LỜI NÓI ĐẦULà một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa Nhật Bản, Karate được giới trẻ yêu thích với nghệ thuật chiến đấu đặc thù bởi các đòn đặc trưng như đấm, đá, đánh chỏ, gối, c
Trang 2PGS.TS NGUYỄN ĐỨC THÀNH (Chủ biên) THS TRẦN VĂN TUYỀN - THS ĐỖ HOÀNG LONG
Trang 3BAN BIÊN SOẠN
(Theo chương sách)
Chương I Lịch sử hình thành và phát triển môn Karate
PGS.TS.Nguyễn Đức ThànhChương II Vai trò, ý nghĩa và đặc điểm môn Karate
PGS.TS Nguyễn Đức ThànhChương III Kỹ thuật Karate cơ bản
ThS Trần Văn Tuyền - PGS.TS Nguyễn Đức ThànhChương IV Quyền pháp (Kata)
ThS Nguyễn Thanh BìnhChương V Đấu luyện và tự vệ trong Karate
ThS Đỗ Hoàng LongChương VI Luật thi đấu môn Karate và các Phụ lục
PGS.TS Nguyễn Đức Thành
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Là một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa (Nhật Bản), Karate được giới trẻ yêu thích với nghệ thuật chiến đấu đặc thù bởi các đòn đặc trưng như đấm, đá, đánh chỏ, gối, các kỹ thuật đánh bằng bàn tay
mở, đấm móc, các kỹ thuật đấm đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã, xoay hông hay kỹ thuật kime, để tập trung lực năng lượng toàn cơ thể vào thời điểm hợp lý cho cú đánh quyết định.
Trong quá trình tập luyện, Karate hiện đại được chia làm ba phần chính: kỹ thuật cơ bản (Kihon) theo tiếng Nhật), quyền (Kata) và tập luyện giao đấu (Kumite), qua đó sẽ giúp giáo dục ý chí, nhân cách, rèn luyện sức khỏe, sự mạnh mẽ, sức bền và tăng cường sự tập trung cho sinh viên Được mệnh danh là “Môn võ dành cho những người có đầu óc”, dễ thấy muốn giỏi
và trở thành bậc thầy thì ngoài tư chất, sự chăm chỉ luyện tập thì cũng cần
có khả năng chiến đấu thực sự với Karate Ngoài ra, với đặc tính rất dễ thích nghi với thời đại của Karate, người học có thể kết hợp với các phương pháp hiện đại khác để tăng cường tính hiệu quả của môn nhọc này.
Trong giáo trình, nhóm tác giả đã tổng hợp các tài liệu, sách tham khảo có liên quan nhằm cung cấp cho sinh viên hệ thống kiến thức cơ bản trong 6 chương, bao gồm: Chương I Lịch sử hình thành và phát triển môn Karate; Chương II Vai trò, ý nghĩa và đặc điểm môn Karate; Chương III Kỹ thuật Karate cơ bản; Chương IV Quyền pháp (Kata); Chương V Đấu luyện và tự vệ trong Karate với nhiều hình ảnh minh họa thực tế sinh động; Chương VI Luật thi đấu môn Karate và các Phụ lục Thuật ngữ môn Karate Giáo trình này là tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy chính khóa của học phần tự chọn thuộc chương trình môn học giáo dục thể chất tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM và là tài liệu tham khảo cho các giảng viên quan tâm.
Trong quá trình biên soạn không thể tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong quý độc giả, các chuyên gia, quý giảng viên, các đồng nghiệp và các bạn sinh viên góp ý để giáo trình này được hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn!
Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Đức Thành
Trang 6MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
MỤC LỤC 5
CHƯƠNG I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MÔN KARATE 7
1.1 Sự ra đời Karate tại Nhật Bản 7
1.2 Sự hình thành và phát triển Karate trên thế giới 18
1.3 Khái quát sự phát triển Karate ở Việt Nam 25
1.4 Xu thế phát triển của Karate 28
1.5 Các Liên đoàn châu lục và các hoạt động của Liên đoàn Karate thế giới 29
CHƯƠNG II VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM MÔN KARATE NỘI DUNG 43
2.1 Vị trí, vai trò của môn võ Karate 43
2.2 Tác dụng của quá trình tập luyện và thi đấu Karate 43
2.3 Đặc điểm hoạt động của môn võ Karate 44
2.4 Cơ sở khoa học của môn võ Karate 54
2.5 Những nghi thức và đẳng cấp, màu đai và danh hiệu trong môn võ Karate 63
CHƯƠNG III KỸ THUẬT KARATE CƠ BẢN 69
3.1 Các tư thế tấn cơ bản trong Karate (Dachi Waza) 69
3.2 Phương pháp di chuyển trong Karate 79
3.3 Hệ thống kỹ thuật đánh tay (Uchi Wara) 81
3.4 Hệ thống kỹ thuật đấm (Zuki Zawa) 93
3.5 Hệ thống kỹ thuật đỡ (Uke Wara) 99
3.6 Hệ thống kỹ thuật đá (Geri Wara) 117
CHƯƠNG IV QUYỀN PHÁP (KATA) 127
4.1 Khái niệm chung 127
4.2 Phân loại bài quyền 130
Trang 7CHƯƠNG V HỆ THỐNG ĐẤU LUYỆN VÀ TỰ VỆ TRONG
KARATE 155
5.1 Hệ thống đấu luyện có quy ước 155
5.2 Giới thiệu một số hệ thống đối luyện cơ bản 1 bước (KIHON IPPON KUMITE) 170
5.3 Đấu luyện tự do (Juyu Kumite) 205
CHƯƠNG VI LUẬT THI ĐẤU MÔN KARATE 240
PHẦN A LUẬT THI ĐẤU KUMITE 240
PHẦN B LUẬT THI ĐẤU KATA 275
PHỤ LỤC 1 THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN 295
PHỤ LỤC 2 HIỆU LỆNH VÀ CỜ LỆNH 298
PHỤ LỤC 3 HƯỚNG DẪN ĐIỀU HÀNH CHO TTC VÀ TTP 318
PHỤ LỤC 4 CÁCH GHI ĐIỂM CỦA TRỌNG TÀI GHI ĐIỂM 322
PHỤ LỤC 5 SƠ ĐỒ THẢM THI ĐẤU KUMITE 323
PHỤ LỤC 6 SƠ ĐỒ THẢM THI ĐẤU 324
PHỤ LỤC 7 VÕ PHỤC 325
PHỤ LỤC 8 GIẢI VÔ ĐỊCH THẾ GIỚI - ĐIỀU KIỆN VÀ NỘI DUNG 326
PHỤ LỤC 9 CHỈ DẪN VỀ MÀU QUẦN CỦA TTC VÀ TTP 327
PHỤ LỤC 10 GIẢI VÔ ĐỊCH KARATE LỨA TUỔI DƯỚI 14 328
PHỤ LỤC 11 XEM LẠI VIDEO 330
PHỤ LỤC 12 MẪU ĐƠN KHIẾU NẠI CHÍNH THỨC 337
PHỤ LỤC 13 THỦ TỤC CÂN ĐO 338
PHỤ LỤC 14 THỂ THỨC ĐẤU VÒNG TRÒN (KUMITE) 340
PHỤ LỤC 15 TỔ CHỨC THI ĐẤU KATA OLYMPIC 344
PHỤ LỤC 16 THI ĐẤU KATA PREMIER LEAGUE 357
PHỤ LỤC 17 TỔNG HỢP THUẬT NGỮ KARATE 358
TÀI LIỆU THAM KHẢO .373
Trang 8CHƯƠNG I
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
MÔN KARATE
MỤC TIÊU Kiến thức: Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về sự ra đời
Karate tại Nhật Bản, sự hình thành và phát triển Karate trên thế giới và ở Việt Nam, cũng như xu thế phát triển của Karate…
Kỹ năng: Sinh viên am hiểu kiến thức nền tảng về triết lý các hệ phái
Karate và có cách nhìn tích cực để ứng dụng vào các lĩnh vực khác trong cuộc sống
NỘI DUNG 1.1 Sự ra đời Karate tại Nhật Bản
1.1.1 Nguồn gốc
Karate (hay còn gọi là Karate-do) là một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa (Nhật Bản) Karate có tiếng là nghệ thuật chiến đấu với các đòn đặc trưng như đấm, đá, cú đánh cùi chỏ, đầu gối và các kỹ thuật đánh bằng bàn tay mở Trong Karate còn có các kỹ thuật đấm móc, các kỹ thuật đấm đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã và những miếng đánh vào chỗ hiểm Để tăng sức cho các động tác tấn đỡ, Karate sử dụng
kỹ thuật xoay hông hay kỹ thuật kime, để tập trung lực năng lượng toàn cơ thể vào thời điểm tác động của cú đánh
Hình 1 Lâu đài Shuri của Okinawa (Mô hình triển lãm)
(Nguồn: https://www.goodreads.com/book/show/7964706-the-secret-karate-techniques)
Trang 9Trước đây, Karate chỉ giới hạn ở Okinawa, môn võ này được gọi
là Totei theo ngôn ngữ ở đây Vào thời kỳ Minh Trị, môn võ này bắt đầu được truyền từ Trung Hoa vào lãnh thổ chính của Nhật Bản, thì được phát
âm theo tiếng Nhật là Karate và giữ nguyên cách viết này Tên gọi Karate bắt đầu như vậy từ thập niên 1960 Giống như nhiều môn khác ở Nhật Bản (Trà đạo, Thư đạo, Cung đạo, Kiếm đạo, Côn đạo, Hoa đạo ), Karate được gắn thêm vĩ tố “Đạo”, phát âm trong tiếng Nhật là “Do” Vì thế, có tên Karate-do
Hình 2 Vị trí đảo Okinawa (Nhật Bản)
(Nguồn: http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.52.7113&rep=rep1&type=pdf)
Theo nghiên cứu gần đây, người ta chỉ có thể đưa ra được những giả thiết về nguồn gốc của Karate là do tập đoàn người Hoa từ Phúc Kiến di
cư theo con đường thương mại tới Okinawa và định cư tại thôn Kuninda
ở Naha Họ bắt đầu truyền các môn võ thuật Trung Quốc tại đây Về sau, người dân địa phương kết hợp những kỹ thuật, đòn thế tinh hoa của các
Trang 10môn võ Trung Hoa cùng các điệu múa dân gian của vùng Okinawa tạo nên phương thức chiến đấu nhằm chống lại ách đô hộ hà khắc mà giới cai trị Nhật Bản áp đặt lên dân bản xứ bấy giờ Tuy nhiên, xuất xứ chính xác của môn võ này còn chưa được xác định, bởi không tìm được thư tịch
cổ nào ghi chép về môn võ này Ngày nay, môn Karate được phát triển khá mạnh trên toàn thế giới và được chia ra rất nhiều nhánh hệ phái khác nhau như: Shotokan Ryu, Shito Ryu, Shorin Ryu, Wado Ryu, Goju Ryu, Kyokushinkai,… Tuy nhiên, hiện tại chỉ có 4 hệ phái được chính thức sáp nhập thành hệ thống Karate trên toàn thế giới đó là: Shotokan Ryu, Shito Ryu, Wado Ryu và Goju Ryu
1.1.2 Bốn hệ phái Karate tại Nhật Bản
Hiện nay, Karate có trên một trăm hệ phái, mặc dù có rất nhiều hệ phái khác nhau nhưng tất cả đều theo một hệ thống võ thuật thế giới Đến năm 1940, Karate được tôn vinh ở Nhật Bản, trở thành bộ môn tiêu biểu nhất trong làng võ thuật nước này, rất nhiều trường trung học, đại học đã thành lập Câu lạc bộ riêng Karate không những được giới trẻ yêu thích
để phát triển thân thể cường tráng, giáo dục tinh thần và thể chất mà còn đến với giới trung niên, các em thiếu niên như một phương cách gìn giữ sức khỏe Mặc dù nó đã phát triển qua nhiều năm nhưng Karate Okinawa truyền thống đôi khi cũng sử dụng một vài vũ khí - khiến chúng ta khó hiểu, vì vậy nên hình thành bốn hệ phái Karate chính ở Nhật Bản, đó là: Wado-ryu ,Goju-ryu, Shito-ryu và Shotokan
là chống lại nó Kỹ thuật di chuyển và chuyển động tập trung vào việc
sử dụng ít lực nhất có thể, tránh việc va chạm mạnh, có thể mô tả ryu như một môn võ tinh thần hơn là chiến đấu Việc sử dụng Taisabaki (chuyển động cơ thể) giúp giảm thiểu đòn tấn công của đối thủ, và Wado-ryu cũng sử dụng thế thấp hơn so với những hệ phái khác
Wado-Hệ phái này với nội dung chủ đạo là: “Đòn đỡ cũng là điều kiện để tấn công” Đòn đỡ luôn là động tác dự bị tấn công, nó sẽ không thực hiện
Trang 11nếu không nhằm mục đích tấn công Đòn đỡ muốn có hiệu quả phải trên
cơ sở đòn tấn công của đối phương nương theo chiều tấn công, không cản lại bằng những kỹ thuật Nagashi (dòng chảy), Inashi (đã qua) và Nori (cưỡi) để làm giảm lực tấn công của đối phương
Khi đỡ đòn, kỹ thuật rất đa dạng, nhiều bộ vị trên cơ thể được sử dụng triệt để, tiến thoái xoay chuyển được chia đều cho toàn thân để nương một cực nhỏ chống đối lại cực lớn với phương pháp “Tam vị nhất thể” (3 trong 1)
Hình 3 Chojun Miyagi - người sáng lập Hệ phái Wado-ryu
(Nguồn: http://droitwichohkukai.yolasite.com/otsuka.php)
Ví dụ: đối phương tấn công một đòn đấm vào mặt, bạn sẽ nương theo đòn ấy chia đều khoảng cách cho các kỹ pháp: chuyển vị tức là thay đổi vị trí chân, chuyển thể tức là xoay chuyển toàn thân bằng hông và chuyển kỹ tức là làm biến đổi kỹ pháp Nếu được vậy, bạn sẽ không chỉ vận dụng nhiều kỹ thuật ở đôi tay mà là của kỹ thuật toàn thân Trong tập luyện, cần phải luôn ý thức “Phòng ngự là tấn công và tấn công cũng là phòng ngự”, không sử dụng kỹ thuật đơn điệu mà phải sáng tạo
1.1.2.2 Hệ phái Goju-ryu
Được sáng lập vào năm 1930 bởi Chojun Miyagi, hệ phái này đã trở thành một trong những trường phái chính ngày nay Miyagi nghĩ rằng việc tạo ra một trường phái mới là cần thiết và tập trung vào những kỹ thuật
Trang 12đánh mạnh hơn Kết quả là, ông quyết định đặt tên cho môn võ mới của mình Goju-ryu Karate, có nghĩa là “cứng và mềm”, lấy cảm hứng từ các quy luật của Kempo truyền thống Trung Quốc Hệ phái thực hiện các kỹ thuật phòng thủ mềm mại kết hợp hoàn hảo với các đòn tấn công, phản công mạnh mẽ.
Miyagi là đệ tử của huyền thoại Sensei, Kanryo Higaonna, người nổi tiếng với việc đưa 8 môn võ cụ thể mà ông đã học được từ võ thuật Trung Quốc vào Karate và ông đã dạy cho học trò của mình
Hình 4 Chojun Miyagi - người sáng lập Okinawan Goju Ryu Karate
(Nguồn: http://japan-karate.com/karatehistory.html )
Quan niệm của hệ phái này là “Chuyển động tròn” tức ứng dụng trong phòng ngự hoặc tấn công muốn có hiệu quả tốt, phải xoay chuyển liên động của các thành phần thân thể: hông, vai, cánh tay, chân …
Để hóa giải, bạn ứng dụng quán tính Moment (↑↔↓M=F d ) vào
kỹ thuật để lực mạnh nhất phát sinh vào giai đoạn giữa, khi lực va chạm đến sẽ bị triệt tiêu Trong Goju Ryu, kỹ thuật được ước lượng tốc độ và sức mạnh, những sức mạnh không có lợi sẽ bị loại bỏ dần, kết hợp với các
kỹ thuật nhu để cương nhu được nhuần nhuyễn tạo ra sức mạnh tối đa
Hệ phái này chú trọng những điểm nhấn về các động tác nhanh-chậm-thả
Trang 13lỏng kết hợp sự điều khí hít thở cơ bụng, các kỹ thuật ngắn gọn, chặt chẽ Phương pháp tập luyện có 3 cách:
- Luyện kỹ thuật Hachisabaki (Tám tám): Cánh tay xoay chuyển theo hình số 8 tạo sự linh hoạt cho chân và hông Phương pháp di chuyển
4 phương hướng chính 900 và 4 hướng chếch 450
- Kakie (Quái thủ): Tạo sự niêm dính của hai cánh tay
- Sanchin (Tam chiến): Bài quyền giúp tấn pháp kiên cố để phát triển toàn diện
Kỹ thuật là chìa khóa cho hệ phái này, nó tập trung nhiều hơn vào sức mạnh và các đòn tấn công mạnh mẽ – một trong những trường phái
tư tưởng tích cực ở Karate Nó khám phá võ thuật cả bên trong lẫn bên ngoài, kết hợp những tư thế mạnh mẽ mà chúng ta thấy trong Shotokan
để đưa vào nội lực và tập trung vào sức mạnh hơi thở, tương tự như của Goju-ryu
Hệ phái này với nội dung chủ đạo là: “Quán tưởng (nhìn thấy) đối phương để có kỹ thuật phù hợp”
Hệ phái này chú trọng các động tác nhanh nhẹn, tư thế đối kháng với tấn cao di động hữu hiệu, ít sử dụng lực, không cứng nhắc nguyên tắc mà sáng tạo phù hợp theo thể tạng mỗi người Quan điểm của Hệ phái Shito Ryu theo phương châm:
- Rakka (Cánh hoa rơi): Đón đỡ đòn tấn công của đối phương đến như hứng đỡ cánh hoa đang rơi xuống mặt đất
- Ryusui (Dòng chảy): Khi đỡ đòn tấn công của đối phương, ta phải nương theo lực đánh của họ như dòng nước chảy chứ không đỡ trực tiếp
- Ten-i (Hoán vị): Đòn tấn công của đối phương đến, chúng ta di chuyển thích hợp theo một trong tám hướng với đòn tấn công đó
Trang 14- Kussin (Ẩn thân): Đòn tấn công của đối phương đến, chúng ta hóa giải bằng cách co duỗi thân thể, tạo khoảng cách an toàn mà đòn tấn công không thể va chạm được, ngay sau đó trở về vị trí cũ để phản công.
- Hangeki (Phản kích): Phòng ngự và tấn công là một (Công phòng nhất thể), các bạn hóa giải được từ dự đoán được đòn tấn công của đối phương và phản công ngay cử động đầu tiên Tất cả phương pháp hóa giải của Hệ phái Shito Ryu được tập luyện từ kỹ thuật căn bản đến quyền thức, luôn ước lượng tốc độ, sức mạnh đối phương để áp dụng kỹ thuật có lợi thế cho ta Nếu bạn cảm thấy tình huống khoảng cách không có lực, hãy áp dụng “Cánh hoa rơi” Bạn hãy luôn soi rọi, tìm kiếm kẻ hở của đối phương
1.1.2.4 Hệ phái Shotokan Ryu
Shotokan có lẽ là một trong những hệ phái chính của Karate mà chúng ta thường thấy ngày nay Được sáng lập bởi Gichin Funakoshi, nó được coi là nền tảng của Karate hiện đại, và Funakoshi thì được coi là một trong những bậc thầy sáng lập của Karate hiện đại
Trang 15Hình 7 Gichin Funakoshi (1868-1957) - Người sáng lập Hệ phái Shotokan Ryu
(Nguồn: https://www.jkr-uk.org.uk/gichin-funakoshi)
Sinh ra tại cái nôi của Karate, Okinawa, năm 1868, ông được học với một trong những bậc thầy Karate đáng kính trọng nhất lúc bấy giờ - Yasutsune Azato Sau khi chuyển đến Tokyo vào năm 1921, ông mang tất
cả kiến thức của mình vào đất liền để truyền dạy cho các võ sinh
Cái tên “Shotokan” được tạo ra bởi chính Funakoshi, bắt chước bút danh mà ông thường dùng để ký trong những bài thơ khi còn trẻ Shotokan
sử dụng các kỹ thuật tuyến tính và dáng đứng rộng, mang lại sự cân bằng
và sức mạnh hơn cho võ sĩ Shotokan được thiết kế để để tạo nên các đòn tấn công nhanh chóng, mạnh mẽ trong khi cũng hoàn toàn thích nghi với việc phòng thủ chính xác
Hệ phái này với nội dung chủ đạo là: “Đòn đỡ cũng là đòn tấn công dưới sự bộc phát của cường lực (Kime) cao nhất” Trong đó:
- Sức mạnh: Tốc độ càng nhanh thì sức càng mạnh, cường lực càng dũng mãnh mới xuyên phá được mục tiêu như khi luyện công phá Bạn phải tập trung sức mạnh bàn tay (hoặc chân) và khi va chạm phải xuyên suốt bất kỳ vật cản nào mới mang lại hiệu quả Trong đối kháng hiện đại, khi một đòn đấm thuận vào trung tâm cơ thể đối phương, bạn dùng bàn chân trước để xoay mũi chân sau về trước, tay cùng chiều với chân đấm
ra chuyển thân mình thành tấn trước, vai nghiêng 450 khi chân chạm đất trước mặt Hiệu quả của nó là ở cường lực xuyên phá
Trang 16Trong đối kháng truyền thống, lúc đối phương đang lao nhanh vào tấn công bạn là thời điểm bạn sử dụng sức mạnh tối đa, chỉ cần một kỹ thuật đá ngang (Yoko geri) cho hai lực nghịch cộng lại sẽ có hiệu quả tốt
Đỡ bằng nắm đấm (Ken) để ngăn chặn đòn tấn công của đối phương trực tiếp là lấy sức mạnh để phá vỡ sức mạnh
- Tốc độ: Đỡ nhanh nhẹn, nhu nhuyễn Nó thuần về kỹ thuật tay mở (Sho), không va chạm trực tiếp, để linh hoạt dự bị cho những kỹ thuật phản công ngay sau khi đỡ
Đồng thời, người tập cần phải phối hợp tốt di chuyển thân pháp nhanh nhẹn để thực hiện kỹ thuật Những kỹ thuật căn bản nhưng được tập luyện thường xuyên như: Jodan age uke, Chudan uchi uke, Gedan Barai
để được chuẩn xác phương hướng, phát lực hiệu quả Sau đó, bạn tăng tốc độ, di chuyển theo đòn tấn công của đối phương Những kỹ thuật này được biến thế qua kỹ thuật tay mở Dạng này cũng được áp dụng trong các quyền thức các bài quyền nhập môn chủ yếu là nắm tay Khi quá trình luyện tập lâu hơn, theo trình độ tăng tiến, bàn tay mở sẽ áp dụng nhiều hơn Đòn đỡ của Shotokan Ryu là Tốc độ + Sức mạnh = Kime
Theo Shotokan Funakoshi, mục đích cuối cùng của nghệ thuật Karate không nằm trong chiến thắng hay thất bại mà là sự hoàn thiện nhân cách của những ai đến với nó Ở đây có hai quan niệm cần phải hiểu: “nghệ thuật Karate” và “mục đích của Karate không ở sự chiến bại” Nhằm dụng
ý hiểu Karate ở đây là vẻ đẹp và sự chiêm ngưỡng nó theo con mắt nghệ thuật Và câu thứ hai của thầy hàm ý rằng nó để rèn giũa nhân cách, hoàn thiện bản thân Vậy theo quan niệm của thầy Ghichin, Karate Shotokan chính là “thiền võ”
Với Đại sư Nakayama-Shotokan (người viết Karatedo Shinkyotei - Phương pháp mới Karate) đã mang Karate phổ biến toàn thế giới với nhiều
Trang 17quan điểm mới về triết lý Karate, “một Karateka luôn luôn chủ động trong mọi tình huống”.
Với mỗi dòng phái, người ta có quan niệm về triết lý Karate khác nhau Karate là một môn võ Phương Đông toàn diện với nhiều hướng phát triển, mỗi hướng phát triển lại có một triết lý riêng
Chúng ta có thể tập luyện Karate với nhiều hệ phái, tại nhiều võ đường với nhiều mục đích khác nhau:
- Để trở thành một Karateka
- Trở thành một võ sỹ thi đấu chuyên nghiệp
- Một võ sỹ Karate thi đấu thể thao
- Một chiến binh
- Một môn nghệ thuật (biểu diễn Karate)
- Nhiều quốc gia dạy Karate cho quân đội của mình hay cho các lực lượng bảo vệ, vệ sỹ
Trong Karate Kyohan, Funakoshi đã trích dẫn từ Tâm Kinh, vốn nổi bật trong Phật giáo Shingon: “Sắc là tính không, tánh không là tự thân” (shiki zokuze kū kū zokuze shiki) Ông giải thích “Kara” của Karate có nghĩa là “thanh tẩy bản thân khỏi những suy nghĩ ích kỷ và xấu xa chỉ với một tâm trí và lương tâm trong sáng, người tập mới có thể hiểu được kiến thức mà mình nhận được.”
Funakoshi tin rằng một người nên “khiêm tốn bên trong và bên ngoài nhẹ nhàng” Chỉ bằng cách cư xử khiêm tốn, người ta mới có thể mở ra nhiều bài học của Karate Điều này được thực hiện bằng cách lắng nghe
và tiếp thu những lời phê bình Ông coi phép lịch sự là quan trọng hàng đầu và cho rằng: “Karate chỉ được áp dụng đúng cách trong những trường hợp hiếm hoi mà một người thực sự phải hạ gục người khác hoặc bị anh
ta hạ gục”
Funakoshi không cho rằng việc một tín đồ sử dụng Karate trong một cuộc đối đầu thực tế không quá một lần trong đời là điều bất thường Ông nói rằng các học viên Karate không bao giờ được dễ dàng bị lôi kéo vào một cuộc chiến Người ta hiểu rằng một cú đánh từ một chuyên gia thực sự
có thể đồng nghĩa với cái chết Rõ ràng là những người sử dụng sai những
gì họ đã học sẽ mang lại sự sỉ nhục cho chính họ Ông đã đề cao tính cách của niềm tin cá nhân Trong “thời kỳ khủng hoảng của công chúng, người
Trang 18ta phải có can đảm đối mặt với hàng triệu lẻ một đối thủ” Ông đã dạy rằng thiếu quyết đoán là một điểm yếu
1.1.3.2 Triết lý về cuộc sống của Karate
Chính là con đường tìm ra chân lý cuộc sống của những ai đến với Karate, những triết lý đó luôn cập nhật những tiến bộ của khoa học, triết học, lịch sử
Mỗi một võ sư, một võ sỹ, một chiến binh, và thậm chí mỗi võ sinh đều tự tìm cho mình những triết lý phù hợp với bản thân, với xu thế thời đại, để tự tìm cho mình câu trả lời, tập Karate để làm gì? Vì sao chúng ta được sinh ra? Vì sao chúng ta phải chết?
Do xu hướng phát triển của xã hội, nhiều quan niệm triết lý không còn phù hợp với từng thời kỳ nên nhiều võ đường, nhiều hệ phái đã không thể tồn tại và phát triển Cho dù triết lý của các dòng phái và các võ đường
có phức tạp như thế nào đi chăng nữa cũng không thể thoát ra khỏi ba quan điểm triết lý: duy vật, duy tâm và không phân biệt Và triết học đã chứng minh trường phái duy vật bao giờ cũng chiếm ưu thế
1.1.4 Phương pháp luyện tập Karate
Việc tập luyện Karate hiện đại được chia làm ba phần chính: kỹ thuật
cơ bản (“Kihon” theo tiếng Nhật), quyền (“Kata”) và tập luyện giao đấu (“Kumite”)
- Kỹ thuật cơ bản (Kihon) được tập luyện từ các kỹ thuật cơ bản (kỹ thuật đấm, động tác chân, các thế tấn) của môn võ Đây là thể hiện “mặt chung” của môn võ mà phần lớn mọi người thừa nhận, ví dụ những bước thực hành đòn đấm
- Kata nghĩa là “bài quyền” hay “khuôn mẫu”, “bài hình”, tuy nhiên
nó không phải là các động tác múa Các bài Kata chính là các bài mẫu vận động và chiêu thức thể hiện các nguyên lý chiến đấu trong thực tế Kata có thể là chuỗi các hành động cố định hoặc di chuyển nhằm vào các kiểu tấn công và phòng thủ khác nhau Mục đích của Kata là hệ thống hóa lại các đòn thế cho dễ nhớ dễ thuộc và những bài Kata đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp tùy theo trình độ và quá trình tập luyện của môn sinh Tuy nhiên nó không phải là các động tác múa
- Kumite là các kỹ thuật đấu đối kháng bằng tay chân Có hai hình thức đấu đối kháng trong Karate là đấu va chạm và bán va chạm Hiện nay,
Trang 19luật Karate thế giới tổ chức cho các giải thế giới và khu vực như Seagames, Asiad… chỉ dành cho thể loại đấu bán va chạm Còn thể loại đấu va chạm chỉ dành riêng cho các giải đấu của hệ phái Kyokushin và một số hệ phái Karate được người Mỹ kết hợp với môn Kickboxing.
1.2 Sự hình thành và phát triển Karate trên thế giới
Nói đến môn võ Karate nhiều người vẫn lầm tưởng đó là môn võ của Nhật Bản vì nó đã được phát triển và trở nên nổi tiếng ở Nhật Bản rồi từ
đó mới được truyền bá ra khắp năm châu nhưng thực ra nguồn gốc xuất xứ của nó lại từ đảo Okinawa, một thuộc địa của Nhật trước đây Okinawa
có nghĩa là: “Sợi dây thừng ngoài biển khơi”, một tên gọi tượng hình đầy ý nghĩa vì đây là hòn đảo chính, hình thoi nằm trải dài trong quần đảo Ryukyu, có một đầu hướng về Trung quốc, còn đầu kia lại hướng về Nhật Bản Chính do vị trí địa lý như vậy cho nên trong suốt một thời gian dài Okinawa đã trở thành nơi tranh chấp quyền lợi giữa Trung Quốc và Nhật Bản
Tuy nhiên do ảnh hưởng của Trung Quốc tới hòn đảo này lớn hơn nên nền văn hóa của Trung Quốc đã xâm nhập vào Okinawa từ rất sớm và trong đó có môn võ Thiếu Lâm Theo sử sách ghi lại, môn quyền thuật này
có thể đã được truyền bá vào Okinawa từ thời nhà Đường (từ năm 618 đến năm 906 sau Công nguyên) Đây là môn võ luyện tập chiến đấu bằng tay không được người Okinawa rất hâm mộ, tích cực hưởng ứng tham gia tập luyện và được gọi với tên mới là TODE TO có nghĩa là nhà Đường, TODE
là Đường Thủ hay môn võ của nhà Đường
Đến thế kỷ XIV khi mối quan hệ giữa Trung Quốc và Okinawa còn chặt chẽ, đã có một cuộc di dân lớn của Trung Quốc sang Okinawa vào năm 1393 và điều này đã góp phần thúc đẩy việc truyền bá và phát triển mạnh mẽ của môn võ Thiếu Lâm trên hòn đảo này
Năm 609, Okinawa bị lãnh chúa Satsuma xâm chiếm và đặt dưới sự cai trị của Nhật Bản Sợ dân chúng nổi dậy chống lại sự cai trị của mình, người Nhật đã cấm dân chúng dùng vũ khí và người nào mang theo vũ khí sẽ lập tức bị bắt và bị nghiêm phạt Đến năm 1669, ngay cả các lò rèn chuyên sản xuất các loại vũ khí dùng trong các ngày lễ cũng đã bị đóng cửa Sự nghiêm cấm hà khắc này đã thúc đẩy người dân Okinawa lén lút tập luyện môn võ TODE để sử dụng chính bàn tay của mình làm vũ khí chiến đấu Ba võ đường đầu tiên là Shuri, Naha và Tomari đã được mở
Trang 20dưới những căn hầm bí mật để tránh sự phát hiện của đế quốc Nhật Tới năm 1692, các võ sư trên một mặt trận thống nhất chống kẻ thù đã đổi tên môn võ này thành Okinawa- te “Te” có nghĩa là tay, còn Okinawa có nghĩa là môn võ của Okinawa và người Okinawa đã sử dụng chính môn võ này để chống lại kẻ thù.
Trải qua suốt một thời gian dài, mãi đến năm 1903, môn
Okinawa-te mới được Nhật công nhận và được phép đưa vào giảng dạy trong các trường học ở Okinawa Lúc này Okinawa-te đã được đổi tên thành Karate Jutsu Kara là tiếng Hán chỉ nhà Đường, Te là tiếng Okinawa chỉ tay, còn Jutsu là tiếng Nhật có nghĩa là nghệ thuật Như vậy danh từ Karate Jutsu đã mang tính kết hợp của cả ba nền văn hóa: Trung Quốc - Okinawa - Nhật bản và tên gọi này vẫn mang hàm ý gợi lại cội nguồn, xuất xứ của môn võ thuật này
Sau một buổi xem biểu diễn môn Karate Jutsu ở Nhật, Nhật Hoàng Hirohito đã tỏ ra rất thích thú và ông đã đề nghị Bộ Giáo dục Nhật mời một
võ sư Okinawa lừng danh sang biểu diễn Năm 1922, một võ sư lừng danh
và đồng thời cũng là một nhà trí thức nổi tiếng, ông Gichin Funakoshi, người hiện nay đang được coi là Tổ sư của môn võ Karate hiện đại đã sang biểu diễn ở Nhật Sức thuyết phục qua những buổi biểu diễn của ông đã dẫn đến kết quả là võ đường dạy Karate Jutsu đầu tiên đã được mở tại Đại học Keio ở Tokyo vào năm 1924 Sau đó các trường đại học khác ở Tokyo, Shoka Wascda cũng lần lượt mở các võ đường để truyền dạy môn võ này
và chẳng bao lâu sau số võ sinh theo học Karate Jutsu ở Nhật còn đông hơn
cả ở Okinawa Năm 1930, một võ sư đồng môn của Funakishi là Mabuni
đã sang Osaka để truyền dạy hệ phái của mình Hệ phái này về sau đã được phát triển thành hệ phái Shito, còn hệ phái của Funakoshi là Shotokan Ở Okinawa1, một võ sư đồng môn khác với Mabuni là Miyagi cũng tách ra để truyền dạy hệ phái của mình với tên gọi Goju (Go: cương, ju: nhu) nhưng
về cơ bản hệ phái này rất giống với hệ phái Shito của Mabuni Sau này còn rất nhiều hệ phái nữa đã kế tiếp nhau tiếp tục ra đời, và cho đến nay, theo ước tính ở Nhật đã có tới trên 100 hệ phái
1 Okinawa là đảo lớn nhất trong quần đảo Ryukyu và từng là trung tâm của vương quốc Ryukyu Năm 1879 quần đảo này được sáp nhập vào Nhật Bản Sau Chiến tranh thế giới
II, Okinawa được đặt dưới sự kiểm soát về hành chính của Mỹ Ngày 15/5/1972, Okinawa trở về với Nhật Bản Hiện nay nó là đơn vị hành chính - tỉnh Okinawa (nằm ở cực Nam của Nhật Bản).
Trang 21Karate Jutsu đã phát triển rất nhanh ở Nhật và vào năm 1932 môn võ này đã được đưa vào giảng dạy ở các trường học, đồng thời tên gọi Karate Jutsu đã được rút gọn thành Karate Tuy vẫn là chữ Karate nhưng lần này
từ Kara đã được hiểu là “trống không” chứ không phải là Trung Quốc như lần trước, chữ Te vẫn có nghĩa là tay và chữ Do là đạo thay cho chữ Jutsu Như vậy người Nhật đã biến Karate thành môn võ của mình và kể từ đó đã cải tiến môn võ này theo nguyên tắc khoa học, đơn giản và dễ tập với ba nội dung cơ bản là: Kata (quyền), Kumite (đối quyền) và Kihon (kỹ thuận căn bản) Tuy nhiên cho đến trước năm 1940, việc truyền dạy Karate chủ yếu vẫn chỉ là các thế căn bản và các bài quyền đồng thời môn võ này cũng chỉ được coi như là một môn thể thao thuần túy chưa có song đấu
Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Karate mới bắt đầu được truyền
bá ra nước ngoài Năm 1956, ông Tsutomu Ohshima đã mang Karate sang phổ biến tại Mỹ và hiện nay đây là quốc gia có phong trào Karate phát triển mạnh nhất ngoài Châu Á
Chỉ sau một thời gian ngắn, Karate đã được phát triển rộng khắp trên thế giới và vào năm 1960 Liên hiệp Karate Thế giới (World Union of Karate Organizations) viết tắt là WUKO đã được thành lập Tổ chức này chịu trách nhiệm định kỳ tổ chức các giải vô địch Karate thế giới và Giải
vô địch Karate thế giới lần thứ nhất đã được tổ chức tại Nhật vào năm
1970, lần thứ 2 được tổ chức tại Pháp vào năm 1972 và lần thứ 3 ở Los Angeles - Mỹ vào năm 1975
Năm 1994, các Liên đoàn Karate quốc gia trên thế giới đã họp và thống nhất đổi tên tổ chức này thành Liên đoàn Karate Thế giới (World Karate Federation) với hơn 100 nước thành viên (tính đến thời điểm lúc đó) và Việt Nam cũng đã trở thành thành viên chính thức Liên đoàn Karate Thế giới có nhiệm vụ chỉ đạo và định hướng hoạt động của các Liên đoàn Karate châu lục và khu vực; thúc đẩy sự phát triển của môn KARATE
và đẩy nhanh tiến trình thực hiện các công việc, thủ tục cần thiết để đưa Karate trở thành môn thể thao thi đấu Olympic
* Những cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Karate trên thế giới:
Từ miền “đất tổ” Okinawa, Karate đã phát triển ồ ạt tại Nhật Bản
Có thể nói đây là miền đất hứa của nó Và từ Nhật Bản, môn võ Karrate đã được truyền bá khắp thế giới
Trang 22- 1905: Karate được đưa vào chương trình giáo dục thể chất của Okinawa ở trình độ trung cấp.
- 1917: Funakoshi trình diễn Karate công khai đầu tiên
- 1922: Funakoshi được Tiến sĩ Jano Kano mời đến biểu diễn tại Kodokan Dojo, đưa Karate đến Nhật Bản
- 1924: Câu lạc bộ karate đại học đầu tiên được thành lập tại Nhật Bản, tại Đại học Keio
- Những năm 1930: Karate đến Canada
- 1936: Các võ sư Okinawa họp bàn về karate ở Okinawa, một cuộc họp do tờ báo Ryukyu Shimpo tài trợ
- 1939: Nhật Bản mở Shoto-Kan, trường đào tạo chính thức đầu tiên của nước này
- Năm 1945: Võ đường đầu tiên được mở tại Hoa Kỳ
- Năm 1949: Hiệp hội Karate Nhật Bản (JKA - Japan Karate Association) - Cơ quan quan trọng nhất về Karate được thành lập Tổ chức này được công nhận bởi chính phủ Nhật, với mục tiêu quảng bá và phát triển Karate
- Những năm của thập niên 1950: Karate du nhập vào Châu Âu bởi các võ sư Nhật Bản, chủ yếu từ Hiệp hội Karate Nhật Bản (JKA)
- Những năm 1960: Karate đến Liên Xô, bị cấm và bỏ cấm nhiều lần trong ba thập kỷ tiếp theo
- Năm 1961: Jacques Delcourt được bổ nhiệm làm Chủ tịch Liên đoàn Karate Pháp, giai đoạn đó là thành viên liên kết của Liên đoàn Judo Pháp Năm 1963, ông mời sáu liên đoàn Châu Âu nổi tiếng khác (Ý, Anh,
Bỉ, Đức, Thụy Sĩ và Tây Ban Nha) đến Pháp để tham dự sự kiện Karate quốc tế lần đầu tiên Vào tháng 12 năm đó, sáu trong số bảy liên đoàn đã tập trung tại Paris, nơi sẽ là Đại hội Karate Châu Âu đầu tiên, với mục đích cải thiện và tổ chức các giải đấu Karate giữa các quốc gia của họ Cần lưu
ý rằng việc thống nhất các phong cách Karate khác nhau là không thể, vì vậy họ quyết định thống nhất trọng tài
- Năm 1963: Liên đoàn Karate Châu Âu (European Karate Federation
- EKF) được thành lập Đây là một trong năm liên đoàn lục địa được Liên
Trang 23đoàn Karate Thế giới công nhận Cơ quan này có chức năng quản lý các môn Karate thi đấu tại hơn 50 quốc gia trên khắp Châu Âu Mục tiêu là quảng bá, tổ chức, điều chỉnh và phổ biến môn thể thao Karate Kể từ năm
1966, nó đã tổ chức Giải vô địch Karate Châu Âu
- Năm 1964: France Shotokan Karate được thành lập tại Pháp
- Năm 1965: Liên minh Karate Châu Âu được thành lập, Jacques Delcourt được bầu làm Chủ tịch Năm sau, Giải vô địch Karate Châu Âu đầu tiên được tổ chức tại Paris Sự kiện đã thu hút khoảng ba trăm khán giả và được chiếu trên truyền hình trực tiếp; tuy nhiên, nó đã bị chỉ trích vì quá bạo lực vì có nhiều vết thương trên mặt Hội đồng EKU đã có những ý kiến khác nhau về nguồn gốc của chấn thương, với các ý kiến khác nhau,
từ vi phạm quy tắc quá mức cho đến thiếu kỹ năng điều tiết và ngăn chặn Vấn đề này đã được giải quyết một phần nào đó tại khóa học trọng tài đầu tiên, được tổ chức ở Rome Ở đây, các quy tắc trọng tài đã được hài hòa bằng cách sử dụng các quy tắc JKA làm cơ sở
- Năm 1970, Liên đoàn Karate Quốc tế (IKU) được thành lập bởi Jacques Delcourt với nỗ lực tổ chức Karate ở cấp độ thế giới Khi nghe điều này, Ryoichi Sasakawa, Chủ tịch Liên đoàn Tổ chức Karate Nhật Bản (FAJKO), tổ chức sau này đổi tên thành Liên đoàn Karate Nhật Bản (JKF),
đã đến Pháp để thảo luận về việc thành lập một cơ quan quản lý quốc tế IKU nhanh chóng bị giải tán và một tổ chức mới được thành lập giữa EKU
và liên đoàn Nhật Bản, và được gọi là Liên minh các tổ chức Karate Thế giới (WUKO)
- Năm 1973, Liên đoàn Karate Châu Á (Asian Karate Federation - AKF) là cơ quan quản lý Karate thể thao của khoảng 39 quốc gia thuộc liên đoàn Karate ở Châu Á AKF là một tổ chức phi lợi nhuận và thực hiện các hoạt động của mình theo phương thức nghiệp dư tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong Hiến chương Olympic, được Liên đoàn Karate Thế giới, cơ quan quản lý quốc tế lớn nhất về Karate với hơn 180 quốc gia thành viên công nhận Đây là tổ chức Karate duy nhất được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận và có hơn 50 triệu thành viên AKF tổ chức Giải vô địch Karate Châu Á, Giải vô địch AKF dành cho lứa tuổi thiếu niên
và cao cấp hai năm một lần giữa Thế vận hội Olympic và Thế vận hội Châu
Á và tham gia Giải vô địch Karate thế giới WKF
Trang 24- Năm 1975: Liên đoàn Karate Panamerican (PKF) là cơ quan quản
lý Karate thể thao của khoảng 37 quốc gia thuộc liên đoàn Karate quốc gia ở Châu Mỹ PKF có tên gọi ban đầu là PUKO (Panamerican Union of Karate Organization) với 13 quốc gia sáng lập ra PUKO tại Long Beach, California, USA Đến năm 1995 chính thức đổi tên thành Panamerican Karate Federation PKF được công nhận hợp lệ bởi Liên đoàn Karate Thế giới
- Năm 1985, Liên minh các tổ chức Karate Thế giới (The World Union of Karate Organization) được Ủy ban Olympic Quốc tế (International Olympic Committee) chính thức công nhận là ban tổ chức chính thức của Karate
- Năm 1989: Karate được hợp pháp hóa một lần nữa tại Liên Xô
- WUKO đã cố gắng thống nhất với Liên đoàn Karate Truyền thống Quốc tế (the International Traditional Karate Federation - ITKF) vào năm
1990 để thành lập WKF; tuy nhiên, nỗ lực này đã thất bại và nhóm WUKO
đã rời đi để tự thành lập WKF
- Năm 1990, Liên đoàn Karate Thế giới (WKF - World Federation) được thành lập, trụ sở tại Madrid, Tây Ban Nha Đây là cơ quan quản lý thể thao Karate quốc tế lớn nhất với 191 quốc gia thành viên hiện nay, cũng
là tổ chức Karate duy nhất được Ủy ban Olympic quốc tế công nhận và
có hơn mười triệu thành viên WKF tổ chức Giải vô địch Karate Thế giới dành cho lứa tuổi thiếu niên và cao cấp hàng năm
- Vào đầu những năm 1990, việc Hidetaka Nishiyama từ chối liên kết tổ chức ITKF của mình với Liên minh các tổ chức Karate Thế giới (WUKO) đã khiến Ủy ban Olympic quốc tế đình chỉ việc công nhận WUKO là cơ quan quản lý quốc tế của Karate nghiệp dư ITKF và WUKO
đã được hợp nhất và tạo thành một tổ chức Karate thống nhất, nhưng điều này đã không xảy ra WUKO cuối cùng sát nhập cùng Liên đoàn Karate Thế giới vào cuối năm 2008
- Vào tháng 8 năm 2016, Karate được thông báo sẽ tham gia Thế vận hội mùa hè năm 2020
* Những nhân vật quan trọng trong lịch sử phát triển Karate
- Gichin Funakoshi: Người sáng lập Shotokan
Trang 25- Tiến sĩ Jano Kano: Người sáng lập Judo Nhật Bản.
- Sakukawa Kanga: Một trong những người Okinawa đầu tiên đến Trung Quốc học tập Karate
- Itosu Anko: Thường được gọi là “Ông tổ của Karate”, đã đưa Karate đến các trường học ở Okinawa và đơn giản hóa nó để tăng cường
sự chấp nhận của công chúng
- Chojun Miyagi: Được đặt tên theo phong cách Gōjū-ryū
- Hironori Otsuka: Người sáng lập ra phong cách Wadō-ryū
- Kenwa Mabuni: Người sáng lập ra phong cách Shitō-ryū
* Karate trong phim và văn hóa đại chúng
Karate được lan truyền nhanh chóng ở Phương Tây thông qua văn hóa đại chúng Trong tiểu thuyết phổ biến những năm 1950, Karate đôi khi được mô tả bằng những thuật ngữ gần như thần thoại, và các chuyên gia phương Tây về chiến đấu không vũ trang hầu như không mấy am tường về môn võ thuật Phương Đông này
Trong những năm 1960, sau khi môn Judo được đưa vào Thế vận hội Tokyo 1964 thì ngày càng có nhiều sự quan tâm của Phương Tây đối với
võ thuật Nhật Bản, đặc biệt là Karate
Đến những năm 1970, phim võ thuật (đặc biệt là phim kung fu và phim về Lý Tiểu Long của Hồng Kông) đã trở thành một thể loại chính thống và tạo ra «cơn sốt kung fu», đưa Karate và các môn võ thuật Châu
Á khác trở nên phổ biến rộng rãi Tuy nhiên, xu hướng khán giả Phương Tây vào thời đó thường không phân biệt rõ các môn võ thuật Châu Á khác nhau giữa Karate, kungfu và Taekwondo
Với bộ phim The Karate Kid (Tiểu anh hùng Karate) vào năm
1984 và các phần tiếp theo của nó là The Karate Kid, Phần II (1986), The Karate Kid, Phần III (1989) và The Next Karate Kid (1994) là những bộ phim hư cấu kể về một thanh thiếu niên Mỹ bước vào môn Karate Thành công của The Karate Kid đã làm Karate phổ biến hơn nữa (trái ngược với võ thuật Châu Á nói chung) trong nền văn hóa đại chúng chính thống của Mỹ
Ngoài ra, còn có Karate Kommandos là một chương trình hoạt hình
Trang 26dành cho trẻ em, với sự xuất hiện của diễn viên nổi tiếng Chuck Norris với những bài học đạo đức đầy giá trị có trong mỗi tập phim Lúc bấy giờ, nhiều ngôi sao điện ảnh khác như Bruce Lee, Chuck Norris, Jackie Chan, Sammo Hung, và Jet Li cũng xuất hiện từ một loạt các môn võ thuật khác
đã góp phần thu hút chú ý của người xem
1.3 Khái quát sự phát triển Karate ở Việt Nam
Môn Karate được phát triển mạnh mẽ ở nước ta do tính khoa học
và hiệu quả tập luyện của nó cộng với chủ nghĩa anh hùng dân tộc và tinh thần thượng võ của người dân Việt Nam
Karate là một trong những môn thể thao có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, đồng thời là môn thể thao mũi nhọn trong chiến lược phát triển thể thao thành tích cao của ngành Thể dục Thể thao, và cũng là một trong những môn học chính thức của sinh viên các trường cao đẳng và đại học Thể dục Thể thao
Dưới đây là một số cột mốc quan trọng của quá trình phát triển Karate ở Việt Nam:
- Sau năm 1945, Huế phát triển hệ phái Goju do một người Nhật tên
là Suzuki Choji ở lại nước ta sinh sống (kết hôn với một phụ nữ ở Huế là Nguyễn Thị Minh Lệ) và lấy tên Việt là Phạm Văn Phúc Ông là người sáng tổ hệ phái Suzucho Karate, người đầu tiên gieo mầm hạt giống Karate
ở Việt Nam Sinh nhật của ông, ngày 10 tháng 6 thường niên, được coi là ngày truyền thống của hệ phái Suzucho Karate
- Năm 1966, Thành phố Hồ Chí Minh phát triển hệ phái Kyokyushin
do công võ sư Hồ Cẩm Ngạc truyền bá
- Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Karate mới thực
sự được truyền bá và phát triển rộng khắp
- Năm 1980, được sự quan tâm đầu tư của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và sự khuyến khích của các Sở TDTT, đã thành lập được một số các câu lạc bộ tập luyện
- Năm 1984, một số giải thi đấu Karate đã được tổ chức và năm 1987 hội thảo Karate tại Huế đã thống nhất sử dụng Luật thi đấu Karate Tháng
7 năm 1988 giải Huế hữu nghị được tổ chức và đến tháng 6 năm 1989 giải
Trang 27hữu nghị Hà Nội cũng đã được tổ chức
Hình 8 Suzuki Choji (1919 - 1995) - (Thập Đẳng Huyền Đai Suzucho Karate -
Học trò nổi danh: Đoàn Đình Long, Lê Công, Lê Văn Thạnh)
- Tháng 8 năm 1991, Giải vô địch Karate toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức
- Bắt đầu từ năm 1995, Tổng cục Thể dục Thể thao đã tổ chức thi đấu và tiến hành phong cấp (từ cấp I đến cấp kiện tướng) cho các vận động viên Karate trong các giải tranh cúp vô địch cũng như giải trẻ toàn quốc.Trong những năm gần đây, Karate Việt Nam đã không ngừng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng tập luyện và điều này đã được khẳng định bằng các tấm huy chương mà các tuyển thủ Karate Việt Nam
đã mang về từ các cuộc tranh tài quốc tế cũng như khu vực:
Trang 28- Trần Văn Thông trở thành huyền thoại của Karate Việt Nam với tấm HCB ASIAD tại Hiroshima - 1994.
- Phạm Hồng Hà gặt hái vô số thành tích choáng ngợp: 3 lần vô địch SEA Games (1997, 1999, 2001), Huy chương bạc Asiad 1994, Huy chương đồng Cúp nữ thế giới 1997… Năm 1999, Phạm Hồng Hà trở thành vận động viên Karate đầu tiên của Việt Nam giành giải vô địch Karate Châu Á
- Nguyễn Hoàng Ngân (được mệnh danh là “nữ hoàng Kata”) đã giành HCV Giải vô địch Karate thế giới - 2008 tại Tokyo (Nhật Bản) Năm
2009, cô tiếp tục đoạt HCV nội dung quyền (Kata) đơn nữ tại Đại hội thể thao thế giới 2009 tại Cao Hùng, Đài Loan
- Nguyễn Minh Phụng (võ sĩ người Bình Dương) giành HCV nội dung đồng đội ở tuổi 18 (SEA Games 25 - năm 2009, HCB cá nhân, HCB đồng đội (SEA Games 26 - năm 2011), HCĐ cá nhân (SEA Games 27 - năm 2013) Ở SEA Games 29 - năm 2017, Minh Phụng tiếp tục giành HCV đồng đội và HCV cá nhân hạng cân trên 75kg Tháng 8/2018, anh giành HCB hạng cân 84 kg ASIAD
- Lê Bích Phương là VĐV duy nhất giành HCV cho đoàn Thể thao Việt Nam tại Asiad Quảng Châu 2010 Đến với SEA Games 26, Bích Phương tiếp tục chứng tỏ tài năng của mình khi xuất sắc dành HCV môn
võ Karate mặc dù gặp rất nhiều khó khăn và vất vả
- Năm 2013, tại giải đấu tiền SEA Games 27 (Philippines), đội tuyển Karate Việt Nam đã giành được 6 HCV, 7 HCB và 13 HCĐ xếp thứ ba toàn đoàn
- Năm 2017, tại SEA Games 29 (tổ chức tại Malaysia), Karate Việt Nam đã mang về thắng lợi lớn với 5 HCV (03 HCV cá nhân: Nguyễn Thị Hồng Anh, Hồ Thị Thu Hiền và Nguyễn Minh Phụng 02 HCV đồng đội: Kata nữ Việt Nam gồm Lê Thị Khánh Ly, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Phương vượt qua chủ nhà Malaysia với tỷ số 4-1 và giành HCV ở nội dung đồng đội nữ; Đội Kumite nam Việt Nam gồm Hồ Quang Vũ, Lê Minh Thuận, Nguyễn Văn Hải, Phạm Minh Nhật thắng tuyệt đối 3-0 trước Thái Lan ở trận chung kết) Tháng 9/2017, Nguyễn Thị Ngoan giành HC vàng hạng 61kg giải K1 thế giới tại Leipzig, Đức (giải có 98 võ sĩ tranh tài ở hạng 61 kg nữ)
Trang 29- Năm 2019, tại SEA Games 30 (tổ chức tại Philippines), bước vào trận chung kết nội dung Kata đồng đội nữ, đội tuyển Việt Nam gồm: Lưu Thị Thu Uyên, Lê Thị Khánh Ly và Nguyễn Thị Phương đã giành chiến thắng với điểm số 25,4 để đoạt HCV Trước đó, Nguyễn Thanh Duy cũng
đã đánh bại đối thủ Indonesia 2-1 ở chung kết hạng cân dưới 60kg nam để đoạt HCV
Karate Việt Nam tiếp tục đóng góp với 5 HCV (Nguyễn Thanh Duy, Lưu Thị Thu Uyên, Lê Thị Khánh Ly, Nguyễn Thị Phương)
- VKF/VKA (Liên đoàn/ Hiệp hội Karate Việt Nam): Thật đáng tiếc, cho đến thời điểm này, vì nhiều lý do mà Việt Nam vẫn chưa có Liên đoàn/ Hiệp hội Karate chính thức
1.4 Xu thế phát triển của Karate
Karate là môn võ thuật truyền thống của Nhật Bản, với mục đích rèn luyện thể chất và tinh thần Cuối thập niên 1950, trong xu thế giao lưu
và phát triển, một khuynh hướng mới được hình thành, đó là thể thao hóa
Karate, mà biểu hiện rõ nhất là chấp nhận thi đấu và tổ chức các giải đấu
cấp vùng, quốc gia, và quốc tế Sau những tranh cãi quyết liệt, cuối cùng khuynh hướng mới thắng thế, góp phần giúp Karate phát triển phổ cập đến nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, còn nhiều võ sư, trong đó có Tổ sư Funakoshi Gichin vẫn kiên định quan điểm truyền thống của mình
Thập niên 1960, thầy Suzuki Choji du nhập môn Karate vào Việt Nam cũng với tinh thần Võ đạo truyền thống của Tổ sư Funakoshi Gishin; Không cho phép dùng võ đánh người và nghiêm cấm tuyệt đối không được giao thủ với người khác phái, không được thượng đài tranh thắng thua Tháng 12/1987, “Hội nghị hội thảo toàn quốc về Karate” lần đầu tiên
tổ chức tại Huế, đánh dấu bước đầu Hệ phái Suzucho Karate tiếp cận nền Karate quốc tế hiện đại
Đặc biệt, tháng 7/1989, tại Hà Nội, sau đợt tập huấn với chuyên gia của Hiệp hội Karate Nhật Bản - Võ sư Yamamura, Hệ phái Suzucho Karate đứng trước sự lựa chọn: giữa con đường Võ đạo truyền thống của thầy Chưởng môn Suzuki Choji, và xu thế thể thao hoá của thời đại Trong lúc hầu hết cao đồ của thầy Suzuki Choji hòa theo khuynh hướng thể thao hóa môn võ thuật truyền thống Karate, Võ sư Nguyễn Văn Dũng (Phân đường Nghĩa Dũng Karate) kiên định con đường của thầy mình: Duy trì truyền
Trang 30thống, kết hợp với tinh hoa của Karate quốc tế hiện đại Coi trọng kỹ thuật căn bản, quyền pháp, kỹ năng tự vệ, rèn luyện sức khoẻ, và tu dưỡng phẩm chất đạo đức Tuy chương trình huấn luyện có nội dung thi đấu, nhưng không vì mục đích tranh giành huy chương; mà coi thi đấu là phương thức
để giao lưu, học hỏi, kiểm tra mình, thể hiện mình, và phát hiện tài năng Karate cho thể thao nước nhà
Karate đã chính thức được đưa vào chương trình thi đấu của Olympic
từ Tokyo 2020 Môn võ này sẽ là một hướng đi mới của thể thao Việt Nam trong việc tiếp cận và giành huy chương Olympic
Ngày nay, Karate là môn võ nổi tiếng khắp thế giới và có hàng vạn
võ sinh theo học Tại Việt Nam, môn võ huyền thoại Karate cũng phát triển không kém Hiện nay, bộ môn Karate đã có mặt ở 63 tỉnh thành trong
cả nước Mặc dầu có đến 6 hệ phái Karate ở Việt Nam hiện nay (Suzucho Ryu, Kyokushinkai Ryo, Shotokan Ryu, Shito Ryu, Goju Ryu, Wado Ryu), nhưng với sự nỗ lực của Liên đoàn Karate các tỉnh thành và của Bộ môn Karate Tổng cục TDTT, chương trình huấn luyện và thi đấu môn võ này dần dần được thống nhất trên cả nước theo Luật thi đấu của Liên đoàn Karate Thế giới (WKF)
1.5 Các Liên đoàn châu lục và các hoạt động của Liên đoàn Karate thế giới
1.5.1 Liên đoàn Karate thế giới (The World Karate Federation - WKF)
Liên đoàn Karate Thế giới (WKF) là cơ quan quản lý quốc tế lớn
nhất về Karate thể thao với 188 quốc gia thành viên Nó được thành lập vào năm 1990, là tổ chức Karate duy nhất được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận và có hơn mười triệu thành viên WKF tổ chức Giải vô địch Karate Thế giới dành cho lứa tuổi thiếu niên và cấp cao, được tổ chức hàng năm Chủ tịch của WKF là Antonio Espinos, và trụ sở chính được đặt tại Madrid, Tây Ban Nha Các phong cách được WKF công nhận là Gōjū-ryū,
Trang 31Shitō-ryū, Shotokan và Wadō-ryū
Hình 9 Logo Liên đoàn Karate thế giới
WKF bao gồm 188 quốc gia ở năm châu lục với hơn 10 triệu thành viên Năm Liên đoàn châu lục đại diện trong WKF bao gồm: Liên đoàn Karate Châu Á; Liên đoàn Karate Châu Âu; Liên đoàn Karate châu Châu Đại Dương; Liên đoàn Karate Châu Mỹ; Liên đoàn Karate châu Phi
1.5.2 Các sự kiện chính của Liên đoàn Karate thế giới
1.5.2.1 Tokyo 1970 - First World Championships
Quy mô và tầm quan trọng của Giải vô địch thế giới WUKO đầu tiên
ở Tokyo, 1970 là chưa từng có đối với thế giới Karate vì nó bao gồm:
- 33 quốc gia
- Các hạng đấu Kumite cá nhân và đồng đội nam mở rộng
Thành công, quy mô và tác động truyền thông của sự kiện ngay lập tức được toàn thế giới công nhận như một cột mốc sáng tạo trong sự phát triển của môn thể thao Karate Kể từ đó, cuộc thi đã được hoàn thiện đến mức độ tinh vi không thể so sánh được về chất lượng kỹ thuật Karate và được tín nhiệm như một sự kiện thể thao giới thiệu đến hàng triệu người tập Karate
ở khắp mọi nơi trên thế giới thông qua các công cụ truyền thông hiện đại
1.5.2.2 Chuyển đổi sang WKF
Sự hợp nhất của một số tổ chức mới trong những năm 1990 đã khiến
số thành viên của WUKO tăng lên 150 Liên đoàn Quốc gia Do đó, cần có một cái tên mới phản ánh chính xác hơn quy mô và phạm vi của tổ chức Tên của tổ chức quốc tế đầu tiên đại diện cho Karate thể thao do đó đã được đổi thành Liên đoàn Karate Thế giới (WKF) vào ngày 20 tháng 12 năm 1992
1.5.2.3 Tiến hóa cạnh tranh WKF
Giải vô địch thế giới Tokyo đã mở đường cho một sự phát triển vượt
Trang 32bậc trong cuộc thi Karate quốc tế trong ba thập kỷ tiếp theo.
Sự kiện khai mạc đó chỉ bao gồm Kumite đồng đội nam và cá nhân Các bộ phận Kata đã được giới thiệu và nữ giới lần đầu tiên được đưa vào Giải vô địch thế giới Madrid vào năm 1980 Cuộc thi hiện tại bao gồm tổng cộng 4 bộ phận Kata nam và nữ và 12 bộ phận Kumite nam và nữ
Việc kết hợp các bộ phận dành cho người khuyết tật vào Giải vô địch thế giới có ý nghĩa đặc biệt Phản ứng tích cực của công chúng đối với những vận động viên đặc biệt này đã chứng thực nhận thức về Karate như một hoạt động mà tất cả nhân loại có thể tham gia
1.5.2.4 Công nhận của IOC
Sự phát triển đáng kể của WKF trong suốt những năm 1980 và 1990
đã dẫn đến một tổ chức hợp nhất đại diện đầy đủ cho Karate thể thao ở cấp
độ quốc tế
Hình 10 Chứng nhận WKF là cơ quan quản lý Karate thể thao duy nhất
trên thế giới của IOC
Tính hợp pháp này được khẳng định vào năm 1999, khi IOC chính thức công nhận WKF là cơ quan quản lý Karate thể thao duy nhất trên thế giới
1.5.2.5 Đối tác toàn cầu WKF
Liên đoàn Karate Thế giới là thành viên của các Tổ chức Quốc tế hàng đầu:
- Association of IOC Recognised Intrenational Sports Federation
Trang 33Hình 11 Logo của ARISF
- Intrenational World Games Association
Hình 12 Logo của IWGA
- Intrenational Sports Federation
Hình 13 Logo của ISF
Trang 341.5.2.6 Con đường Olympic
- Năm 2004, IOC đã chọn Karate như một môn thể thao ứng cử viên
để đưa vào Thế vận hội Olympic mùa hè 2012
Con đường phức tạp này đã khuyến khích Karate trải qua sự phát triển lớn và tạo điều kiện cho việc giới thiệu các cải tiến để đảm bảo sự tham gia an toàn của các vận động viên trong một môn thể thao hiện đại, thu hút, hấp dẫn người xem
1.5.2.7 Tạo biểu tượng “K” - Đường đến Olympic
WKF đã ba lần kiến nghị IOC xem xét việc đưa Karate vào Thế vận hội Olympic
Một chiến dịch vào năm 2012 nhằm mục đích thể hiện nỗ lực được
áp dụng và sự phát triển của môn thể thao Karate để phù hợp với tất cả các lý tưởng Olympic trong hành trình của nó trên “Con đường Olympic”.Chiến dịch này đã tiếp cận hàng triệu người ủng hộ được xác định bằng biểu tượng “K”, biểu tượng này đã trở thành biểu tượng và khát vọng Olympic của Karate
1.5.2.8 Sự tiến triển như một môn thể thao
- Trong số nhiều tiến triển mà Dự án Olympic tạo điều kiện, hầu hết đều hướng tới việc thay đổi bản chất của cuộc thi để cải thiện các hoạt động thể thao và tạo ra các sự kiện hấp dẫn người xem
- Một trong những thay đổi rõ ràng nhất đã có tác động lâu dài đến thị giác là bố cục cuộc thi, hiện bao gồm bốn khu vực được căn chỉnh trong đấu vòng loại và một khu vực đẳng cấp cao ở vòng chung kết
- Những thay đổi này đã khiến cho các cuộc thi đấu Karate trở nên gần gũi đối với người hâm mộ, hấp dẫn hơn về mặt hình ảnh và đã làm rõ các hoạt động trọng tài với các quy tắc khách quan hơn, đơn giản hơn và công bằng hơn
- Bình đẳng giới, sự kết hợp các vận động viên khuyết tật và các nhóm tuổi khác nhau vào các bộ phận cạnh tranh, thi đấu đã làm gia tăng đáng kể sự tham gia của các vận động viên
- Quy trình phê duyệt bốn năm một lần đảm bảo việc kết hợp các
Trang 35thiết bị bảo vệ hiện đại đã tối đa hóa cho sự an toàn của vận động viên.
- Việc áp dụng chương trình chống doping của WADA hiện đảm bảo tính minh bạch trong cạnh tranh và giáo dục những người tham gia về tầm quan trọng của việc luyện tập một môn thể thao trong sạch
- Sự phát triển đáng kể công nghệ phủ sóng của truyền hình và Internet đã mang lại những cuộc thi đấu WKF trực tiếp cho mọi người và
đã cho phép Karate có vị trí xứng đáng trong số các sự kiện thể thao quốc
tế được cả thế giới theo dõi
1.5.2.9 Trọng tài và các cuộc thi đấu
Công tác trọng tài là không thể thiếu đối với chức năng WKF Họ tích cực hợp tác để hoàn thiện các quy tắc thi đấu nhằm đảm bảo sự cạnh tranh của WKF công bằng và khách quan nhất có thể thông qua các chương trình đào tạo và đánh giá liên tục Những điều này khuyến khích việc kết hợp các trọng tài mới và duy trì năng lực của các trọng tài đủ tiêu chuẩn
1.5.2.10 Các giải vô địch thế giới, sự kiện thể thao Karate hàng đầu
- Sự phát triển của Karate với tư cách là một môn thể thao được phản ánh chính xác trong sự thay đổi bản chất của các Giải vô địch thế giới trong bốn thập kỷ qua
- Giải vô địch thế giới mới đây kéo dài 5 ngày bao gồm 1.200 vận động viên đến từ hơn 100 quốc gia và thu hút hàng nghìn người ủng hộ đến các sân vận động, với hàng triệu lượt theo dõi khác qua truyền hình
và Internet
1.5.2.11 Môn Karate như phương tiện thể thao giải trí trên Internet
và truyền hình
- Những kỳ vọng được tạo ra bởi Giải vô địch thế giới ngày nay đòi hỏi
sự lan tỏa toàn cầu WKF tạo ra các tín hiệu vệ tinh qua đó các kênh truyền hình và Internet có thể cung cấp các cuộc cạnh tranh trực tiếp với độ nét cao
- Giải vô địch thế giới được truyền hình trực tiếp tại hơn 120 quốc gia và kênh WKF YouTube cũng cho phép những người còn lại truy cập vào các sự kiện này ở độ nét cao
1.5.2.12 Sự lan tỏa của các cuộc thi của WKF trên toàn thế giới
Trang 36- WKF và các Liên đoàn Lục địa đã tổ chức các cuộc thi hàng năm
và định kỳ 6 tháng một lần cho nam và nữ sinh viên các trường quân sự, theo các cấp độ từ sơ đến trung, trung cấp
- Các cuộc thi này diễn ra trên toàn thế giới với sự chứng thực của
188 Liên đoàn Quốc gia và bất kỳ ai cũng có thể theo dõi chúng từ bất kỳ điểm nào trên hành tinh
- Ước tính có khoảng 100 triệu cá nhân tham gia với Karate và kênh Internet WKF đã vượt mốc 10 triệu lượt xem trong vòng 18 tháng đầu tiên tồn tại
- Sự phát triển của các quốc gia có phủ sóng TV qua các năm như sau: năm 2006 - 46 quốc gia; năm 2010 - 80 quốc gia; năm 2014 - 120 quốc gia
Karate sẽ ra mắt Olympic tại Thế vận hội Olympic Tokyo 2020 Lần xuất hiện đầu tiên của Karate tại Thế vận hội Olympic sẽ diễn ra tại quốc gia khai sinh ra môn thể thao này và tại cùng địa điểm tổ chức Giải vô địch thế giới Karate đầu tiên: Nippon Budokan Hơn nữa, Karate đã trải qua sự kiện Olympic đầu tiên tại Thế vận hội Olympic Trẻ 2018 ở Buenos Aires Ngoài ra, Karate cũng đã được đưa vào chương trình thể thao của Thế vận hội Olympic trẻ ở Dakar năm 2026
1.5.2.13 WKF trong các môn thể thao của chu kỳ Olympic
Karate được bao gồm trong các chương trình sau:
- Các môn thể thao châu Phi
- Đại hội thể thao Châu Á
- Các môn thể thao Châu Âu
- Các môn thể thao Địa Trung Hải
- Các môn thể thao liên Mỹ
- Các môn thể thao Thái Bình Dương
- Các môn thể thao thế giới
Năm màu trong logo WKF tượng trưng cho bản chất phổ quát của Karate như một môn thể thao và cơ cấu tổ chức chi phối nó
Trang 371.5.3 Các Liên đoàn châu lục
1.5.3.1 Liên đoàn Karate Châu Á (Asian Karate Federation - AKF)
AKF là cơ quan quản lý môn Karate thể thao của khoảng 44 quốc gia thuộc liên đoàn Karate ở Châu Á AKF là một tổ chức phi lợi nhuận
và thực hiện các hoạt động của mình theo phương thức nghiệp dư tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong Hiến chương Olympic Đây là
tổ chức Karate duy nhất được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận và có hơn 50 triệu thành viên AKF tổ chức Giải vô địch Karate Châu Á, Giải
vô địch AKF dành cho lứa tuổi thiếu niên và cao cấp trong hai năm một lần giữa Thế vận hội Olympic và Thế vận hội Châu Á và tham gia Giải vô địch Karate thế giới WKF Chủ tịch hiện tại của Liên đoàn Karate Châu
Á (AKF) là Thiếu tướng Nasser Al Sayed Abdulrazak Alrazooqi của UAE
và ông Kuong Im Che của Macau, Trung Quốc giữ chức vụ Tổng thư ký
Hình 14 Logo của Liên đoàn Karate Châu Á (Asian Karate Federation - AKF)
Liên đoàn Karate Châu Á được thành lập với tên gọi APUKO (Liên đoàn các tổ chức Karate Châu Á Thái Bình Dương) vào năm 1973 Nó đổi thành AUKO (Liên minh các tổ chức Karate Châu Á) vào năm 1992 sau khi WUKO được gia nhập IOC Tên lại được đổi vào năm 1999 thành AKF (Liên đoàn Karate Châu Á) theo Liên minh các Tổ chức Karate Thế giới (WUKO) đổi thành Liên đoàn Karate Thế giới (WKF)
1.5.3.2 Liên đoàn Karate Châu Âu (The European Karate Federation
- EKF)
EKF là cơ quan quản lý các môn Karate thi đấu tại hơn 50 quốc gia trên khắp Châu Âu Mục tiêu đã nêu của EKF là quảng bá, tổ chức, điều chỉnh và phổ biến môn thể thao Karate Đây là 1 trong 5 liên đoàn lục địa được Liên đoàn Karate Thế giới công nhận Kể từ năm 1966, EKF đã tổ chức Giải vô địch Karate Châu Âu Ngoài ra, hiện nay, EKF tổ chức các giải vô địch thiếu niên, trẻ và dưới 21 tuổi
Trang 38Hình 15 Logo của Liên đoàn Karate Châu Âu (The European Karate Federation - EKF)
Ngày 15 tháng 12 năm 1963, các liên đoàn Pháp, Anh và Bỉ đã tập trung tại Paris cho Đại hội Karate Châu Âu đầu tiên Họ đã tìm cách cải thiện và tổ chức các giải đấu Karate giữa các quốc gia tương ứng Liên minh Karate Châu Âu (Union Européenne de Karaté) chính thức được thành lập vào ngày này
Các võ sĩ từ ba quốc gia sử dụng các phong cách khác nhau của Karate, và việc thống nhất các phong cách khác nhau tỏ ra khó khăn đối với các liên đoàn riêng biệt Do đó, các đại biểu quyết định thống nhất trọng tài
Ngày 24 tháng 5 năm 1964, một cơ cấu quản trị cho EKU được thành lập tại Đại hội Karate Châu Âu lần thứ hai Jacques Delcourt được bầu làm chủ tịch đầu tiên của tổ chức, một chức vụ mà ông giữ cho đến năm 1988 Tại Đại hội lần thứ ba, vào ngày 21 tháng 11 năm 1965, các đại biểu - đại diện cho 10 quốc gia - đã thông qua một cấu trúc quy định hoạt động và các quy tắc tiêu chuẩn về hướng dẫn và xếp hạng Họ cũng đã lên lịch cho Giải vô địch Karate Châu Âu đầu tiên, được tổ chức tại Paris vào tháng 5 năm 1966
Giải vô địch đầu tiên thu hút khoảng 300 khán giả và được truyền hình trực tiếp trên truyền hình Sự kiện đã bị chỉ trích vì quá bạo lực, vì nhiều người tham gia đã bị thương ở mặt Hội đồng EKU đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân của các chấn thương, từ vi phạm quy tắc quá mức đến chênh lệch về kỹ năng và điều kiện Vấn đề phát sinh chấn thương đã được giải quyết tại hội thảo trọng tài đầu tiên của EKU, được tổ
Trang 39chức tại Rome vào năm 1967.
Năm 1993, EKU đổi tên thành Liên đoàn Karate Châu Âu Kể từ năm 1997, Antonio Espinos của Tây Ban Nha giữ chức vụ chủ tịch (Ông cũng là Chủ tịch Liên đoàn Karate Thế giới từ năm 1998)
1.5.3.3 Liên đoàn Karate châu Châu Đại Dương (OKF) (The Oceanican Karate Federation - OKF)
Liên đoàn Karate Châu Đại Dương (OKF) là cơ quan điều hành môn Karate của 12 liên đoàn quốc gia trong khu vực Châu Đại Dương OKF là một tổ chức phi lợi nhuận và thực hiện các hoạt động của mình trên cơ sở nghiệp dư tuân thủ các nguyên tắc quy định trong Hiến chương Olympic, được Liên đoàn Karate Thế giới công nhận Đây là tổ chức Karate duy nhất được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận và có hơn 10 triệu thành viên OKF tổ chức Giải vô địch Karate Châu Đại Dương, hai năm một lần.Liên minh các tổ chức Karate Châu Á Thái Bình Dương (APUKO) được thành lập vào năm 1973 Giải Vô địch Karate Châu Á Thái Bình Dương lần thứ nhất được tổ chức tại Singapore 12 quốc gia thi đấu theo thể thức loại trực tiếp đôi
Hình 16 Logo của Liên đoàn Karate châu Châu Đại Dương
(The Oceanican Karate Federation - OKF)
Năm 1992, APUKO được tách thành Liên minh các tổ chức Karate Châu Á (AUKO), sau đó là Liên đoàn Karate Châu Á (AKF) và Liên đoàn Karate Châu Đại Dương (OKF)
Đại hội các tổ chức Karate Châu Đại Dương lần thứ 16 được tổ chức vào ngày 11 tháng 9 năm 2014 tại Suva, Fiji đã bầu Michael - chủ tịch Liên đoàn Karate Úc, chủ tịch Liên đoàn Karate Khối thịnh vượng chung, thành viên Ban chấp hành Liên đoàn Karate Thế giới làm chủ tịch Liên đoàn
Trang 40Karate Châu Đại Dương.
1.5.3.4 Liên đoàn Karate Châu Mỹ (The Panamerican Karate Federation - PKF)
Liên đoàn Karate Châu Mỹ là cơ quan quản lý Karate thể thao của khoảng 37 quốc gia thuộc liên đoàn Karate quốc gia ở Châu Mỹ
PKF được thành lập vào năm 1975 với tên ban đầu là PUKO (Panamerican Union of Karate Organization) với 13 quốc gia sáng lập ra PUKO tại Long Beach, California, USA, đến năm 1995 chính thức đổi tên thành Panamerican Karate Federation PKF được công nhận hợp lệ bởi Liên đoàn Karate Thế giới Đây là tổ chức Karate duy nhất ở Châu Mỹ được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận và có hơn 10 triệu thành viên PKF đã tổ chức Giải vô địch đàn em và đàn anh ở nhiều quốc gia ở Panamerica và tham gia Giải vô địch Karate Thế giới WKF Chủ tịch của PKF là William Millerson
Hình 17 Logo của Liên đoàn Karate Châu Mỹ (The Panamerican Karate Federation - PKF)
Tiền thân của PKF là PUKO - được thành lập vào tháng 10 năm 1975 Hoạt động thành lập diễn ra tại phòng “Mayfair” của Queen Hotel Mary
ở Long Beach, California Các quốc gia thành lập là Argentina, Bermuda, Canada, El Salvador, Guatemala, Mexico, Panama, Paraguay, Cộng hòa Dominica, Trinidad và Tobago, Hoa Kỳ và Venezuela
Giải vô địch PUKO đầu tiên được tổ chức tại đảo Curaçao từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 5 năm 1981 với sự tham gia của 10 quốc gia
Trong giải vô địch Liên Châu Mỹ năm 1990 tại Niteroi, Brazil, một
số quốc gia Nam Mỹ, như Argentina, Chile, Colombia và Uruguay, bắt đầu tham gia rất tích cực vào các chức vô địch của PUKO Năm 1991, có một