Sự cần thiết và ý nghĩa của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp: Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý phải đưa ra rất nhiều các quyết định k
Trang 2sự phức tạp ngày càng lớn trong mặt xích cuối cùng của quá trình hội nhập quốc tế Chính vì vậy, hội nhập không chỉ còn là vấn đề lý thuyết mà là vấn đề được mọi quốc gia quan tâm Tiến trình quốc tế hoá mở ra cho các quốc gia những cơ hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nhưng ngược lại chính nó lại tạo ra không ít những thách thức lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội nếu họ không biết tận dụng những cơ hội trong tiến trình này
Sau những biến động trong và ngoài nước vừa qua đã có không ít các doanh nghiệp bị “văng” ra khỏi “vòng xoáy” của “cơn lốc” thị trường, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã phải tự nguyện rút lui nhưng cũng có rất nhiều DN đã khẳng định được vị thế và khả năng phát triển tiềm tàng của mình
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, mà cụ thể là đến năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của AFTA, và hiện nay đang trong quá trình xin ra nhập WTO, đã mở ra những cơ hội cùng những thách thức mới cho các doanh nghiệp Do đó để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường rộng lớn, giàu tiềm năng nhưng cũng đầy rủi ro mạo hiểm này, các doanh nghiệp luôn phải nắm bắt được những biến động trên thị trường và có
kế sách ứng phó kịp thời Câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà một doanh nghiệp có thể giải quyết được vấn đề trên, trong khi đó phải tiếp tục duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Nhờ có phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng ta sẽ có cái nhìn chung nhất về thực trạng tài chính của doanh nghiệp đó, giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp xác định được trong điểm trong công tác quản lý tài chính, tìm ra những giải pháp tài chính hợp lý nhằm nâng
Trang 3
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa có rất nhiều chủ thể kinh tế khác cũng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc độ tuỳ theo mục đích của mỗi chủ thể Vì vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung
Là một sinh viên tài chính với những kiến thức đã tiếp thu được ở trường, em cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Sau một thời gian thực tập tại công ty VIRASIMEX em đã chọn đề tài
“Đánh giá thực trạng tài chính của công ty VIRASIMEX” làm đề tài chính thức
cho chuyên đề thực tập của mình
Chuyên đề gồm 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của công ty VIRASIMEX
Chương 3: Các giải pháp tài chính và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của công ty
Trang 4
Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Sự cần thiết phải phân tích tài chính doanh nghiệp:
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin khác nhau trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và triển vọng của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định phù hợp
1.1.2 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý phải đưa ra rất nhiều các quyết định khác nhau như: quyết định đầu tư, quyết định về mặt hàng, về trang thiết bị, về nhân sự, về chi phí, về giá bán, về tổ chức huy động
và sử dụng vốn Các quyết định của các nhà quản lý có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của cả toàn bộ nền kinh tế nói chung Đặc biệt là các quyết định quản trị tài chính doanh nghiệp, hầu hết các quyết định khác đều dựa trên kết quả rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong quản trị tài chính doanh nghiệp Nói một cách khác, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, và ngược lại tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó
Thông qua phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng ta sẽ có được cái nhìn chung nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá tốt hay xấu, xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Nhờ có những thông tin thu thập được, các đối tượng sử dụng thông tin sẽ có căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định đúng đắn, phù hợp với mục tiêu của mình Cùng với sự đa dạng của các mối quan hệ trong và ngoài doanh nghiệp, mỗi một chủ thể sẽ có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau, cụ thể:
Trang 5
Phân tích tài chính cung cấp cho chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp, các cổ đông, người lao động những thông tin giúp cho việc đánh giá chính xác tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra các
dự báo tài chính và các quyết định tài chính thích hợp, cũng như việc xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên đối với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác thông qua phân tích tình hình tài chính giúp cho người quản lý có thể kiểm soát được kịp thời các mặt hoạt động của doanh nghiệp và đề ra các biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những tồn tại, vướng mắc, đồng thời khai thác các tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư (các chủ nợ): Thông qua phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể đánh giá được khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp Các nhà đầu tư muốn biết rằng đồng vốn của mình bỏ ra có sinh lời được hay không, doanh nghiệp sử dụng số vốn đó như thế nào và khả rủi ro của đồng vốn của mình đã bỏ ra có cao hay không, để từ
đó các nhà đầu tư có những quyết định thích hợp về vấn đề cho vay vốn, thu hồi nợ
và đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Thông qua phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích kiểm tra giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xem có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước hay không Đồng thời thông qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp còn giúp cho các cơ quan này hoạch định chính sách, cơ chế tài chính phù hợp, tạo hành lang pháp lý lành mạnh cho các doanh nghiệp, hướng dẫn và trợ giúp các doanh nghiệp phát huy những lợi thế, hạn chế những điểm yếu, tăng tích luỹ cho nền kinh
tế quốc dân, giải quyết các vấn đề xã hội
Như vậy, xuất phát từ mục đích sử dụng thông tin của các đối tượng trên cùng với vai trò quan trọng của các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp đối với việc ra quyết định tài chính, phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu và cần thiết trong nền kinh tế thị trường Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sắp tới Việt Nam chính thức gia nhập khu vực mậu dịch tự do Đông Nam á (AFTA) và chuẩn bị tham gia vào WTO (năm 2005), cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ và những biến động của nền kinh tế thị trường, sẽ là
Trang 6
những tác nhân thúc đẩy việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng
1.1.3 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin có tác dụng hữu ích trong việc tạo ra các quyết định kinh doanh Vì vậy, phân tích hoạt động tài chính phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau:
Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp được đầy đủ các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp cho họ có quyết định đúng đắn khi có các quyết định đầu tư, quyết định cho vay, quyết định thu hồi nợ Ngoài ra còn giúp họ có những thông tin để đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền vào, ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả hay không, cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải cung cấp thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản vay nợ và tình hình biến động của chúng Hơn nữa, phân tích tình hình tài chính cung cấp thông tin về việc thực hiện chức năng quản lý của người quản lý đối với doanh nghiệp Người quản lý không chỉ có trách nhiệm về việc quản lý và bảo toàn vốn của doanh nghiệp, mà còn có trách nhiệm về việc sử dụng chúng sao cho có hiệu quả
1.2 Quy trình phân tích, khái quát nội dung phân tích, cơ sở số liệu và phương pháp phân tích:
1.2.1 Quy trình phân tích:
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thường được tiến hành qua các giai đoạn sau:
Lập kế hoạch phân tích: Đây là khâu đầu tiên trong quá trình phân tích
Lập kế hoạch phân tích bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chương trình phân tích Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian tiến hành, những thông tin cần thu thập, tìm hiểu
Trang 7
Tiến hành phân tích: Đây là giai đoạn triển khai, thực hiện các công việc
đã ghi trong kế hoạch Tiến hành phân tích bao gồm các công việc sau:
- Sưu tầm tài liệu, xử lý số liệu
- Tính toán các chỉ tiêu phân tích
- Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích
- Xác định và dự toán những nhân tố kinh tế- xã hội tác động đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Kết thúc phân tích: Trong giai đoạn này cần tiến hành những công việc cụ
thể sau:
- Viết báo cáo phân tích
- Hoàn chỉnh hồ sơ phân tích
1.2.2 Khái quát nội dung phân tích:
Để có thể đánh giá xác thực, sâu sắc tình hình tài chính của doanh nghiệp, khi tiến hành phân tích ta phải đảm bảo các nội dung phân tích cơ bản sau:
- Phân tích đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng
- Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
1.2.3 Cơ sở số liệu:
Để thực hiện phân tích tài chính của doanh nghiệp cần sử dụng các tài liệu sau:
- Báo cáo 01 doanh nghiệp (B01- DN): Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo 02 doanh nghiệp (B02- DN): Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo 03 doanh nghiệp (B03- DN): Báo cáo ngân quỹ
- Báo cáo 09 doanh nghiệp (B09- DN): Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 8
- Báo cáo tình hình công nợ, các khoản vay và các tài liệu liên quan Tuy chỉ có một số chỉ tiêu phân tích ta không thể sử dụng được ngay các số liệu trong các báo cáo mà cần thiết có sự điều chỉnh và xử lý số liệu Căn cứ vào ý nghĩa của từng chỉ tiêu, có thể phải xử lý các số liệu để có được ý nghĩa của từng chỉ tiêu đó
1.2.4 Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận và nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chỉ tiêu nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Thông thường người ta sử dụng 2 phương pháp sau:
1.2.4.1 Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riên, được áp dụng từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình phân tích: từ khi sưu tầm tài liệu đến khi kết thúc phân tích Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý đến điều kiện so sánh, tiêu thức so sánh và kỹ thuật so sánh:
Về điều kiện so sánh:
- Thứ nhất: Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu
- Thứ hai: Các đại lượng, các chỉ tiêu phải thống nhất về nội dung và phương pháp tính toánh, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường
Về tiêu thức so sánh: Tuỳ thuộc vào mục đích của cuộc phân tích, người ta
có thể lựa chọn một trong số các tiêu thức sau đây:
- Để đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đặt ra: Tiến hành so sánh tài liệu thực tế đạt được với các tài liệu kế hoạch, dự toán hoặc định mức
- Để xác định xu hướng cũng như tốc độ phát triển: Tiến hành so sánh giữa số liệu kỳ thực tế này với số liệu thực tế kỳ trước
Trang 9
- Để xác định vị trí cũng như sức mạnh của công ty: Tiến hành so sánh giữa số liệu của công ty với các doanh nghiệp khác cùng loại hình kinh doanh hoặc giá trị trung bình của ngành kinh doanh
Số liệu của kỳ được chọn làm căn cứ so sánh gọi là gốc so sánh
Về kỹ thuật so sánh:
- So sánh về số liệu tuyệt đối: Là việc xác định chênh lệch giữa trị số chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh cho thấy sự biến động về số tuyệt đối của hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu
- So sánh về số tương đối: Là việc xác định số % tăng giảm giữa thực
tế so với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích
Khi phân tích các báo cáo tài chính có thể sử dụng phương pháp phân tích theo chiều dọc hoặc phân tích theo chiều ngang
+ Phân tích theo chiều ngang: Là việc so sánh cả về số tuyệt đối
và số tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu) trên các báo cáo tài chình Qua đó thấy được sự biến động của từng chỉ tiêu
+ Phân tích theo chiều dọc: Là việc xem xét, xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể, quy mô chung Qua đó thấy được mức
độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể
1.2.4.2 Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này được dựa trên ý nghĩa, chuẩn mực của các tỷ lệ đại lượng tài chính trong các mối quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng (định mức) để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị lỷ lệ tham chiếu
Như vậy, để đưa ra nhận xét, đánh giá một cách chính xác về tình hình tài chính thì phải phân tích với việc kết hợp hài hoà hai phương pháp trên Sự kết hợp hai phương pháp này cho phép người phân tích đi sâu xem xét các kía cạnh khác nhau, thấy rõ được thực chất hoạt động tài chính cũng như xu hướng biến động của từng chỉ tiêu tài chính trong doanh nghiệp qua các giai đoạn khác nhau, đồng thời vẫn đảm bảo tính đồng nhất trong khi tính toán
Trang 10
1.3 Nội dung phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp:
Nội dung của phân tích tình hình tài chính bao gồm:
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp:
- Qua bảng cân đối kế toán (Bảng CĐKT) để phân tích cơ cấu và diễn biến nguồn vốn, sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
- Qua báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Báo cáo KQHĐSXKD) để phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuố cùng của doanh nghiệp
Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp:
- Hệ số về khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Hệ số về rủi ro tài chính của doanh nghiệp
- Hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và tỷ suất tự tài trợ của doanh nghiệp
- Hệ số về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
- Hệ số phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp
1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp:
1.3.1.1 Phân tích cơ cấu của nguồn vốn và sử dụng vốn:
Để phân tích kết cấu nguồn vốn, sử dụng vốn cũng như diễn biến của nó chúng ta phải dựa vào Bảng CĐKT
Khái quát Bảng CĐKT: là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá là tài sản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo
Các chỉ tiêu của bảng CĐKT được phản ánh dưới hình thức giá trị và tuân theo nguyên tắc cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Mẫu bảng CĐKT:
Trang 11
*Phần tài sản: Phản ánh giá trị hiện có tính tới thời điểm lập báo cáo
- Xét về mặt kinh tế: Các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh dưới hình thái giá trị quy mô, kết cấu các loại tài sản như: vốn bằng tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu, tài sản cố định mà doanh nghiệp hiện có
- Xét về mặt pháp lý: Số liệu ở phần tài sản phản ánh số tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp
*Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp hiện có
- xét về mặt kinh tế: Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn phản ánh quy
mô, kết cấu của các nguồn vốn đã được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh
- Xét về mặt pháp lý: Đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp
lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh nghiệp
Phương pháp phân tích:
*Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối của từng chỉ tiêu trên bảng CĐKT Phép so sánh ngang này cho phép đánh giá được quy mô vốn và khả năng huy động vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ Tuy nhiên, sự so sánh này chưa thể hiện được đầy đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp bởi vì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau
*So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng số Qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại, các mục, các khoản mục
* Ngoài ra có thể so sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước, từ đó thấy được xu hướng biến động về tài chính doanh nghiệp là tốt hay xấu,
đề ra các biện pháp khắc phục trong kỳ tới Hoặc có thể so sánh số thực hiện với số
kế hoạch để thấy được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
Kết luận đánh giá: Chỉ ra sự biến động về tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản một cách khách quan tại thời điểm phân tích, từ đó đưa ra những nhận định về khả năng thay đổi trong tương lai
Trang 12
Tuy nhiên, thông qua bảng CĐKT chúng ta mới chỉ biết được một cách khái quát về cơ cấu vốn và nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp để tìm hiểu một cách sâu sắc hơn chúng ta đi phân tích, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua Báo cáo KQKD
1.3.1.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn:
Để lập được bảng kê diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, ta phải thực hiện theo các quy trình sau:
Tổng hợp sự thay đổi của các khoản mục trên Bảng CĐKT giữa hai thời điểm là đầu kỳ và cuối kỳ
Dựa vào kết quả vừa tìm được sẽ sắp xếp kết quả của từng khoản mục vào hai cột diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn theo nguyên tắc:
- Việc tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu, giảm tài sản của doanh nghiệp được xếp vào cột diễn biến nguồn vốn
- Tăng tài sản, giảm các khoản nợ phải trả và VCSH được xếp chung vào cột sử dụng vốn
Từ kết quả vừa tìm được, chúng ta tính toán tỷ trọng của từng khoản mục để đánh giá sự thay đổi theo xu hướng nào của tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp trong một kỳ vừa qua
1.3.1.3 Phân tích khái quát các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng:
Mục tiêu của phương pháp này là xác định, phân tích mối liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu trong Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD), đồng thời so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liên tiếp và với số trung bình ngành (nếu có) để đánh giá
xu hướng thay đổi từng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác
Khái niệm BCKQKD: là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước trong một kỳ kế toán
Trang 13
* Phần 1: Lãi lỗ- phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau một kỳ là lãi hoặc lỗ Các chỉ tiêu trong phần này được theo dõi chi tiết theo số quý trước, số quý này và số luỹ kế từ đầu năm
* Phần2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế phải nộp và được theo dõi chi tiêt thành số còn phải nộp kỳ trước, số phải nộp kỳ này, số đã nộp trong kỳ và số còn phải nộp đến cuối kỳ này
* Phần 3: Thuế GTGT (VAT) được khấu trừ, VAT được hoàn lại, VAT được giảm, VAT hàng bán nội địa
Như vậy, thông qua việc phân tích Báo cáo KQHĐKD để:
* Kiểm tra, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của hoạt động khác và kết quả của doanh nghiệp sau một kỳ kế toán
* Kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác
* Đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kỳ khác nhau Nội dung của báo cáo KQHKD có thể thay đổi theo từng thời kỳ, tuỳ theo yêu cầu quản lý, nhưng phải đảm bảo được 5 nội dung cơ bản là:
- Doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh
- Giá vốn hàng bán
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Giữa các chỉ tiêu này có mối quan hệ với nhau, thể hiện:
từ hoạt
Giá vốn hàng bán
Chi phí bán hàng
Chi phí quản
lý doanh
Trang 14Doanh thu thuần
x 100%
Tỷ suất này cho ta biết để có được một doanh thu thuần, doanh nghiệp đã phải
bỏ ra bao nhiêu đồng giá vốn hàng bán, tỷ suất này càng thấp thì càng tốt vì nó chứng
tỏ việc quản lý các khoản chi phí trong giá vốn hàng bán càng tốt và ngược lại
Tỷ suất chi phí
bán hàng trên
doanh thu thuần
= Chi phí bán hàng
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
x 100%
Hai chỉ tiêu này phản ánh để có 1đ doanh thu thuần, doanh nghiệp đã phản chi
ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Các tỷ suất này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm chi phí bán hàngv và chi phí quản lý doanh nghiệp và ngược lại
Phương pháp phân tích:
Thông qua phương pháp so sánh, ta so sánh giữa kỳ này với kỳ trước, đưa ra những nhận định ban đầu về sự biến động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua 2 bảng trên mới chỉ là bước phân tích khái quát, giúp chúng ta có được cái nhìn tổng
Trang 15
quan về doanh nghiệp Để có những đánh giá chi tiết và cụ thể hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng ta sẽ đi vào phân tích, đánh giá các hệ số tài chính đặc trưng sau:
1.3.1.4 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm TSLĐ và đầu tư ngắn hạn, TSCĐ và đầu tư dài hạn Để hình thành 2 lại này phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời gian dưới một năm cho hoạt động SXKD bao gồm các nợ ngắn hạn, nợ quá hạn
nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động kinh doanh, bao gồm nguồn VCSH, nguồn vốn vay nợ trung, dài hạn…
Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành TSCĐ, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành TSLĐ Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với TSCĐ hay giữa TSLĐ với nguồn vốn ngắn hạn được gọi
là VLĐ thường xuyên
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của VLĐ thường xuyên Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản
* Khi nguồn vốn dài hạn < TSCĐ hoặc TSLĐ < nguồn vốn ngắn hạn
Có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0 Nguồn vốn dài hạn không đủ đầu
tư cho TSCĐ Doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ một phần nguồn vốn ngắn hạn, TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng 1 phần TSCĐ để thanh toán
nợ ngắn hạn đến hạn trả Trong trường hợp như vạy giải pháp của doanh nghiệp là tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc thực hiện đồng thời các 2 giải pháp đó
TSLĐ TSCĐ vốn ngắn Nguồn
hạn
Trang 16
* Khi nguồn vốn dài hạn > TSCĐ hoặc TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn
Tức là VLĐ thường xuyên > 0, nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, phần dư thừa đó đầu tư vào TSLĐ Đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn
do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt Vốn thường xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để trả các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh
VLĐ thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết 2 điều cốt yếu:
Một là: Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
không?
Hai là: TSCĐ của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng vốn
dài hạn hay không?
Ngoài khái niệm VLĐ thường xuyên được phân tích trên đây; nghiên cứu tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, người ta còn sử dụng chỉ tiêu nhu cầu VLĐ thường xuyên để phân tích
Nhu cầu VLĐ thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho 1 phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu (TSLĐ không phải là tiền)
Nhu cầu VLĐ
thường xuyên
Tồn kho và các khoản phải thu
Thực tế có thể xảy ra những trường hợp sau đây:
* Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0 tức là tồn kho và các khoản phải thu > nợ ngắn hạn Tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch
Giải pháp trong trường hợp này là nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho và giảm các khoản phải thu ở khách hàng
Nợ ngắn hạn
Trang 17
* Nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh
Mối liên hệ giữa VLĐ thường xuyên với nhu cầu VLĐ thường xuyên:
Vốn bằng tiền = VLĐ thường xuyên - Nhu cầu VLĐ thường xuyên
Nguồn vốn dài hạn > TSCĐ => VLĐ thường xuyên > 0 và ngược lại
TSLĐ > Nguồn vốn ngắn hạn => Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0
- Nếu tồn kho và các khoản phải thu < nợ ngắn hạn, có nghĩa là VLĐ từ bên ngoài thừa trang trải các sử dụng ngắn hạn; nhu cầu VLĐ thường xuyên
< 0; nếu VLĐ thường xuyên dương => vốn bằng tiền dương lớn hơn; nếu VLĐ thường xuyên < 0 và nhỏ hơn cả nhu cầu VLĐ thường xuyên => vốn bằng tiền âm Xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn (Vốn ngắn hạn nhiều, vốn dài hạn ít) hoặc mất cân đối trong đầu tư dài hạn (đầu tư dài quá nhiều)
-
Giải pháp là:
Tăng cường vay vốn dài hạn
Giải phóng hàng tồn kho: tăng thu từ khách hàng để tài trợ ngắn hạn
Giảm đầu tư dài hạn
Trang 18
Như vậy, để đảm bảo nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh, đảm bảo sự lành mạnh về tài chính doanh nghiệp, trước tiên phải có VLĐ thường xuyên 0 nghĩa là đảm bảo tài trợ TSCĐ bằng nguồn vốn dài hạn Nếu nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0
=> phải tìm cách giảm hàng tồn kho, tăng thu từ các khoản phải thu ở khách hàng; nếu nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0 => hạn chế vay ngắn hạn từ bên ngoài
1.3.2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng:
Phương pháp phân tích: Thường so sánh giữa số kỳ này với kỳ trước,
giữa doanh nghiệp với các chuẩn mực của ngành để đi đến kết luận đánh giá về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Cơ sở số liệu: Chủ yếu sử dụng Bảng CĐKT và Báo cáo KQHĐKD của
doanh nghiệp Tuy nhiên, một số loại số liệu cần có sự điều chỉnh để tính toán xác thực hơn
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một trong các yếu tố để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh hay không Nó là yếu tố được các đối tượng sử dụng thông tin quan tâm Do vậy, chúng ta sẽ đi vào phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp đầu tiên
1.3.2.1 Các hệ số về khả năng thanh toán:
Đối với các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư, thì vấn đề được họ quan tâm nhiều nhất là khoản lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đem lại
và khả năng rủi ro của các khoản đầu tư đó là cao hay thấp Họ luôn đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp mà họ đầu tư có đủ khả năng trả các khoản nợ tới hạn hay không? Việc phân tích một số chỉ tiêu dưới đây sẽ giúp họ trả lời được câu hỏi này:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng với tổng số nợ phải trả (bao gồm
nợ ngắn hạn và nợ dài hạn)
Hệ số khả năng thanh toán tổng =
Tổng tài sản
Trang 19
quát Nợ ngắn hạn và dài hạn
*ý nghĩa: Hệ số này đánh giá khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ tại một thời điểm nhất định của doanh nghiệp.Nhìn chung hệ số này càng lớn hơn 1 thì càng tốt
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời:
*Hệ số khả năng thanh toán hiện thời phản ánh mức độ đảm bảo cảu tài sản lưu động và các khoản đầu tư ngắn hạn (TSLĐ và ĐTNH) với nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
= TSLĐ & ĐTNH
Tổng nợ ngắn hạn
*ý nghĩa: Nếu hệ số này có xu hướng giảm đi thì điều đó đồng nghĩa với
sự rủi ro về mặt tài chính của doanh nghiệp là tăng lên và ngược lại Nhưng nếu hệ
số này quá cao nó có thể biểu hiện năng lực quản trị VLĐ của doanh nghiệp chưa tốt bởi vì đây thường là hiện tượng mà doanh nghiệp để tiền mặt tồn trữ quá nhiều, hàng tồn kho l ớn, các khoản phải thu cũng cao
Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
*Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp tại một thời điểm của TSLĐ và các khoản tương đương tiền, mà không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hoá
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh
TSLĐ & Đầu tư ngắn hạn - Vốn vật tư hàng hoá
Trang 20Như vậy, thông qua việc phân tích các hệ số trên, các đối tượng có liên quan
sẽ phần nào đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và xu hướng biến động của nó trong tương lai, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích của mình
Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn nhằm tiến tới kết cấu vốn tối ưu để đạt được mục tiêu chi phí sử dụng vốn là thấp nhất Tuy nhiên, do những thay đổi trong kỳ kinh doanh, trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp làm cho kết cấu này luôn bị phá vỡ Phân tích cơ cấu nguồn vốn là tình hình tự tài trợ dưới đây sẽ giúp chúng ta đánh giá cơ cấu nguồn vốn và tình hình tự tài trợ của công ty có hợp lý hay không?
Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và tỷ suất tự tài trợ:
Cơ cấu nguồn vốn:
*Cơ cấu nguồn vốn phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiện nay của doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vay nợ hoặc mấy đồng từ vốn chủ
Trang 21
số này cao thì doanh nghiệp có thể sử dụng đòn bẩy tài chính là công cụ để gia tăng lợi nhuận ròng vốn chủ sở hữu vì họ được sử dụng một lượng tài sản lớn trong khi chỉ phải đầu tư một lượng vốn nhỏ Nhưng nếu hệ số này quá cao cũng đồng nghĩa với rủi ro tài chính lớn vì doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Mỗi hệ số có ý nghĩa riêng, nhưng thông thường thì bản thân các chủ nợ lại thích những doanh nghiệp có hệ số VCSH càng cao thì càng tốt Bởi vì họ dựa vào hệ
số này để thấy được sự bảo đảm cho các khoản đầu tư của mình vào doanh nghiệp
Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định (TSCĐ):
1.3.2.2 Các hệ số về khả năng hoạt động:
Các hệ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các tài sản khác nhau Bao gồm:
Số vòng quay hàng tồn kho:
Trang 22số vòng quay lớn đồng nghĩa với số ngày của một vòng quay là nhỏ, chứng tỏ năng lực quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp là tốt vì lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp đã bị giảm đi
Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay của các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu
*ý nghĩa: Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền của doanh nghiệp Vòng quay này càng lớn thì càng tốt vì
nó cho biết tốc độ thu hồi các khoản phải thu là nhanh, tránh được tình trạng bị chiếm
Trang 23Số dư BQ các khoản phải thu Doanh thu thuần x 360
*ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu hay nó đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân trong một ngày Thông thường thì chỉ tiêu này càng ngắn càng tốt Tuy nhiên, để có thể kết luận chắc chắn còn phải xem xét đến chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, từ đó đánh giá công tác thu hồi nợ trong thanh toán là tích cực, hiệu quả, hay còn hạn chế
Vòng quay vốn lưu động (VLĐ):
Vòng quay VLĐ =
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân
Trong đó, VLĐ bình quân = (VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ) / 2
*ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ VLĐ luân chuyển được bao nhiêu vòng, nhằm đo lường hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Vòng quay này càng cao thì càng tốt vì với cùng một lượng VLĐ bỏ ra nếu vòng quay VLĐ nhanh hơn thì
sẽ tạo ra mức doanh thu lớn hơn, và ngược lại
Trang 24Trong đó: VCĐ bình quân = (VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ) / 2
*ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh 1đ VCĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ, và thông thường hệ số này càng cao thì càng tốt
vì nó cho biết hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp Các nhà quản lý phải tìm hiểu cơ cấu của từng loại TSCĐ cũng như hiệu quả hoạt động của từng loại TSCĐ đó
để có thể có những chiến lược đầu tư đúng đắn nhất
Vòng quay vốn kinh doah (VKD):
và hiệu quả hay không Thông thường chỉ tiêu này càng cao càng tốt
Trang 25
1.3.2.3 Các hệ số về khả năng sinh lời:
Hệ số về khả năng sinh lời đo lường khả năng sinh lời khi doanh nghiệp sử dụng vốn vào kinh doanh Bao gồm:
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
*ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong 100đ doanh thu thực hiện có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận Tài sản: (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận Tài Sản =
Lợi nhuận sau thuế & lãi
Tổng tài sản
*ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu trước thuế hoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản Chỉ
Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH: (ROE)
Trang 26
Để phân tích sự biến động của các chỉ tiêu này, người ta có thể so sánh giữa số liệu đầu kỳ và cuối kỳ Tuy nhiên để xác định được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên cũng như xác định được nguyên nhân dẫn đến tỷ suất lợi nhuận ròng VCSH cao hay thấp, ta có thể phân tích khái quát khả năng sinh lời của doanh nghiệp thông qua phương pháp Dupont
Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp qua phân tích phương trình Dupont:
Phương trình Dupont hay còn gọi là phương trình hoàn vốn được sử dụng đầu tiên do công ty Dupont của Mỹ dùng để phân tích các tỷ số tài chính và được viết tắt
là ROI Phương trình Dupont được xác định như sau:
Tỷ suất LNST LNST DT thuần Tỷ suất Vòng
LNST VKD = = * = LNST * quay toàn (ROI) VKD bq DT thuần VKD bq doanh thu bộ vốn
1.3.1.4 Phân tích tình hình rủi ro tài chính của doanh nghiệp:
Trong cơ chế bao cấp, Nhà nước chi phối và quyết định toàn bộ quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn lưu động, do đó người ra không đặt ra vấn đề rủi ro nói
Trang 27
chung và rủi ro tài chính nói riêng đối với các doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, việc đánh giá nói trên là tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp, do đó nếu có rủi ro, các doanh nghiệp phải gánh chịu
Để phản ánh rủi ro về tài chính, ngoài các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, người ta còn sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau đây:
Hệ số nợ trên tài sản
Hệ số nợ ngắn hạn trên tài sản lưu động
Hệ số nợ quay vòng hàng tồn kho và kỳ hạn hàng tồn kho bình quân
Hệ số thanh toán lãi vay
Các chỉ tiêu trên lần lượt được xác định như sau:
n Tængtµis
Tængsènî n
tµis HÖsènî
¶
¶/
Chỉ tiêu này chỉ rõ rằng, trong tổng số tài sản hiện có của doanh nghiệp có bao nhiêu phần do vay nợ mà có Do vậy, nếu hệ số này càng tăng, rủi ro về tài chính của doanh nghiệp càng tăng và ngược lại
¹
¾
TSL
n nh Tængsènîng TSL
n nh HÖsènîng
ý nghĩa của chỉ tiêu này cũng giống với ý nghĩa của chỉ tiêu nói trên, nhưng phạm vi hẹp hơn
SèdùnîBQ
uÇn Doanhthuth nî
HÖsèthuhåi
Nếu doanh nghiệp càng hạn chế bán trả chậm, số dự nợ phải thu càng nhỏ, hệ
số thu hồi nợ càng tăng và khi đó rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại Mặt khác, khi hệ số thu hồi nợ tăng lên, thời hạn thu hồi nợ càng ngắn, và thời gian thu hồi nợ được xác định như sau:
nî HÖsèthuhåi
o oc ongkúb Thêigiantr
Q nthuhåinîB
Nếu thời gian thu hồi nợ càng ngắn, rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại
Trang 28ivay ícthuÕvµl LîinhuËntr
ivay nl o HÖsèthanht
Chỉ tiêu này chỉ ra rằng, nếu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, doanh nghiệp không những hoàn trả được vốn vay mà còn trả được cả lãi tiền vay, do
đó doanh nghiệp dễ dàng trong việc vay vốn của Ngân hàng, rủi ro về tài chính càng giảm và ngược lại
Trang 29
Chương 2: Phân tích thực trạng tài chính của công ty VIRASIMEX
2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty VIRASIMEX:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty vật tư thiết bị đường sắt được thành lập ngày 06/01/1986 theo quyết định số 23/QĐ/TCCB của Liên hiệp đường sắt Việt Nam trên cơ sở của ba xí nghiệp đường sắt hợp lại là:
Xí nghiệp vật tư đường sắt I (Hà Nội)
Xí nghiệp II (Đà Nẵng)
Xí nghiệp vật tư đường sắt III (Sài Gòn)
Với nhiệm vụ chủ yếu là cung ứng vật tư chuyên dùng cho ngành đường sắt từ Bắc đến Nam, trực thuộc công ty là hai xí nghiệp: Xí nghiệp vật tư Đà Nẵng và xí nghiệp vật tư đường sắt Sài Gòn
Do tổ chức của ngành đường sắt thay đổi, để phù hợp với cơ chế mới, đáp ứng yêu cầu phục vụ năng lực vận tải lớn tháng 9/1989 công ty vật tư thiết bị đường sắt được Nhà nước, Bộ giao thông vận tải và ngành đường sắt cho phép công ty trực tiếp làm công tác kinh doanh xuất nhập khẩu Đổi tên công ty vật tư đường sắt thành công
ty xuất nhập khẩu cung ứng thiết bị đường sắt, sát nhập xí nghiệp vật tư đường sắt Đà Nẵng vào xí nghiệp liên hiệp vận tải đường sắt II và xí nghiệp vật tư đường sắt Sài Gòn vào xí nghiệp liên hiệp đường sắt III
Ngày nay công ty xuất nhập khẩu cung ứng vật tư, thiết bị đường sắt có 3 chi nhánh, 2 trung tâm và 6 xí nghiệp trực thuộc trên địa bàn đường sắt cả nước với tên giao dịch quốc tế là: Viet Nam railway import- export and supply material equipment company, trực thuộc Liên Hiệp Đường sắt Việt Nam (gọi tắt là công ty VIRASIMEX)
Công ty có trụ sở giao dịch tại 132 Lê Duẩn, quận Hai Bà Trưng- Hà Nội, là một doanh nghiệp Nhà nước, trực tiếp sản xuất kinh doanh, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại Ngân hàng công thương và Ngân hàng Vietcom.bank và bắt đầu
Trang 30
từ năm 2001 công ty mở tài khoản tại Ngân hàng ĐT&PT, được sử dụng con dấu riêng, giấy phép kinh doanh số 108769 và giấy phép kinh doanh XNK số 1031053/GP Vốn kinh doanh là do Nhà nước cấp và một phần do tiết kiệm trong chi tiêu, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn vốn tự có cũng như các nguồn vốn huy động khác
Công ty đã bắt kịp với phương thức kinh doanh mới để phù hợp với điều kiện thị trường hiện nay Công tác nghiên cứu thị trường được công ty đặc biệt coi trọng- Công ty đã chủ động duy trì và đẩy mạnh quan hệ buôn bán với các thị trường truyền thống như: Tiệp Khắc, ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản Với phương châm đường lối ngoại giao kiên trì, mền dẻo, tận dụng mọi thời cơ cũng như cơ hội; đồng thời cũng
cố gắng tìm kiếm các đối tác làm ăn mới, khai thác triệt để thị trường trong nước và ngoài nước
Để đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ của mình, công ty sử dụng một lượng vốn kinh doanh khá lớn, theo quyết toán quý IV năm 2004 thì:
*Tổng tài sản của công ty là: 320.192.589.062 đồng
Trong đó:
- Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn là:279.422.781.333 đồng
- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn là: 40.769.807.729 đồng
Trang 31 Được quyền nhập khẩu uỷ thác
Tổ chức sản xuất và liên kết các mặt hàng xuất khẩu, thu mua sắt thép, phế liệu và các loại mặt hàng theo giá thoả thuận với các đơn vị để tập trung xuất khẩu
Tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu các loại mặt hàng không thuộc diện cấm của pháp luật
Tạo nguồn ngoại tệ cho ngành thông qua xuất khẩu và làm dịch vụ kiều hối cho Việt Kiều và công nhân đi hợp tác chuyên gia hợp tác lao động quốc tế
Sản xuất gia công, tổ chức cung ứng các loại vật tư thiết bị, phụ tùng đường sắt như: sản xuất tà vẹt và các sản phẩm gỗ phục vụ cho ngành đường sắt
Bàn buôn, bán lẻ các loại hàng thuộc phạm vi công ty kinh doanh
Mặt hàng do công ty sản xuất, xuất nhập khẩu rất đa dạng, nhiều chủng loại,
có các nhóm kinh doanh như: nhóm phụ tùng đầu máy Bỉ, Tiệp; nhóm các vật tư thiết
bị Trung Quốc, ấn Độ, Nhật, Đức Mỗi nhóm từ hàng chục tới hàng trăm phụ tùng, thiết bị cho việc xây dựng, sửa chữa, tu bổ đường sắt Công ty cung cấp các mặt hàng cho các đơn vị ngành đường sắt trên toàn quốc như: các xí nghiệp đầu máy Hà Nội,
xí nghiệp đầu máy Vinh, xí nghiệp đầu máy Đà Nẵng và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng là các xí nghiệp cầu đường
Công ty nhập theo hình thức trực tiếp hoặc uỷ thác:
Trang 32
- Phụ kiện cầu đường, đường sắt
Để thực hiện chức năng nhiệm vụ trên, công ty có quyền ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu với các bạn hàng trong và ngoài nước, hợp tác đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, được vay vốn tại Ngân hàng Công ty được giao và quản lý sử dụng các nguồn vốn, tài sản, cũng như nguồn nhân lực Để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả cũng như các hợp đồng kinh tế được ký kết ngày càng tăng lên thì công ty cần phải cố gắng hết sức để thực hiện tốt nhất các hợp đồng kinh
tế mà đã được ký kết, thể hiện thông qua việc thu được lợi nhuận cao nhất đến mức
có thể từ các hợp đồng đó Có như vậy mới đảm duy trì, mở rộng mối quan hệ với khách hàng, tạo niềm tín và uy tín với khách hàng- điều này vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh nào muốn đứng vững trên thị trường hiện nay và phát triển được trong tương lai
Bên cạnh đó công ty không ngừng cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần và điều kiện lao động tốt cho nhân viên, đồng thời thường xuyên phải bồi dưỡng
và nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động với mục đích khuyến khích người lao động tăng cao năng suất và tận tình hết mình vì công ty
2.1.2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty:
Trong năm qua, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh vật tư thiết bị chuyên dùng cho ngành đường sắt ngày càng khó khăn hơn, cơ chế thị trường chi phối, cạnh tranh quyết liệt, những lô hàng lớn chủ yếu phải qua đấu thầu Tình trạng thiếu vốn để sản xuất kinh doanh, hàng hoá bán ra không thu được tiền ngay, nợ kéo dài, trong khi đó phải lo trả lãi tiền vay vẫn thường xuyên diễn ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, bước vào thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong những năm đầu của thiên niêm kỷ mới với biết bao những nét khởi sắc mới, sự kiện và công việc mới Song trong những năm qua với sự quan tâm của lãnh đạo Liên hiệp đường sắt Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ công ty, Ban giám đốc phối hợp chặt chẽ với các phòng ban và tinh thần ý thức của cán bộ công nhân viên trong công
ty mà toàn công ty đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra hàng năm với mức tăng trưởng cao
Trang 33
Đặc điểm kinh doanh: Công ty VIRASIMEX là một đơn vị độc lập về kinh tế
thuộc diện chịu Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Các mặt hàng mà công ty kinh doanh thông thường rất đa dạng và phong phú về chủng loại, mẫu mã với những mức thuế suất khác nhau, hàng tháng kế toán phải kê khai thuế phát sinh trong
kỳ để được khấu trừ và nộp thuế theo nghĩa vụ cho ngân sách Thông thường số thuế
mà công ty phải nộp phụ thuộc vào số lượng hàng hoá bán ra và mua vào trong kỳ
Để hiểu rõ hơn về điều đó cần tìm hiểu về mặt hàng và thị trường kinh doanh của công ty
- Mặt hàng kinh doanh:
1 Hệ thống thiết bị thông tin, tín hiệu
2 Phụ tùng đầu máy toa xe
3 Ray, ghi phụ kiện dầm cầu
- Thị trường kinh doanh:
Với điều kiện như nước ta hiện nay và do đặc trưng của ngành đường sắt thường đòi hỏi các vật tư thiết bị với hàm lượng khoa học – kỹ thuật cao mà trong nước khó có thể đáp ứng được cho nên công ty chủ yếu phải nhập khẩu từ các nước : Tiệp, ấn Độ, Bỉ, úc…
Ngược lại, với thị trường bán của công ty lại chủ yếu là trong nước (90%-95%) với quy mô rộng lớn, trải dài khắp cả nước công ty đã có quan hệ buôn bán với trên 50 khách hàng có nhu cầu khác nhau, trong khi đó thị trường xuất khẩu chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ (5%- 10%) chủ yếu công ty xuất sang: Trung Quốc, Hồng
Trang 34
Kông… trên phương châm chung: “Nắm chắc bạn hàng, giữ chữ tín với bạn hàng và tranh thủ thu hút thêm các bạn hàng mới”
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Quản lý là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh Bởi khi một doanh nghiệp có bộ máy quản lý tốt thì sẽ lãnh đạo doanh nghiệp của mình đạt kết quả cao trong kinh doanh Để quản lý có hiệu quả thì đòi hỏi phải tổ chức bộ máy quản lý phù hợp cùng đội ngũ quản lý có trình độ, có năng lực Do nhận thức đúng đắn tầm quan trọng đó, công ty đã từng bước củng cố tổ chức cơ cấu phòng ban, tuyển chọn nhân viên, cán bộ mới có trình độ cao, đồng thời đào tạo và nâng cao nghiệp vụ cho công nhân cán bộ cũ của công ty cho phù hợp vớ công việc và phục vụ cho kế hoạch xây dựng công ty lâu dài
Về mặt tổ chức: Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thủ trưởng quản lý điều hành trong kinh doanh trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ của tập thể
Về mặt sản xuất kinh doanh: Xuất phát từ đặc điểm của ngành đường sắt là trải dài, rộng khắp đất nước nên các đơn vị sản xuất kinh doanh trong ngành được thành lập theo địa chỉ tuyến đường để phục vụ cho công tác chạy tàu
Do đặc điểm trên mà ngành vật tư đường sắt cũng được thành lập theo tuyến để đảm bảo cung ứng vật tư đến tận hiện trường, trách lãng phí đảm bảo tiến độ, phục
vụ kịp thời cho vận tải đường sắt Do vậy bộ máy kinh doanh của công ty được thành lập phù hợp với đặc điểm của ngành và phục vụ đắc lực cho việc sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 35
Sơ đồ tóm tắt tổ chức bộ máy quản lý, kinh doanh của công ty VIRASIMEX
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Phòn
g kỹ thuậ
t công nghệ
Xí nghiệp
cơ khí đường sắt Đông Anh
Chi nhánh tại TPHCM
Ban giám đốc
h kế toán
Phòn
g hành chín
h tổng
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
I
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
Xí nghiệ
p vật
tư đường sắt
Xí nghiệ
p vật
tư đường sắt Thanh
Xí nghiệ
p vật
tư đường sắt
h Lào Cai
Trung tâm xuất khẩu lao
Chi nhán
h tại Lạng
Trung tâm dịch vụ khách sạn Sầm
Trang 36
Với mạng lưới các cơ sở kinh doanh và cơ cấu tổ chức như trên bộ máy công ty
có hoạt động như sau:
Ban giám đốc: Đứng đầu là giám đốc, có nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý chung
toàn bộ công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật, cấp trên và cán bộ công nhân viên chức về tổ chức điều hành và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Sử dụng, bảo toàn và phát triển các loại vốn, tài sản, cơ sở vật chất kỹ thuật do Nhà nước giao Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn và dự án đầu tư cho hàng năm, phương án liên doanh, đề án tổ chức quản lý, quy hoạch đào tạo của doanh nghiệp Các phòng chức năng, quản lý nghiệp vụ được tổ chức theo yêu cầu của công tác quản lý sản xuất kinh doanh của công ty, cụ thể như sau:
Phòng hành chính tổng hợp: Tổ chức công tác hành chính của công ty, quản lý
và sử dụng hợp cách về chứng chỉ Nhà nước (con dấu và chức danh của công ty) quản lý các hồ sơ, tài liệu của Nhà nước và công ty, thông tin báo chí
Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ lập kế hoạch tài chính tham mưu cho
giám đốc, tạo nguồn sử dụng vốn Tiến hành các hoạt động tài chính đối với Nhà nước và cấp trên, thực hiện công tác tài chính nội bộ công ty và các bạn hàng Chỉ đạo hướng dẫn trên cơ sở nghiệp vụ tài chính, thống kê, kế toán Kiểm tra việc thực hiện các chế độ, thể lệ tài chính, phân tích hoạt động kinh tế ở công ty và cơ sở, trực tiếp ký và thanh toán các hợp đồng kinh tế
Phòng tổ chức cán bộ lao động tiền lương: Có nhiệm vụ tham mưu để xuất tổ
chức bộ máy quản lý, cơ cấu sản xuất kinh doanh của công ty và của cơ sở quản lý cán bộ công nhân viên chức, lập dự án bố chí sử dụng lao động, xây dựng và thực hiện các loại tiêu chuẩn thuộc nghiệp vụ lao động tiền lương
Phòng kế hoạch thống kê: Có nhiệm vụ dự kiến, xác lập kế hoạch sản xuất, kỹ
thuật tài chính và đời sống xã hội của toàn công ty Tổ chức giao nhiệm vụ, thẩm hạch, xét duyệt kế hoạch của cơ sở Dự thảo các hợp đồng kinh tế, lập phương án thực thi, giao nhiệm vụ cho các cơ sở thực hiện Tổ chức và chủ trì các hội nghị tư vấn
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: Tổ chức thu nhập thông tin kinh tế xuất
nhập khẩu trong và ngoài nước Hoạch định chương trình, trực tiếp chỉ đạo từ đầu
Trang 37
đến cuối việc thực thi hợp đồng kinh tế xuất nhập khẩu, quan hệ giao dịch với bạn hàng Trực tiếp chỉ đạo nghiệp vụ các chi nhánh
Phòng xây dựng: Tham mưu việc thực hiện các dự án xây dựng của công ty
Thực hiện xây dựng, tu bổ, sửa chữa các cửa hàng, cơ sở làm việc của công ty cùng các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của công ty
Các xí nghiệp trực thuộc có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh các loại vật tư thiết
bị chuyên ngành
Xí nghiệp vật tư- thiết bị đường sắt Hà Nội: Kinh doanh vật tư thiết bị, hàng
hoá phục vụ tuyến đường sắt phía Nam, phía Đông (tuyến đường sắt Thống Nhất và Hải Phòng)
Xí nghiệp vật tư- thiết bị đường sắt Đông Anh: Kinh doanh vật tư thiết bị phục
vụ tuyến đường sắt phía Tây, phía Bắc (Tuyến đường sắt Lào Cai, Lạng Sơn)
Xí nghiệp vật tư- thiết bị đường sắt Vinh: Kinh doanh vật tư thiết bị phục vụ
tuyến đường sắt miền Trung
Xí nghiệp cơ khí đường sắt Đông Anh: Sản xuất phụ kiện cầu đường và một số
sản phẩm gỗ khác cung cấp cho toàn ngành và cho xuất khẩu
Xí nghiệp vật tư- thiết bị đường sắt Vĩnh Phú và Thanh Hoá: Chuyên sản xuất
tà vẹt gỗ và chế biến một số sản phẩm gỗ khác cung cấp cho toàn ngành và cho xuất khẩu
Các chi nhánh xuất nhập khẩu: Có nhiệm vụ tìm nguồn hàng, khách hàng
trong và ngoài nước với các hình thức, biện pháp kinh doanh dưới sự chỉ đạo của công ty Tiếp nhận hàng nhập khẩu từ các cửa khẩu đường biển và biên giới Giữa các phòng ban chức năng, các xí nghiệp trực thuộc và các chi nhánh có mối quan hệ chặt chẽ và có trách nhiệm ngang nhau trong công tác được giao, phối hợp tiến hành trên cơ sở đúng chức năng, có phân công cụ thể, trong đó phòng tài chính kế toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng
2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng tới sản xuất của công ty:
Công ty xuất nhập khẩu cung ứng thiết bị đường sắt (gọi tắt là công ty VIRAXIMEX) từ khi thành lập và đi vào hoạt động mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong nền kinh tế thị trường nhưng công ty đã không ngừng cố gắng
Trang 38sự định hướng đúng đắn của Nhà nước nên công ty có nhiều điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình
Từ khi công ty được Liên hiệp đường sắt Việt Nam giao nhiệm vụ nhập khẩu
và cung ứng thiết bị, vật tư đường sắt, việc cung cấp thiết bị đường sắt cho các đơn
vị nội bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho công ty mở rộng thị trường tiêu thụ, mở rộng quan hệ ngoại giao phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu Và đặc biệt công ty còn được tự do thực hiện dịch vụ xuất nhập khẩu lao động và xuất nhập khẩu vật tư thiết
bị mà không phụ thuộc vào kế hoạch của ngành đường sắt từ đó công ty đã nâng cao được doanh thu tiêu thụ của mình
Ngoài ra, công ty còn có những điều kiện thuận lợi do bản thân công ty có một đội ngũ lao động có trình độ, đều tốt nghiệp Đại học, có tinh thần trách nhiệm cao Đội ngũ cán bộ lao động giàu kinh nghiệm, năng động và sáng tạo chính là cơ sở để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của công ty
Trên đây là những thuận lợi trong kinh doanh của công ty Tuy nhiên bên cạnh đó công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh
2.1.4.2 Những khó khăn:
Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng trở nên gay gắt Vì vậy, muốn tồn tại và đứng vững được trên thị trường thì các doanh nghiệp đều phải không ngừng cố gắng vươn lên để khẳng định vị trí của mình Trong điều kiện như vậy, công ty lại gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề giải quyết thủ tục xuất nhập khẩu và tiếp nhận hàng hoá bởi sự quản lý
Trang 39
còn mang nặng tính quan liêu bao cấp của Nhà nước và đặc biệt là mức thuế nhập khẩu liên tục thay đổi, có xu hướng ngày càng tăng làm cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu gặp nhiều trở ngại
Mặc dù có rất nhiều nỗ lực trong kinh doanh nhưng công tác quản lý còn nhiều thiếu sót và thực sự chưa đem lại hiệu quả cao
Hàng hoá của công ty được nhập khẩu theo kế hoạch của ngành đường sắt cho nên công ty chưa thực sự chủ động trong việc xác định chi phí cũng như giá bán của sản phẩm Chính vì vậy, đây trở thành một khó khăn trong công tác quản lý chi phí của công ty
Và hàng năm công ty chưa đề ra được kế hoạch cụ thể cho việc lưu chuyển hàng hoá và chi phí lưu thông hàng xuất nhập khẩu mà chỉ đề ra kế hoạch xuất nhập khẩu cho nên vẫn chưa đưa ra được biện pháp phù hợp để tăng vòng lưu chuyển hàng hoá
và giảm chi phí lưu thông
2.1.4.3 Những nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng trên là:
Do tính phức tạp của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đặc thù kinh doanh của công ty là những vật tư chuyên dùng của ngành đường sắt đa dạng và phong phú về chủng loại
Do trình độ tổ chức quản lý, trình độ kế toán trong các chi nhánh, các đơn vị trực thuộc cũng như nội bộ công ty còn nhiều hạn chế
Những thuận lợi và khó khăn trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty, từ đó cần phải nhận thức và hạn chế những khó khăn, tận dụng thuận lợi vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
2.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty:
2.2.1 Phân tích kết cấu và diễn biến của nguồn vốn và sử dụng vốn tại công ty:
Như chúng ta đã biết, tổng số vốn của doanh nghiệp bao gồm 2 loại vốn: VLĐ
và VCĐ; còn nguồn vốn gồm 2 loại: Nguồn vốn vay và nguồn VCSH Trong mỗi loại vốn và nguồn vốn lại bao gồm nhiều loại vốn và nguồn vốn khác nhau Việc phân bổ vốn cho từng khâu, từng quá trình hợp lý hay không hợp lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
Trang 40
thông qua cơ cấu vốn, của nguồn vốn và sự biến động từng loại vốn, từng loại nguồn vốn của doanh nghiệp, người ta sẽ đánh giá được một phần thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Về cơ cấu sử dụng vốn (tài sản) và sự biến động của nó:
Nhìn vào BCĐKT ta có thể đánh giá khái quát như sau:
Trong năm 2004, tổng tài sản của công ty đang quản lý và sử dụng giảm 12.072.734.807đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 3,63% Số giảm này phản ánh đã có sự giảm đi về quy mô hoạt động của công ty Điều này thể hiện thông qua số liệu chi tiết sau:
TSLĐ & ĐTNH: Trong năm đã giảm 14.388.581.993 tương ứng với số
tương đối là 4,9%, đồng thời tỷ trọng của TSLĐ & ĐTNH trong tổng Tài sản của công ty cũng giảm 1,16%, cụ thể là: đầu năm 2004 chiếm 88,43% tổng tài sản, cuối
kỳ tỷ trọng đó là 87,27% Ta thấy TSLĐ & ĐTNH chiếm tỷ trọng rất lớn, tuy nhiên
do công ty VIRASIMEX là một công ty kinh doanh thương mại nên đó là một điều
dễ hiểu và rất hợp lý Trong đó, sử dụng vốn chủ yếu nằm trong hàng hoá bán chịu; tuy nhiên nếu nhu cầu thị trường tiêu thụ về sản phẩm này không cao thì điều đó có thể chấp nhận được, còn ngược lại đó là điều không mong muốn, giải pháp cho vấn
đề này là doanh nghiệp cần phải có chính sách tín dụng thương mại hợp lý và nên duy trì mức độ thu hồi nợ như năm vừa qua, cụ thể: năm 2003 là 197.051.988.176đ chiếm tỷ trọng 67,07% trong tổng TSLĐ & ĐTNH và năm 2004 là 158.235.097.785đ tương ứng với tỷ trọng 56,63% Ta thấy, khoản mục này giảm tới 38.816.890.391đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 19,70% kéo theo tỷ trọng giảm 10,44% Điều này chứng
tỏ trong một năm qua công ty đã cố gắng hết sức và có chính sách rất hợp lý trong vấn đề thu hồi nợ
Trong số các khoản thu, thì khoản phải thu của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, cụ thể: năm 2003 là 124.707.904.494đ tương ứng chiếm một tỷ trọng 63,29% trong tổng các khoản phải thu; còn năm 2004 là 95.729.815.603đ với tỷ trọng 60,50%, tuy đã giảm đến 28.978.088.891đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 23,24% nhưng vẫn chiếm một tỷ trọng tương đối cao Chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong các khoản phải thu là khoản mục phải thu nội bộ, cụ thể: năm 2003 là 53.428.545.623đ tương