình chứng nhận BAP trên thế giới 28
Bảng 4.6: Các trại nuôi tôm ở ĐBSCL được cấp chứng nhận nuôi tôm sú 37
Bảng 4.7: Tình hình chứng nhận tôm sinh thái ở ĐBSCL 38
Bảng 4.8: Các công ty đạt chứng nhận BAP ở ĐBSCL 41
Bảng 4.9: Trại tôm ở ĐBSCL được cấp chứng nhận BAP từ 2005 - nay 42
Bảng 4.10: Kết quả áp dụng Viet GAP ở các tỉnh nuôi tôm sú ĐBSCL 44
Bảng 4.11: Các bước thực hiện chứng nhận tôm sinh thái 48
Bảng 4.12: Quy trình cấp chứng nhận BAP 53
Bảng 4.13: Quy trình cấp giấy chứng nhận Global GAP 55
Bảng 4.14: Chi phí đăng ký làm Global GAP 57
Bảng 4.15: Thông tin chung về mô hình nuôi tôm rừng và tôm sinh thái 61
Bảng 4.16: Diện tích nuôi thủy sản của mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 62
Bảng 4.17: Thông tin về cải tạo ao ở mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 63
Bảng 4.18: Thông tin về con giống ở mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 64
Bảng 4.19: Hoạt động ương tôm giống ở mô hình nuôi tôm rừng TT và ST 65
Bảng 4.20: Chế độ thay nước ở mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 66
Bảng 4.21: Sử dụng hóa chất, thuốc phòng trị bệnh 67
Bảng 4.22: Thu hoạch, năng suất và tiêu thụ của mô hình nuôi TT và ST 69
Bảng 4.23: Cơ cấu chi phí mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 70
Bảng 4.24: Thu nhập từ mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 72
Bảng 4.25: Một số ý kiến của người dân 75
Bảng 4.26: Thông tin tổng quát các trại nuôi tôm khảo sát 76
Bảng 4.27: Thông tin thiết kế công trình và mùa vụ thả nuôi 78
Bảng 4.28: Nguồn tôm giống và mật độ nuôi 81
Bảng 4.29: Thức ăn và chế độ thay nước 82
Bảng 4.30: Các chỉ tiêu môi trường 83
Bảng 4.31: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu nước thải 83
Bảng 4.32: Thông tin về sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm 84
Bảng 4.33: Khả năng đáp ứng các tiêu chí tiêu chuẩn BAP của trại nuôi tôm 85 Bảng 4.34: Năng suất, giá bán và nơi tiêu thụ 88
Bảng 4.35: Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi thâm canh tôm sú TC và TT .89
Bảng 4.36: Một số ý kiến của các trại nuôi theo TC và TT 93
Bảng 4.37: Phân tích SWOT 97
Bảng 4.38: Định hướng và đề xuất phát triển 99
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sản lượng tôm sú thế giới 6
Hình 2.2: Diễn biến sản lượng tôm sú và tôm thẻ thế giới 1991-2006 8
Hình 2.3: Giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam từ 2005-6/2010 13
Hình 2.4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam từ 2005-2009 14
Hình 2.5: Năng suất tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2001-2008 16
Hình 2.6 : Một số tổ chức chứng nhận Global GAP tại Việt Nam 25
Hình 2.7: Logo BAP 2 sao, 3 sao và 4 sao 28
Hình 4.8:Chứng nhận tôm sinh thái cấp cho Seanamico 39
Hình 4.9: Trại nuôi tôm đầu tiên châu Á đạt chứng nhận BAP 43
Hình 4.10: Mẫu giấy chứng nhận GAP của công ty Mỏ Ó và Vĩnh Thuận 44
Hình 4.11: Chứng nhận Global GAP của công ty Minh Phú-Kiên Giang 45
Hình 4.12 : Sơ đồ tổ chức dự án tôm sinh thái Camimex 50
Hình 4.13: Quy trình chứng nhận sáng chế, giải pháp hữu ích 58
Hình 4.14: Tỷ lệ số hộ xuất hiện các loại bệnh tôm ở mô hình TT và ST 68
Hình 4.15 Năng suất tôm sú ở mô hình nuôi tôm rừng TT và ST 70
Hình 4.16 Cơ cấu chi phí biến đổi của mô hình nuôi tôm rừng TT và ST 71
Hình 4.17 Cơ cấu thu nhập của mô hình nuôi tôm rừng TT và ST 72
Hình 4.18 Lợi nhuận của mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 73
Hình 4.19 Cơ cấu chi phí biến đổi của các trại nuôi tôm theo tiêu chuẩn 91
Hình 4.20 Cơ cấu chi phí biến đổi trại nuôi tôm theo TC và TT 91
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASC: Aquaculture Stewardship Council
BAP: Best Aquacultural Practices
BIM: Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Sản xuất Hạ Long
BMP: Better management practices
Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn
Camimex: Công ty cổ phần chế biến thủy sản và xuất nhập khẩu Cà MauCASEP: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Cà Mau
CSHTT: Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
EurepGAP: Tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của Hiệp hội các nhà bán
lẻ Châu ÂuFAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
GAA: Global Aquaculture Alliance
GAP: Good Aquaculture Practices
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
Global GAP: Global Good Aquaculture Practices
ICS: Hệ thống kiểm soát nội bộ
IMO: Viện Thị trường sinh thái
ISO: International Organization for Standardization
Kim Lộc: Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Kim Lộc
LNT 184: Lâm Ngư Trường 184
Minh Phú: Tập đoàn Thủy sản Minh Phú
MPEDA: The Marine Products Export Development Authority
NACA: The Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific
NAFIQAVED: Cục Quản lý Chất lượng, An toàn Vệ sinh và Thú y Thuỷ sảnNCNTTS: Nghiên cứu NTTS
NGO: Tổ chức phi chính phủ
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
PCR: Polymerase Chain Reaction
QCCT: Quảng canh cải tiến
QCS: Quality Certification Services
Trang 12QS: Công ty Qualiservice
Seanamico: Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Thuỷ Sản Năm CănSIPPO: Cơ quan Xúc tiến nhập khẩu Thụy Sĩ
TAN: Total ammonia nitrogen
Tây Nam: Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Tây Nam
TC: Tiêu chuẩn chứng nhận
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
VASEP: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt NamViet GAP: Thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP) ở Việt Nam
Vĩnh Thuận: Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vĩnh Thuận
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 13sản Việt Nam phải kể đến đầu tiên là tôm sú Tôm sú (Penaeus monodon) đã
trở thành đối tượng nuôi quan trọng của nhiều tỉnh thông qua hoạt động sảnxuất giống, nuôi thương phẩm, cung cấp dịch vụ thuốc thú y thủy sản, thumua, chế biến xuất khẩu, mang lại thu nhập và nâng cao đời sống người dân.Nuôi tôm sú đã có bước đột phá khá thành công và đi vào lịch sử ngành thủysản Việt Nam Sau 7 năm (2000 – 2007) chuyển đổi loại hình sử dụng đấtnông nghiệp theo Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ, nuôi tôm sú
đã vươn lên giữ vị trí quan trọng số 1 trong ngành thủy sản Việt Nam cả vềquy mô sản xuất, kinh doanh và sử dụng khai thác hiệu quả tài nguyên đất,nước, lao động cũng như huy động các nguồn lực vào đầu tư phát triển nuôi,chế biến và dịch vụ nuôi tôm đem lại hiệu quả khá cao (Trần Văn Nhường vàBùi Thị Thu Hà, 2005; Nguyễn Duy Chinh, 2008)
Bên cạnh những thành công, người nuôi tôm đối mặt với những vấn đềnhư môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng, nguồn tôm bố mẹ ngày cànggiảm chất lượng, ao nuôi bị thoái hóa, dịch bệnh…(Goldburg và Triplett,1997) Người nuôi không ngừng sử dụng hóa chất để cải thiện các ảnh hưởngtrên, điều đó làm cho sản phẩm thu dễ bị nhiễm tạp chất, kháng sinh và môitrường nuôi ngày càng suy thoái Theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nôngthôn (2009), việc nhiễm kháng sinh và bơm chích tạp chất vào tôm đã làm ảnhhưởng nghiêm trọng đến uy tín mặt hàng tôm xuất khẩu Việt Nam, người nuôi
bị thiệt hại lớn, các nhà máy điêu đứng vì thiếu nguyên liệu và làm mất lòngtin các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng
Để khắc phục những tác động trên và hướng đến sự phát triển bềnvững, nhiều mô hình nuôi thủy sản mới đã được nghiên cứu và phát triển Cácphương thức nuôi mới như nuôi thủy sản sạch, nuôi sinh thái, nuôi theo tiêuchuẩn GAP, BAP, nuôi kết hợp, nuôi thân thiện môi trường… ngày càng được
Trang 14doanh và dịch vụ nghề nuôi, các tổ chức quản lý nghề nuôi…quan tâm ứngdụng và phát triển Mục đích là sản xuất ra sản phẩm thủy sản sạch, đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của xã hội, bảo vệ được môi trường nuôi, môi trườngsinh thái không bị ô nhiễm, duy trì được nghề nuôi có hiệu quả bền vững (HộiNghề cá Việt Nam, 2007) Mặt khác, nhu cầu thủy sản nuôi sạch được chứngnhận ngày càng tăng như nhu cầu tôm sinh thái ở Châu Âu, Mỹ…hay nhu cầutôm nuôi đạt chứng nhận BAP gần như là yêu cầu bắt buột để bán vào các siêuthị lớn của Mỹ, hoặc thủy sản nuôi đạt chứng nhận Global GAP được các nhànhập khẩu Châu Âu, Nhật Bản… đòi hỏi các nhà cung cấp phải có Đó lànhững yêu cầu của thị trường vì sự an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng,ngoài ra cũng là sự chia sẽ trách nhiệm của người tiêu dùng và người nuôitrồng về bảo vệ môi trường và phát triển NTTS bền vững.
Tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực NTTS trọng điểm – ĐBSCL, các môhình phát triển nuôi tôm sú bền vững đã được thực hiện như tôm sinh thái,Viet GAP, BAP, Global GAP… Đó là xu hướng phát triển chung của nghềnuôi tôm sú ĐBSCL hay chỉ là phát triển cục bộ của một vài địa phương, mộtvài doanh nghiệp và hiệu quả ra sao thì cần có những đánh giá cụ thể Xuất
phát từ nhu cầu trên, đề tài “Đánh giá thực trạng ứng dụng các tiêu chuẩn
nuôi tôm sú (Penaeus monodon) bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long”
được đề xuất thực hiện
1.2 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này nhằm phân tích tình hình nuôi tôm sú chứng nhận vàchưa được chứng nhận ở các tỉnh ĐBSCL làm cơ sở định hướng cho việc pháttriển nuôi tôm sú bền vững trong tương lai
Các mục tiêu cụ thể:
i Mô tả các tiêu chuẩn và quy trình chứng nhận áp dụng trên tôm sú;
ii Phân tích được tình hình chứng nhận tôm sú nuôi ở ĐBSCL;
iii So sánh hiệu quả kỹ thuật và tài chính giữa mô hình nuôi tôm súđược chứng nhận và chưa được chứng nhận;
iv Phân tích được nhận thức của “4 nhà” đối với việc chứng nhận tôm
sú nuôi ở ĐBSCL;
v Đề xuất một số giải pháp khả thi cho định hướng nuôi tôm sú đượcchứng nhận ở ĐBSCL
Trang 151.3 Nội dung của đề tài
i Tổng kết tình hình nuôi tôm sú được chứng nhận ở các tỉnh ĐBSCL
ii Phân tích quy trình cấp chứng nhận tôm sú nuôi ở ĐBSCL
iii Phân tích và so sánh hiệu quả kỹ thuật và tài chính giữa mô hình nuôitôm sú được chứng nhận và chưa chứng nhận theo hướng bền vững ởĐBSCL
iv Phân tích nhận thức và vai trò của “4 nhà” đối với các mô hình chứngnhận tôm sú nuôi ở các tỉnh ĐBSCL
Trang 16Xét về phát triển NTTS, báo cáo FAO (2005 và 2009) cho thấy, sảnlượng NTTS của thế giới có xu hướng tăng dần theo thời gian, từ mức 30,6triệu tấn vào năm 1998 lên đến 51,7 triệu tấn vào năm 2006 Trong đó, năm
2006 sản lượng nuôi thuỷ sản nội địa đạt 31,6 triệu tấn, chiếm 61,1% tổng sảnlượng NTTS thế giới, nuôi thuỷ sản biển đạt 20,1 triệu tấn, chiếm 38,9% giátrị NTTS đạt khoảng 78,8 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng NTTS thế giới tăngtrung bình hơn 8%/năm Châu Á sản xuất hơn 90% sản lượng NTTS thế giới
và hơn 90% sản lượng nuôi được đóng góp từ các hộ sản xuất quy mô nhỏ.Tuy nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và sự phát triển tự phátcủa các hộ sản xuất nhỏ, trong khi không hiểu biết đầy đủ về xu hướng pháttriển của thị trường cho nên sản xuất của họ nhiều thử thách (NACA, 2010)
Xét về góc độ châu lục, từ năm 2002 - 2006 vùng Châu Á – Thái BìnhDương chiếm 89,5 – 91,5 % tổng sản lượng NTTS thế giới và 77 - 82 % về giátrị (FAO, 2005, 2007 và 2009) Năm 2005, Châu Á sản xuất được 2.112.167tấn tôm, chiếm 88,5% sản lượng tôm toàn cầu, 11,5% sản lượng tôm còn lạithuộc về Châu Mỹ (273.709 tấn) (Kongkeo, 2007) Theo báo cáo tình hìnhNTTS thế giới năm 2006 của FAO, châu Á có đến 9 trong 10 quốc gia dẫn đầu
về NTTS, thứ tự các quốc gia là Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia,Nhật, Việt Nam, Hàn Quốc, Bangladesh, Chile và Mỹ Trung Quốc là quốc gia
có nghề nuôi thủy sản lớn nhất thế giới, liên tục dẫn đầu về sản lượng thủy sảnnuôi Năm 2006, Trung Quốc đạt sản lượng NTTS cao nhất (từ năm 2000-2006) chiếm 69,57 % sản lượng nuôi và 51,2 % về giá trị các mặt hàng thủysản được nuôi trồng trên thế giới (FAO, 2009) Ấn Độ cũng là quốc gia mạnh
về NTTS, sản lượng liên tục tăng, từ 1,94 triệu tấn năm 2000 đến năm 2006sản lượng vượt mức 3,1 triệu tấn, tốc độ tăng trung bình 6%/năm (FAO, 2005
và 2009) Năm 2006, Việt Nam đứng thứ 6 thế giới về giá trị thủy sản nhưng
Trang 17về sản lượng Việt Nam đứng vị trí thứ 3, tốc độ tăng trưởng sản lượng thủysản trung bình 17,6%/năm (FAO, 2009).
Năm 1950, lần đầu tiên FAO thống kê số liệu về sản xuất tôm trên thếgiới nhưng chỉ có số liệu tôm đánh bắt tự nhiên (Ronnback, 2002) Hiện nay,tôm được nuôi tại hơn 50 quốc gia nhưng có tới 99% diễn ra tại các nước đangphát triển, đặc biệt là ở châu Á và Mỹ La Tin (Parr và Grey, 2006) Ở châu Á,tôm là đối tượng được nuôi từ nhiều thế kỷ trước với mật độ thấp, nuôi kếthợp với cá hoặc nuôi luân canh trong ruộng lúa Năng suất tôm nuôi rất thấp
và chủ yếu tiêu thụ trong nước Đến giữa thập niên 1970, khi sản xuất tômgiống nhân tạo thành công và chủ động cung cấp một lượng giống lớn thì nghềnuôi tôm bắt đầu phát triển vượt bật và tăng trưởng nhanh chóng về sản lượng(Pascal và Denis, 2002) Thêm vào đó, công nghệ nuôi không ngừng đượcnghiên cứu, cải tiến và chuyển giao tạo tiền đề phát triển bùng nổ của ngànhcông nghiệp nuôi tôm trong thập niên 1980 (Ronnback, 2002) Từ năm 1975,ngành công nghiệp nuôi tôm chiếm 2,5% tổng sản lượng tôm thế giới và tăngnhanh lên 30% vào những năm 1990 Ngành thương mại tôm chiếm 3-4% sảnlượng thủy sản toàn cầu nhưng chiếm 15% về giá trị (FAO, 1999) Khu vựcchâu Á và Mỹ Latin chỉ sản xuất được 50.000 tấn vào giữa những năm 1970tăng lên hơn 600.000 tấn vào năm 1988, với tốc độ tăng trưởng từ 20-30%/năm Trong suốt hơn một thập kỷ từ năm 1985-1995, tốc độ xây dựngtrại nuôi tôm trên thế giới đạt trên 400% (Pascal và Denis, 2002) Hiện nay,tôm là sản phẩm trọng tâm của thương mại thủy sản toàn cầu, chiếm khoảng1/5 về giá trị Trước đây, phần lớn sản lượng tôm từ khai thác nhưng tôm nuôi
đã tăng trưởng nhanh chóng với tốc độ 10%/năm trong thập kỷ qua và hiện tạichiếm 1/3 sản lượng (Parr và Grey, 2006)
Nhìn ở góc độ lịch sử phát triển thì ba loài tôm sú, tôm thẻ Trung quốc
(Penaeus chinensis) và tôm chân trắng (Penaeus vannamei) được nuôi nhiều
nhất và có giá trị kinh tế nhất Ba loài tôm này chiếm trên 86% sản lượng tômnuôi của thế giới Tôm sú có sản lượng xếp thứ 20 trong số các loài thuỷ sảnnuôi nhưng về giá trị thì đứng đầu với 4.046 tỷ USD trong năm 2000 Các loàigiáp xác nuôi khác bao gồm cả nuôi nước ngọt đạt 386.185 tấn hoặc chiếm23,4% sản lượng nuôi giáp xác; các loài cua 140.256 tấn, chiếm 8,5% Tôm
càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) cũng được phát triển nuôi, sản lượng
năm 2000 đạt 118.501 tấn (Phạm Minh Đức, 2008)
Tốc độ tăng trưởng sản lượng tôm toàn cầu đạt trung bình 25%/năm,giai đoạn 1996-2005 Theo Kongkeo (2007) trong 10 năm (1996-2005) ngànhtôm đã tăng trưởng, sản lượng tăng từ 679.945 tấn năm 1996 lên 2.385.876 tấn
Trang 18trắng từ 140.339 năm 1996 lên 1.597.028 tấn vào năm 2005 (tăng 100%/năm),
sự mở rộng khu vực nuôi mới ở nhiều nước và sự cải tiến kỹ thuật nâng caonăng suất nuôi Điển hình thành công nhất là công nghệ nuôi tôm nhà xanhcủa Trung Quốc, BMP ở Ấn Độ và tôm giống sạch bệnh đặt hữu (SPF) củaThái Lan Trong khi đó, đối tượng nuôi chủ lực trước đây là tôm sú chỉ tăngtrung bình 4,6%/năm, đạt sản lượng 788.848 tấn vào năm 2005 tăng hơn249.242 tấn so với năm 1996
Trong vài năm gần đây, sản lượng tôm thế giới, đặc biệt là ở châu Ákhông ổn định Năm 2007, sản lượng tôm nuôi của thế giới là 3,193 triệu tấn,châu Á đã đóng góp 2,74 triệu tấn, chiếm 85,81% Sang năm 2008, sản lượngtôm có chiều hướng giảm xuống, sản lượng tôm thế giới là 3,065 triệu tấn vàchâu Á là 2,611 triệu tấn Như vậy, sản lượng tôm năm 2008 của châu Á giảm129.000 tấn nhưng đến năm 2009 thì sản lượng tôm nuôi của châu Á đã tănglên khoảng 2,83 triệu tấn, trong đó có 2,307 triệu tấn tôm chân trắng và522.000 tấn tôm sú (AQUA Culture AsiaPacific, 2010)
Về đối tượng nuôi, tôm sú là một trong những đối tượng có sản lượngkhá cao Năm 1981 chỉ với 21.000 tấn, đến năm 1999 đạt khoảng 300.000 tấn
và trên 700.000 tấn vào năm 2003 Tuy nhiên đến năm 2004-2006 thì có xuhướng giảm xuống dưới 700.000 tấn (Hình 2.1) Trên thế giới có khoảng 20quốc gia nuôi tôm sú (Hoàng Tùng, 2006), các nước nuôi nuôi nhiều nhất làThái Lan, Việt Nam, Indonesia, Philippin, Ấn độ, Malaysia và Myanma(Kongkeo, 2005) Từ năm 2005, Việt Nam đứng đầu thế giới về sản lượng tôm
sú nuôi, tiếp sau là các nước Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc và Thái Lan ViệtNam đạt 177.000 tấn, chiếm 22% tổng sản lượng thế giới, Ấn Độ đạt 142.070tấn, 18%, Indonesia đạt 134.682 tấn chiếm 17%, Trung Quốc đạt 75.731 tấn,chiếm 10% và Thái Lan đạt 75.000 tấn, chiếm 10% sản lượng tôm sú toàn cầu(Kongkeo, 2007)
Hình 2.1: Sản lượng tôm sú thế giới (Nguồn: Kongkeo, 2005)
Sản
lượng
Năm
Trang 19Bên cạnh tôm sú, nuôi tôm thẻ chân trắng cũng có bước phát triển rấtmạnh Trước năm 2000, sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng toàn cầu chủ yếu
do khu vực Châu Mỹ đóng góp Sau năm 2000 sản lượng cung cấp nhiều từchâu Á, cùng với sự hồi phục mạnh mẻ nghề nuôi của châu Mỹ Năm 2001,Trung Quốc chuyển cơ cấu tôm nuôi theo hướng tăng nhanh sản lượng tôm thẻchân trắng và đứng đầu thế giới với hơn 30.000 tấn Năm 2003, Trung Quốcsản xuất khoảng 300.000 tấn Thái Lan đạt 120.000 tấn, Indonesia khoảng30.000 tấn Đến năm 2004, sản lượng tôm thẻ chân trắng của Trung Quốc, ĐàiLoan và Thái Lan đã vượt qua tôm sú, đạt 1.116.000 tấn Năm 2006, sảnlượng tôm thẻ chân trắng tại Châu Á nhảy vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn Năm 2007,tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới ước đạt 3,3 triệu tấn trong đó sản lượngtôm thẻ chân trắng chiếm 69% Tại châu Á, tổng sản lượng tôm năm 2007 ướctính khoảng 2,65 triệu tấn, tôm thẻ chân trắng đã chiếm tới 57%, còn ở TrungQuốc tôm thẻ chân trắng chiếm gần 80% trong tổng sản lượng 1 triệu tấn củanước này Năm 2009 sản lựợng tôm thẻ chân trắng tại châu Á đạt 2,307 triệutấn triệu tấn, chiếm 80% sản lượng tôm nuôi toàn thế giới Nhiều nước châu Ákhác như Ấn Độ, Philippine, Malaysia, Myanmar, Việt Nam cũng đã nhậptôm thẻ chân trắng để nuôi nhằm đa dạng hoá các sản phẩm tôm xuất khẩu,tránh tình trạng chỉ trông cậy vào tôm sú nhưng vấn đề dịch bệnh lại là một trởngạy lớn (Briggs, 2006; Kongkeo, 2007; AQUA Culture AsiaPacific, 2010).Nhìn chung, sản lượng tôm thẻ chân trắng chủ yếu là do sự đóng góp từ cácnước châu Á Ví dụ: năm 2005, Trung Quốc đạt 808.433 tấn (chiếm 50% sảnlượng thế giới), Thái Lan đạt 299.000 tấn (chiếm 19%), Indonesia đạt 103.874tấn (7%), Việt Nam đạt 100.000 tấn (6%)…(Kongkeo, 2007)
Phân tích về tốc độ tăng trưởng bình quân sản lượng tôm sú và tôm thẻchân trắng trên thế giới giai đoạn 1999-2006, Viện kinh tế và quy hoạch thủysản (2009) nhận định: sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng trưởng nhanh hơntôm sú khoảng 14 lần, cụ thể tôm sú là 3%, tôm chân trắng là 42% Các nước
có tỷ trọng tôm sú cao hơn tôm chân trắng gồm: Việt Nam, Indonexia, Ấn Độ,Philippine và Malaysia Còn các nước khác hầu hết đã chuyển sang nuôi tômchân trắng Sự chuyển dịch từ tôm sú sang tôm chân trắng vẫn tiếp tục diễn ra,nhất là ở Philippin, Ấn Độ, và Việt Nam (Hình 2.2) Tuy nhiên, các nước cũng
có xu hướng đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa tôm sú và tôm chân trắng (ví dụnhư Thái Lan) để loại bớt nguy cơ rủi ro bởi tôm sú được đánh giá là có sự ổnđịnh hơn so với tôm thẻ chân trắng
Trang 20K h ố i lư ợ n g tô m s ú K h ố i lư ợ n g tô m th ẻ
E x p o n ( K h ố i lư ợ n g tô m th ẻ ) L in e a r ( K h ố i lư ợ n g tô m s ú )
Hình 2.2: Diễn biến sản lượng tôm sú và tôm thẻ thế giới 1991-2006
(Nguồn: Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản, 2009)
Bên cạnh những thành công đã đạt được, ngành NTTS thế giới, đặc biệt
là nuôi tôm phải đối mặt với vấn đề môi trường và dịch bệnh, khi nghề nuôithủy sản phát triển theo hướng thâm canh và bán thâm canh trên quy mô lớn
mà sự đầu tư và quản lý không đồng bộ Hệ quả của sự phát triển này dẫn đếnsuy giảm năng suất, ô nhiễm môi trường và đang có khả năng suy thoái vùngnuôi (Nguyễn Hữu Thọ, 2010)
Bệnh virus trên tôm là vấn đề nan giải, gây khó khăn cho hàng ngànhàng triệu nuôi tôm Kongkeo (2007) cho rằng bệnh virus trên tôm là nguyênnhân gây thiệt hại chính cho nghề nuôi tôm Châu Á Dịch bệnh đầu vàng vàđốm trắng gây thiệt hại lớn ở Thái Lan năm 1991 và 1993 Theo NACA vàMPEDA (2003) bệnh tôm đã tàn phá nghề NTTS trên thế giới Bệnh nguyhiểm nhất đối với tôm sú là đốm trăng (WSSV) Theo Bùi Quang Tề (2003)bệnh đốm trắng được phát hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 1989 Năm
1989, Thái Lan cũng có báo cáo về bệnh thân đỏ đốm trắng ở tôm sú Năm1992-1993, Thái Lan bùng phát bệnh đầu vàng và đốm trắng gây thiệt hại hơn
40 triệu USD Năm 1994, nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia,Nhật Bản, Ấn Độ đã công bố tìm ra nguyên nhân gây bùng phát bệnh đốmtrắng Từ đó đến nay, nhiều nỗ lực nghiên cứu phương pháp trị bệnh này đềuchưa có kết quả khả quan Bùi Quang Tề (2003), Lê Văn Khoa (2007) vànhiều tác giả khác cho rằng ngoài bệnh đốm trắng còn có bệnh nguy hiểmkhác như đầu vàng, MBV, bệnh do vi khuẩn Vibrio, do nấm, do ký sinh
trùng…gây nên Thêm vào đó, theo Lightner et al (1998) ở Châu Á dịch
bệnh chủ yếu là WSSV, YHV đã làm giảm hiệu quả kinh tế của việc nuôi
tôm Điều đó cũng xảy ra tương tự ở Ecuador (Brock et al., 1997).
Trang 21Hiện đã có nhiều bằng chứng về tác động gây tổn hại môi trường và xãhội của ngành nuôi tôm công nghiệp, bao gồm cả việc tiêu hủy những vùngđất ngập nước có giá trị lớn, rừng ngập mặn và hủy hoại môi trường hoang dã.Mâu thuẫn giữa các cộng đồng nghèo ven biển và trại nuôi tôm cũng đã đượcghi nhận, đặc biệt liên quan đến tranh chấp về quyền sở hữu và các trang trạitrong việc khai thác các nguồn tài nguyên ven biển Vì thế, tính bền vững củamôi trường và kinh tế cũng như công bằng xã hội là vấn đề thế giới quan tâmđối với các trang trại nuôi tôm công nghiệp (Parr và Grey, 2006) Theo Yang
Yi (2007) để sản xuất 1 tấn tôm thịt đã thải ra môi trường 29 tấn chất thải,
102 kg Nitơ (N) và 46 kg photpho (P) Theo Primavera (1994) khi cho tôm ăn
cứ 100% thức ăn thì có 15% lượng thức ăn hao hụt do ăn không hết và thấtthoát, còn 85% tôm ăn vào cơ thể Trong 85% thì tôm sử dụng 48% cho cungcấp năng lượng, tạo vỏ và điều hòa các hoạt động cơ thể, chỉ có 17% chuyểnhóa thành thịt tôm và 20% thành phân thải ra ngoài Như vậy, có tới khoảng35% là thức ăn thừa, thất thoát và phân tôm đi ra môi trường ao nuôi NguyễnHữu Thọ (2010) chứng minh rằng, N và P là nguyên tố chủ yếu trong chất thảibắt nguồn từ thức ăn tôm Thức ăn thừa chiếm tỷ lệ tới 30- 40% được ước tính
có khoảng 63 - 78% N và 76 - 80% P bị thất thoát vào môi trường Tổng khốilượng N và P thải ra trong 1 ha trại nuôi tôm bán thâm canh là 2 tấn, tươngứng khoảng 113 kg N và 43 kg P, trong hệ thống nuôi thâm canh thì khốilượng này tăng gấp từ 7 - 31 lần Đồng thời, nghiên cứu về chất thải trong
hệ thống ao nuôi tôm hoặc nuôi trên cát với mật độ thả 40 con/m2 cho thấy,mỗi ha nuôi tôm trên cát thải ra gần 8 tấn chất thải rắn như vỏ tôm, thức ănthừa, các loại hóa chất và mầm bệnh Hơn nữa, lượng N hòa tan gồmammonia, nitrite, nitrate trong nước ao nuôi bán thâm canh và thâm canhkhoảng 3 - 3,5 kg N và P khoảng 2 - 3 kg trong 1 ha ao nuôi Như vậy, thức ănthừa đã lắng đọng dưới đáy ao cùng với chất thải rắn tạo vùng yếm khí gây racác biến đổi về chất lượng đất Một ví dụ chứng minh tác hại trên, theo LêAnh Tuấn (2007) hoạt động NTTS ĐBSCL đã thải ra môi trường nước gần 3triệu tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần như chưa được xử lý ra hệ thốngsông rạch làm chất lượng nước nhiều vùng suy giảm nặng nề Ngoài ra, ngườinuôi tôm còn phải đối mặt với những vấn đề khác như nguồn tôm bố mẹ ngàycàng giảm chất lượng, đất bị thoái hóa Người nuôi không ngừng sử dụng hóachất để cải thiện các ảnh hưởng trên, điều đó làm cho sản phẩm thu đượcthường xuyên nhiễm tạp chất và môi trường nuôi ngày càng suy thoái Các ràocản thương mại và kỹ thuật của các nhà nhập khẩu cũng là một trở ngạy
Vấn đề cấp giấy chứng nhận cho NTTS, cho tôm nuôi nổi lên như xuhướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu Việc cấp giấy chứng nhận
Trang 22NTTS mới được thực hiện do những năm gần đây hoạt động NTTS vấp phảinhiều vấn đề mang tính toàn cầu Những vấn đề này chủ yếu liên quan đến antoàn thực phẩm, an ninh sinh học, sự bền vững về môi trường và trách nhiệmvới xã hội trong mối quan hệ với hoạt động NTTS (INFOFISH, 2005) Ý tưởngchứng nhận NTTS bắt nguồn từ năm 1976 tại “Hội nghị về kỹ thuật nuôi trồngthủy sản” tại Tokyo do FAO và Nhật Bản tổ chức và bắt đầu xây dựng hoànthiện từ “Hội nghị nuôi trồng thủy sản trong thiên niên kỷ thứ 3” tại Thái Lannăm 2000 Bộ tiêu chuẩn thủy sản có trách nhiệm (Code of conduct) của FAOgiúp các quốc gia xây dựng thực hành NTTS tốt (GAP) (Lê Thanh Lựu, 2006).Trên cơ sở đó, nhiều quốc gia và tổ chức phi chính phủ tiến hành xây dựng các
bộ tiêu chuẩn chứng nhận cho NTTS Hiện nay, có nhiều tiêu chuẩn cấp giấychứng nhận cho nuôi trồng thủy đã được thực hiện hay sắp ra đời Có thể kểđến các tiêu chuẩn quốc gia như Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm củaThái Lan (CoC), quy trình “Thực hành NTTS tốt (GAP) và chương trình
"Ðóng dấu chất lượng" của Bangladesh (INFOFISH, 2005) Các giấy chứngnhận của các tổ chức phi chính phủ như: chứng nhận NTTS sinh thái củaNaturland (Ðức), Bio Suisse (Thụy Sỹ), AB (Pháp)… đã cấp giấy chứng nhậncho Việt Nam, Indonesia, Bangladesh… Liên minh NTTS Toàn cầu (GAA)cũng đang đẩy mạnh quy trình cấp giấy phép quy trình "Thực hành nuôi trồngthủy sản tốt nhất" (BAP) do ACC thực hiện (INFOFISH, 2005) Tổ chức GlobalGAP cũng nỗ lực cấp chứng nhận Global GAP cho lĩnh vực nông nghiệp trong
đó có NTTS với tiêu chí hướng đến là sản xuất nông nghiệp tốt và bền vững(www.globalgap.org )… Sắp tới đây, năm 2011, ASC được kỳ vọng là tiêuchuẩn chung cho NTTS trên thế giới (WWF, 2010)
2.2 Tổng quan tình hình nuôi thủy sản Việt Nam và ĐBSCL
Năm 1981, thủy sản là ngành kinh tế đầu tiên cả nước được Chính phủViệt Nam cho phép vận hành theo cơ chế thị trường trong sản xuất kinhdoanh Đặc biệt từ năm 1986, khi bước vào thời kỳ đổi mới, thị trường xuấtkhẩu thủy sản mở rộng và với tốc độ nhanh tăng trưởng, tạo tiền đề chochuyển đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp khai thác đánh bắt và NTTS(ARTEX, 2010)
Việt Nam là nước có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, với bờ biển dài hơn3.200 km, có vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2 và cũng
có diện tích mặt nước nội địa rộng hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi,đầm phá dày đặc Những yếu tố này, Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triểnngành công nghiệp thủy sản và từ lâu đã nổi tiếng là một quốc gia sản xuất vàxuất khẩu các sản phẩm thủy sản hàng đầu thế giới, cùng với Thái Lan,Indonesia và Philippines (EPS, 2007; ABS, 2010) Sản phẩm thủy sản của
Trang 23Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu hàng
tỷ USD mỗi năm, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những nướccung ứng thuỷ sản lớn cho thế giới (Nghi Phương, 2010)
Theo Bộ NN&PTNT (2009), thủy sản đã trở thành ngành kinh tế mũinhọn trong phát triển sản xuất nông nghiệp, giá trị xuất khẩu và sản lượng liêntục tăng trong nhiều năm qua Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đạt mức 4,2 tỉUSD (Tổng Cục Hải Quan, 2010a), tăng gấp 6 lần so với năm 1986 Theo dựkiến, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 4,5 tỉ USD (GiaTuệ, 2010; Y Nhung, 2010) Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong lĩnh vựcquan trọng của nền kinh tế Việt Nam Nếu như năm 1996 ngành thủy sản chỉđóng góp 0,2% GDP thì đến năm 2005 đã tăng lên 5,78% GDP (Nguyen VanTrong, 2006) Năm 2009, sản xuất và xuất khẩu thủy sản chiếm 7,65% giá trịGDP (ARTEX, 2010)
Các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt trên thị trường ở 155 nước
và vùng lãnh thổ (ABS, 2010) Trong đó, bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật,
EU và Trung Quốc chiếm 3/4 tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản (HồTrung Thành, 2005) Năm 2009, xuất khẩu vào ba thị trường Mỹ, Nhật và EUchiếm hơn 60,6% kim ngạch (ABS, 2010) Thị trường nội địa với hơn 85,7triệu dân (năm 2009) cũng được các doanh nghiệp khai thác nhiều hơn trước.Sức mua trên thị trường nội địa lớn và tiếp tục tăng (Hồ Trung Thành, 2005;Tổng Cục Thống Kê, 2009) Uy tín và vị thế sản phẩm thủy sản trên thị trườngquốc tế của Việt Nam ngày càng tăng thêm Việt Nam nhanh chóng được đưavào nhóm 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới với sự nổ lực pháttriển trong 20 năm (Bộ Thủy Sản và Ngân hàng Thế giới, 2006)
Nuôi trồng thuỷ sản được khẳng định là lĩnh vực sản xuất quan trọng,tạo sản phẩm hàng hoá tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (Cục Nuôi trồngthuỷ sản, 2009) Trong hơn 10 năm qua, NTTS có tốc độ phát triển nhanh, gópphần quan trọng trong việc nâng cao sản lượng, giá trị xuất khẩu và tạo nhiềucông ăn việc làm cho người dân, đặc biệt là vùng nông thôn ven biển (NguyễnThanh Hải, 2010) Từ năm 2000 đến nay diện tích NTTS của Việt Nam khôngngừng gia tăng Năm 2000, diện tích nuôi là 608.919 ha đến năm 2005 tănglên 959.900 ha (tăng 157,64% so với năm 2000) Sản lượng NTTS tăng nhanh,đạt 1.437.400 tấn vào năm 2005 chiếm 41,9% tổng sản lượng thủy sản và
tăng 243,79% so với năm 2000 (Lê Xuân Sinh và ctv., 2008b) Theo Tổng
Cục Thống Kê (2008) năm 2007 diện tích NTTS Việt Nam đã vượt qua mốc 1triệu ha (1.018.800 ha) và cũng là năm đầu tiên sản lượng NTTS đạt hơn 2triệu tấn (2.123.300 tấn) Điều này cho thấy mức độ thâm canh cũng như
Trang 24Việt Nam đặt mục tiêu gia tăng sản lượng 3,8%/năm trong giai đoạn
2006-2010 Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo kế hoạch tăng với tốc độ bình quân10,63%/năm và dự báo đạt trên 4 tỉ USD vào năm 2010 (EPS, 2007)
Về sản lượng NTTS phân theo khu vực, ĐBSCL liên tục ở vị trí caonhất Năm 2008 chiếm 74,57% cả nước, tiếp theo là Đồng Bằng Sông Hồng,Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và các vùng khác (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Sản lượng NTTS phân theo khu vực năm 2000-2008
(ĐVT: 1.000 tấn)
Bảng 2.2: Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2008 và 2009
(nghìn tấn)
Trị giá (triệu USD)
Số lượng (nghìn tấn)
Trị giá (triệu USD)
Số lượng (nghìn tấn)
Trị giá (triệu USD)
Trang 25chung, xuất khẩu của 4 nhóm hàng hải sản này chiếm 97% tổng kim ngạch hảisản cả nước, trong đó xuất khẩu tôm chiếm cao nhất 37,4% (Tổng cục HảiQuan, 2010b), trong khi cá tra và basa chiếm 32% (ABS, 2010).
Nhìn chung, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tronghơn 5 năm trở lại đây tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên,cũng có những biến động nhất định, như khủng hoảng kinh tế cuối năm 2008,tác động lớn đến ngành xuất khẩu thủy sản (Ngô Thị Như Diễm, 2009) Saunăm 2008, sang năm 2009 và số liệu 6 tháng 2010 cho thấy xuất khẩu thủy sảnViệt Nam đã trở lại quy luật phát triển của nó Điểm đặc biệt là giá trị xuấtkhẩu thủy sản Việt Nam đạt nhiều nhất vào tháng 08 và tháng 10 hàng năm vàthấp nhất vào tháng 2 (Hình 2.3) Dự báo mức tăng trưởng xuất khẩu thủy sảnnăm 2010 là 10%, cao hơn kế hoạch tăng trưởng xuất khẩu cả nước chỉ là 6%(Huỳnh Văn Phát và Lê Anh Thi, 2009)
Hình 2.3: Giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam từ 2005-6/2010
(Nguồn: Tổng Cục Hải Quan, 2010 trích dẫn bởi Nghi Phương, 2010)
Mặc dù, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thủy sản lớn trong nhiềunăm nhưng các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chủ lực vẫn còn khá đơn điệu,chủ yếu là cá, tôm, nhuyễn thể, các loại thuỷ sản đông lạnh và thuỷ sản khô.Vài năm gần đây cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của nước ta đã được bổsung thêm các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một số thủy đặc sảnkhác nhưng nhìn chung vẫn còn chưa nhiều (Nghi Phương, 2010) Sau đây làmột số mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam (Hình 2.4)
Tháng
Trang 26Hình 2.4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam từ 2005-2009
(Nguồn: Tổng Cục Hải Quan trích dẫn bởi Nghi Phương, 2010)
Theo Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối(2010) năm 2009, Việt Nam có 568 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản có quy môcông nghiệp và 432 cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm Trong đó,
số doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Châu Âu là 301, Hàn Quốc là 438;Trung Quốc là 440; Nga là 39; Nhật Bản là 437 và Brazin là 60 doanh nghiệp.Sản lượng chế biến các sản phẩm thuỷ sản đạt khoảng 1.500.000 tấn, trong đósản lượng thuỷ sản xuất khẩu 1.100.000 tấn Số liệu này năm 2000 cho thấy,chỉ có 91 doanh nghiệp thuộc ngành thủy sản trên cả nước áp dụng HACCP,trong đó có 51 doanh nghiệp đã được công nhận đạt, 17 doanh nghiệp đangxây dựng tiêu chuẩn và 23 doanh nghiệp khác đang sắp được công nhận (NhânDân, 2001) Theo Trần Tiến Khai (2006) Việt Nam có khoảng 175 nhà máyđạt tiêu chuẩn HACCP và khoảng 100 nhà máy đã được công nhận đủ tiêuchuẩn xuất hàng đi các nước Châu Âu
Trong các đối tượng nuôi, tôm sú luôn được xem là đối tượng nuôi chủlực của Việt Nam, do giá trị xuất khẩu cao Nuôi tôm sú ở Việt Nam đã pháttriển mạnh trong những năm gần đây và trở thành ngành kinh tế quan trọng,tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu người dân ven biển và tạonguồn thu ngoại tệ đáng kể (Trần Văn Nhường, 2005) Sự bùng nổ của nghềnuôi tôm sú được đánh dấu vào năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghịquyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa, làm muối năngsuất thấp, đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi tôm đã tăng
từ 250.000 ha năm 2000 lên đến 478.000 ha năm 2001 và 540.000 ha năm
2003 Cho đến nay, diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc
độ đã có phần giảm lại Phần lớn diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ởĐBSCL, rải rác dọc các cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở ĐồngBằng Sông Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc (Trần Văn Nhường và Bùi Thị
Trang 27Thu Hà, 2005) Theo báo cáo của Bộ Thủy Sản (2007), năm 2006 diện tíchnuôi tôm nước lợ (chủ yếu tôm sú) khoảng 585.000 ha, sản lượng đạt gần355.000 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 1,4 tỷ USD chiếm 44,3% tổng giá trị kimngạch xuất khẩu của thủy sản Việt Nam (Tổng Cục Hải Quan, 2010a) Đếnnăm 2009, diện tích nuôi tôm sú ước tính đạt 549.100 ha, giảm 10,7% so vớinăm 2008 (Phạm Hằng, 2010), xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 211.000 tấnvới trị giá 1,69 tỷ USD chiếm 39,7% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản ViệtNam (Tổng Cục Hải Quan, 2010a) Nguyên nhân chủ yếu do sức mua củanhững thị trường tiêu thụ tôm sú nhiều là Mỹ và Nhật Bản giảm mạnh, đồngthời một số diện tích nuôi tôm sú đã chuyển đổi sang nuôi tôm thẻ chân trắngcho năng suất và thu nhập cao hơn Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng năm
2009 khoảng 13.5000 ha, tăng 75,5% so với năm 2008; sản lượng đạt 63.000tấn, gấp trên 2 lần năm 2008 (Phạm Hằng, 2010)
Diện tích và sản lượng tôm sú của Việt Nam chủ yếu là từ khu vựcĐBSCL ĐBSCL có 8 tỉnh ven biển với diện tích đất nhiễm mặn 744.500 ha(chiếm tỷ lệ 16,7% tổng diện tích), phân bố dọc vành đai ven biển Đông vàTây, chịu ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn từ biển theo hệ thống sông, rạch.Lợi thế lớn nhất vùng đất mặn ven biển ĐBSCL là NTTS, đặc biệt là nuôi tôm
sú (Viện Quy hoạch và Thống kê Nông nghiệp, 2006) Thống kê từ các tỉnh
ĐBSCL của Lê Xuân Sinh và ctv.(2008b), Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy
sản (2009), Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn các tỉnh (2010) cho thấy,
từ năm 2007-2010 diện tích nuôi tôm vùng ĐBSCL tăng 102.143 ha, từ462.337 ha năm 2007 lên 564.480 ha năm 2010 Thứ tự diện tích của các tỉnhtrình bày trong Bảng 2.3, trong đó diện tích lớn nhất là Cà Mau và Tiền Giang
là tỉnh có diện tích nuôi tôm thấp nhất Đặc biệt, tỉnh Hậu Giang là một tỉnhkhông giáp biển nhưng có diện tích nuôi tôm năm 2008 là 45 ha (Bảng 2.3)
Bảng 2.3: Diện tích nuôi tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2007-2010
(ha)
2008 (ha)
2009 (ha)
(Nguồn: Lê Xuân Sinh và ctv., 2008b; Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn các tỉnh,
2010; Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009).
Trang 28Sản lượng nuôi tôm sú tại các tỉnh ĐBSCL tăng đáng kể Năm 2001,chỉ có 99.675 tấn đến năm 2008 đã tăng lên 293.829 tấn Sản lượng tôm súnăm 2009 giảm hơn năm 2008 khoảng 15.590 tấn, giảm 5% Trong 9 tỉnhĐBSCL có nuôi tôm sú, thì Cà Mau có sản lượng hàng năm nhiều nhất, tiếpđến là Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Long
Bến Tre
Trà Vinh
Sóc
Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau
Kiên Giang
Hậu Giang
Tổng cộng
(Nguồn: Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009)
Trong nuôi tôm sú ở ĐBSCL, tỉnh có diện tích nuôi lớn, đạt sản lượngnhiều nhưng về năng suất thì chưa hẳn là cao hơn Năng suất tôm nuôi(tấn/ha/năm) của các tỉnh ĐBSCL từ năm 2001-2008 minh họa qua Hình 2.5
Long An
T iền Giang Bến T re
Sóc T răng
Cà Mau Kiên Giang
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Hình 2.5: Năng suất tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2001-2008
(Nguồn: Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009)
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế vẫn còn không ít các tồn
tại, yếu kém và phát sinh Theo Đoàn Văn Bảy và ctv (2009) ngành nuôi tôm
Việt Nam có 7 tồn tại, yếu kém như: (1) Nuôi tôm nước lợ phát triển thiếu bềnvững và tỷ lệ rủi ro dẫn đến thất bại còn khá cao; (2) Nuôi tôm nước lợ đã vàđang là đối tượng chính gây ô nhiễm môi trường đất và nước; (3) Kết quả đạt
Tấn/ha/năm
Trang 29được về năng suất – sản lượng, chất lượng và giá trị sản lượng – kim ngạchxuất khẩu tôm nước lợ còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế; (4)Năng suất tôm nước lợ trong cùng một phương thức nuôi (thâm canh, bánthâm canh, quảng canh cải tiến) ở cùng một vùng sinh thái còn có khoảng cáchkhá lớn giữa các hộ, trang trại và các địa phương; (5) Những giải pháp nhằmgia tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả nuôi tôm nước lợ trong thực tế cònkém hiệu lực; (6) Việc gắn kết giữa 4 khâu: sản xuất – thu mua – chế biến –tiêu thụ tôm nước lợ chưa thật chặt chẽ, đã làm giảm tính cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường, nhất là sản phẩm tôm xuất khẩu và (7) Vấn đề đảm bảotiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm tôm nước lợ vẫncòn nhiều bất cập.
Vấn đề này cũng được Bộ Thủy Sản và Ngân hàng Thế giới (2006)nhìn nhận Đó là: chính sách phát triển không đồng bộ, có nhiều nguy cơ gâythiệt hại Bệnh tôm luôn tồn tại ở một số vùng do chất lượng con giống xấucùng với sự tự gây ô nhiễm Hệ thống cấp và thoát nước ít được chú ý xâydựng Các giải pháp bảo vệ môi trường ít được đầu tư do thiếu kinh phí.Nguồn lực con người, trình độ kỹ thuật của cán bộ và người nuôi không đượcnâng lên, yếu kém về năng lực quản lý để phát triển bền vững và trình độ vănhóa thấp của người dân Thêm vào đó, phát triển của ngành cho đến nay vẫnnặng về đạt thành tích số lượng hơn là mục tiêu sản xuất có hiệu quả và mangtính bền vững Hiệu quả sản xuất sẽ được cải thiện nếu nghề nuôi tôm ViệtNam có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế và những đầu tư cho môi trường
sẽ là một giải pháp giảm thiểu các rủi ro cho sản xuất và tạo uy tín thương hiệucho sản phẩm
Mặc dù nguồn cung cấp thủy sản của Việt Nam khá dồi dào nhưngthiếu sự ổn định và chất lượng không đồng đều của nguồn nguyên liệu, thànhphẩm là thách thức của ngành thủy sản Việt Nam Việc phát hiện tạp chất, dưlượng chất kháng sinh trong thời gian gần đây rõ ràng là có ảnh hưởng tiêucực đến uy tín của ngành (EPS, 2007) Phần lớn nguồn nguyên liệu cung cấpđược đánh bắt và nuôi trồng nhỏ lẻ nên rất khó quản lý (Huỳnh Văn Phát và
Lê Anh Thi, 2009) Đặc biệt từ ngày 01/01/2010 quy định về quản lý hoạtđộng đánh cá bất hợp pháp (IUU) của EU có hiệu lực Tính đến tháng09/2009, cả nước có khoảng 131.580 tàu cá (Cục Khai thác và Bảo vệ nguồnlợi thủy sản, 2009), tuy nhiên, đến 09/12/2009 hầu hết các ngư dân khẳng địnhmới biết thông tin và chưa có kế hoạch gì để thực hiện (Hải Vân và NguyênHương, 2009) Tình trạng thiếu hụt nguồn nguyên liệu cũng là khó khăn lớnđối với ngành thủy sản Cả nước hiện có khoảng 700 nhà máy chế biến thủy
Trang 30Phát và Lê Anh Thi, 2009; ABS, 2010) Nhiều nhà máy chế biến chỉ hoạt độngvới 40 – 50% công suất, thậm chí có nhà máy chỉ hoạt động với 20% côngsuất (Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối, 2010).
Thủy sản Việt Nam sẽ bị thu hẹp thị phần trong thị trường châu Á vàchịu sự cạnh tranh mạnh mẻ từ Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ecuador (Huỳnh Văn Phát và Lê Anh Thi, 2009; ABS, 2010) Ví dụ: mặt hàng tômđông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang 2 thị trường chủ lực là Mỹ và NhậtBản Đối với thị trường Nhật, mặc dù Việt Nam vẫn là nhà cung cấp số
1, nhưng hiện nay đang chịu sự cạnh tranh lớn từ Thái Lan và Indonesia
- hai nước này trong năm nay đều tăng sản lượng xuất khẩu sang Nhậttrong khi Việt Nam lại giảm Đối với thị trường Mỹ, nếu năm 2008, ViệtNam đứng thứ 3, chỉ sau Thái Lan và Indonesia thì đến hết tháng9/2009 Việt Nam tụt xuống vị trí số 5 sau Ecuador và Trung Quốc.Ngoài ra, các nhà nhập khẩu Mỹ đang tìm nhà cung cấp từ các nước gần kềnhằm giảm chi phí vận chuyển (ABS, 2010) Các biện pháp hạn chế nhập khẩu(bao gồm thuế quan và phi thuế quan) sẽ tiếp tục là rào cản đối với nhiềudoanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam (EPS, 2007)
Công nghệ nuôi tôm ở Việt Nam trong 20 năm qua đã đạt được nhữngtiến bộ đáng kể Hệ thống nuôi tôm quảng canh, dựa vào con giống tự nhiêncủa thập kỷ 70 được thay thế bằng nuôi quảng canh cải tiến, có bổ sung giốngvào cuối thập kỷ 80 Sang thập kỷ 90, phong trào nuôi tôm sú phát triển mạnh,
ở Việt Nam đã tồn tại cả 3 hình thức nuôi là quảng canh cải tiến, bán thâmcanh và thâm canh Tuy nhiên, hình thức nuôi tôm chủ yếu vẫn là quảng canhcải tiến Năng suất tôm nuôi bình quân rất thấp, đạt khoảng 360 kg/ha năm
2000 và 340 kg/ha năm 2001 Diện tích nuôi tôm thâm canh ở Việt Nam đangtăng trưởng mạnh mẽ nhờ sự khuyến khích của Chính phủ và sự tham gia củacác nhà đầu tư (Trần Văn Nhường và Bùi Thị Thu Hà, 2005)
Theo ước tính năm 1996 của ABD tỷ lệ nuôi quảng canh, bán thâmcanh và thâm canh ở Việt Nam trong năm 1995 là 80:20 (Trần Văn Nhường vàBùi Thị Thu Hà, 2005) Năm 2008, tỉ lệ này ở ĐBSCL là 92,8:7,2 Trái ngượcvới tổng diện tích nuôi, tỷ lệ nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canhtỉnh Cà Mau có thấp nhất ĐBSCL 99,5:0,5, nhưng tỉnh Tiền Giang thì caonhất ĐBSCL với tỷ lệ 44,4:54,6 Cụ thể là phương thức nuôi chủ yếu quảngcanh cải tiến chiếm 54,79% tỷ trọng đối tượng và chiếm 51,89% so với tổngdiện tích NTTS của cả vùng ĐBSCL, nuôi tôm sú-lúa luân canh chiếm28,84% tỷ trọng của nuôi tôm và 27,32% tổng diện tích NTTS của vùng Diệntích nuôi bán thâm canh và thâm canh chỉ chiếm 6,77% trong tổng diện tích
Trang 31nuôi tôm nước lợ (trong đó diện tích nuôi thâm canh chiếm thấp hơn 4%)(Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009).
Các hệ thống nuôi tôm sinh thái và nuôi theo mô hình “thực hành nuôitốt” (GAP) đã xuất hiện ở Việt Nam, nhưng mới ở quy mô nhỏ mang tính chấtthử nghiệm (Trần Văn Nhường và Bùi Thị Thu Hà, 2005) Theo Sở Thủy Sản
Cà Mau (2002), Lê Phan (2002) mô hình nuôi tôm sinh thái xuất hiện đầu tiên
ở Cà Mau năm 2001 Đến năm 2003, Việt Nam áp dụng thử nghiệm GAP vàonuôi tôm sú nhằm nâng cao chất lượng tôm của Việt Nam cũng nhằm tăngcường tính bền vững về môi trường và xã hội (Vũ Dũng Tiến và DonGriffiths, 2009) Năm 2004, mô hình GAP đã được ghi nhận tại Thanh Hóa
trong một nghiên cứu về bệnh tôm sú của Nguyễn Viết Khuê và ctv (2005).
Các mô hình nuôi an toàn, sạch bệnh và chất lượng được kiểm soát bằng cách
áp dụng GMP (Good Manufacturing Practices), và HACCP (Hazard Analysisand Critical Control Point) cũng đã xuất hiện (EPS, 2007) Bộ Thủy Sản cũng
đã thử nghiệm nuôi sinh thái, CoC, BAP vào các chương trình phát triểnNTTS bền vững đảm bảo an toàn thực phẩm và truy suất được nguồn gốc sảnphẩm (Nguyen Van Trong, 2006)
Trong vài năm gần đây, xu hướng nuôi thủy sản bền vững, nuôi tômđược chứng nhận thể hiện rõ hơn, khi diện tích, số trại tham gia nuôi tôm liêntục được mở rộng, sản lượng tôm không ngừng tăng lên Mặc khác, trongnhiều năm qua, giá tôm đã có chiều hướng không tăng mà còn giảm nhẹ Đặcbiệt, hiện nay, người tiêu dùng ở các nước phát triển ngày càng quan tâmnhiều hơn đến chất lượng sản phẩm Nhiều rào cản kỹ thuật đã được dựng lên,như quy định về dư lượng kháng sinh, hoá chất trong sản phẩm (Trần VănNhường và Bùi Thị Thu Hà, 2005; Hội Nghề Cá Việt Nam, 2007) Các hệthống nuôi tôm sinh thái, nuôi theo Global GAP và nuôi tôm theo các tiêuchuẩn quốc tế khác (như BAP, Bio Suisse ) cũng đã xuất hiện và chứng nhậnthành công cho một số công ty nuôi tôm và nhà máy ở Việt Nam (VASEP,2004; ARTEX, 2010) Như vậy, từ nuôi tôm ở dạng quảng canh, đến nay,người nuôi tôm ở hầu hết các tỉnh ven biển đã biết nuôi với các hình thức khácnhư quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh và nuôi theo quy trìnhmới như GAP, CoC, BMP… để nâng cao năng suất và bảo đảm vệ sinh antoàn thực phẩm (Bộ NN&PTNT, 2008) Chính phủ cũng đang khuyến khíchđẩy mạnh các chương trình nghiên cứu, khuyến ngư để từng bước áp dụng
GAP (Trần Văn Nhường và ctv., 2004).
Trang 322.3 Các xu hướng nuôi thủy sản hiện nay
Việc tôm ở các vùng ven biển của các nước nhiệt đới để xuất khẩu sang
Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản… đang gia tăng liên tục thì mối quan tâm đến sựbền vững và thiệt hại hệ sinh thái địa phương và sinh kế người dân cũng tănglên Các nhà bán lẻ, nhập khẩu ở Mỹ, EU… thông qua các tiêu chuẩn chứngnhận như một cách đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng là các nhà nuôi tômnhiệt đới phải thực hiện theo tiêu chuẩn, phải có trách với người tiêu dùng vàphát triển bền vững (Parr và Grey, 2006) Nếu như trước đây doanh nghiệpchế biết thủy sản xuất khẩu cần tiêu chuẩn HACCP, ISO 9000, tiêu chuẩn toàncầu của hiệp Hội bán lẻ Anh (BRC) dành cho thực phẩm; tiêu chuẩn Thựcphẩm quốc tế (IFS), ISO 22.000… với thủy sản khai thác phải chứng minhnguồn gốc theo luật IUU thì hiện nay thủy sản nuôi trồng phải áp dụng tiêuchuẩn quốc tế Global GAP, BAP, Naturland … đang trở thành điều kiện cấpthiết (INFOFISH, 2005; Hải Lý, 2005; Văn Minh, 2010) Nuôi trồng thủy sảntheo các tiêu chuẩn và chứng nhận sản phẩm là cách thức hướng đến phát triểnbền vững Đó là xu hướng này chung của NTTS thế giới hiện nay
2.3.1 Nuôi trồng thủy sản bền vững
Môi trường ngày càng bị suy thoái, gây tổn thương cho con người đangsống ở hiện tại và các thế hệ tương lai, điều này buộc chúng ta phải xem xét lạithước đo của sự phát triển Cần phải tính đến lợi ích của những cộng đồngkhông được hưởng lợi hoặc hưởng lợi quá ít từ sự tăng trưởng, đến lợi ích củathế hệ mai sau, đến chi phí cần phải sử dụng để đền bù thiệt hại về môi trườnghoặc để cải thiện môi trường Việc tính toán chi phí môi trường gộp vào chi
phí phát triển đã dẫn đến một khái niệm mới, đó là phát triển bền vững
(Nguyễn Đình Hòe, 2007)
Khái niệm về phát triển bền vững được Uỷ ban Môi trường và phát
triển thế giới nêu ra năm 1987 như sau: “Phát triển bền vững (có sử dụng tài nguyên) để đáp ứng nhu cầu cho thế hệ hiện tại (của mình) nhưng không nên
làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ mai sau” (Lê Tuyết
Minh, 2006; Nguyễn Đình Hòe, 2007) Chúng ta có thể hiểu: Phát triển bềnvững là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếptục phát triển trong tương lai (Hoài Thúy, 2009) Từ đó đến nay, quan niệmtrên đã được các quốc gia và tổ chức môi trường thế giới chọn làm tiêu chí chohoạt động bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội đất nước Phát triểnkinh tế xã hội là con đường tất yếu đi lên của mỗi nước, nhất là các nước đangphát triển như nước ta nhưng cần phải phát triển theo mô hình bền vững, đó là
Trang 33phát triển mạnh mẽ, liên tục, của nền kinh tế đồng thời với việc lành mạnh hoá
xã hội và bảo vệ môi trường (Lê Tuyết Minh, 2006; Vũ Quốc Tuấn, 2006)
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu, động lực vươn tới của nhiềuquốc gia trên thế giới Đối với nuôi trồng thuỷ sản thì phát triển bền vững hếtsức quan trọng bởi vì nuôi trồng thuỷ sản đưa lại lợi nhuận rất lớn nhưng sựrủi ro cũng lại rất cao và môi trường rất dễ bị ô nhiễm Nuôi trồng thuỷ sản dophải sử dụng lượng hoá chất khá lớn, chất thải và nhất là sản phẩm hỏng, phếphụ phẩm trong chế biến rất dễ gây ô nhiễm môi trường… (Hoài Thúy, 2009).Tuy chưa có một bộ chỉ số cụ thể về phát triển bền vững trong nuôi trồng thuỷsản nhưng khái niệm này đã được sử dụng khá phổ biến trong các chươngtrình, dự án phát triển, trong các mục tiêu chính sách và chiến lược phát triểnnuôi trồng thuỷ sản của nhiều quốc gia trên thế giới Phát triển NTTS bềnvững cũng sẽ có 3 phương diện là kinh tế, xã hội và môi trường làm nền tảng(Trần Văn Nhường và Bùi Thị Thu Hà, 2005)
Việc thông qua quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm (CoC) năm
1995 của FAO phản ảnh mối quan tâm của các quốc gia đối với phát triển thuỷsản bền vững (FAO, 1995)
Theo NACA (2010), dự án “Tăng cường năng lực của người nuôi trồngthuỷ sản nhỏ tại các nước ASEAN để cạnh tranh và phát triển bền vững” thựchiện tại năm nước Campuchia, Indonesia, Philippine, Thái Lan và Việt Namtrên các đối tượng là cá lóc, cá mú, rong biển, cá rô phi và tôm sú là nhằm cảithiện tính cạnh tranh cho các nông hộ nuôi thủy sản nhỏ tham gia thị trườngnội địa, khu vực và toàn cầu, cải thiện hệ thống trại nuôi theo hướng phát triểnbền vững, thực hành nuôi thủy sản có trách nhiệm và nâng cao lợi nhuận
Vấn đề liên kết, hợp tác của các nông hộ riêng lẻ thành nhóm như tổhợp tác, hợp tác xã để hạn chế rủi ro, dịch bệnh … được xem như là mộtkhuyến cáo quan trọng quyết định nhiều đến sự bền vững trong sản xuất củangười dân NTTS các nước (NACA, 2010) Tại Ấn Độ, Kumaran (2009) chorằng, tổ chức người nuôi tôm thành nhóm – đó là chìa khóa để phát triển bềnvững Kumaran (2009) kết luận rằng: khi thành một lập nhóm nuôi tôm thì có
9 nhân tố quyết định thành công là có sự tham gia đầy đủ các thành viên, phânchia lợi nhuận khi thành công, thống nhất về mặt kỹ thuật, gắn kết cộng đồngtrách nhiệm, hành động theo nhóm, phân công trách nhiệm rõ ràng, thực hiệnBMP, lãnh đạo năng động và bình đẳng trong mọi hoạt động NACA vàMPEDA (2003) cũng khuyến cáo nên thành lập nhóm nông dân nuôi tôm dướihình thức như câu lạc bộ hoặc nhóm sản xuất … để chia sẽ rủi ro, cùng quyđịnh ngày thả giống, chia sẽ chi phí vận chuyển, chia sẽ các kiến thức quản lý
Trang 34môi trường nước, các bộ đo môi trường, cùng nhau mua sĩ hóa chất, thức ăn vàbán sản phẩm…
Tại Malaysia, các vấn đề sản xuất bền vững, cải tiến công nghệ, sảnxuất thủy sản thân thiện môi trường, các quy định an toàn thực phẩm vẫn cònthách thức đối với ngành công nghiệp thủy sản (Othman, 2008) Tại Indonesia,năm 2005, chính Phủ công bố dự án phát triển NTTS bền vững đạt an toàn vệsinh thực phẩm tại năm tỉnh (Government of Indonesia, 2005) Trên cá Tra
(Pangasianodon hypophthalmus), Lakra và Singh (2010) đã tiến hành phân
tích rủi ro và tính bền vững của nuôi cá Tra ở Ấn Độ đảm bảo một cách tiếpcận rất thận trọng và đúng quy định Đó là đề xuất để ngăn cản và ngăn ngừaviệc nuôi cá tra phong trào, có thể là một mối đe dọa đến đa dạng sinh họcthủy sản
Theo Blasco (2002) những kiến thức liên quan đến mối quan hệ giữacác hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi tôm vẫn còn khá ít Việc nghiên cứuthuỷ sinh học, vật lý, hóa học và các thông số kinh tế xã hội, thủy văn, khoahọc đất, sinh lý thực vật ngập nước, chất lượng nước, năng suất học của phiêusinh thực vật và cây ngập mặn là rất cần thiết trong hoạch định phát triển bềnvững của cả rừng ngập mặn và tôm nuôi Tác động tiêu cực lên rừng ngập mặncủa việc nuôi tôm còn là vấn đề dân trí của nông dân, chọn mô hình nuôi,kiểm soát dịch bệnh và vấn đề sinh kế của người dân Đồng quan điểm này,Nguyen Xuan Hoa (2002) cho rằng, sự phát triển nhanh chóng nghề nuôi tôm(ở ĐBSCL) đã dẫn đến phá hủy rừng ngập mặn, suy giảm hệ sinh thái … vàtăng nguy cơ dịch bệnh trên tôm Hậu quả tiếp theo sau khi nuôi tôm thất bại
là tiếp tục phá rừng ngập mặn và nghèo đói
Tại Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh nuôi tôm ở ĐBSCL theo nhiềuchuyên gia còn nhiều thách thức để tiến tới phát triển bền vững Qua kết quảcủa một nghiên cứu về ngành sản xuất nuôi tôm được thực hiện ở tỉnh BạcLiêu trong giai đoạn 2005-2006, có nhiều hạn chế được quan sát thấy Từ cáchạn chế cụ thể trong phạm vi tỉnh Bạc Liêu, do tính tương đồng về địa lý, sinhthái và hướng phát triển trong các năm gần đây, có thể rút ra được một số hạnchế mang tính tổng quát cho các tỉnh ven biển ĐBSCL (Trần Tiến Khai,2006) Một số khu vực nuôi tôm ở ĐBSCL không thuộc khu vực quyhoạch Hậu quả của nuôi tôm tràn lan là những cánh rừng ngập mặn bị hư hại,môi trường bị ô nhiễm, xâm nhập mặn ngày càng vào sâu đất liền (NguyenTac An, 2002) Trong hơn ba thập kỷ qua, cùng với sự gia tăng dân số, áp lựckhai hoang, mở rộng diện tích đất canh tác, NTTS đã đè nặng lên các vùng đấtven biển Diện tích rừng bị phá để nuôi tôm xấp xỉ với diện tích rừng trồngtrong khoảng 20 năm (Nguyễn Mạnh Hùng, 2009)
Trang 35Theo Bộ NN&PTNT, hằng năm các nguồn chất thải do NTTS ởĐBSCL thải ra khoảng 500 triệu m3 bùn thải và chất thải Nguồn chất thải độchại này hiện nay vẫn chưa được xử lý triệt để và thải vào sông rạch trong khuvực Các chất thải NTTS là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, cácchất tồn dư sử dụng như hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoángchất Chất thải ao nuôi công nghiệp chứa đến trên 45% Nitrogen và 22% là cácchất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủysản phát sinh trong môi trường nước Mất cân bằng sinh thái trong NTTS thểhiện rõ nét ở tình trạng phát sinh dịch bệnh trên diện rộng do ô nhiễm môitrường ở các mô hình nuôi tôm sú, thâm canh cá tra làm tổn thất kinh tế rấtlớn (Minh Lê, 2010) Theo Nguyễn Hữu Thọ (2010) hiện nay nghề nuôi tômthâm canh và bán thâm canh của Việt Nam đang có dấu hiệu suy giảm do môitrường các vùng nuôi tôm bị ô nhiễm, năng suất nuôi giảm, nhiều vùng nuôitôm đã bị bỏ hoang hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác Theo Martin(2002) để giảm tác động đến môi trường của việc nuôi tôm thâm canh có thểthực hiện đơn giản bằng nghiên cứu tác động thức ăn, phân tôm đến sự suygiảm các yếu tố môi trường, khả năng tích lũy hữu cơ của ao nuôi…từ đó đềxuất giải pháp sản xuất thức ăn phù hợp.
Thay đổi nhìn nhận về sở hữu đất đai và cải cách hệ thống quản lý tàinguyên nước là giải pháp quan trọng để đảm bảo hoạt động NTTS bền vững(Phung Giang Hai, 2002) Bailly (2002) thì cho rằng, chính sách cộng đồngquản lý mới là giải pháp hành động tốt nhất cho sự phát triển nuôi tôm bềnvững ở ĐBSCL Đôi khi, hướng đến sự thâm canh hóa cũng là giải pháp pháttriển nghề nuôi tôm (Chung Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Thị Mây, 2008)
Tóm lại, hoạt động NTTS bền vững là chịu trách nhiệm trước các vấn
đề về môi trường, gắn với nâng cao đời sống người nuôi thủy sản NTTS thực
sự đã làm tăng nguồn cung thủy sản toàn cầu và sẽ tiếp tục phát triển để đápứng nhu cầu nhưng cũng đứng trước vấn đề phát triển bền vững cho tương lai
2.3.2 Thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP)
Thực hành nuôi trồng thuỷ sản tốt (GAP) ứng dụng trong nuôi tômđược xây dựng dựa trên quy định tại Điều 9 của “Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá
có trách nhiệm” năm 1995 của FAO nhằm kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ môitrường, đảm bảo an toàn thực phẩm cho sản phẩm nuôi và nâng cao hiệu quảkinh tế của nghề nuôi tôm (Bộ Thủy Sản, 2006)
Các hoạt động của GAP là nhằm kiểm soát các yếu tố đầu vào như congiống, nước, ao hồ, sức khoẻ vật nuôi thuỷ sản, thức ăn, hóa chất, thuốc thú y,
Trang 36hạn chế stress, giảm thiểu dịch bệnh và đảm bảo an toàn thực phẩm với cácmối nguy về dư lượng kháng sinh, chất độc hại và vi trùng gây bệnh (Lý VĩnhPhước, 2010) Tiêu chuẩn GAP là những biện pháp thực hành cần thiết để sảnxuất sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thựcphẩm, giảm thiểu dịch bệnh, hạn chế tác hại xấu đối với môi trường, lãi nhiềuhơn so với nuôi thủy sản bình thường (Lý Vĩnh Phước, 2010).
Trên thế giới, có nhiều tiêu chuẩn GAP cho nông nghiệp và thủy sản.Tại châu Âu có tiêu chuẩn Global GAP Tại các nước Đông Nam Á là ASEANGAP Ngoài ra, một số nước trong khu vực Châu Á cũng đã xây dựng tiêuchuẩn GAP riêng, phù hợp với điều kiện sản xuất ở nước sở tại như: tiêuchuẩn SALM của Malaysia, Q GAP và Thai GAP của Thái Lan, Indo GAPcủa Indonesia, Green Food và China GAP của Trung Quốc, India GAP của Ấn
Độ, Viet GAP của Việt Nam (Nguyễn Văn Hòa, 2009) Tuy nhiên, tiêu chuẩnGlobal GAP được các thị trường quốc tế ủng hộ nhiều nhất (Vũ Dũng Tiến vàGriffiths, 2009)
Tiêu chuẩn Global GAP do các nhà bán lẻ Châu Âu đề xuất năm 1997nhằm giải quyết mối quan hệ bình đẳng và trách nhiệm giữa người sản xuấtsản phẩm nông nghiệp và khách hàng của họ (Thu Hồng, 2010) Khi mới rađời tiêu chuẩn Global GAP có tên là Eurep GAP, từ năm 2007 chính thứcchuyển thành Global GAP (Gianni, 2006; Vũ Dũng Tiến và Griffiths, 2009).Global GAP là tiêu chuẩn đòi hỏi cao nhất về an toàn thực phẩm hiện nayđược áp dụng cho lĩnh vực nuôi thủy sản, với yêu cầu kiểm soát chuỗi khépkín từ con giống, nuôi trồng và chế biến với các tiêu chí chính như an toànthực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo tồn sinh học, chuẩn mực đạo đức, an sinh
xã hội và truy xuất được nguồn gốc sản phẩm (Vũ Dũng Tiến và Griffiths,2009) Cụ thể tiêu chuẩn này bao gồm những yếu tố liên quan đến sản xuấtnhư môi trường, các loại thuốc, hóa chất sử dụng, bao bì và ngay cả điều kiệnlàm việc và phúc lợi của người làm việc trong nông trại (Gianni, 2006; Parr vàGrey, 2006) Các nhà sản xuất, các hiệp hội, cá nhân đáp ứng tiêu chuẩnGlobal GAP được cấp một giấy chứng nhận Global GAP (Parr và Grey, 2006).Năm 2006, Eurep GAP được thực hiện tại 37 quốc gia với 31 cơ quan chứngnhận và có 350.000 ha áp dụng (Gianni, 2006) Hiện nay, Global GAP đã cómặt trên 112 quốc gia và tính đến tháng 06/2010 đã cấp 102.267 giấy chứngnhận Tập đoàn Bureau Veritas (Pháp) đã cấp trên 60.000 giấy chứng nhậnnày Tại Việt Nam có hơn 147 giấy chứng nhận Global GAP được cấp tronghoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản và thủy sản Đặc biệt, ở ĐBSCL cónhiều vùng nuôi thủy sản, chủ yếu là cá tra và tôm sú ở Sóc Trăng, Cà Mau,
An Giang, Cần Thơ đang tiến hành các bước để sản xuất theo tiêu chuẩn
Trang 37Global GAP (Hà Triều, 2010) Theo Tổng cục Thủy sản, từ nay đến cuối năm
2010 sẽ có trên chục doanh nghiệp đạt chứng nhận Global GAP Đó là mộtđộng lực hướng tới “Sản xuất công nghiệp hiện đại, quy mô lớn, thúc đẩyngành thủy sản phát triển nhanh và bền vững”, thay đổi dần cách làm ăn cũmanh mún, lạc hậu Nuôi thủy sản theo Global GAP giá thành tăng khoảng20% và hộ cá thể rất khó thực hiện Vì vậy, doanh nghiệp đứng ra liên kết với
hộ nuôi từ 1 – 2 ha trở lên để hình thành vùng nuôi tập trung Doanh nghiệpđóng vai trò nòng cốt, hỗ trợ kỹ thuật, vốn, giống, thức ăn, thu mua nguyênliệu, đáp ứng theo đòi hỏi quốc tế chính là vấn đề bức bách hiện nay để ngànhthủy sản phát triển nhanh và bền vững (Văn Minh, 2010)
Sự phát triển nhanh chóng của tiêu chuẩn Global GAP nhờ vào sự ủng
hộ của các nhà nhập khẩu lớn của châu Âu Hiệp hội bán lẻ của Hà Lan và tổchức nhập khẩu tôm lớn nhất ở Châu Âu (Heiploeg BV) đã tuyên bố sẽ yêucầu tất cả các nhà cung cấp phải có chứng nhận Global GAP kể từ tháng01/2011 Năm 2008, các thành viên tổ chức bán lẻ châu Âu thống nhất kêugọi tất cả các nhà cung cấp sản phẩm thủy sản nuôi trồng vào EU phải
áp dụng chứng nhận Global GAP vào ngày 01/01/2012 (Vũ Dũng Tiến vàGriffiths, 2009) Trong NTTS, hiện nay chứng nhận Global GAP được thựchiện trên tôm, cá hồi, cá rô phi, cá nheo Mỹ và cá tra
Hình 2.6 : Một số tổ chức chứng nhận Global GAP tại Việt Nam
Trên thế giới, còn nhiều quốc gia khác cũng xây dựng GAP và đạtđược những thành công nhất định Tại Thái Lan, việc áp dụng GAP trongnuôi tôm bắt đầu từ năm 2000 Áp dụng CoC trong nuôi tôm và thực hiện
kiểm tra, công nhận GAqP/CoC từ 2002 (Nguyễn Tử Cương và ctv., 2007).
Năm 2008, Thái Lan có 16.500 cơ sở nuôi tôm được cấp chứng nhận GAP và
320 được chứng nhận CoC (Trung Mai, 2009) Tại Đài Loan, Bộ Nôngnghiệp tích cực phát triển thống chứng nhận GAP và sẽ khuyến khích các cơ
sở nuôi trồng thuỷ sản nộp đơn xin cấp chứng nhận Những cơ sở có chứngnhận GAP sẽ được ưu tiên trong các chương trình hỗ trợ do chính phủ tài trợ,đồng thời sẽ được chính phủ hỗ trợ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 38Malaysia, để tăng tính bền vững cho ngành nuôi tôm, Bộ Thủy Sản Malaysiabắt buột phải đảm bảo tuân thủ thiết kế trại nuôi thủy sản thân thiện với môitrường được nêu trong CoC và GAP Các trại nuôi tuân thủ GAP sẽ đượcchứng nhận theo Kế hoạch chứng nhận trại nuôi thủy sản của Malaysia(SPLAM), bắt đầu được áp dụng năm 2002 (INFOFISH, 2005) Bangladesh
áp dụng GAP từ năm 2003 Mỹ công bố tài liệu GAP năm 2006 Trung Quốc
áp dụng và chứng nhận GAP/CoC từ năm 2005 và được công nhận tương
đương với Eurep GAP từ năm 2006 (Nguyễn Tử Cương và ctv., 2007).
Tại Việt Nam, Cục Quản lý chất lượng và Thú ý thủy sản(NAFIQAVED) là đơn vị hoạt động tích cực nhất trong việc thúc đẩy ápdụng GAP, thông qua các hoạt động nghiên cứu thử nghiệm, tập huấn vàkhuyến ngư Năm 2003 được sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp Mỹ,NAFIQAVED đã khởi xướng dự án áp dụng thử nghiệm GAP nhằm nângcao chất lượng tôm của Việt Nam, cũng như tăng cường tính bền vững vềmôi trường và xã hội (Vũ Dũng Tiến và Griffiths, 2009) Nhiều tỉnh thành
có nuôi tôm đã bắt đầu thực hiện thí điểm việc ứng dụng GAP Năm 2005,
Sở Thủy sản Cà Mau tổ chức xây dựng các vùng nuôi tôm an toàn theo tiêuchuẩn GAP và CoC (Trần Vũ, 2005) Tại các tỉnh như Bến Tre, Thanh Hóa,Khánh Hòa, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Tp.HCM từ năm 2003-2006 thực hiệnthí điểm áp dụng GAP với tổng diện tích nuôi tôm hơn 600 ha (Nguyễn Tử
Cương và ctv., 2007) Pham Van Khang (2008) do GAP và BMP rất giống
nhau về tiêu chí quản lý sức khỏe tôm nuôi, an toàn thực phẩm và bảo vệ môitrường mặc dù BMP có điểm mạnh hơn trong việc quản lý dịch bệnh và tậphợp các hộ nuôi nhỏ lẻ thành nhóm cùng sản xuất Trong điều kiện ViệtNam, năm 2005 NAFIQAVED đã quyết định xát nhập thực hiện BMP vào
GAP (Nguyễn Tử Cương và ctv., 2007).
2.3.3 Thực hành NTTS tốt nhất (BAP)
BAP là tiêu chuẩn về trách nhiệm môi trường, xã hội, quyền lợi độngvật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản (GAA,2007) Theo VASEP (2005) sự thay đổi ý thức của người tiêu dùng trên thếgiới đã khuyến khích tạo sản phẩm an toàn, có trách nhiệm với môi trường và
xã hội và giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững lâu dài của ngành côngnghiệp NTTS, tăng cường uy tín và thương hiệu của cơ sở trên thị trường thếgiới và đáp ứng các quy định của các thị trường nhập khẩu có liên quan đến antoàn thực phẩm và ngăn ngừa nguy cơ khủng bố sinh học Đó là tiền đề ra đờicủa tiêu chuẩn BAP Chứng nhận BAP xác định những yếu tố quan trọng nhấtcủa NTTS có trách nhiệm Chứng nhận BAP cấp cho từng loại cơ sở trong
Trang 39lĩnh vực thủy sản, từ trại nuôi, trại sản xuất giống, nhà máy sản xuất thức ănđến nhà máy chế biến Đối tượng thủy sản chứng nhận BAP bao gồm tôm, cá
rô phi, cá nheo Mỹ và cá tra (http://www.gaalliance.org) Mỗi chứng nhậnBAP có giá trị trong một năm
Tiêu chuẩn BAP do Liên Minh Thủy Sản Toàn Cầu (GAA) phát triển
và được Hội đồng chứng nhận Thủy sản (ACC) thực hiện GAA thành lậpnăm 1997 là 1 tổ chức phi chính phủ lớn nhất về chứng nhận nuôi thủy sảncông nghiệp ACC được thành lập vào năm 2002 để chứng nhận cho nhà sảnxuất thủy sản áp dụng tiêu chuẩn BAP do GAA xây dựng (Gianni, 2006) Từnăm 2003, ACC bắt đầu thực hiện chứng nhận BAP cho tôm, cá rô phi và cánheo Mỹ ở Ecuador, Bangladesh, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Mexico Tháng 8/2010, tiêu chuẩn BAP cho cá tra ra đời tạo tiền đề tiêu chuẩn hóa sảnphẩm cá bán vào thị trường Mỹ (www.aquaculturecerti fication.org)
Tiêu chuẩn BAP xác định 4 tiêu chí quan trọng là đảm bảo an toàn thựcphẩm, đảm bảo trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồngốc Tiêu chuẩn BAP cho trại nuôi tôm bao gồm 12 tiêu chuẩn cơ bản: 3 tiêuchuẩn về cộng đồng, 6 tiêu chuẩn về môi trường, 3 tiêu chuẩn về An toàn vệsinh thực phẩm Ngoài ra còn có điều khoản về truy xuất nguồn gốc Cụ thểnhư sau: quyền sở hữu và chế độ quản lý đồng thuận, mối quan hệ cộng đồng,quan hệ người lao động và an toàn cho công nhân, bảo vệ rừng ngập mặn,quản lý chất lượng nước, quản lý chất thải rắn, bảo vệ đất và nước, nguồn tômgiống, bảo quản và huỷ bỏ hàng hoá, quản lý thuốc và hoá chất, vệ sinh phòngbệnh, thu hoạch và vận chuyển, yêu cầu lưu giữ hồ sơ và truy xuất nguồn gốc.(Intrafish, 2006b).BAP được biết đến là tiêu chuẩn có quy định nghiêm ngặt
về nước thải Ở các nhà máy chế biến thủy sản hai giá trị Phospho hòa tan vàTAN được quan tâm hàng đầu (ACC, 2006)
Những cơ sở đạt chứng nhận BAP có thể sử dụng logo BAP để quảngcáo cũng in logo trên nhãn hàng hoá sản phẩm (VASEP, 2007) Các hệ thốngsiêu thị ở thị trường Mỹ yêu cầu nhà cung cấp phải đạt chứng nhận BAP 2 saotrở lên (http://www.minhphu.com) Việc sử dụng logo BAP được quy địnhnhư sau: Đối với chứng nhận nhà máy chế biến thì sử dụng logo bình thường
và được phép đóng logo lên các sản phẩm Đối với cơ sở đạt 2 sao thì sử dụnglogo bình thường hoặc logo ngôi sao để chỉ cho các sản phẩm có nguồn gốc từtrang trại và nhà máy chế biến đã được chứng nhận Logo 3 sao thì giống nhưlogo 2 sao và có thêm chứng nhận BAP cho trại sản xuất giống Logo BAP 4sao, giống logo 3 sao và có thêm chứng nhận BAP cho nhà máy chế thức ănthủy sản (hình 2.7) (www.aquaculturecertification.org)
Trang 40Logo BAP 2 sao Logo BAP 3 sao Logo BAP 4 sao
Hình 2.7: Logo BAP 2 sao, 3 sao và 4 sao
Kết quả thống kê từ website www.aquaculturecerfication.org của ACCcập tháng 10/2010 cho thấy, hiện tại trên thế giới chứng nhận BAP được cấpcho 128 nhà máy, 132 trại nuôi và 29 trại sản xuất giống thuộc 03 đối tượngthủy sản tôm, cá trơn và cá rô phi tại 17 quốc gia (Lâm Thái Xuyên và TrươngHoàng Minh, 2010) (Bảng 2.5)
Bảng 2.5 Tình hình chứng nhận BAP trên thế giới
TT Quốc gia 3 sao 2 sao* nhà
máy
Trại Nuôi
Trại giông
Đóng
gói lại
Tổng chứng nhận
(Nguồn: Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010 )
Chứng nhận BAP chủ yếu cấp cho các công ty ở châu Á (77,2%),trong đó đó các công ty sản xuất, nuôi trồng và chế biến tôm chiếm 73,5%tổng số giấy chứng nhận, các công ty về cá rô phi chủ yếu là của Trung Quốcchiếm 66,7% số giấy chứng nhận cho cá rô phi, đối với cá trơn thì 100% cấp