1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI GIẢNG LOGIC TÓM TẮT Chương I ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA LÔGIC HỌC

73 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Logic Tóm Tắt Chương I Đối Tượng Và Ý Nghĩa Của Logic Học
Chuyên ngành Logic học
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 821,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay “lôgic” được hiểu với ba nghĩa cơ bản sau: Thứ nhất, dùng để chỉ mối liên hệ tất yếu, có tính qui luật giữa các sự vật hiện tượng lôgic khách quan; Thứ hai, dùng để chỉ mối li

Trang 1

BÀI GIẢNG LOGIC TÓM TẮT

Chương I ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA LÔGIC HỌC

I LÔGIC HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA LÔGIC HỌC

1 Lôgic học là gì?

Từ “lôgic” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp  (Logos) Logos có rất nhiều nghĩa như: lời nói, trí tuệ, lý lẽ, lập luận, tính quy luật Ngày nay “lôgic” được hiểu với ba nghĩa cơ bản sau:

Thứ nhất, dùng để chỉ mối liên hệ tất yếu, có tính qui luật giữa các sự vật

hiện tượng (lôgic khách quan);

Thứ hai, dùng để chỉ mối liên hệ tất yếu, có tính qui luật giữa những ý

nghĩ, tư tưởng trong tư duy, trong lập luận của con người (lôgic chủ quan);

Thứ ba, dùng để chỉ môn khoa học nghiên cứu về tư duy (lôgic học)

2 Đối tượng của lôgic học

Lôgic học là khoa học nghiên cứu các hình thức, quy luật của tư duy Tuy nhiên, tư duy không phải là đối tượng riêng của lôgic học mà còn là đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác như triết học, tâm lý học, sinh lý học thần kinh Vì vậy, vấn đề quan trọng là chúng ta phải phân định được ranh giới của lôgic học với các khoa học khác cũng nghiên cứu về tư duy Trước tiên, cần phải xem xét quá trình nhận thức của con người, đây chính là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua hoạt động thực tiễn Quá trình đó gồm hai giai đoạn: Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động); nhận thức

lý tính (tư duy trừu tượng)

a/ Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động):

Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, giai đoạn này con người

sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật để nắm bắt các sự vật

Trang 2

+ Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện

tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người

+ Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực

tiếp tác động vào các giác quan Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là

sự tổng hợp của nhiều cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật

+ Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai

đoạn trực quan sinh động Đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc người về sự vật khi nó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan

b/ Nhận thức lý tính (Tư duy trừu tượng):

Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng Ở giai đoạn này nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra, nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng và phản ánh qua các hình thức của tư duy như khái niệm, phán đoán, suy luận

Vì vậy, nhận thức lý tính cần đến ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ để biểu

thị, diễn đạt nội dung phản ánh

+ Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những

đặc tính bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật

+ Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau

để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng

+ Suy luận là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để

rút ra tri thức mới

Lôgic học với tư cách là khoa học nghiên cứu về tư duy nhưng không nghiên cứu toàn bộ quá trình nhận thức nói chung mà chỉ nghiên cứu giai đoạn nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng)

Vì vậy, xét một cách khái quát nhất đối tượng của lôgic học chính là

những hình thức của tư duy trừu tượng, những qui tắc, qui luật chi phối quá

trình tư duy để nhận thức đúng đắn được hiện thực khách quan

3 Lôgic và ngôn ngữ

Lôgic và ngôn ngữ thống nhất với nhau Lôgic chỉ mối quan hệ bên trong giữa các yếu tố cấu thành của tư duy, nó là nội dung của ngôn ngữ, còn ngôn ngữ

Trang 3

là cái vỏ vật chất, là hình thức biểu hiện bên ngoài của tư tưởng Tuy nhiên, giữa lôgic và ngôn ngữ cũng có những điểm khác biệt:

Thứ nhất, trong lôgic người ta quan tâm đến phương diện hình thức, đến

cấu trúc bên trong của tư tưởng, cho nên để biểu thị nội dung một tư tưởng nhất định, người ta xây dựng, quy ước bằng các biểu thức đơn trị về cấu trúc

Ngược lại, trong ngôn ngữ có những cách khác nhau để biểu thị, diễn đạt cùng một nội dung tư tưởng, hay cùng một biểu thức ngôn ngữ nhưng có thể diễn đạt những nội dung khác nhau Chính vì vậy, ngôn ngữ tự nhiên thể hiện nội dung tư tưởng đa dạng, phong phú, có hiện tượng đa trị về cấu trúc

Thứ hai, những quy luật, quy tắc của lôgic là những quy luật, quy tắc hình

thức phổ quát và cố định

Trái lại, những quy luật, quy tắc trong ngôn ngữ ngoài đặc điểm về hình thức còn phụ thuộc vào nội dung Bên cạnh những quy luật phổ quát, chung cho mọi người, còn có những quy luật, quy tắc đặc thù cho một nhóm hoặc riêng cho một ngôn ngữ Những quy tắc này cũng không bất biến mà thay đổi theo thời gian, không gian nhất định

II VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÔGIC HỌC

1 Thời kỳ Cổ đại

Với tư cách là một khoa học, lôgic học được hình thành từ thế kỷ thứ IV trước Công nguyên và được đánh dấu bằng bộ sách Organon (công cụ nhận thức) của triết gia người Hy Lạp Aristote Aristote (384 - 322 TCN) được coi là người sáng lập ra lôgic học Ông đã bao quát được toàn bộ phạm vi và nắm được thực chất, đối tượng của lôgic học, đặt nền tảng cho khoa học lôgic, đó là sự tổng kết những hình thức cơ bản của tư duy và những qui luật cơ bản của tư duy Đặc biệt Aristote đã xây dựng hoàn chỉnh lý thuyết về tam đoạn luận, hình thức cơ bản nhất của suy lý diễn dịch Lôgic truyền thống đã tiếp thu học thuyết của Aristote

về các cấu hình, cách thức và qui tắc tam đoạn luận đúng đắn.

2 Thời kỳ Trung cổ

Lôgic học trong thời kỳ này mang tính kinh viện và hầu như không có đóng góp điều gì mới mẻ Lôgic học Aristote đã bị Thiên chúa giáo lợi dụng để bảo vệ niềm tin vào Thiên chúa Thời đó "Organon" bị biến thành "Canon" (luật pháp)

3 Thời kỳ Phục hưng - Cận đại

Trang 4

Vào thời kỳ Phục hưng, mặt tích cực, tinh thần khách quan khoa học của lôgic Aristote được phục hồi và phát huy để chống lại thần học Tuy nhiên, bấy giờ nó đã bộc lộ sự chật hẹp, hạn chế trước tiến bộ của khoa học Điều đó đặt ra nhu cầu cần phải đề xuất thêm phương pháp tư duy mới trong việc khám phá chân lý

- F Bacon (1561 - 1626): triết gia người Anh đã xây dựng một cách khoa học lôgic mới với tác phẩm Novum Organum (Công cụ mới) Ông đặc biệt chú ý phương pháp suy luận qui nạp

- R Descarates (1596 - 1650) nhà triết học người Pháp, trong khi Bacon

đề cao qui nạp và khoa học thực nghiệm thì R Descartes lại đề cao phương pháp diễn dịch và toán học

- Leibniz (1646 - 1716) nhà triết học, toán học và lôgic học người Đức Ông được xem là người đầu tiên đặt nền tảng cho lôgic học ký hiệu Ông đưa ra

tư tưởng sử dụng các ký hiệu và phương pháp toán học vào lôgic học Theo ông khi sử dụng các ký hiệu thay cho lời nói, không những chúng ta làm cho tư tưởng trở nên rõ ràng hơn, chính xác hơn mà còn làm cho tư tưởng trở nên đơn giản hơn Ông đã hoàn thiện hệ thống qui luật cơ bản của tư duy lôgic hình thức với 4 qui luật: qui luật đồng nhất, phi mâu thuẫn, loại trừ cái thứ ba và lý do đầy

đủ

- Năm 1847, xuất hiện đồng thời hai công trình “Đại số học của lôgic” của

G Boole (1815 - 1864) và “Lôgic hình thức” của De Morgan (1806 – 1871), lôgic học đã được toán học hoá, điều mà trước đó Leibniz đã nghĩ đến từ thế kỷ XVII Lôgic học hiện đại (lôgic ký hiệu) phát triển mạnh mẽ từ đó

4 Thời hiện đại

Lôgic hình thức cổ điển dưới hình thức toán bộc lộ những hạn chế Từ đó xuất hiện hai khuynh hướng:

Thứ nhất, ra sức hoàn thiện những công trình lôgic, hình thức hóa và toán

học hóa để nhằm khắc phục các mâu thuẫn và nghịch lý lôgic

Thứ hai, xét lại một số qui luật cơ bản của lôgic cổ điển, phát triển thành

lôgic phi cổ điển

Đặc điểm chung của lôgic hình thức phi cổ điển là lôgic đa trị khác hẳn với lôgic hình thức cổ điển là lôgic lưỡng trị Trên cơ sở đó người ta phát triển hệ thống phép tính lôgic phi cổ điển như lôgic tam trị của Lukasiewicz (1878 - 1956), lôgic tam trị xác suất của H Reichenbach (1891 - 1953), lôgic trực giác của L E Brower và A Heiting, lôgic kiến thiết của A A Marcov, A N

Trang 5

Kolmogorov, V I Glivenko, lôgic mờ của L A Zadeh, lôgic tình thái, lôgic thời gian

III Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP LÔGIC HỌC

- Lôgic học giúp chúng ta chuyển từ tư duy lôgic tự phát sang tự giác Không phải đợi đến khi có khoa học lôgic con người mới suy nghĩ, lập luận một cách lôgic mà con người đã có tư duy lôgic trước khi lôgic ra đời Nhưng việc hiểu và vận dụng tri thức lôgic tự giác sẽ giúp chúng ta rút ngắn con đường nhận thức chân lý, hạn chế được những sai lầm lôgic của bản thân trong quá trình tư duy cũng như phát hiện nhanh nhạy hơn những sai lầm về lôgic trong lời nói cũng như trong lập luận của người khác

- Nắm vững tri thức lôgic học giúp ta lập luận, diễn giải cũng như chứng minh, bác bỏ vấn đề có sức thuyết phục Nó giúp cho chúng ta suy nghĩ chín chắn, đúng đắn, nhất quán, liên tục, không mâu thuẫn, biết dùng khái niệm (từ), phán đoán (câu) một cách chính xác, biết phát triển tư tưởng (lập luận) mạch lạc, hợp lý

- Lôgic còn giúp chúng ta chính xác hóa ngôn ngữ thể hiện ở việc dùng từ chính xác, đặt câu rõ ràng, không mơ hồ Nó rèn luyện kỹ năng xác định những khác biệt trong những tư tưởng có cách diễn đạt bằng lời gần giống nhau, ngược lại có những tư tưởng giống nhau có thể có những cách diễn đạt khác nhau

CÂU HỎI ÔN TẬP

1) Lôgic học là gì? Đối tượng của lôgic học

2) Quan hệ giữa lôgic và ngôn ngữ

3) Quá trình hình thành và phát triển của lôgic học?

4) Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu môn lôgic học

BÀI TẬP THỰC HÀNH

Hãy biểu thị các tư tưởng sau dưới dạng ký hiệu ngôn ngữ nhân tạo:

- Trăm sông đều đổ ra biển

Trang 6

- Cái răng, cái tóc là góc con người

- Yêu trẻ, trẻ đến nhà ; yêu già, già để tuổi cho

- Ngôn ngữ là phương tiện hình thành, gìn giữ, chuyển giao thông tin

từ thế hệ này sang thế hệ khác, phương tiện giao tiếp giữa mọi người

- Nước Việt Nam làm sao có thể lớn, nếu chúng ta không chấp nhận và ủng hộ những giấc mơ lớn, những khát vọng lớn

- Chúng ta không thể nâng cao được chất lượng giáo dục, nếu không xây được đội ngũ giảng viên đủ tiêu chuẩn

- Chúng ta chỉ có thể xóa đói giảm nghèo, một khi thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình

- Văn bản là một khái niệm dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động các cơ quan, tổ chức

- Qua đình ngã nón trông đình, đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

- Chúng ta không thể đưa đất nước đi lên, nếu không đấu tranh chống tham nhũng thắng lợi

Trang 7

Chương II CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA LÔGIC HÌNH THỨC

I KHÁI NIỆM VỀ QUY LUẬT LÔGIC

Thế giới vật chất không ngừng vận động, phát triển theo quy luật Đó là quy luật tự nhiên Tư duy là quá trình phản ánh thế giới vật chất vào ý thức của con người thông qua các hình thức lôgic xác định Cho nên khi phản ánh đối tượng của thế giới vật chất, con người không phải phản ánh thông qua những hình thức, tư tưởng riêng lẻ, biệt lập mà phản ánh bằng những hình thức, tư tưởng liên hệ, ràng buộc và qui định lẫn nhau Mối liên hệ giữa những hình thức,

tư tưởng được biểu hiện qua các quy luật lôgic

Qui luật lôgic là những mối liên hệ bản chất, tất yếu, bền vững giữa các

tư tưởng, được lặp lại trong các quá trình tư duy

Quy luật lôgic mang tính khách quan Mặc dù, được hình thành trong ý

thức của con người nhưng các quy luật lôgic tồn tại độc lập với ý thức, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người; con người không thể tự ý tạo ra hoặc thay đổi mà chỉ có thể phát hiện ra chúng

Bên cạnh tính khách quan, quy luật lôgic cũng mang tính phổ biến, nó

không phụ thuộc vào dân tộc, giai cấp hay ngôn ngữ… mà tác động vào mọi quá trình tư duy và là cơ sở của các thao tác lôgic cụ thể về khái niệm, phán đoán, suy luận, chứng minh Tuân thủ những qui luật lôgic là điều kiện cần thiết để nhận thức hiện thực một cách đúng đắn

Lôgic hình thức xem xét tư duy phản ánh các sự vật hiện tượng trong trạng thái ổn định, do vậy quá trình xem xét phải mang những đặc trưng: xác định,

không mâu thuẫn lôgic, liên tục và phải có căn cứ vững chắc Những yêu cầu đó

qui định nội dung của những qui luật cơ bản của lôgic hình thức

II NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA LÔGIC HÌNH THỨC

Các quy luật cơ bản của lôgic hình thức bao gồm:

 Quy luật đồng nhất

 Quy luật không mâu thuẫn

 Quy luật loại trừ cái thứ ba

 Quy luật lý do đầy đủ

Trang 8

a/ Nội dung quy luật đồng nhất

Trong quá trình suy nghĩ, lập luận, mọi tư tưởng ( khái niệm hay phán đoán) phải đồng nhất với chính nó Đồng nhất ở đây được hiểu là sự giống nhau

của các đối tượng trong quan hệ nào đó

Có thể diễn đạt qui luật trên bằng công thức:

a = a hoặc

a  a

Do trong ngôn ngữ có những từ đa nghĩa, cho nên có người cố ý dùng từ

đa nghĩa để tạo nên những khái niệm mập mờ, nước đôinhằm ngụy biện cho một vấn đề nào đó

Trong chứng minh, sự vi phạm quy luật đồng nhất biểu hiện ở chỗ luận đề không có tính xác định rõ ràng do nội hàm của một số khái niệm có mặt trong luận đề đó không được xác định một cách rõ ràng Cũng có khi do vô tình hay cố

ý thay thế luận đề của phép chứng minh Sự vi phạm quy luật đồng nhất còn biểu hiện ở chỗ đồng nhất các khái niệm có nội hàm khác nhau và ngoại diên khác nhau

b/ Yêu cầu

Qui luật đồng nhất yêu cầu:

- Không được thay đổi nội dung tư tưởng một cách tùy tiện, vô căn cứ Chỉ nên thay đổi tư tưởng khi bản thân sự vật có sự thay đổi, tư tưởng cũ không còn phù hợp với nó hoặc thực tế đã cho thấy rằng tư tưởng ấy là sai lầm

- Những tư tưởng được tái tạo phải đồng nhất với tư tưởng ban đầu Tất nhiên, qui luật không đòi hỏi đến mức phải tái tạo một ý kiến nào đó đúng từng câu, từng chữ Tư tưởng được tái tạo có thể được thể hiện dưới một hình thức ngôn ngữ khác nhưng phải bảo đảm nội dung của nó vẫn không bị thay đổi, bóp méo

Trang 9

- Cần xác định rõ nội hàm, ngoại diên của những khái niệm cơ bản trước khi trao đổi, tranh luận xoay quanh một chủ đề nào đó

- Không được đồng nhất những điều vốn không đồng nhất và cũng không được cho những tư tưởng vốn đồng nhất với nhau là không đồng nhất

- Vì bản thân sự vật trong trạng thái ổn định là có tính xác định cho nên tư tưởng phản ánh về nó phải được diễn đạt một cách chính xác, rõ ràng, không được mập mờ, đa nghĩa

- Không được đánh tráo khái niệm, đánh tráo ngôn từ hoặc đánh tráo luận

đề trong quá trình tư tưởng Đánh tráo khái niệm là vẫn giữ nguyên từ ngữ, tên gọi nhưng nghĩa của nó lại bị thay đổi Đánh tráo ngôn từ tức là không gọi tên của sự vật đúng như qui ước của xã hội mà gọi nó bằng một tên khác nhằm che dấu sự thật không muốn cho người khác biết

c/ Ý nghĩa quy luật

 Giúp tư duy mạch lạc, sắc sảo, nhất quán

 Tự giác hơn khi chọn từ, xác định khái niệm trong quá trình lập luận

 Phát hiện ra những ngụy biện, thủ thuật vi phạm các yêu cầu của quy luật đồng nhất

 Vận dụng quy luật đồng nhất để có thể tạo ra những câu chuyện cười hóm hỉnh bằng cách cho nhân vật vi phạm các yêu cầu của quy luật đồng nhất

2 Qui luật không mâu thuẫn

a/ Nội dung qui luật

Đối với cùng một đối tượng, trong cùng một thời gian, cùng một mối

quan hệ thì không thể có hai ý kiến trái ngược nhau mà cùng là đúng Một trong hai ý kiến phải là sai

Cũng như quy luật đồng nhất, quy luật phi mâu thuẫn lôgic phản ánh tính

ổn định tương đối về chất của sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan

Qui luật này phản ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư duy Qui luật không mâu thuẫn được thể hiện qua công thức:

a  a (Không thể vừa a, vừa không a)

Ở đây, cần phân biệt mâu thuẫn lôgic với mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn giữa những mặt đối lập tồn tại khách quan trong các sự vật hiện tượng, qui định sự tồn tại, vận động và phát triển của các sự vật

ấy Qui luật không mâu thuẫn của lôgic hình thức không phủ nhận các mâu thuẫn biện chứng khách quan và cũng không nhằm vào các mâu thuẫn ấy Mâu thuẫn lôgic là mâu thuẫn giữa những tư tưởng không tương hợp, phủ định, loại trừ lẫn nhau, là kết quả của sự vi phạm những qui tắc của sự tư duy chính xác

Trang 10

b/ Yêu cầu

Qui luật không mâu thuẫn đòi hỏi:

- Trong tư duy không được dung chứa những mâu thuẫn trực tiếp cũng như mâu thuẫn gián tiếp

- Không được đồng thời khẳng định những điều mà trong thực tế là loại trừ lẫn nhau

Tính nhất quán, tính phi mâu thuẫn lôgic là tiêu chuẩn của bất cứ lập luận khoa học nào

Một tư duy đúng đắn, yêu cầu trong kết cấu của nó, không bao giờ có mâu thuẫn lôgic

c/ Ý nghĩa quy luật

Tuân theo yêu cầu của quy luật phi mâu thuẫn là điều kiện cần thiết để đảm bảo tính chặt chẽ, nhất quán, đồng bộ của hệ thống các chủ trương, chính sách, giải pháp hoạt động của các ngành và địa phương Đó chính là ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quy luật phi mâu thuẫn lôgic đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn

3 Qui luật loại trừ cái thứ ba

a/ Nội dung quy luật

Hai phán đoán mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau không thể cùng giả dối, một

trong hai phán đoán phải chân thực Qui luật loại trừ cái thứ ba được thể hiện

Tuy nhiên, qui luật loại trừ cái thứ ba chỉ là qui luật của lôgic cổ điển hai giá trị Việc vận dụng chúng chỉ giới hạn trong những tình huống xác định mà thôi, bởi vì trong thực tế có những sự vật nằm trong tình huống quá độ, chưa định hình thì việc lựa chọn một trong hai khả năng khẳng định hoặc phủ định sẽ trở nên không phù hợp mà cần phải có tình huống thứ ba là không xác định Chẳng hạn trong việc bỏ phiếu tín nhiệm, bên cạnh hai loại phiếu có tính xác

Trang 11

định là tín nhiệm hoặc không tín nhiệm, ta còn gặp loại phiếu thứ ba là phiếu trắng, không có ý kiến Trong những trường hợp này phải vận dụng lôgic 3 giá trị: đúng, sai và không xác định

Nếu qui luật không mâu thuẫn khẳng định: trong hai phán đoán mâu thuẫn phải có ít nhất một phán đoán sai thì qui luật loại trừ cái thứ ba khẳng định: trong hai phán đoán ấy phải có ít nhất một phán đoán đúng Nếu qui luật không mâu thuẫn không cho phép đồng thời thừa nhận cả hai phán đoán mâu thuẫn thì qui luật bài trung đòi hỏi phải lựa chọn một phán đoán đúng trong hai phán đoán mâu thuẫn với nhau

Cả ba qui luật đồng nhất, không mâu thuẫn, loại trừ cái thứ ba thống nhất với nhau, thậm chí có thể xem qui luật không mâu thuẫn là biểu hiện của qui luật đồng nhất dưới hình thức phủ định còn qui luật loại trừ cái thứ ba là biểu hiện của qui luật không mâu thẫn dưới hình thức lựa chọn

4 Qui luật lý do đầy đủ

a/ Nội dung qui luật

Một tư tưởng được xem là đáng tin cậy cần phải có đầy đủ căn cứ

Bất cứ luận điểm nào muốn được coi là chân thực thì phải có đầy đủ những luận điểm chân thực khác làm căn cứ (lý do)

Cơ sở của qui luật có căn cứ đầy đủ là quan hệ nhân quả trong hiện thực: mọi vật tồn tại đều có nguyên nhân của nó Tuy nhiên qui luật có căn cứ đầy đủ không đồng nhất với quan hệ nhân quả Căn cứ lôgic đôi khi chỉ là tính liên tục giản đơn về thời gian hoặc cùng tồn tại trong một thời gian Lôgic có thể đi theo chiều ngược lại với quan hệ nhân quả: từ kết quả suy ra nguyên nhân

Căn cứ đơn giản nhất là trực tiếp đối chiếu tư tưởng với hiện thực Nhưng trong thực tế, không phải bao giờ người ta cũng có thể chứng minh tư tưởng bằng cách đối chiếu với hiện thực mà tư tưởng ấy chỉ có thể chứng minh bằng việc thiết lập quan hệ lôgic của nó với những tư tưởng khác đã được chứng minh hoặc đã được công nhận là đúng Ở đây, ta thấy rõ tính độc lập tương đối của của

tư duy so với tồn tại Tư duy không chỉ đơn giản là phản ánh của tồn tại, phụ thuộc vào tồn tại mà bản thân tư duy còn vận động phát triển trên cơ sở những tư tưởng đã có Trong tư duy, những ý nghĩ, những tư tưởng liên hệ, ràng buộc lẫn nhau, tư tưởng này nảy sinh từ những tư tưởng khác, tư tưởng khác là cơ sở, là chỗ dựa của tư tưởng này Những kết luận đáng tin cậy phải có căn cứ đầy đủ, đảm bảo sự thống nhất giữa thực tế và lôgic

b/ Yêu cầu

Trang 12

Qui luật có căn cứ đầy đủ đòi hỏi mọi tư tưởng phải được chứng minh từ

những luận cứ chân thực đã được chứng minh, chống lại sự tùy tiện, chủ quan trong lập luận

Cần rút ra những luận điểm chân thực mới từ những luận điểm chân thực khác chứ không được lập luận cho những tư tưởng giả dối, phải tính toán sao cho

có thể sử dụng hết toàn bộ các lý do để chứng minh tính chân thực của mỗi luận điểm

Khi chứng minh tính chân thực của tư tưởng về đối tượng nào đó nhờ các

tư tưởng chân thực khác (cơ sở) cần dựa vào các mối liên hệ tất yếu, bên trong, bản chất giữa các đối tượng

Qui luật có căn cứ đầy đủ là qui luật có tính chất nội dung nên không được diễn đạt dưới dạng công thức như 3 qui luật trên

Theo quan điểm của các nhà lôgic học hiện đại thì mỗi công thức hằng đúng đều có thể xem là một luật (qui luật) Các qui luật trên được xem là những qui luật cơ bản vì nó chi phối toàn bộ quá trình tư duy, bất kể dưới hình thức cụ thể nào, nó là cơ sở cho những thao tác đúng đắn về khái niệm, phán đoán, suy luận trong quá trình chứng minh hoặc bác bỏ

c/ Ý nghĩa quy luật

 Trong quá trình tư duy tuân thủ các quy luật cơ bản trên đây sẽ giúp chúng

ta suy nghĩ và trình bày tư tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác, mạch lạc, dễ hiểu Việc ứng dụng các qui luật này còn giúp chúng ta phát hiện các sai lầm trong lập luận của người khác hoặc của chính mình, nhằm phản bác, vạch trần sự nguỵ biện hoặc để tránh sai lầm Giúp chúng ta tư duy, lập luận có căn cứ, nâng cao tính thuyết phục cho lập luận: nói có sách mách có chứng

 Phát hiện ra những luận điểm sai trái, vu khống vô căn cứ của những kẻ ngụy biện

Trang 13

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

I CÂU HỎI

a) Quy luật lôgic là gì?

b) Trình bày nội dung và yêu cầu của qui luật đồng nhất

b) Trình bày nội dung và yêu cầu của qui luật không mâu thuẫn

c) Trình bày nội dung và yêu cầu của qui luật loại trừ cái thứ ba

d) Trình bày nội dung và yêu cầu của quy luật có lý do đầy đủ

II BÀI TẬP

1 Phân tích và chỉ ra sự vi phạm qui luật trong những ý kiến hoặc những lập luận sau đây:

a) Bà già đi chợ cầu Đông

Mua một quẻ bói lấy chồng lợi chăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng

Lợi thì có lợi nhưng răng không còn

b) Có diễn giả nói: ""Hình như trên đời này có luật bù trừ Người ta bị mù một mắt thì mắt kia sẽ tinh hơn Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn…" Nghe vậy, có thính giả kêu lên: "Rất đúng, tôi cũng thấy rằng một người cụt chân thì y như rằng chân kia sẽ dài hơn"

c) Vật chất là một phạm trù triết học mà bánh mì là vật chất, cho nên bánh

mì cũng là một phạm trù triết học

d) Lập trường tư tưởng của tôi luôn vững vàng nhưng đôi lúc cũng có sự dao động

d) Tôi là đảng viên cộng sản, anh mà chống lại tôi tức là chống Đảng

2 Phân tích và chỉ ra sự vi phạm qui luật trong những ý kiến hoặc những lập luận sau đây:

a) Trước toà người mẹ nói: “Tôi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ”, nhưng thư ký phiên toà ghi: “Tôi đồng ý bán nhà trả nợ giúp con ”

b) Lời của Đức Phật nói với quỷ Mala: “Ta không cần danh vọng ( ) Thành đạt, danh tiếng, danh dự và vinh quang chỉ là sự hư ảo, sự thắng lợi của kẻ này là thất bại của kẻ kia ( ) Ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng”

c) Lớp đang học về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thuỷ, Cu tèo ngủ gật Thấy vậy, thầy giáo hỏi:

Trang 14

“Tèo, ai đã lấy cấp nỏ thần”

Giật mình, Cu Tèo đáp:

“Thưa thầy con không lấy, con không lấy, bạn nào lấy con không biết ” Thầy giáo chán nản, đem câu chuyện kể lại cho hiệu trưởng nghe Hiệu trưởng nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi bảo:

“Thôi được, chuyện đâu còn có đó, trẻ con ấy mà Thầy xem thử cái nỏ đó giá bao nhiêu để trường bỏ tiền ra mua một cái khác thay thế Rõ khổ, đồ dùng dạy học thì đang thiếu tứ bề!”

Câu chuyện được đem kể lại ở Sở giáo dục và đào tạo Những người có mặt bò lăn ra cười, chỉ một người không cười, đó là kế toán trưởng Mọi người ngạc nhiên nhìn bà ta, bà ta nói:

“Tôi mà là giám đốc sở thì tôi sẽ cách chức tay hiệu trưởng đó Tiền đâu

mà cái gì cũng chi, cái gì cũng chi như vậy?”

Trang 15

Chương III KHÁI NIỆM

I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHÁI NIỆM

1 Khái niệm là gì?

Mục đích của nhận thức là nhằm đạt tới sự hiểu biết về bản chất và quy luật của sự vật hay hiện tượng, để phục vụ con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội

Nhận thức là một quá trình phức tạp đi từ thấp đến cao Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, nó cung cấp những hiểu biết nhất định của sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Tuy nhiên, những hiểu biết ấy mới chỉ là những hiểu biết bề ngoài chưa phân biệt được cái bản chất và không bản chất, cái tất yếu và cái ngẫu nhiên của sự vật Để phát hiện được cái bản chất, cái tất yếu của sự vật thì nhận thức phải được phát triển lên giai đoạn cao hơn – giai đoạn nhận thức lý tính

Trong giai đoạn nhận thức lý tính nhờ các hoạt động trừu tượng hóa và khái quát hóa của bộ óc con người mà phát hiện ra bản chất của sự vật và hình thành nên khái niệm phản ánh hiện thực

Khác với những hình thức của nhận thức cảm tính, trong khái niệm biểu hiện sự hiểu biết của con người về những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất của các sự vật hiện tượng Lôgic học gọi những cái tư tưởng của chúng ta hướng tới trong quá trình nhận thức, nghiên cứu là đối tượng của tư tưởng, gọi

tắt là đối tượng Đối tượng của tư tưởng là những sự vật và hiện tượng của thế

giới khách quan

Mỗi đối tượng có thể có nhiều thuộc tính và những quan hệ khác nhau với những đối tượng khác Những thuộc tính và những quan hệ đó được gọi là dấu hiệu của đối tượng

Trong số những dấu hiệu của đối tượng, có những dấu hiệu đơn nhất và những dấu hiệu chung Những dấu hiệu chỉ có trong một sự vật hay hiện tượng

riêng lẻ gọi là dấu hiệu đơn nhất Còn những dấu hiệu tồn tại trong những sự vật khác nhau được gọi là dấu hiệu chung của những sự vật đó

Các dấu hiệu còn được chia thành dấu hiệu cơ bản và dấu hiệu không cơ

bản Những dấu hiệu quy định bản chất của sự vật gọi là dấu hiệu cơ bản còn

những dấu hiệu không thể hiện bản chất của sự vật gọi là dấu hiệu không cơ bản

Các dấu hiệu cơ bản có thể tồn tại trong nhiều đối tượng, tồn tại trong một

sự vật hay một lớp sự vật Các dấu hiệu cơ bản chỉ tồn tại trong một sự vật, gọi là

Trang 16

dấu hiệu cơ bản đơn nhất Các dấu hiệu cơ bản chung cũng như đơn nhất lại

được chia thành dấu hiệu cơ bản khác biệt và dấu hiệu cơ bản không khác biệt

Các dấu hiệu cơ bản khác biệt là các dấu hiệu cơ bản chỉ tồn tại trong một

sự vật riêng lẻ hay chỉ tồn tại trong một lớp sự vật cùng loại Còn các dấu hiệu

cơ bản không khác biệt là những dấu hiệu không những tồn tại trong sự vật hay

trong một lớp sự vật chúng ta đang xem xét mà còn tồn tại trong sự vật khác hay trong một lớp sự vật khác

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, các dấu hiệu cơ bản khác biệt của mọi sự vật hay một lớp sự vật được con người nhận thức và phản ánh trong khái niệm về sự vật hay lớp sự vật đó

Như vậy, Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, trong

đóvphản ánh các dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn giản hay một lớp

sự vật

Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật

2 Quá trình hình thành khái niệm

Quá trình nhận thức của con người bắt đầu bằng những cảm giác, tri giác, biểu tượng, tiếp đó là giai đoạn hình thành những khái niệm Sự khác nhau về chất giữa sự phản ánh của khái niệm với sự phản ánh cảm tính qui định quá trình phức tạp của việc xây dựng các khái niệm Trên cơ sở những tài liệu cảm tính, để xây dựng các khái niệm, tư duy của chúng ta đã trải qua quá trình hoạt động tích cực sáng tạo, đã sử dụng một loạt các thao tác lôgic như: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa

+ So sánh là thao tác lôgic nhờ đó ta thấy được sự giống nhau và khác

nhau giữa các đối tượng (sự vật, hiện tượng)

+ Phân tích là thao tác lôgic trong đó đối tượng được phân chia (trong tư

tưởng) thành các phần nhỏ, các mặt riêng biệt và nghiên cứu các thành phần, các mặt đó một cách độc lập, nhờ đó có thể biết được một cách sâu sắc các tính chất

và đặc điểm của chúng

+ Tổng hợp là quá trình kết hợp trong tư tưởng các thành phần của đối

tượng đã được tách ra bởi phân tích thành một thể thống nhất Tri thức có được nhờ quá trình phân tích tuy sâu sắc về đối tượng, song tri thức đó không toàn diện mà chỉ một chiều, phiếm diện, không đầy đủ Quá trình tổng hợp cho phép kết hợp các tri thức về các mặt riêng lẻ của đối tượng lại thành một thể thống nhất, thành tri thức toàn diện về đối tượng đó

Trang 17

+ Trừu tượng hóa là thao tác lôgic nhằm gạt bỏ những thuộc tính, quan hệ

không cơ bản, giữ lại các thuộc tính, các quan hệ bản chất

+ Khái quát hóa là thao tác lôgic nhằm thiết lập những dấu hiệu bản chất,

chung cho các sự vật, hiện tượng đồng loại

Như vậy, phát hiện sự giống nhau giữa các đối tượng, phân chia chúng thành các thành phần, tách ra các dấu hiệu cơ bản và bỏ qua các dấu hiệu không

cơ bản, kết hợp các dấu hiệu cơ bản, đưa các đối tượng có dấu hiệu cơ bản như nhau đó vào thành một lớp và biểu thị nó bằng tên gọi, con người đã tạo ra một trong các hình thức của tư duy trừu tượng là khái niệm

Từ hay cụm từ là hình thức ngôn ngữ để biểu thị khái niệm, là phương tiện

ngôn ngữ để biểu thị khái niệm Bất kỳ khái niệm nào cũng được thể hiện bằng một từ “ vật chất”, “ý thức”…hoặc một cụm từ “giai cấp công nhân”, “nhà nước chuyên chế quân chủ tập quyền trung ương”…

Khái niệm và Từ liên hệ mật thiết với nhau nhưng chúng không đồng nhấ

với nhau Khái niệm là một hình thức của tư duy thuộc phạm trù lôgic học, có tính chất đặc trưng cho mọi dân tộc Từ thuộc phạm trù ngôn ngữ học là một ký

hiệu âm quy ước, có tính chất riêng cho mỗi dân tộc hay mỗi cộng đồng người

3 Kết cấu lôgic của khái niệm

Mỗi khái niệm bao gồm hai yếu tố: nội hàm và ngoại diên

a/ Nội hàm

Nội hàm của khái niệm là tập hợp những dấu hiệu cơ bản làm cơ sở cho

việc khái quát hoá và tách riêng ra thành lớp các đối tượng được phản ánh trong khái niệm

Ví dụ: Sinh viên là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học và học tập tại một trường đại học hay cao đẳng nào đó

Nội hàm của khái niệm sinh viên gồm:

+ Người đã tốt nghiệp phổ thông trung học

+ Đang học tại một trường đại học hoặc cao đẳng

b/ Ngoại diên

Ngoại diên của khái niệm là tập hợp tất cả đối tượng có các dấu hiệu được

nêu trong nội hàm của khái niệm

Ví dụ: Ngoại diên của khái niệm sinh viên bao gồm:

+ Sinh viên Học viện hành chính Quốc gia HCM

+ Sinh viên Cao đẳng Đông Á

Trang 18

+ Sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt – Hàn…

- Quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên

Nội hàm và ngoại diên của khái niệm thống nhất với nhau, qui định lẫn nhau Nội hàm qui định những đối tượng nào có đủ những tính chất trong nội hàm thì thuộc về ngoại diên của khái niệm ấy Ngược lại ngoại diên của khái niệm sẽ qui định những tính chất chung nào đó của các đối tượng được phản ánh vào trong khái niệm

Giữa nội hàm và ngoại diên có mối quan hệ tỷ lệ nghịch: Nội hàm của khái

niệm phản ánh càng nhiều dấu hiệu đặc trưng thì số lượng đối tượng trong ngoại diên của khái niệm càng ít đi và ngược lại

4 Phân loại khái niệm

a/ Căn cứ vào nội hàm

Khái niệm cụ thể và khái niệm trừu tượng

+ Khái niệm cụ thể là khái niệm phản ánh đối tượng hay lớp đối tượng

thực tế

Ví dụ: ngôi trường, sinh viên, thành phố…

+ Khái niệm trừu tượng là khái niệm phản ánh các thuộc tính hay quan hệ

của các đối tượng

Ví dụ: thuỷ chung, dũng cảm, chính nghĩa, cái đẹp, tình yêu…

Căn cứ vào dấu hiệu dựa vào đó để khái quát hoá và tách biệt các đối tượng trong quá trình tạo nên khái niệm, có thể chia khái niệm thành khái niệm khẳng định và khái niệm phủ định

Khái niệm khẳng định và khái niệm phủ định

+ Khái niệm khẳng định là khái niệm phản ánh sự tồn tại thực tế của đối

tượng, các thuộc tính hay các quan hệ của đối tượng

Ví dụ: giáo viên, người anh hùng, trung thực…

+ Khái niệm phủ định là khái niệm phản ánh sự không tồn tại dấu hiệu

khẳng định ở đối tượng

Ví dụ: phi nghĩa, thiếu đạo đức, không gương mẫu…

Mỗi khái niệm khẳng định đều có khái niệm phủ định tương ứng

Ví dụ: chính nghĩa - phi nghĩa; có văn hóa - vô văn hóa, đạo đức - vô đạo đức, trung thực - không trung thực

Khái niệm quan hệ và khái niệm không quan hệ

Trang 19

+ Khái niệm quan hệ là các khái niệm phản ánh các đối tượng mà sự tồn

tại của chúng quy định sự tồn tại của khái niệm khác

Ví dụ: “cha mẹ” - “con cái”, “sinh viên” – “giảng viên”, “tử số” – “mẫu

số”…

+ Khái niệm không quan hệ là các khái niệm phản ánh các đối tượng tồn

tại độc lập, không phụ thuộc vào khái niệm khác

Ví dụ: “Cây cam”, “con sông”, “học sinh”…

b/ Căn cứ vào ngoại diên

Khái niệm được chia thành: khái niệm chung, khái niệm đơn nhất, khái niệm rỗng

+ Khái niệm chung là khái niệm mà ngoại diên của nó là tập hợp gồm

nhiều đối tượng (ít nhất hai đối tượng)

Ví dụ: sinh viên, giáo viên, thành phố, nhà cửa

+ Khái niệm đơn nhất: là khái niệm mà ngoại diên chỉ chứa một đối tượng

Ví dụ: Hồ Gươm, Chùa Hương, Đảng Cộng sản Việt Nam…

+ Khái niệm rỗng: là khái niệm mà ngoại diên của nó trên thực tế không

có phần tử nào cả

Ví dụ: Số tự nhiên lớn nhất, động cơ vĩnh cửu, kích thước của đường thẳng…

+ Khái niệm tập hợp Đây là loại khái niệm mà ngoại diên bao gồm một

lớp đối tượng nhưng nội hàm của hái niệm tập hợp không phải là dấu hiệu của mỗi đối tượng thuộc ngoại diên của nó Ở đây, lớp các đối tượng được xem như một chỉnh t hể duy nhất và nội hàm của khái niệm tập hợp là dấu hiệu của chỉnh thể duy nhất đó

Ví dụ: Các khái niệm “thư viện”, …

Ở khái niệm “thư viện” dấu hiệu “lưu trữ, cho mượn….” không thuộc về mỗi cuốn sách mà thuộc về tập hợp các cuốn sách với tính cách là một chỉnh thể thống nhất

II QUAN HỆ GIỮA CÁC KHÁI NIỆM

Căn cứ vào ngoại diên, có thể chia quan hệ giữa các khái niệm thành 2 loại: quan hệ tương hợp và quan hệ không tương hợp

1 Quan hệ giữa các khái khái niệm về mặt nội hàm

Quan hệ giữa hai khái niệm xét về mặt nội hàm có thể chia thành: quan hệ

so sánh được và quan hệ không so sánh được

Trang 20

A, B

a/ Quan hệ so sánh được

Là quan hệ giữa các khái niệm có chung một số dấu hiệu nào đó

Ví dụ: “Nhà thơ” và “giáo viên”, “cầu thủ bóng đá” và “sinh viên”…

b/ Quan hệ không so sánh được

Là quan hệ giữa các khái niệm không có dấu hiệu chung nào cả

Ví dụ: “Cây nhãn”, “con sông”…

2 Quan hệ giữa các khái niệm về mặt ngoại diên

B đƣợc biểu diễn nhƣ sau:

Công thức:

B) x A

Quan hệ phụ thuộc

Là quan hệ giữa các khái niệm mà ngoại diên của khái niệm này hoàn

toàn nằm trong và chỉ là một bộ phận ngoại diên của khái niệm kia Quan hệ phụ thuộc giữa hai khái niệm “sinh viên” (A) và “sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn” (B) đƣợc biểu diễn nhƣ sau:

Khái niệm chi phối A

B Khái niệm phụ thuộc

Trang 21

Công thức:

A) y B y(y B)

x A x(x        

Khái niệm chủng và khái niệm loại:

Hai khái niệm có quan hệ với nhau nhƣ loại và chủng khi tất cả các dấu hiệu của khái niệm thứ nhất nằm trong nội hàm của khái niệm thứ hai, nhƣng không phải tất cả các dấu hiệu của khái niệm thứ hai tham gia vào thành phần của khái niệm thứ nhất Khái niệm phổ biến hơn, rộng hơn gọi là khái niệm loại Khái niệm ít phổ biến hơn, hẹp hơn gọi là khái niệm chủng

Một khái niệm có thể vừa là khái niệm chủng trong quan hệ này đồng thời

là khái niệm loại trong quan hệ khác

Ví dụ: Sinh viên, sinh viên cao đẳng, sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn…

Quan hệ giao nhau

Là quan hệ giữa các khái niệm mà ngoại diên của chúng chỉ có một phần trùng nhau

Ví dụ: Quan hệ giữa khái niệm “nam thanh niên” (A) và khái niệm “sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn” (B) đƣợc biểu diễn:

A B

Công thức

A) z B z(z B), y A y(y B), x A x(x           

b/ Quan hệ không tương hợp

Trang 22

Là quan hệ giữa các khái niệm mà ngoại diên của chúng không có bộ phận nào trùng nhau

Ví dụ: “Sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn” (A) và “Trường Đại học” (B) là hai khái niệm không tương hợp vì ngoại diên của chúng không

có phần tử chung

Công thức chung của quan hệ không tương hợp là:

A) x B (x B) x A x(x       

Ví dụ: Khái niệm "lá cờ" và "màu đỏ" là hai khái niệm tách rời nhau

Quan hệ ngang hàng (đồng vị, đồng thuộc)

Là quan hệ giữa những khái niệm chủng giống nhau và cùng phụ thuộc vào khái niệm loại phổ thông hơn Quan hệ ngang hàng là trường hợp đặc biệt của quan hệ tách rời

Ví dụ: Khái niệm “sinh viên” (A), “sinh viên Đại học Đà Nẵng" (B), “sinh viên Cao đẳng Đông Á” (C) và “sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn”

Quan hệ đối chọi

Là quan hệ giữa các khái niệm mà nội hàm của một khái niệm không những loại trừ các dấu hiệu của khái niệm kia mà còn thay thế chúng bằng các dấu hiệu ngược lại và tổng ngoại diên của hai khái niệm nhỏ hơn ngoại diên của khái niệm chủng Đây lại là trường hợp đặc biệt của quan hệ ngang hàng

Ví dụ: “màu trắng” (A) và “màu đen” (B):

Trang 23

Giữa A và B có thể có đặc trƣng trung gian là C có nghĩa là có màu không phải màu trắng nhƣng cũng không phải màu đen (hồng, vàng )

Quan hệ mâu thuẫn

Là quan hệ giữa các khái niệm mà nội hàm của khái niệm này phủ định nội hàm của khái niệm kia nhƣng không khẳng định dấu hiệu nào khác, còn tổng ngoại diên của chúng bằng ngoại diên của khái niệm loại rộng hơn

Ví dụ: “Luật hình sự” (A) và “không phải luật hình sự” ( A ):

III CÁC THAO TÁC LÔGIC CỦA KHÁI NIỆM

1 Định nghĩa khái niệm

a Bản chất của định nghĩa khái niệm

Định nghĩa khái niệm là thao tác lôgic nhờ đó phát hiện, vạch rõ nội hàm

của khái niệm hay xác lập ý nghĩa của các thuật ngữ

Đó là việc làm rõ dấu hiệu bản chất (dấu hiệu nói lên qui luật tồn tại, vận động và phát triển của đối tƣợng) cùng những dấu hiệu đặc trƣng (dấu hiệu chỉ riêng các đối tƣợng ấy mới có) Ví dụ: Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song nhau

Trong mỗi định nghĩa bao giờ cũng có hai thành phần:

+ Khái niệm cần phát hiện, vạch rõ nội hàm gọi là khái niệm cần định nghĩa (Definiendum) ký hiệu A

+ Khái niệm nhờ đó phát hiện nội hàm của khái niệm cần định nghĩa gọi là khái niệm dùng để định nghĩa (Definiens) ký hiệu B

Trang 24

Giữa hai vế của khái niệm được nối với nhau bởi từ "là" hay "được gọi là" Như vậy, định nghĩa khái niệm có cấu trúc như sau:

“ A ” là “ B ”

Khái niệm cần định nghĩa Khái niệm dùng để định nghĩa

Chú ý: Có những câu có từ “là” nối 2 vế lại với nhau nhưng không phải là

định nghĩa khái niệm mà chỉ là phán đoán thông thường Ví dụ: “thầy giáo là kỹ

sư tâm hồn”, “quân đội là trường đại học của thanh niên”

b/ Các qui tắc của định nghĩa

- Định nghĩa phải tương xứng (cân đối): Định nghĩa phải cân đối nghĩa là ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải đồng nhất với ngoại diên của khái niệm cần định nghĩa Nếu vi phạm qui tắc này sẽ dẫn đến những sai lầm sau:

+ Định nghĩa quá rộng: Ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa

rộng hơn ngoại diên của khái niệm cần định nghĩa Trong trường hợp này, một

số đối tượng không thuộc khái niệm cần định nghĩa đã được đưa vào định nghĩa

+ Định nghĩa quá hẹp: ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa hẹp

hơn ngoại diên của khái niệm cần định nghĩa, tức là có một số đối tượng thuộc khái niệm cần định nghĩa bị loại ra khỏi định nghĩa

Ngoài hai trường hợp trên đôi khi chúng ta còn gặp những định nghĩa mà ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa không đồng nhất mà lại có quan hệ giao với khái niệm cần định nghĩa

- Định nghĩa phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn Tuân theo qui tắc này sẽ

làm rõ dấu hiệu chủ yếu, đặc trưng nhất của khái niệm

- Không được định nghĩa vòng quanh, lẩn quẩn

- Định nghĩa không nên là phủ định Định nghĩa là làm rõ nội hàm khái niệm Nhưng trong định nghĩa phủ định không vạch ra nội hàm của khái niệm cần định nghĩa, do đó nó không nói lên bản chất của đối tượng

c/ Các hình thức (kiểu) định nghĩa

- Định nghĩa nội hàm tức là định nghĩa thông qua khái niệm loại và sự

khác biệt về chủng Quá trình định nghĩa này gồm 2 bước

+ Thứ nhất, xác định đối tượng thuộc loại nào, bằng cách nêu lên khái niệm bao hàm khái niệm cần định nghĩa

+ Thứ hai, xác định đặc điểm riêng của đối tượng mà các đối tượng cùng loại không có

Trang 25

Ví dụ: "sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn là sinh viên học tại trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn"

Trong định nghĩa này ta thấy trước hết người ta nêu lên khái niệm bao quát khái niệm sinh viên "Cao đẳng CNTT Hữu ng hị Việt Hàn" là khái niệm

"sinh viên", sau đó nêu lên đặc trưng mà sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn có, mà các sinh viên khác không có, đó là học tại trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn

Cấu trúc lôgic của định nghĩa theo kiểu này là

x (P(x) Q(x) R(x))

- Định nghĩa ngoại diên tức là định nghĩa liệt kê các khái niệm hẹp hơn

nằm trong ngoại diên của khái niệm được định nghĩa

Ví dụ: Sinh viên là khái niệm bao gồm sinh viên Đại học Đà Nẵng, sinh viên Cao đẳng Đông Á, sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn, sinh viên Đại học Sư phạm, sinh viên Học viện hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Cấu trúc lôgic của định nghĩa theo kiểu này là:

x (P(x) Q(x) R(x) S(x))

- Định nghĩa thông qua quan hệ: Phương pháp định nghĩa này là xác lập

mối quan hệ giữa khái niệm cần định nghĩa với một khái niệm khác

Quan hệ được vạch ra trong định nghĩa bằng quan hệ rất đa dạng Quan hệ

đó có thể là quan hệ đối lập, mâu thuẫn, mang tính bài trừ phủ định, cũng có thể

là quan hệ tương đồng hay gần gũi

Ví dụ: Định nghĩa vật chất của Lênin: "vật chất là thực tại khách quan, là cái đối lập với ý thức" Như vậy, vật chất đã được định nghĩa thông qua quan hệ đối lập với ý thức

Cấu trúc lôgic của định nghĩa là: Khái niệm A là khái niệm có quan hệ R đối với khái niệm B

- Định nghĩa theo nguồn gốc (định nghĩa phát sinh, xây dựng) là kiểu định nghĩa chỉ rõ phương thức tạo thành, ra đời của đối tượng hoặc cấu tạo của đối tượng

Ví dụ: Hình cầu là cái sinh ra trong không gian khi ta quay nửa hình tròn quanh đường kính của nó

2 Phân chia khái niệm

a/ Bản chất và các loại phân chia khái niệm

Trang 26

- Bản chất của phân chia khái niệm là thao tác tư duy nhằm vạch rõ ngoại diên của khái niệm, vạch rõ khái niệm chủng nằm trong một khái niệm loại nhất định Các khái niệm chủng được tách ra khỏi khái niệm loại gọi là các thành phần phân chia

- Phân chia khái niệm có hai loại:

+ Phân chia khái niệm theo sự biến đổi dấu hiệu

+ Phân đôi khái niệm: Chia ngoại diên khái niệm ra làm hai phần sao cho

các khái niệm tương ứng về hai phần đó mâu thuẫn với nhau

Ví dụ: Khái niệm “xã hội” được phân chia thành khái niệm “xã hội có giai cấp” và “xã hội không có giai cấp”

b/ Các quy tắc phân chia khái niệm

- Phân chia phải cân đối (tương xứng) nghĩa là tổng ngoại diên của các khái niệm thành phần phân chia phải đồng nhất với ngoại diên của khái niệm bị phân chia

- Phân chia phải theo một cơ sở nhất định: Mỗi khái niệm có thể có nhiều cách phân chia khác nhau Mỗi cách phân chia gắn với một cơ sở nhất định Khi tiến hành phân chia khái niệm chỉ được căn cứ vào một cơ sử duy nhất

- Các thành phần phân chia phải loại trừ lẫn nhau nghĩa là ngoại diên của các thành phần phân chia không thể là những khái niệm giao nhau hay có quan

hệ với nhau như loại với chủng

- Phân chia phải liên tục, không được vượt cấp nghĩa là khái niệm giống bị phân chia phải chuyển tới các khái niệm loài gần gũi chứ không được chuyển sang các loài xa

Trang 27

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1 - Dùng hình vẽ mô tả quan hệ về ngoại diên giữa các khái niệm sau đây:

a) Con người, đảng viên cộng sản, giáo viên, sinh viên, người Việt Nam b) Người rộng rãi, kẻ keo kiệt, sinh viên, sinh viên ưu tú

c) Sinh viên, sinh viên chăm chỉ, sinh viên lười biếng, sinh viên đại học, sinh viên cao đẳng

d) Hình tam giác, tam giác đều, tam giác cân, tam giác vuông, tam giác vuông cân

g) Công dân Việt Nam, sinh viên, người yêu nước, giáo viên, người lao động

2 Định nghĩa sau đây có đúng không? Vì sao?

a) Sinh viên là những người học tập trong các trường đại học

b) Sinh viên là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, hiện đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng

c) Vật chất là thực tại khách quan

d) Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

3 Cho các định nghĩa khái niệm

- “Tự do là sự nhận thức được cái tất yếu và hành động theo cái tất yếu đó”

- “Danh từ là từ chỉ tên riêng sự vật”

-“Nhân cách là một con người cụ thể đang sống trong xã hội”

- “Khái niệm là sự đúc kết những hiểu biết của con người về một loại sự vật, hiện tượng nhất định và được thể hiện bằng một từ”

-“Pháp luật là những quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung được Nhà nước quy định và đảm bảo thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước”

Anh (chị) hãy cho biết các định nghĩa trên đúng hay sai? Tại sao?

Trang 28

Chương IV PHÁN ĐOÁN

I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA PHÁN ĐOÁN

1 Định nghĩa

Trong thế giới khách quan, các sự vật và hiện tượng tồn tại, vận động và phát triển trong mối liên hệ, tác động qua lại với nhau Không một sự vật, hiện tượng nào tồn tại riêng lẻ một mình mà không có mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Mặt khác, các sự vật, hiện tượng còn có những thuộc tính vốn có của nó Cho nên, để có thể nhận thức ngày càng đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì các mối liên hệ cũng như những thộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng không thể không được phản ánh Hình thức tư duy nhằm phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau và những thuộc tính nhất định của chúng được gọi là phán đoán

Phán đoán là hình thức của tư duy nhờ kết hợp các khái niệm có thể khẳng

định hay phủ định về sự tồn tại của đối tượng nào đó, về mối liên hệ giữa đối tượng với dấu hiệu của nó hay về quan hệ giữa các đối tượng

Ví dụ:

- Trái đất quay quanh mặt trời

- Đồng là kim loại

- Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng

Trong lôgic học, ngoài thuật ngữ “phán đoán” người ta còn sử dụng thuật ngữ “mệnh đề”

2 Giá trị chân lý của phán đoán

Theo lôgic cổ điển, mỗi phán đoán có giá trị đúng (chân thật) hoặc có giá trị sai (giả dối) Giá trị đúng, sai của phán đoán được gọi là giá trị chân lý của

phán đoán Một phán đoán có giá trị đúng (ký hiệu: 1), khi nó phản ánh phù hợp hiện thực khách quan, và ngược lại, phán đoán có giá trị sai (ký hiệu: 0), khi nó phản ánh không phù hợp hiện thực khách quan

3 Phán đoán và câu

Câu là hình thức ngôn ngữ biểu thị phán đoán Tất cả các phán đoán là câu nhưng không phải câu nào cũng là phán đoán Giữa phán đoán và câu có sự thống nhất với nhau do chúng gắn liền với những tư tưởng nhất định Song

Trang 29

chúng không đồng nhất hoàn toàn, vì có những câu cấu tạo đúng ngữ pháp nhưng không là phán đoán như: câu nghi vấn, câu cảm, câu mệnh lệnh

Xét các câu sau đây:

- "Đố ai đếm được vì sao ? Đố ai đếm được công lao Bác Hồ?"

- "Cấm hút thuốc lá nơi làm việc!"

Ta không thể xác định được giá trị đúng hoặc sai của các câu trên, vì chúng không phải là những phán doán

Hoặc những câu chứa đối tượng chưa xác định cũng không là phán đoán,

ví dụ: Hình như anh ta là sinh viên

Những căn cứ để xác định câu là biểu thị của phán đoán:

+ Trong câu thể hiện sự khẳng định hay phủ định dấu hiệu nào đó của đối tượng tư tưởng

+ Phải xác định được giá trị chân thực hoặc giả dối của câu

II PHÁN ĐOÁN ĐƠN

1 Cấu trúc của phán đoán đơn

Phán đoán đơn là phán đoán được tạo thành từ mối liên hệ giữa hai khái

niệm và được liên kết với nhau bởi hệ từ "là" hoặc "không là" Phán đoán phức

là phán đoán được tạo thành từ nhiều phán đoán đơn

- Khái niệm chỉ đối tượng của sự suy nghĩ gọi là chủ từ, ký hiệu: S

S không là P Ngoài ra có thể đặt trước chủ từ S một lượng từ phổ dụng:  (All: Tất cả, toàn thể), hoặc lượng từ tồn tại:  (Existence: Sự tồn tại) Khi đó ta có công thức tổng quát của phán đoán đơn như sau:

Lượng từ + S + Hệ từ + P

Trang 30

2 Những hình thái cơ bản của phán đoán đơn

Tuỳ thuộc vào sự khẳng định hay phủ định dấu hiệu của đối tượng tư tưởng, phán đoán đơn chia ra thành phán đoán đặc tính, phán đoán quan hệ, phán đoán hiện thực, phán đoán nhất quyết

a/ Phán đoán đặc tính

Phán đoán đặc tính là phán đoán về dấu hiệu của đối tượng Trong phán đoán đặc tính phản ánh sự khẳng định hay phủ định mối liên hệ của đối tượng với dấu hiệu của nó

Ví dụ: - Hoa mai có mùi thơm

- Căn cứ vào chất lượng của từ nối có thể chia phán đoán nhất quyết thành

phán đoán khẳng định và phán đoán phủ định

+ Nếu từ nối chỉ ra dấu hiệu thuộc về đối tượng thì đó là phán đoán khẳng

định

Ví dụ: - Mọi tội phạm đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội

- Một số sinh viên là cầu thủ bóng đá

+ Nếu từ nối chỉ ra dấu hiệu không thuộc về đối tượng thì đó là phán đoán

phủ định

Ví dụ: - Mọi vật đều không tồn tại vĩnh viễn

- Một số sinh viên không là cầu thủ bóng đá

- Phân chia theo số lượng của chủ ngữ thì có thể chia phán đoán thành

phán đoán đơn nhất, phán đoán riêng và phán đoán chung

+ Phán đoán đơn nhất là phán đoán mà chủ ngữ chỉ nêu lên một đối tượng

duy nhất Ví dụ: Hùng là sinh viên

+ Phán đoán riêng là phán đoán mà chủ ngữ bao gồm một phần đối tượng

của lớp, dấu hiệu nhận biết là xuất hiện các lượng từ như: “một số”, “có những”,

“phần lớn”…

Trang 31

Ví dụ: Phần lớn sinh viên Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt Hàn đều học giỏi

Phán đoán riêng bao gồm phán đoán riêng xác định và phán đoán riêng không xác định

+ Phán đoán chung là phán đoán trong đó ngoại diên của chủ ngữ nêu lên

toàn bộ đối tượng của một lớp, dấu hiệu nhận biết là xuất hiện các lượng từ “tất cả”, “mọi”…

Ví dụ: Tất cả sinh viên đều tốt nghiệp phổ thông trung học

Phán đoán chung bao gồm phán đoán nhấn mạnh và phán đoán loại trừ

c/ Phán đoán quan hệ

Là phán đoán phản ánh quan hệ giữa các đối tượng Phán đoán quan hệ có thể biểu thị các quan hệ của nhiều đối tượng

Ví dụ: - Huế nằm giữa Đà Nẵng với Quảng Bình

- Bình là anh của Lan

d/ Phán đoán hiện thực

Phán đoán hiện thực là phán đoán khẳng định hay phủ định sự tồn tại của đối tượng trong thực tại

Ví dụ: Các kết quả đều được khởi đầu bởi một hay nhiều nguyên nhân

3 Các dạng cơ bản của phán đoán đặc tính

a/ Phán đoán chung khẳng định (A )

Công thức:  x (S(x)  P(x))

Mọi S là P

Ký hiệu: A = SaP (Affirmo: Tôi khẳng định)

Có hai trường hợp quan hệ giữa hai khái niệm S và P:

+ Khái niệm S và P có quan hệ phụ thuộc: Tức là mọi S đều là P và một số

Trang 32

+ Khái niệm S và P có quan hệ đồng nhất: Tức là mọi S đều là P và mọi P đều là S

S, P

Ví dụ: Hà Nội là thủ đô nước CHXHCN Việt Nam

b/ Phán đoán chung phủ định (E)

Công thức:  x (S(x)   P(x))

Mọi S không là P

Ký hiệu: E = SeP (Nego: Tôi phủ định)

Hai khái niệm S và P trong quan hệ tách rời: Mọi S không là P và mọi P không là S:

S P

Ví dụ: Mọi vật đều không tồn tại vĩnh viễn

c/ Phán đoán riêng khẳng định (I)

Công thức:  x ( S(x)  P(x))

Một số S là P

Ký hiệu: I = SiP (Affirmo)

Có hai trường hợp quan hệ giữa khái niệm S và P:

- Khái niệm S và P trong quan hệ giao nhau: một số S là P và một số P là S:

Trang 33

Ví dụ: Một số sinh viên là cầu thủ bóng đá

- Khái niệm S và P trong quan hệ phụ thuộc: một số S là P và mọi P là S

P S

Ví dụ: Một số hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm

d/ Phán đoán riêng phủ định (O)

Công thức:  x ( S(x)  P(x))

Một số S không là P

Ký hiệu: O = SoP (Nego)

Có hai trường hợp quan hệ giữa hai khái niệm S và P:

+ Khái niệm S và P có quan hệ giao nhau:

S

Ví dụ: Một số sinh viên không là cầu thủ bóng đá

+ Khái niệm S và P có quan hệ phụ thuộc: Tức là: một số S không là P và mọi P đều là S:

Trang 34

4 Tính chu diên của các thuật ngữ

Khi tiến hành các thao tác lôgic đối với các phán đoán chúng ta cần tính

chu diên của các thuật ngữ (chủ ngữ và vị ngữ) Một khái niệm được gọi là chu

diên khi trong phán đoán, khái niệm ấy biểu thị sự suy nghĩ với ngoại diên đầy

đủ Một khái niệm được gọi là không chu diên khi trong phán đoán, sự suy nghĩ

mà nó biểu thị chỉ là một bộ phận ngoại diên của khái niệm ấy

Ta dùng dấu "+" đứng kèm sau một khái niệm để nói rằng khái niệm đó

chu diên Dấu "-" dùng để trỏ khái niệm không chu diên Sau đây ta sẽ khảo sát tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn

a/ Phán đoán khẳng định chung (A) – “Mọi S là P”

Chủ ngữ của phán đoán luôn chu diên vì nó nói lên toàn bộ ngoại diên ( tất

cả S) Vị ngữ vừa chu diên, vừa không chu diên, cụ thể như sau:

- Khái niệm S và P quan hệ phụ thuộc, nên S chu diên còn P không chu diên: Mọi S+ đều là P-

Ví dụ:- Mọi công nhân đều là người lao động

Trang 35

Trong phán đoán phủ định chung (E) các thuật ngữ đều chu diên, vì chủ ngữ nói lên toàn bộ ngoại diên còn ngoại diên của vị ngữ bị loại trừ hoàn toàn khỏi ngoại diên của chủ ngữ

Cả cả chủ ngữ S và vị ngữ P có ngoại diên rời nhau, nên cả hai đều chu diên: Mọi S+

không là P+ Ví dụ: Mọi người cộng sản đều không bóc lột

Ví dụ: Một số chuẩn mực đạo đức được ghi thành điều luật

- Trường hợp ngoại lệ S, P quan hệ phụ thuộc và S bao hàm P Thì S không chu diên còn P chu diên: Một số S-

là P+ (hình 18)

P+ S

Trang 36

-Ví dụ: Một số hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật qui định là tội

phạm

d/ Phán đoán phủ định riêng (O) – “Một số S không là P”

Chủ ngữ của phán đoán luôn không chu diên vì nói đến một phần ngoại

diên “một số S” Vị ngữ chu diên vì nêu lên toàn bộ ngoại diên không thuộc về

ngoại diên của chủ ngữ

+ Trừ các trường hợp ngoại lệ, ta thấy S chu diên trong các phán đoán

chung và không chu diên trong các phán đoán riêng, P chu diên trong các phán

đoán phủ định và không chu diên trong phán đoán khẳng định

+ Các phán đoán không có lượng từ đứng trước chủ ngữ đều được xem là

phán đoán chung, vì toàn bộ đối tượng thuộc ngoại diên của chủ ngữ đều được

Ngày đăng: 30/08/2022, 20:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w