về Tây Nguyên với các lĩnh vực nghiên cứu phong phú, đa dạng đã được thực hiện nhằm hỗ trợ, tham vấn cho các chủ trương, chính sách phát triển xã hội được thực hiện ở Tây Nguyên rất đáng
Trang 1NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY
(Sách chuyên khảo)
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO Ở LÂM ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung (Đà Lạt)
và thị trấn Lạc Dương, Lâm Đồng
Trang 2TS NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY
ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI KƠHO Ở LÂM ĐỒNG
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung (Đà Lạt)
và thị trấn Lạc Dương, Lâm Đồng
(Sách chuyên khảo)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
Trang 4MỞ ĐẦU
Tây Nguyên là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng, có biên giới giáp Lào, Cam-pu-chia Với diện tích 54.641 km², dân số ước tính khoảng 5,5 triệu người (chiếm 6% dân số cả nước), gồm hơn năm mươi dân tộc anh em cùng chung sống Tây Nguyên hiện đang tồn tại nhiều vấn đề khó khăn về phát triển kinh tế và ổn định đời sống xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển
đô thị hóa Thực tế đã có những chủ trương, chính sách, đường lối về định hướng phát triển chung của đồng bào dân tộc ít người của Đảng và Nhà nước ta; cụ thể, trong Quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 12 tháng 5 năm
2014 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chung điều chỉnh quy hoạch thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm
2050, đã xác định mục tiêu của quy hoạch này là “Xây dựng phát triển
thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 trở thành một vùng đô thị hiện đại, đẳng cấp quốc tế; có đặc thù về khí hậu, cảnh quan tự nhiên, văn hóa lịch sử và di sản kiến trúc tầm quốc gia, khu vực và có ý nghĩa quốc tế” “Các thành phố, thị xã ở các tỉnh Tây Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, đồng thời là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội quan trọng của vùng Mặt trái của đô thị hóa và công nghiệp hóa là những khó khăn trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương… làm sao để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc… đó là những yêu cầu quan trọng trong quá trình đô thị hóa vùng Tây Nguyên” (Hoàng Bá Thịnh, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn Đề tài TN3/X15) Tác giả Hoàng Bá Thịnh đã chỉ rõ “về tỷ lệ đô thị hóa ở các tỉnh Tây Nguyên, mức độ đô thị hóa cao cao nhất là Lâm Đồng (37,77%), thứ hai là Kon Tum (33,51%), tiếp theo là Gia Lai (28,56%), Đắk Lắk (23,98%) và thấp nhất là Đắk Nông (14,74%) Nhiều nghiên cứu
Trang 5về Tây Nguyên với các lĩnh vực nghiên cứu phong phú, đa dạng đã được thực hiện nhằm hỗ trợ, tham vấn cho các chủ trương, chính sách phát triển
xã hội được thực hiện ở Tây Nguyên rất đáng trân trọng thì thực tế vẫn đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu đạt chất lượng cả về lý luận và thực tiễn nhằm làm căn cứ, cơ sở, dữ liệu khoa học cho các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách nhằm nâng cao đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc ít người
bKơho là dân tộc thiểu số tại chỗ có dân số lớn, với nhiều nhóm địa
phương như Srê, Chil, Lạch, Nộp, Cà Dòn, Tố La, sinh sống tập trung ở tỉnh Lâm Đồng (Bùi Minh Đạo, 2003: 22-23) Tính đến ngày 1/4/2019, tại tỉnh Lâm Đồng có 43 dân tộc cư trú, dân số 1.296 906 người, trong đó dân tộc Kinh có 963.290 người, dân tộc Kơho có dân số lớn nhất trong 42 dân tộc thiểu số còn lại với 175.531 người (Tổng cục Thống kê, 2020: 151), chiếm 13,53% tổng dân số của tỉnh, cư trú ở khắp các huyện, thị trong tỉnh Trong lịch sử và hiện nay, người Kơho đã và đang lưu giữ nhiều bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo, góp phần làm nên diện mạo văn hóa
đa dạng, phong phú và giàu bản sắc của các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên Dưới tác động của đổi mới và hội nhập, văn hóa truyền thống của người Kơho đã và đang biến đổi mạnh mẽ, đặt ra những cơ hội và thách thức cần được phân tích và lý giải để phát triển văn hóa nói riêng và kinh
tế - xã hội nói chung đối với tộc người này
Lễ hội ngày xưa, hàng năm, người Kơho tổ chức ăn Tết khi mùa màng đã thu hoạch xong (theo thời vụ hiện nay thường vào tháng 12 dương lịch) Tết này có ý nghĩa đón lúa về nhà (Nhô Lir Bông hay Nhô Lirvong) Theo tập quán, các gia đình thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để
cả bon tổ chức lễ đâm trâu (nho sa rơ pu) trong dịp này Lễ tổ chức ngoài
trời, trước nhà chủ có vật hiến tế, nhà già làng hay trên mảnh đất rộng, bằng phẳng, cao ráo trong làng, với cây nêu trang trí sặc sỡ Mọi người nhảy múa theo tiếng cồng chiêng Thịt trâu được chia cho từng gia đình, còn máu trâu bôi vào trán những người dự lễ như một sự cầu phúc Lễ tết kéo dài 7 - 10 ngày, trong các ngày Tết, dân làng đến chung vui với từng gia đình Trong từng gia đình, người ta cũng tổ chức hiến tế gà, bôi máu lên vựa thóc, sàn
Trang 6kho, cửa ra vào, cửa sổ Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực hiện các công việc lớn như làm nhà, chuyển làng Phụ nữ chủ động trong hôn nhân Sau hôn lễ, người đàn ông về ở nhà vợ, con mang họ của mẹ.
Trên thực tế, hiện nay đô thị hóa đã góp phần mở rộng lối sống thành
thị trong cư dân: “đô thị hóa cũng được hiểu là quá trình biến đổi kinh tế,
xã hội, văn hóa và không gian Các yếu tố này có mối quan hệ với nhau hết sức mật thiết, trong đó diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển ngành nghề mới, sự tăng trưởng dân cư, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và đi liền là sự mở rộng không gian thành
hệ thống đô thị song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” (Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh, 2005: 369)
Nghiên cứu này của chúng tôi không dừng lại ở việc mô tả thực trạng mà
đi sâu nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho trong bối cảnh đô thị hóa tại hai địa bàn xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (hai địa bàn có tốc độ đô thị hóa khác nhau) Bởi chúng tôi nhận thức được rằng văn hóa được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội Như các kết
quả nghiên cứu trước cho thấy, “đời sống là khái niệm chỉ sự hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính: đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đời sống vật chất được hiểu bao gồm giá trị vật chất, kỹ thuật , đời sống văn hóa tinh thần được hiểu gồm: triết học, khoa học, đạo đức, nghệ thuật, ” (Mai Văn Hai, Mai Kiệm, 2002) Cái nhìn ấy cần được cụ
thể hóa cho phù hợp với các khoa học khác nhau như nhân học hay xã hội học, đặc biệt là giúp cho việc thao tác hóa khái niệm văn hóa dễ dàng hơn trong các hoạt động thực tiễn Đời sống tinh thần của người dân luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Đời sống tinh thần là một phần của cuộc sống, có vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc
và nhân cách con người, cốt cách dân tộc Những nghiên cứu về đời sống tinh thần thường chia các hoạt động tinh thần của con người thành “những hoạt động sản xuất các sản phẩm tinh thần hay còn gọi là hoạt động phi
kinh tế; những hoạt động thông tin và giao tiếp,…” (Đặng Cảnh Khanh,
1999; dẫn lại Nguyễn Minh Tuấn, 2012: 38) Việc nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ ra được
Trang 7những nội dung, phương pháp, những mặt đạt được và hạn chế của các công trình nghiên cứu đã được triển khai ở Lâm Đồng nói chung và thị trấn Lạc Dương, xã Tà Nung nói riêng dưới góc độ nghiên cứu của các khoa học khác nhau, từ đó chỉ ra mảng trống trong nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn nghiên cứu
hiện nay Xuất phát từ thực tế như vậy, chúng tôi thực hiện cuốn sách “Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa”.
Trong cuốn sách này, đời sống tinh thần được xem xét trên ba nhóm hoạt động chính: những hoạt động sinh hoạt thường ngày (vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, xem tivi, đọc sách báo ), những hoạt động văn hóa theo kỳ dịp như lễ hội (lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, lễ Tết, Giáng sinh, văn hóa cồng chiêng, ), và các nghi lễ theo vòng đời (cưới hỏi, ma chay).Với kết quả đạt được, chúng tôi mong muốn góp phần xây dựng một bức tranh hoàn chỉnh trong cái đa dạng của các kết quả nghiên cứu về đời sống tinh thần của các dân tộc ít người ở Việt Nam hiện nay Từ đó giúp cho các cơ quan chức năng đưa ra được những khuyến nghị về giải pháp phát triển hiệu quả đời sống tinh thần cho nhóm cộng đồng dân tộc thiểu
số trong thời gian tới Việc áp dụng lý thuyết lý thuyết đô thị hóa, lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết biến đổi xã hội nhằm phân tích và làm rõ các chiều cạnh nghiên cứu, đồng thời sẽ làm sáng tỏ các quan điểm, cách nhìn nhận của lý thuyết khi áp dụng vào nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa
Trang 8LỜI GIỚI THIỆU
Một trong những thuộc tính quan trọng của văn hóa là sự giao thoa
và tiếp biến văn hóa Trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội và toàn cầu hóa, văn hóa có xu hướng tích hợp thêm những giá trị, chuẩn mực xã hội mới và giảm bớt những giá trị không còn thích hợp với cuộc sống hiện đại
Đã có nhiều nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Việt Nam ở các vùng, miền khác nhau trong bối cảnh đô thị hóa, hiện đại hóa, phác thảo nên bức chân dung đời sống văn hóa, tinh thần của người dân ở mọi miền đất nước trong thời kỳ Đổi mới Cuốn sách của TS Nguyễn Thị
Như Thúy về “Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá
trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung (Đà Lạt) và thị trấn Lạc
Dương, Lâm Đồng)” là một nghiên cứu theo chiều hướng như vậy Tác giả tập trung tìm hiểu đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trên
ba nhóm hoạt động chính: hoạt động sinh hoạt thường ngày (vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, xem tivi, đọc sách báo ), hoạt động văn hóa vào dịp
lễ hội (lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, lễ Tết, Giáng sinh, văn hóa cồng chiêng, ), và các nghi lễ theo vòng đời (cưới hỏi, ma chay) Ba nội dung này tạo nên tam giác đời sống tinh thần được thể hiện ở ba chương quan trọng nhất của cuốn sách: Đời sống tinh thần của người Kơho qua hoạt động sinh hoạt văn hóa thường ngày (Chương 3); Đời sống tinh thần của người Kơho qua hoạt động sinh hoạt văn hóa theo kỳ dịp (Chương 4); và Đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin, ma chay (Chương 5) Trên cơ sở những dữ liệu khảo sát thực tế tại trị trấn Lạc Dương và xã
Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng, tác giả đã phân tích thực trạng, các nhân tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng vào những năm cuối của thập niên thứ hai của thế kỷ 21
Trang 9Sử dụng dữ liệu định lượng kết hợp với định tính một cách hợp lý, tác giả cho thấy đời sống tinh thần của người Koho thay đổi cùng với
sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng, kèm theo đó
là các dịch vụ truyền hình có xu hướng cải thiện hơn nhiều Như số liệu khảo sát cho thấy, trong 10 năm về trước, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng ăng ten là 49,9%, tỷ lệ có sử dụng đến truyền hình cáp, chảo và máy thu
kỹ thuật số không đáng kể (chỉ đạt từ 0,6% đến 9%), tỷ lệ hộ gia đình không có các dịch vụ truyền hình lên đến 39,0% Trong giai đoạn hiện nay, có đến 62,7% hộ gia đình có truyền hình cáp, máy thu kỹ thuật số đạt 15,9%, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng ăng ten hiện nay chỉ còn 9,4%, tỷ lệ
hộ gia đình không có giảm xuống còn 6,1% Trong khi đó, những hoạt động văn hóa truyền thống hình như có sự suy giảm Khi xem xét các lễ hội văn hóa theo kỳ dịp trong vòng 10 năm qua thấy có những lễ hội văn hóa
có xu hướng giảm mạnh, cụ thể: lễ hội mừng lúa mới (từ 77,8% giảm xuống còn 5,9%), lễ hội đâm trâu (giảm từ 62,7% xuống còn 31,9%), văn hóa cồng chiêng (từ 77,8% giảm còn 66,5%); bên cạnh đó, một số lễ hội văn hóa có
xu hướng tăng lên khá rõ nét trong đời sống tinh thần của cộng đồng như lễ Tết (từ 33,1% tăng lên 40,9%), lễ Giáng sinh (từ 93,7% tăng lên 99,0%), do
đó mức độ tham gia vào các lễ hội cũng có xu hướng khác nhau Một số các
lễ hội như đâm trâu, mừng lúa mới đã dần dần mất đi do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng như nhận thức của người dân được nâng cao, góp phần định hình và xây dựng nên những mô hình văn hóa mới trong cộng đồng phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội
Trong cuốn sách này, độc giả còn có thể tìm thấy những biến đổi về đời sống sinh hoạt của người Kơho ở Lâm Đồng qua các chiều cạnh nghi
lễ vòng đời Những biểu hiện trong đời sống tinh thần của người Kơho về cưới hỏi, ma chay đã có những biến đổi nhất định trước sự tác động của quá trình đô thị hóa, điều kiện kinh tế xã hội và một số đặc trưng nhân khẩu
xã hội, mang đậm yếu tố tôn giáo Lễ nghi vòng đời về cưới xin và ma chay ngày nay ở Lạc Dương (Lâm Đồng) theo xu hướng chuyên nghiệp hóa hơn, tục cưới xin, ma chay không còn rườm rà như thời kỳ của 10 năm về trước, mà trở nên gọn nhẹ hơn, tổ chức ít ngày hơn
Qua cuốn sách này, bạn đọc sẽ nhận thấy tác giả là người tâm huyết,
Trang 10nghiêm túc trong nghiên cứu, am hiểu phương pháp và biết cách chuyển tải thông điệp đến độc giả Một ưu điểm nữa, tác giả không chỉ viết dựa trên
dữ liệu khảo sát của riêng mình, mà còn tham chiếu, đối sánh với những công trình nghiên cứu trước đó, điều này làm tăng thêm sức thuyết phục trong quá trình phân tích, đồng thời cho thấy tác giả là người chịu khó đọc
và có tinh thần cầu thị
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, đại đa số đồng bào dân tộc Kơho ở Lạc Dương - Lâm Đồng đều theo đạo Tin lành (58,7%) hoặc Thiên chúa giáo (41,3%), nên cần lưu ý về đặc điểm tôn giáo của người dân ở vùng địa bàn nghiên cứu Vì thế, những vấn đề về đời sống tinh thần của người Kơho ở hai địa bàn khảo sát được đề cập trong sách này là nghiên cứu trường hợp, không khái quát cho người Kơho nói chung
Cuốn sách là kết quả của công trình luận án tiến sĩ xã hội học, nên có
ưu điểm của cách tiếp cận của xã hội học, với các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Tuy nhiên, bên cạnh thế mạnh đó lại có hạn chế
so với cách tiếp cận văn hóa học, dân tộc học, hay nhân học văn hóa Điều này gợi mở cho tác giả nếu tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu này, nên khai thác lợi thế của cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành, xuyên ngành về đời sống văn hóa tộc người Công trình nghiên cứu nào cũng có hạn chế, điều này sẽ tạo động lực cho nhà khoa học nghiêm túc tiếp tục theo đuổi những đam mê của mình để khắc phục những khiếm khuyết, nâng cao trình độ chuyên môn hơn trên con đường học tập và nghiên cứu
Cuốn sách này góp phần làm phong phú thêm tài liệu về đời sống văn hóa, tinh thần của người dân tộc trong quá trình đất nước chuyển đổi,
có giá trị tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu về xã hội học văn hóa, nhân học văn hóa
Với suy nghĩ như vậy, tôi trân trọng giới thiệu cuốn sách này với bạn đọc, những người quan tâm đến vùng Tây Nguyên, đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2021
GS.TS.NGƯT Hoàng Bá Thịnh
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Nghiên cứu về đời sống tinh thần trong quá trình đô thị hóa ở Tây Nguyên đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu Bởi hiện nay các hình thức sinh hoạt tinh thần của các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên không còn bó buộc vào những hủ tục, những hình thức giản đơn truyền thống như: thăm hỏi, các lễ hội truyền thống, cách ăn mặc, hình thức
tổ chức hôn nhân, các hoạt động thể dục thể thao, du lịch, tôn giáo, văn hóa cồng chiêng,… mà còn lồng ghép bởi những hình thức sinh hoạt tinh thần mới gắn liền với quá trình cách tân, đổi mới và hội nhập Mặc dầu vậy, các nghiên cứu hiện nay phần lớn tập trung vào sự biến đổi về cấu trúc đô thị, kinh tế, sự tăng lên về dân số, đổi mới trong giáo dục,… còn nghiên cứu về
sự du nhập văn hóa, lối sống và cách thức sinh hoạt tinh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau trên địa bàn Tây Nguyên gần như còn nhiều bỏ ngỏ, và nếu có thì cũng chỉ mang tính khái quát hóa, chưa đi sâu vào bản chất vấn đề Đáng chú ý trong số đó là sự cách tân và đổi mới trong Lễ hội văn hóa cồng chiêng, hoặc có thể là một sự thương mại hóa trong các sản phẩm văn hóa đang có xu hướng tăng dần Với những trăn trở trước sự biến đổi lớn về đời sống tinh thần của các dân tộc thiểu số hiện nay trong quá trình
đô thị hóa, tác giả tiến hành nghiên cứu và thực hiện cuốn sách chuyên khảo
Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung (Đà Lạt) và thị trấn Lạc Dương, Lâm Đồng) Cuốn sách ra đời trên cơ sở của cả một quá trình nghiên cứu đầy
công phu, nghiêm túc và tâm huyết của tác giả Để hoàn thành được công trình nghiên cứu này, tác giả đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ và giúp đỡ từ các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà giáo dục trong ngành Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà, giáo viên hướng dẫn luận án của tôi Những góp ý, chỉ bảo, khích lệ, động viên,
Trang 13cùng với sự tin tưởng của Cô là động lực để tôi hoàn thành được công trình nghiên cứu và cho ra đời cuốn sách này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa, người đã cho tôi niềm tin để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các chuyên gia đầu ngành là PGS.TS Trịnh Duy Luân, GS.TS Đặng Cảnh Khanh, GS.TS.NGƯT Hoàng Bá Thịnh, PGS.TS Trịnh Văn Tùng, PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, PGS.TS Hoàng Thu Hương, PGS.TS Nguyễn Đức Chiện, PGS.TS Trần Thị Minh Ngọc, đã truyền đạt cho tôi những bài học quý báu, giúp tôi củng cố chuyên môn, phương pháp luận nghiên cứu để tôi hoàn thiện được nghiên cứu của mình Trân trọng
và cảm ơn GS.TS.NGƯT Hoàng Bá Thịnh đã động viên, khích lệ để tôi có thêm động lực cho ra đời cuốn sách này
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa
Xã hội học, tập thể quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội; Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh; tập thể quý Thầy, Cô Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện về mặt thời gian cho tôi đi học và nghiên cứu Trân trọng cảm
ơn những tình cảm và góp ý chân thành từ PGS.TS Đoàn Đức Hiếu để tôi thực hiện cuốn sách khoa học có giá trị này
Nhân đây tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới chính quyền các địa phương, nơi tôi thực hiện khảo sát thực địa; ThS Đào Thị Hiếu, Khoa Xã hội học và Công tác xã hội, các Thầy Cô Khoa Lịch sử, các em sinh viên Ngành Xã hội học - Trường Đại học Đà Lạt đã giúp chúng tôi về tư liệu cũng như thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu Cuốn sách cũng là một món quà thay lời cảm ơn đến gia đình tôi, những người đã luôn động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện để tôi vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất
Mặc dù đã rất cố gắng, song không thể tránh khỏi những sai sót, tác giả mong nhận được sự quan tâm, góp ý từ bạn đọc để cuốn sách ngày càng được hoàn thiện hơn trong các lần xuất bản sau
Tác giả Nguyễn Thị Như Thúy
Trang 14MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
LỜI GIỚI THIỆU 7
LỜI NÓI ĐẦU 11
MỤC LỤC 13
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 16
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17
1.1 Những nghiên cứu về đô thị hóa và đời sống văn hóa, tinh thần trong quá trình đô thị hóa 17
1.2 Những nghiên cứu về người dân tộc thiểu số (dân tộc ít người) 25
1.3 Vai trò của truyền thông đại chúng trong đời sống tinh thần 30
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 36
2.1 Những khái niệm cơ bản 36
2.1.1 Đời sống tinh thần 36
2.1.2 Quá trình đô thị hóa 39
2.1.3 Dân tộc Kơho 41
2.1.4 Biến đổi xã hội 42
2.2 Các lý thuyết sử dụng .43
2.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 43
2.2.2 Lý thuyết đô thị hóa 45
2.2.3 Lý thuyết về biến đổi xã hội 47
2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển đời sống tinh thần của người dân tộc thiểu số 52
2.4 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 54
2.5 Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu 66
2.5.1 Khung phân tích 66
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu .66
2.5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp 66
2.5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp .67
2.5.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 69
2.5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 69
Trang 15CHƯƠNG 3: ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO
QUA HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT VĂN HÓA THƯỜNG NGÀY 70
3.1 Những biểu hiện trong đời sống tinh thần qua hoạt động sinh hoạt thường ngày 71
3.1.1 Giao tiếp thường ngày 72
3.1.2 Một số hoạt động giải trí trong thời gian rỗi 76
3.1.2.1 Xem truyền hình 77
3.1.2.2 Nghe truyền thanh 83
3.1.2.3 Đọc báo in 87
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 95
3.2.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 95
3.2.2 Các đặc trưng nhân khẩu ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày 103
3.2.3 Quá trình đô thị hóa và các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần qua những sinh hoạt văn hóa thường ngày .110
CHƯƠNG 4: ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO QUA CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA THEO KỲ DỊP 115
4.1 Đời sống tinh thần qua các hoạt động theo kỳ dịp của người Kơho ở Lâm Đồng 116
4.1.1 Lễ hội mừng lúa mới, năm mới và lễ hội đâm trâu 116
4.1.2 Lễ Tết, Giáng sinh 121
4.1.3 Văn hóa cồng chiêng 128
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp 136
4.2.1 Yếu tố tôn giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp 137
4.2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt động theo kỳ dịp .143
Trang 164.2.3 Đô thị hóa và phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng
đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng qua các hoạt
động theo kỳ dịp 148
CHƯƠNG 5: ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KƠHO QUA NGHI LỄ CƯỚI XIN, MA CHAY 156
5.1 Nghi lễ cưới xin 157
5.1.1 Những biểu hiện trong đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 157
5.1.1.1 Lễ ăn hỏi 158
5.1.1.2 Vật thách cưới 165
5.1.1.3 Tổ chức lễ cưới 167
5.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 171
5.1.2.1 Điều kiện kinh tế, xã hội và đô thị hóa ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 172
5.1.2.2 Đặc trưng nhân khẩu xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Kơho qua nghi lễ cưới xin 177
5.2 Nghi lễ ma chay 177
5.2.1 Quan niệm về “cái chết” và báo tin tang ma và những yếu tố tác động đến quan niệm về “cái chết” và báo tin tang ma .178
5.2.2 Quá trình thực hiện nghi thức ma chay và những yếu tố tác động đến nghi thức ma chay 179
5.2.2.1 Lễ nhập quan và lễ vật cúng cho người chết 179
5.2.2.2 Thời gian cử hành tang lễ và hạ huyệt 181
5.2.2.3 Kinh phí tổ chức ma chay 184
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG NGHIÊN CỨU 186
1 Kết luận 186
2 Khuyến nghị 188
3 Những hạn chế trong nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng và những đề xuất mang tính định hướng 190
TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
Trang 18Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với sự tồn tại và sinh sống của
54 dân tộc anh em Trong khối đại đoàn kết, các dân tộc anh em ở Việt Nam
đã có những bước khởi sắc trong việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững những bản sắc văn hóa của từng nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau Chính vì vậy mà vấn đề văn hóa dân tộc đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học Các công trình nghiên cứu khoa học đi trước có liên quan đến vấn đề này được chúng tôi lược thuật theo các chủ điểm nghiên cứu, cụ thể như sau:
1.1 Những nghiên cứu về đô thị hóa, đời sống văn hóa, tinh thần trong quá trình đô thị hóa
Những nghiên cứu về Tây Nguyên nói chung và trong lĩnh vực văn hóa tinh thần nói riêng cũng được đề cập đến ở nhiều chiều cạnh khác nhau Tây Nguyên là vùng đất có truyền thống văn hóa từ lâu đời với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nước ta Chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, Tây Nguyên trở thành tâm điểm của mọi sự chú ý, đầu tư cũng như nghiên cứu của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, nghiên
cứu khoa học Trong lời mở đầu của cuốn sách “Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bền vững”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, có đoạn viết: “Tây Nguyên là nơi còn lưu được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm
mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội… Một trong những di sản nổi tiếng là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” Vì vậy, Trần Đại Quang cho rằng cần: “tập trung xây dựng đời sống văn hóa mới và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc trên cơ sở bảo tồn những tinh hoa văn hóa truyền thống, gìn giữ, kế thừa có chọn lọc, phát huy những giá trị tiêu biểu, loại bỏ dần
Trang 19hủ tục, từng bước xây dựng giá trị mới về văn hóa, nghệ thuật, hình thành nếp sống văn minh Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, khôi phục các lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống theo nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng” (Viện Nghiên
cứu Phát triển Phương Đông, 2016:19)
Những nghiên cứu cụ thể về đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn giới thiệu trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đô thị hóa và quản lý quá trình đô thị hóa trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên Kết quả
và bài học kinh nghiệm” Thông qua hội thảo, đã có nhiều cách tiếp cận và
góc độ nghiên cứu khác nhau về đô thị hóa và phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội khác nhau trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, từ đó phác họa lên được một bức tranh toàn cảnh về đô thị hóa và quản lý đô thị hóa trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên
Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Hà (2007) đã làm rõ về kiến trúc đô thị và phát triển tiềm năng các buôn làng truyền thống ở các đô thị nông thôn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và chính sách để phát huy và duy trì các buôn làng truyền thống Luận án tiến sĩ của Đỗ Tiến Dũng (1996) cho thấy thực trạng phát triển dân số và bảo vệ môi trường ở Tây Nguyên, trong đó, ổn định dân số là giải pháp hữu ích cho vấn đề phát triển bền vững ở Tây Nguyên Luận án tiến sĩ của Lê Văn Thanh (2007) đã đánh giá thực trạng
về nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Tây Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Tây Nguyên Mặc dù được phản ánh trên các khía cạnh khác nhau, không trực tiếp đến đời sống tinh thần của các nhóm dân cư trên địa bàn, nhưng các nghiên cứu này đã tập trung làm rõ mối quan hệ giữa phát triển đô thị với phát triển toàn diện đời sống của cư dân vùng Tây Nguyên, đặc biệt là việc gìn giữ những nét văn hóa mang tính truyền thống, đậm tính dân tộc đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên
Trang 20Những nghiên cứu về chính sách dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới cũng là chủ đề chính trong các nghiên cứu Trong luận án tiến sĩ xã hội học của Nguyễn Minh Tuấn (2012) cho thấy các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa được nghiên cứu trong sự lồng ghép, đan xen nhau trước những chuyển biến ở Tây Nguyên sau một quá trình thực hiện Nghị quyết số 22 của
Bộ Chính trị, đặc biệt khi có Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên (1998), cụ thể là các nghiên cứu của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam “Một số vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên”; Nguyễn Văn Tiêm và các tác giả khác: Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Điều tra đánh giá tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội đến đời sống của các dân tộc bản địa Tây Nguyên trong những năm đổi mới” (1998); Võ Tấn Tú với hai công trình nghiên cứu “Tây Nguyên dưới góc nhìn Nhân học” (2016) và “Hôn nhân và gia đình của người Chu Ru” (2016) dưới góc nhìn của ngành dân tộc học và các nghiên cứu của chính tác giả về “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng” (2010); “Thực trạng tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người Kơho” (2007); “Những chuyển đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho
ở Lâm Đồng dưới tác động của quá trình Đô thị hóa” (2012); Các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng (2014) và bài báo
đăng trên Tạp chí khoa học giáo dục kỹ thuật, số 30/2014 Các nghiên cứu
này có thể coi là các công trình nghiên cứu xã hội học đầu tiên về đời sống văn hóa, tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu của các công trình khác nhau đã phản ánh cụ thể hơn về tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng, cũng như
đi sâu phân tích và phản ánh về một số vấn đề trong hôn nhân, các hình thức sinh hoạt tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng
Đời sống tinh thần trong quá trình đô thị hóa ở Tây Nguyên đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, bởi thực tế các hình thức sinh hoạt tinh thần của các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên không còn bó buộc vào những hủ tục, những hình thức giản đơn truyền thống như thăm hỏi, các lễ hội truyền thống mà nó còn lồng ghép bởi những hình thức sinh hoạt tinh thần mới, sự cách tân văn hóa, các giá trị, cách thức sinh hoạt tinh thần trong các lễ hội, phong tục truyền thống như cách ăn mặc, hình thức
Trang 21tổ chức hôn nhân, các hoạt động thể dục thể thao, du lịch, nghi lễ, tôn giáo, văn hóa cồng chiêng, giáo dục,… có những thay đổi về hình thức, nội dung
và cách thức thể hiện Mặc dù vậy, các nghiên cứu hiện nay phần lớn tập trung vào sự biến đổi về cấu trúc đô thị, kinh tế, sự tăng lên về dân số, đổi mới trong giáo dục, còn sự du nhập văn hóa, lối sống và cách thức sinh hoạt tinh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau trên địa bàn Tây Nguyên vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu để hiểu rõ hơn từng hoạt động sinh hoạt tinh thần của người dân Đặc biệt là sự cách tân và đổi mới trong lễ hội văn hóa cồng chiêng; hoặc cũng có thể là sự thương mại hóa các trong các sản phẩm văn hóa có xu hướng tăng dần
Xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng tất yếu dẫn đến sự tăng cường hội nhập, giao lưu, đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc vào đời sống văn hóa, xã hội của các dân tộc, các quốc gia, như lời mở đầu của
Phan Thị Hồng Xuân (2012) đã nhận định: “Văn hóa được ví như sợi chỉ
đỏ xuyên suốt từ quá khứ tới hiện tại, vươn đến tương lai tạo nên bản sắc của thời đại, của dân tộc mình” Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế
giới, nhân tố văn hóa càng đóng vai trò hết sức quan trọng Do vậy, một mặt chúng ta phải học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố văn hóa từ bên ngoài, mặt khác phải phát huy nội lực, sức mạnh của truyền thống để tạo nên một nền văn hóa vừa mang bản sắc dân tộc, vừa mang tính hiện đại Đất nước ta đã và đang hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa và sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông “Xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng tất yếu dẫn đến sự tăng cường hội nhập, giao lưu, đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc vào đời sống văn hóa - xã hội của các dân tộc, các quốc gia Hàng loạt vấn đề mới đặt ra đối với Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định đường lối
để xử lý mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc với việc tiếp nhận văn hóa thế giới trong quá trình mở cửa, hội nhập” (Đinh Xuân Lý, Đoàn Minh Huấn, 2008: 330) Thực tiễn đòi hỏi phải có những chỉ đạo kịp thời
để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong xu hướng phát triển bền vững Tác giả Phạm Ngọc Thanh nhận định “văn hóa, với một ý nghĩa thiết thực, sẽ hướng sự chú ý của ta vào những thứ mà con người cần để ổn định,
Trang 22bền vững và có ý nghĩa Văn hóa luôn hình thành theo một dạng thức và sự
hội nhập không ngừng Toàn cầu hóa đưa lại điều kiện giao lưu hội nhập
của con người giữa các nền văn hóa, không những giúp con người hiểu nhau hơn mà còn góp phần nâng cao giá trị văn hóa truyền thống, xóa bỏ những
hủ tục, mở ra điều kiện phát triển cho con người, cho sự tồn tại và cùng phát triển hòa bình của các nền văn hóa trong không gian toàn cầu” (Phạm Ngọc Thanh, 2013:220)
Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi nghiên cứu các hiện tượng và giá trị văn hóa ở nhiều dân tộc, đã đi đến nhận xét: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 1995: tập 3, trang 431; dẫn lại
Nguyễn Duy Bắc, 2008: 13) Nguyễn Duy Bắc cho rằng: dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người Vì vậy, K.Marx đã nói rằng văn hóa là sự thể hiện các năng lực bản chất của con người bao gồm khả năng, sức mạnh, phương thức nhận thức, đánh giá và cải tạo thế giới của con người Từ đó, Nguyễn Duy Bắc cùng các cộng tác viên đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, phát triển và biến đổi giá trị văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Trong đó tác giả nhấn mạnh: đẩy mạnh việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, đặc biệt chú ý đến các giá trị văn hóa truyền thống với tính cách là giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam để làm chỗ dựa cho việc giáo dục rộng rãi, thường xuyên trong nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ - người đóng vai trò tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc do các thế hệ trước
để lại Hệ quả của giao lưu văn hóa tùy thuộc một cách quyết định vào yếu
tố nội sinh Nếu yếu tố nội sinh suy yếu thì sẽ bị các yếu tố ngoại sinh lấn lướt và sớm muộn thì hiện tượng “áp đặt giá trị” bởi các yếu tố ngoại sinh
sẽ diễn ra Vì vậy, việc tạo môi trường cho sự tồn tại và phát triển của các
Trang 23giá trị đạo đức truyền thống là nhân tố cơ bản tạo thành sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong giao lưu văn hóa với nước ngoài Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ, không giới hạn về phạm vi địa lý, vùng lãnh thổ, thì vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống được đặt lên một cách bức thiết
Các nghiên cứu về những vấn đề cụ thể của các địa phương khác nhau trong quá trình đô thị hóa trên phương diện lý luận và thực tiễn hiện nay khá nổi bật Đáng chú ý là nghiên cứu của Tôn Nữ Quỳnh Trân, Nguyễn Văn Tiệp (2014) đã góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình đô thị hóa không chỉ giới hạn trong khu vực Nam Bộ mà đối với cả nước trong quá trình đô thị hóa 20 năm qua Thông qua đó, những vấn đề lý luận về đô thị hóa, những vấn đề về thực tiễn quá trình đô thị hóa ở Nam Bộ nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, tỉnh Bình Dương nói riêng đều được trình bày và phản ánh một cách cụ thể Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, Trung tâm nghiên cứu phát triển Đô thị và Cộng đồng giới thiệu 21 bài viết khác nhau xung quanh ba vấn đề cơ bản: (1) Lý luận về “văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị”; (2) Vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người trong tiến trình phát triển Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Lịch sử và triển vọng; (3) Tản mạn về phát triển đô thị trong sự kết nối với văn hóa truyền thống Nguyễn Xuân Quang cùng cộng sự đã tiến hành phân tích thực trạng sự biến đổi về đời sống văn hoá dân cư đô thị Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết quả nghiên cứu cho thấy, dân cư đô thị Hải Phòng có nhu cầu hưởng thụ văn hóa cao và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng có những biến đổi sâu sắc Cùng với những cải thiện về đời sống vật chất, đời sống văn hóa tinh thần cũng ngày càng phong phú, đa dạng Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm định hướng xây dựng đời sống văn hóa của cư dân đô thị Hải Phòng
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đô thị hóa cũng có những tác động tiêu cực đến nghèo khổ và sự phân tầng xã hội Đô thị hóa quá tải và không kiểm soát được sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo khổ của các thành
Trang 24phố, và điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đời sống văn hóa tinh thần theo chiều hướng tiêu cực Trong đó phải kể đến những bài viết và nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Hữu Minh “Đô thị hóa ở Việt Nam những năm 90 Một số đặc trưng kinh tế - xã hội cơ bản” (2002) và “Đô thị hóa và sự phát triển nông thôn ở Việt Nam – Một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu”
(2003) Cả hai bài viết đều phác họa lên bức tranh chuyển dịch dân cư và
sự mở rộng của các đô thị, cũng như những thay đổi trong điều kiện kinh
tế, văn hóa, xã hội như quy mô gia đình nhỏ hơn; hôn nhân ngày càng ít phổ biến hơn và tuổi kết hôn lần đầu cao hơn; mức sinh thấp, đặc biệt là
ở các nhóm tuổi trẻ Cấu trúc văn hóa làng xã thay đổi khác nhau trong tiến trình đô thị hóa theo xu hướng cái mới được hình thành cho phù hợp với điều kiện mới, cái cũ không còn phù hợp sẽ dần mất đi Tuy nhiên các đánh giá đầy đủ về tác động của đô thị hóa đến văn hóa làng xã trên các khía cạnh khác nhau thì vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa thực sự thu hút được sự quan tâm Chẳng hạn, vai trò của đô thị hóa trước những thay đổi của văn hóa làng xã và sự thay đổi của văn hóa làng xã đóng góp cho sự phát triển của xã hội như thế nào? Và có lẽ, điều trăn trở này một phần nào đó được giải đáp và phản ánh trong nghiên cứu của Nguyễn Duy
Thắng (2004) “Tác động của đô thị hóa đến nghèo khổ và phân tầng xã hội: Nghiên cứu trường hợp vùng ven Hà Nội” cho thấy đô thị hóa cũng có
những tác động tiêu cực đến nghèo khổ và sự phân tầng xã hội Đô thị hóa quá tải và không kiểm soát được sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo khổ trong các thành phố Còn theo luận điểm của John Macionis thì đô thị hóa không chỉ làm thay đổi sự phân bố dân cư trong một xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội Đó cũng chính là sự phổ biến và lan truyền những khuôn mẫu hành vi, ứng xử vốn đặc trưng cho người dân đô thị, sự lan truyền của một lối sống đô thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới vùng nông thôn và trên toàn bộ xã hội nói chung (John Macionis, 1988:112) Trong nghiên cứu của mình, Hoàng Bá Thịnh cho rằng mặt trái của đô thị hóa và công nghiệp hóa là những khó khăn trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương, làm sao để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, đó là những yêu cầu quan trọng trong quá trình đô thị hóa Điều này được tác giả Trần Thị Hiền một
Trang 25lần nữa khẳng định: đô thị hóa đã tạo nên những chuyển đổi nhiều mặt liên quan trực tiếp đến sinh kế và không gian sống của cộng đồng người Lạch
ở thôn Măng Line Trong đó việc thiếu đất, không có việc làm ổn định, sinh kế gắn chặt với tự nhiên, học sinh bỏ học sớm và không được đào tạo nghề, cưới vợ cưới chồng trước tuổi quy định, sự du nhập ồ ạt của lối sống
đô thị, lớp trẻ có nguy cơ rơi vào các tệ nạn xã hội mới, là những vấn đề
mà cộng đồng người Lạch ở Măng Line đang đối diện trong quá trình đô thị hóa đang và sẽ diễn ra mạnh mẽ
Theo tác giả Mai Văn Hai - Mai Kiệm thì “nhiều người lo ngại là kết quả của toàn cầu hóa có thể làm xói mòn các truyền thống văn hóa và nảy sinh một nền văn hóa toàn cầu, mà biểu hiện cụ thể là sự xuất hiện các đơn
vị văn hóa chung hay sự phổ biến các loại hàng hóa tiêu dùng giống nhau đối với mọi nước (như mốt, thể thao, du lịch, văn hóa đại chúng), cũng
có thể nó sẽ tạo ra một sự “đồng nhất hóa” các hệ thống giá trị và chuẩn mực, biểu tượng và ngôn ngữ, nghệ thuật và phong tục Những điều lo ngại này không phải là phi lý, bởi quá trình đô thị hóa diễn ra sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh về kinh tế, các luồng di cư mạnh sẽ ít nhiều góp phần tạo ra những diện mạo mới trong đời sống văn hóa của con người,
sẽ có những cái cũ mất đi, biến tướng xen lẫn những nét văn hóa mới; văn hóa truyền thống được thay thế bằng văn hóa đại chúng” (Mai Văn Hai -
Mai Kiệm, 2005: 179) Ngoài ra, còn có một số bài viết phân tích về vấn
đề đô thị hóa và những biến đổi về văn hóa như Đô thị hóa ở Việt Nam, báo cáo hỗ trợ kỹ thuật (Word Bank); Giới, văn hóa và đô thị hóa (HSP/ WUF/2/11 Un -Habitat Partners’ and thematic dialogues); Tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào việc xây dựng văn hóa hiện nay (Lê Hường); Một lý thuyết nhận thức về ý nghĩa của văn hóa
(Cambridge University Press) Những bài viết này tập trung vào phân tích các khía cạnh kinh tế, giới, truyền thông, chính sách, nghèo đói trong quá trình đô thị hóa Đây cũng là một trong những chiều cạnh giúp chúng tôi
có cách nhìn cụ thể hơn trong nội dung nghiên cứu của mình
Mặc dù được tiếp cận dưới các nhãn quan khác nhau, nhưng các tác giả đã cho thấy được sự phát triển của quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng
Trang 26không nhỏ đến chất lượng đời sống văn hóa, cũng như các hoạt động sinh hoạt tinh thần của con người Như vậy, trong các nghiên cứu về đô thị hóa
và đời sống tinh thần, chúng ta phải có một cách nhìn toàn diện, trên nhiều chiều cạnh khác nhau để thấy được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đô thị hóa đối với đời sống tinh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau
1.2 Những nghiên cứu về người dân tộc thiểu số (dân tộc ít người)
Việc thực thi các văn bản pháp luật cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một trong những cơ sở thúc đẩy xã hội phát triển Trong xu hướng vận động và phát triển không ngừng, các nhà khoa học
có cơ hội để xâm nhập đời sống, nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình thực tế và đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần ổn định trật tự
xã hội, nâng cao đời sống của con người trong mọi lĩnh vực Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với tư tưởng “Đại đoàn kết các dân tộc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3-5-1946 Nha Dân tộc thiểu số - tiền thân của Ủy
ban Dân tộc đã được thành lập với chức năng, nhiệm vụ “Xem xét các vấn
đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam” (Sắc lệnh số
58, ngày 3-5-1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) Chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc tại Đại hội
II (tháng 2-1951), Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng ta hiện nay” (tháng 8-1952) đã xác định: “Ở Việt Nam, ngoài dân tộc Kinh, còn có nhiều dân tộc thiểu số: Thổ, Thái, Mường, Mèo, Mán, Nùng, Ngái (ở Bắc Bộ), Rađê, Bana, Xêđăng, Cheoreo, Chàm, Gialai, Nông, Lôlô (ở Trung Bộ), Miên, Nông (ở Nam Bộ),… Tất cả trên
30 giống người, tổng số ước hơn hai triệu, chiếm 1/10 dân số toàn quốc, ở rải rác khắp các miền rừng núi rộng hơn 40% diện tích toàn quốc, tập trung nhiều nhất ở miền thượng du Bắc Bộ và Tây Nguyên Trung Bộ”
Trên cơ sở những tiền đề đã có về các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng (2005) cho ra đời cuốn
sách Vài nét văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Lâm Đồng, cuốn
sách này tập hợp một số công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân
Trang 27văn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong những năm đã qua nhằm giới thiệu khái quát về các dân tộc bản địa Lâm Đồng; cũng như một số lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Kơho, dân tộc Mạ và dân tộc ChuRu Theo thống kê mà tác giả cuốn sách đề cập thì có ba tộc người bản địa ở Lâm Đồng, trong đó Kơho là tộc người chiếm số lượng đông nhất Khoảng 112.926 người Kơho sinh sống trên đất Lâm Đồng (theo số liệu tổng điều tra tháng 4/1999, cư dân Kơho trên toàn quốc là 129.729 người);
số còn lại phân bố ở một số tỉnh lân cận như: Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận Để giới thiệu sâu hơn về dân tộc Kơho, tác giả Phan Ngọc Chiến
(chủ biên, 2005) đã viết Người Kơho ở Lâm Đồng với hai phần chính:
Phần một là những bài viết về những vấn đề học thuật và lý thuyết trong nhân học liên quan đến thành phần dân tộc, bản sắc dân tộc và văn hóa Mối tương quan giữa văn hóa và bản sắc dân tộc là một vấn đề đa dạng mà ngành nhân học, với những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu riêng của
nó, đã có những đóng góp quan trọng Phần hai gồm những bài viết về một
số khía cạnh sinh hoạt kinh tế, xã hội và văn hóa nổi bật của người Kơho
và người Chil ở Lâm Đồng, cùng với một phân tích tài liệu thư tịch và điền
dã về bản sắc và thành phần dân tộc của họ
Những kết quả nghiên cứu của Sở văn hóa Thông tin Lâm Đồng và Phan Ngọc Chiến (2005) giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về các dân tộc ít người thông qua phong tục, tập quán, tín ngưỡng của họ Điều này sẽ giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong việc thu thập thông tin thực tế tại địa bàn nghiên cứu, cũng như thống nhất được cách viết về tên gọi của dân tộc Kơho
Ngoài những công trình nghiên cứu đó, còn có các nghiên cứu và bài viết: “Việt Nam - Sắc màu văn hóa 54 Dân tộc anh em” của Nhà xuất bản Đồng Nai và “Người Cơ Ho ở Tây Nguyên Việt Nam” của Nhà xuất
bản Thông Tấn”; “Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người” của Đặng Nghiêm Vạn (2009); “Việt Nam - Hình ảnh cộng đồng 54 dân
tộc” của Thông tấn xã Việt Nam (2006) và “Sổ tay về các Dân tộc ở Việt
Nam” của Viện Dân tộc học (2008); “Dân tộc Cơ Ho ở Việt Nam” của Bùi Minh Đạo (chủ biên),Vũ Thị Hồng (2002); “Tư liệu về người Cơ Ho” của Viện Dân tộc học - Phòng Trường Sơn - Tây Nguyên (2001); “Khoa học
Trang 28xã hội và văn hóa Tộc người Hội nhập và phát triển” của Ngô Văn Lệ (2012); ““Nhân học đại cương” của Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Thị Yến Tuyết và nhóm tác giả (2008) đã mang đến cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về vấn đề về quốc gia dân tộc và tộc người như nguồn gốc các tộc người Qua đó, “chân dung” của các dân tộc anh em được trình bày một cách khá tỉ mỉ, thể hiện được sự tiếp nối truyền thống đoàn kết, đùm bọc nhau, dựng nước, giữ nước cả ngàn năm, việc nâng cao và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành từ những đặc trưng văn hóa của
cả cộng đồng 54 dân tộc anh em Bằng những dẫn luận khá sắc sảo, các công trình nghiên cứu này đã mang đến một bức tranh toàn cảnh về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc Việt Nam; từ điều kiện địa lý, đến nơi cư trú, điều kiện sản xuất, ngôn ngữ, văn hóa, tập tục,… của các dân tộc khác nhau Với những điều kiện khác nhau ấy đã hình thành nên những nét riêng biệt về đời sống, văn hóa (phong tục, tập quán,…) của các dân tộc, đưa ra khái niệm về một dân tộc, khái niệm về một tộc người, quá trình hình thành các quốc gia dân tộc và tộc người thời kỳ công nghiệp, đặc điểm của cộng đồng dân tộc Việt Nam, về người Kơho từ nguồn gốc xuất hiện đến những đặc điểm trong lao động sản xuất, đời sống văn hóa, nghi thức, nghi lễ, tín ngưỡng, hôn nhân, trang phục, đặc trưng nhân chủng học trong sự phát triển xã hội Dưới góc nhìn dân tộc học, bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, trên cơ sở phân tích các dữ liệu
từ thực tế và tài liệu thứ cấp, các tác giả đã phác họa tương đối đầy đủ về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống, văn hóa tinh thần của dân tộc Kơho với các khía cạnh như tín ngưỡng tôn giáo, văn nghệ, sinh
đẻ, lễ cưới Đây là những tài liệu quý được phân tích, trình bày dưới luận điểm của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học về dân tộc học Còn dưới góc nhìn của xã hội học, những hoạt động sinh hoạt tinh thần của cộng đồng đặc thù như người Kơho ở Lâm Đồng sẽ được chúng tôi xem xét, nghiên cứu và lý giải bằng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài với các trường phái và khuynh hướng khác nhau Tuy nhiên, tinh thần đoàn kết toàn dân đã làm cho cộng đồng dân tộc Việt Nam không ngừng lớn mạnh, vững vàng trên con đường dựng nước và giữ nước Đây là một công trình mang đậm tính dân tộc học, còn dưới góc
Trang 29độ xã hội học vẫn còn là một vấn đề cần được quan tâm xem xét.
Lê Ngọc Thắng thông qua “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam” (2011) đã cung cấp một cái nhìn, những luận cứ
khoa học cần thiết trên các phương diện lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm trong nước và quốc tế Những vấn đề và nhận xét cơ bản của chính sách dân tộc hiện nay của Nhà nước ta, từ đó đưa ra những quan điểm đổi mới, xây dựng, hoàn thiện và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng hệ thống chính sách dân tộc hiện tại và những năm tiếp theo Đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững đối với sự phát
triển của đồng bào các dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới “Người Dao
ở Việt Nam” (The Yao people in Vietnam) của Viện Dân tộc học đã phác
họa lên một bức tranh toàn cảnh về người Dao - một cộng đồng dân tộc ít người đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau như Kềm Miền, Kìm Mùn, Dìu Miền,… xưa kia họ gọi là Mán, Động, Xạ,… rồi đi đến một sự thống nhất về tên gọi Viện Dân tộc học đã cho người đọc thấy được những đặc trưng văn hóa của người Dao thông qua ngôn ngữ, trang phục, lễ cưới, các thiết chế bản làng và các sinh hoạt cộng đồng Tất cả những thành tố văn hóa đó không chỉ thực hiện chức năng
cố kết tộc người, mà còn phân biệt người Dao với các tộc người khác Những thành tố văn hóa ấy góp phần làm giàu kho tàng văn hóa đại gia đình các dân tộc Việt Nam (Viện Dân tộc học, 2006:6,14) Đây là một tài liệu quý để giúp cho chúng tôi có cơ sở đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các nhóm dân tộc ít người khác, mà cụ thể là người Kơho ở Lâm Đồng trong thực trạng đời sống văn hóa của họ dưới góc nhìn của xã hội học Hay
trong “Dân tộc Lô Tô ở Việt Nam” (2007) của Khổng Diễn - Trần Bình
(đồng chủ biên), “Đặc điểm nhân chủng các dân tộc K’ho, Mạ, MNông”
của tác giả Vũ Thị Hồng, phương pháp điền dã dân tộc học được sử dụng
như là một cách tiếp cận chủ đạo Tác giả đã trình bày một cách đầy đủ các vấn đề về môi trường tự nhiên, dân số, nguồn gốc lịch sử, đời sống kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của dân tộc Lô
Tô và dân tộc Kơho, góp phần khắc phục những hạn chế đối với các công trình nghiên cứu đi trước dưới góc độ tiếp cận của dân tộc học Chúng tôi
Trang 30với mong muốn kế thừa những kết quả của nghiên cứu trong khía cạnh
về văn hóa tinh thần của các tác giả, để từ đó đi sâu nghiên cứu về nhóm đồng bào người Kơho ở Lâm Đồng dưới góc nhìn của nhà xã hội học Từ
đó, góp phần tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh, đa dạng cho các nghiên cứu
về dân tộc ít người
Nguyễn Văn Quyết với “Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của các cộng đồng nông nghiệp - nông thôn trong quá trình phá triển các khu công nghiệp” (Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, 2013), bằng phương pháp liên
ngành và cách nhìn của người nghiên cứu về văn hóa học Tác giả đã phác họa được toàn cảnh về các biến đổi trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư khu công nghiệp như sự tham gia của người dân vào các nghi lễ cộng đồng, các hưởng thụ văn hóa trong cuộc sống hàng ngày và xây dựng, phát triển các mô hình văn hóa Dưới góc nhìn của dân tộc học, luận án
“Hôn nhân và gia đình của người Chu Ru ở tỉnh Lâm Đồng” (2010) của Võ Tấn Tú đã phân tích những đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng
và những biến đổi trong hôn nhân gia đình của người Chu Ru ở tỉnh Lâm Đồng, đã giới thiệu một cách khái quát những đặc điểm cũng như các nghi
lễ truyền thống và sự biến đổi trong các nghi lễ của người Kơho SRê Đi sâu vào nghiên cứu các thành phần, cơ cấu của đời sống tinh thần có các nghiên cứu “Về sự biến đổi mô hình phong tục hôn nhân ở châu thổ Sông Hồng qua mấy thập niên gần đây” của Mai Văn Hai và Ngô Ngọc Thắng
trên Tạp chí Xã hội học số 2 (82), 2003; “Một số cách tiếp cận về nghiên cứu hôn nhân” trên Tạp chí Xã hội học số 4 (76), 2001 và “Khuôn mẫu tuổi kết hôn ở nông thôn Việt Nam và các yếu tố tác động” trên Tạp chí Xã hội học số 3 (99), 2007 của Nguyễn Hữu Minh; “Mô hình tìm hiểu và quyết
định hôn nhân ở nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Lê Ngọc Văn
trên Tạp chí Xã hội học số 3 (99), 2007; “Các nghi lễ hôn nhân của người
Giao Quần Chẹt” (trường hợp xã Yên Dơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) - của Vũ Tuyết Lan, Viện Dân tộc học; “Lễ nghi trong hôn nhân của
dân tộc Ê Đê tỉnh Đắk Lắk” của Nguyễn Thị Thạch Ngọc (Trường Đại học
Văn hóa Hà Nội); “Những vấn đề hôn nhân của dân tộc Brâu ở Việt Nam” của Bùi Ngọc Quang (Trung tâm văn hóa - Thông tin tỉnh Kon Tum);
“Tục cưới xin xưa và nay của người Thái da trắng ở bản Phiêng Ban, xã
Trang 31Mường Tùng, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên” của Khoàng Thị Quyên
(Trường Đại học Văn hóa Hà Nội)
Mặc dầu nghiên cứu trên các đối tượng dân tộc ít người khác nhau ở Việt Nam, nhưng tất cả tác giả đều đi đến một cái kết chung là tìm hiểu về những nghi thức trong hôn nhân của các dân tộc, từ chọn người làm mối,
lễ hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt,… các biến số tác động đến những khác biệt trong nghi lễ hôn nhân của các dân tộc khác nhau Đây là một tài liệu quý giúp cho tác giả cuốn sách này có thể kế thừa và tìm hiểu về hôn nhân của người Kơho ở Lâm Đồng trong bối cảnh mới hiện nay Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác như “Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam” của Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ (1999); “Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số của Quảng Nam” của Bùi Quang Thanh (2009); “Nghi lễ, Lễ hội ÊĐê” của Trường Bi (2010) cũng giới thiệu khá hoàn chỉnh về nghi lễ, phong tục, tập quán, văn hóa của người dân tộc thiểu số
Như vậy, đời sống tinh thần dưới góc nhìn của các ngành khoa học khác nhau đều ít nhiều được phản ánh qua các trường hợp nghiên cứu cụ thể ở các vùng nông thôn, đô thị,…, trong nước và quốc tế Đó là cơ sở thực tiễn quý giá để chúng tôi có được một cách nhìn toàn diện hơn về nội dung cũng như phương pháp trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là dưới nhãn quan của xã hội học về đời sống tinh thần của người Kơho Thực trạng đời sống tinh thần và những biến đổi của nó trong quá trình đô thị hóa đối với đối tượng là đồng bào dân tộc Kơho sẽ được chúng tôi phân tích sâu hơn trong kết quả nghiên cứu này
1.3 Vai trò của truyền thông đại chúng trong đời sống tinh thần
Những nghiên cứu về truyền thông đại chúng và những thay đổi văn hóa xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam là một trong những vấn đề xuất hiện cùng với quá trình đô thị hóa Bởi lẽ đô thị hóa đã và đang kéo theo nhiều mảng trong đời sống của con người thay đổi theo như cơ sở hạ tầng, truyền thông, lối sống Vì vậy tác giả cũng đã đọc và nghiên cứu qua các tài liệu trong lĩnh vực truyền thông để cho thấy những thay đổi đó Cụ
Trang 32thể, việc nghiên cứu về mảng truyền thông đại chúng diễn ra rất nhiều trên
thế giới ở cả hai phương diện vi mô và vĩ mô “Còn ở Việt Nam cho đến nay, trên lĩnh vực nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng có lẽ chưa nhiều” (Trần Hữu Quang, 1997:7); và “ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu xã hội học về báo chí đã ít, mà nghiên cứu xã hội học về phát thanh hay truyền hình thì lại càng hiếm hoi” (x các kết quả điều tra thăm
dò ý kiến độc giả và tổng hợp ý kiến độc giả của các tờ báo Sài gòn giải phóng vào năm 1986, Khoa học và Phát triển 1986, Tuổi trẻ 1989 và 1995, Thời báo Kinh tế Sài Gòn 1995 và 1997 (Trần Hữu Quang, 2000: 5)).
Marshall McLuhan (1964) đưa ra quan điểm về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, coi đây là những công cụ giao lưu
có khả năng liên kết cả loài người vào trong một thứ cộng đồng điện tử mới mà ông gọi là “ngôi làng toàn cầu” (global village) Quan điểm này
được tác giả Trần Hữu Quang luận giải và trình bày trong cuốn Xã hội học
về truyền thông đại chúng (1997) Đồng thời cũng theo tác giả Trần Hữu
Quang thì có những tác giả khác lại có cái nhìn hoài nghi hơn: họ lo ngại rằng những cá nhân hoặc những tập đoàn tư bản vốn nắm trong tay các phương tiện truyền thông đại chúng có thể sử dụng thứ quyền lực đặc biệt này để khống chế và lũng đoạn lĩnh vực hoạt động này cho những mục tiêu
và lợi ích riêng tư Khi nghiên cứu về quá trình phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, Francis Balle đã nhận diện ra ba giai đoạn chính nơi tập quán và thái độ của công chúng mỗi khi có một phương tiện truyền thông mới ra đời Đó là: giai đoạn đầu, khi một phương tiện truyền thông vừa mới chào đời, công chúng thường tỏ ra rất hào hứng, phấn khích, dành rất nhiều thời gian và tâm trí để theo dõi Nhưng sang giai đoạn kế tiếp, người ta bắt đầu cảm thấy chán vì đã theo dõi quá nhiều; lúc này, người ta bắt đầu tỏ ra hoài nghi và bắt đầu đòi hỏi nhiều hơn đối với nội dung các trang mục hoặc chương trình Và rồi cuối cùng chuyển sang giai đoạn thứ
ba, khi mà việc theo dõi phương tiện truyền thông này đã đi vào tập quán trong nếp sống hàng ngày của họ rồi: lúc này người ta không còn bị mê hoặc dễ dàng như thời gian ban đầu nữa, bình tỉnh trở lại với thái độ “lý trí”, người ta biết phê bình nội dung chương trình này hay đề mục khác,
Trang 33biết chọn lọc những cái cần xem, và khôi phục lại những tập quán cũ đã có
từ trước trong việc sử dụng ngân sách thời gian (Trần Hữu Quang, 1997: 106) Đây là nguồn thông tin tư liệu quan trọng giúp chúng tôi tiếp tục thực hiện nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng, đặc biệt đi sâu vào một số vấn đề như mức độ, nội dung, thời lượng và điều kiện tiếp nhận của người Kơho Trên cơ sở đó xem xét những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống tinh thần của người Kơho
Cuối thập niên 1920, khi phương tiện phát thanh bắt đầu được khai sinh tại Pháp, người ta cảm thấy rất hồ hởi và ai ai cũng nô nức mải mê nghe đài Cứ buổi chiều, sau giờ tan sở, ai cũng vội vàng về nhà để kịp nghe các chương trình phát thanh, chứ không ghé qua những quán rượu làm vài ly như trước nữa Đến mức mà năm 1927, ở miền Bắc nước Pháp,
có lần nghiệp đoàn các nhà sản xuất rượu phải kiện lên chính quyền tỉnh
và đề nghị dẹp bỏ các chương trình phát thanh, nhưng tất nhiên là không đẹp được Đến sau năm 1945, khi nước Pháp vừa được giải phóng khỏi ách phát-xít Đức, radio bắt đầu bị lu mờ vì sự hồi sinh của báo chí trong thời kỳ sau chiến tranh Nhưng sau đó vài năm, thì người ta lại dần dần nhận thức trở lại nhu cầu nghe radio trong sinh hoạt hàng ngày (Trần Hữu Quang, 1997: 107)
Ở Anh, W.A.Belson đã thấy được sự thay đổi của công chúng khi theo dõi và khảo sát rất kỹ các ứng xử và thái độ của công chúng lúc mới
có phương tiện truyền hình Cụ thể như: chỉ trong trong vòng hai năm liên tiếp sau khi mua chiếc máy thu hình, người ta đã giảm đi rất nhiều thời gian đọc báo, đọc sách cũng ít hơn, đi xem kịch hoặc xem phim ngoài rạp cũng thưa thớt hẳn đi, thậm chí giảm hẳn cả mật độ giao du với bạn bè Tuy nhiên, sau thời gian bị mê hoặc ban đầu này, công chúng truyền hình mới dần dần bắt đầu cảm thấy lo lắng trước một số hậu quả mà họ nghĩ là do truyền hình gây ra Họ trách cứ ti vi hay là đưa ra nhiều cảnh bạo lực cho trẻ con xem, họ chê bai những chương trình vô bổ, mất thì giờ, trong khi
có thể dành thời gian làm những chuyện có ích hơn… và Belson nhận thấy phải mất sáu năm sau khi mua chiếc ti vi thì công chúng mới khôi phục lại một cách bình thường những tập quán vốn có trước đây của họ, là lại tiếp
Trang 34tục đi xem kịch, đi xem phim, đến thăm bạn bè,… nghĩa là đến giai đoạn này, công chúng truyền hình mới thực sự bước vào “tuổi trưởng thành”, coi ti vi như một phương tiện truyền thông bình thường như các phương tiện truyền thông khác, và biết chọn lọc những gì mà mình coi (Trần Hữu Quang, 1997: 107-108)
Ở Mỹ, một công trình điều tra nổi tiếng của ba tác giả là Lazarsfeld, Berelson và Gaudet tiến hành vào năm 1940 ở bang Ohio, Mỹ Công trình
này đã được xuất bản dưới tên là People ’ s Choice (Sự lựa chọn của dân
chúng) (Judith Lazar, 1991:90-95; Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, 1997: 126) Đây là công trình nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của những chiến dịch vận động tranh cử tổng thống đối với dân chúng, để tìm hiểu xem người dân quyết định như thế nào khi đi bầu, và tại sao họ lại quyết định bầu cho một ứng cử viên nào đó Cuộc điều tra đã đặc biệt chú ý tới những nhân tố tác động tới ứng xử của người dân, nhất là các phương tiện truyền thông như báo chí và đài phát thanh Hay G.R.Funkhauser đã tiến hành một cuộc nghiên cứu đối chiếu giữa những vấn đề được công chúng Mỹ quan tâm nhất và những vấn đề được đăng tải nhiều nhất trên báo chí trong thời gian từ năm 1960 tới 1970 đã chứng minh rằng dư luận công chúng thực ra chỉ phản ánh lại quan điểm của các phương tiện thông tin đại chúng
(Trần Hữu Quang, 1997: 420) Cụ thể hơn, trong Truyền thông đại chúng
và công chúng – trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh (2000) (Khảo sát
các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của các giới công chúng), Luận án Tiến sĩ Xã hội học của tác giả Trần Hữu Quang đã trình bày nội dung tóm tắt gồm phần mở đầu và bốn chương: Chương 1: Lý thuyết tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài; Chương 2: Báo in, truyền hình
và phát thanh ở Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3: Mức độ và cách tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 4: Nhận diện và phân tích các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của các giới công chúng Thông qua công trình nghiên cứu của Trần Hữu Quang, chúng tôi muốn vận dụng một số lý thuyết tiếp cận và phương pháp nghiên cứu để khảo sát và lý giải đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn xã
Trang 35Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng ở phương diện là hoạt động giải trí thông qua truyền hình, phát thanh/radio và báo in.
Trong khi đó, Trịnh Duy Luân (chủ biên) thông qua Phát triển xã hội
ở Việt Nam (2002) đã trình bày về đời sống văn hóa tinh thần và hoạt động
truyền thông đại chúng Đặc biệt vấn đề hưởng thụ văn hóa ở các nhóm công chúng là hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi – tức khoảng thời gian
tự do ngoài thời gian dành cho việc lao động kiếm sống, đó là vui chơi, giải trí và bồi dưỡng tinh thần Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn,
Trần Hữu Quang thông qua Xã hội học báo chí (2006) để trình bày những
nội dung chính yếu về truyền thông đại chúng, trong đó bao gồm cách tiếp cận xã hội học đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề làm báo
và hoạt động của nhà báo, những quan điểm và những phương pháp phân tích xã hội học về công chúng truyền thông, nội dung truyền thông, cũng như về các tác động xã hội của truyền thông đại chúng Đây là một cuốn sách nhằm cung cấp một cách tư duy phân tích xã hội học về hiện tượng truyền thông đại chúng nói chung, cũng như về đời sống báo chí nói riêng
Vì vậy đề tài này là một nghiên cứu để bổ sung một mảng trong bức tranh nghiên cứu này
Bên cạnh đó, một số tác giả lại đi sâu nghiên cứu về văn hóa của từng nhóm đối tượng cụ thể như Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (chủ
biên) trong cuốn Bình đẳng Giới ở Việt Nam (2008) cho biết, trong cuộc
sống, con người cần và có khả năng kết hợp hài hòa giữa công việc và nghỉ ngơi, giữa hoạt động kinh tế với hoạt động văn hóa - tinh thần trong thời gian rỗi Ngày nay, các phương tiện và điều kiện giải trí về văn hóa - tinh thần ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội Thông qua quá trình tiếp cận các phương tiện giải trí, đặc biệt là qua các thông điệp truyền thông, các khuôn mẫu
và giá trị giới cũng được phổ biến và tác động đến nhận thức, hành vi của người xem Về việc sử dụng thời gian rỗi, đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì và phát triển đời sống tinh thần của mỗi cá nhân
Sử dụng thời gian rỗi là thước đo đánh giá khả năng tiếp cận các cơ hội làm phong phú đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới Truyền thông
Trang 36đại chúng ngày nay, đặc biệt là truyền hình có tác động mạnh mẽ đến nhận thức xã hội Đời sống tinh thần thường được xem từ góc độ nhu cầu tinh thần của cá nhân bao gồm thưởng thức nghệ thuật, hoạt động thể thao giải trí, du lịch, giao tiếp, hoạt động tín ngưỡng, Trong đó, việc giải trí được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của nhu cầu tinh thần Như vậy, đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới được xem xét thông qua hoạt động như đọc sách báo, xem ti vi, nghe đài, chơi thể dục, thể thao, giao tiếp và
đi chơi xa mà họ thực hiện trong thời gian rỗi Trong giới hạn nghiên cứu của mình, chúng tôi đã vận dụng để xem xét các hình thức sinh hoạt tinh thần của người Kơho dưới ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trên khía cạnh là hoạt động vui chơi giải trí, theo dõi thông tin thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng trong quá trình đô thị hóa
Như đã trình bày và phân tích ở trên, các nghiên cứu trong phạm vi tìm hiểu đã phản ánh một cách khá khái quát về những tác động tích cực và tiêu cực của lối sống đô thị, đô thị hóa về đời sống tinh thần của nhóm cư dân đô thị; hay đó là những nghiên cứu của ngành dân tộc học, nhân học Nghiên cứu hiện nay phần lớn tập trung vào cấu trúc đô thị, kinh tế, sự tăng lên về dân số, đổi mới trong giáo dục, các thành tố của đời sống tinh thần được thể hiện thông qua đặc trưng về ngôn ngữ, trang phục, lễ cưới, các thiết chế bản làng và các sinh hoạt cộng đồng, hoặc vấn đề về môi trường
tự nhiên, dân số, nguồn gốc lịch sử, đời sống kinh tế Còn sự du nhập văn hóa, lối sống và cách thức sinh hoạt tinh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau trên địa bàn Tây Nguyên chưa thực sự quan tâm đúng mức Đặc biệt là trên chiều cạnh của các hoạt động sinh hoạt tinh thần diễn ra trong đời sống cộng đồng Đáng chú ý trong số đó là sự cách tân và đổi mới trong lễ hội văn hóa cồng chiêng; hoặc cũng có thể là sự thương mại hóa trong các sản phẩm văn hóa có xu hướng tăng dần Thực tế cần có nhiều hơn nữa các công trình nghiên cứu dưới góc độ xã hội học về đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng cũng như những thay đổi của nó, đặc biệt là trong quá trình đô thị hóa
Trang 37Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1 Đời sống tinh thần
Đời sống: là khái niệm chỉ sự hoạt động của con người trong các
lĩnh vực chính: đời sống vật chất và đời sống tinh thần (Quý Long, Kim Phượng, 2014:194) Đời sống vật chất được hiểu bao gồm giá trị vật chất,
kỹ thuật, đời sống văn hóa tinh thần được hiểu gồm: triết học, khoa học, đạo đức, nghệ thuật, (Mai Văn Hai, Mai Kiệm, 2002)
Với một cách nhìn khác, đời sống xã hội có thể được hiểu bao hàm toàn bộ những lĩnh vực xã hội, hoạt động xã hội xoay quanh đời sống của một xã hội cụ thể Cấu trúc của hoạt động xã hội thường được phân định thành các hình thức: (1) những hoạt động sản xuất vật chất hay còn gọi
là các hoạt động kinh tế; (2) những hoạt động sản xuất các sản phẩm tinh thần hay còn gọi là hoạt động phi kinh tế; (3) những hoạt động nhằm tái sản xuất ra con người và cộng đồng xã hội; (4) những hoạt động quản lý, điều chỉnh và kiểm soát xã hội; và (5) những hoạt động thông tin và giao tiếp Khi đề cập tới các hoạt động phi kinh tế, tồn tại hai dạng quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng toàn bộ những vấn đề không thuộc phạm vi sản xuất vật chất là mang tính chất phi kinh tế Quan điểm thứ hai cho rằng chỉ những hoạt động sản xuất ra các sản phẩm mang tính tinh thần mới được xem là dạng hoạt động phi kinh tế Tuy nhiên dù theo quan điểm nào thì vẫn có một sự thống nhất đó chính là vai trò của văn hóa trong các dạng hoạt động phi kinh tế, do vậy, nghiên cứu các yếu tố phi kinh tế phải lấy trọng tâm là nghiên cứu văn hóa (Đặng Cảnh Khanh, 1999; dẫn lại Nguyễn Minh Tuấn, 2012: 38)
Trước đây, trong ngôn ngữ khoa học cũng như trong đời thường, dựa vào hai lĩnh vực quan trọng nhất là vật chất và tinh thần, người ta phân chia văn hóa thành hai phần: văn hóa vật chất (giá trị vật chất, kỹ thuật )
và văn hóa tinh thần (triết học, khoa học, đạo đức, nghệ thuật, ) Nhìn
Trang 38nhận thế giới theo sự phân loại vật chất - tinh thần, hay vật chất - ý thức đều là của triết học Cái nhìn ấy cần được cụ thể hóa cho phù hợp với các khoa học như nhân học hay xã hội học, đặc biệt là giúp cho việc thao tác hóa khái niệm văn hóa dễ dàng hơn trong các hoạt động thực tiễn Nhằm mục đích ấy, UNESCO đã tổ chức thảo luận và đi đến nhất trí dùng thuật ngữ mới: văn hóa vật thể, hữu hình (tangible culture) và văn hóa phi vật thể,
vô hình (intangible culture) để chỉ hai lĩnh vực tương đối độc lập của văn hóa và được dùng phổ biến trong khoa học lẫn trong đời sống thường ngày (Mai Văn Hai - Mai Kiệm, 2005:185-186) Còn theo nhà xã hội học người Pháp P Bourdieu thì loại vốn văn hóa phi vật thể - là những tập quán, phong tục, tín ngưỡng và các giá trị khác của xã hội (cùng những nghệ phẩm công cộng như văn chương và âm nhạc) là một loại dây, một thứ keo gắn kết cộng đồng Nó cũng cung cấp một luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay, hoặc dùng trong sản xuất những sản phẩm văn hóa trong tương lai (Bourdieu, P, 1977: 487-511)
C.Mác coi các phương diện văn hóa tinh thần của con người (như những quan điểm về chính trị, pháp luật, đạo đức, mỹ học, tôn giáo, triết học, ) với tư cách là “thượng tầng kiến trúc”, là phụ thuộc vào “hạ tầng
cơ sở” (Mai Văn Hai - Mai Kiệm, 2005: 44) Trong cuốn sách xã hội học văn hóa, tác giả Mai Văn Hai - Mai Kiệm đã từng trích dẫn các quan điểm khác nhau của ba nhà khoa học thuộc ba lĩnh vực là dân tộc học, văn hóa học và xã hội học, cả ba nhà khoa học này đều đứng trên quan điểm “nhị phân”, tức là chỉ phân chia văn hóa thành hai loại là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Cụ thể, theo Cheboksarov, nhà dân tộc học, thì “văn hóa tinh thần là một dạng thông tin, tồn tại trong một ký ức tập thể của bất kỳ quần thể người nào, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng con đường kể chuyện hoặc phô diễn (và biểu hiện dưới những dạng nhất định của hành vi) Văn hóa tinh thần bao gồm tất cả những thói quen lao động được ghi lại trong các tế bào của bộ óc, bao gồm các tri thức tích cực, các phong tục và tập quán có liên quan đến đời sống gia đình, xã hội, kinh tế,
và các tiêu chuẩn pháp lý, các loại nghệ thuật sáng tác khác nhau; các tính ngưỡng tôn giáo và thờ cúng” (Cheboksarov, 1975:88; dẫn lại Mai Văn Hai - Mai Kiệm, 2010: 179) Còn nhà văn hóa học A.A.Radughin cũng cho
Trang 39rằng “văn hóa tinh thần bao gồm những kết quả của hoạt động tinh thần và mặt khác, bao gồm cả chính hoạt động tinh thần ấy, những giả tượng của văn hóa tinh thần tồn tại dưới hình thức hết sức da dạng Đó là những phong tục, chuẩn mực, hành vi của con người đã hình thành trong những điều kiện xã hội cụ thể Đó là những lý tưởng và giá trị đạo đức, thẩm
mỹ, tôn giáo hoặc chính trị, những tư tưởng khác nhau và kiến thức khoa học Nói chung, đó bao giờ cũng là những sản phẩm của hoạt động trí tuệ
và tinh thần (A.A.Radughin, 2004: 113; dẫn lại Mai Văn Hai - Mai Kiệm, 2010: 179) Nhà xã hội học L.G Ionin, trong khi dẫn lại ý tưởng của hai nhà nhân học là Kroeber và Kluckhohn, đã viết, “văn hóa tinh thần được quan niệm là các phương tiện chủ quan của cuộc sống, các ý niệm, các tâm thế, các giá trị và các lối ứng xử định hướng vào chúng” (L.G Ionin, 1996: 30; dẫn lại Mai Văn Hai - Mai Kiệm, 2010: 179) Theo hai tác giả Mai Văn Hai - Mai Kiệm, nếu chúng ta xem xét vấn đề từ quan điểm
“tam phân”, tức phân chia văn hóa theo ba loại hình là vật chất, xã hội
và tinh thần, thì cần phải tách các yếu tố của văn hóa xã hội ra khỏi văn hóa tinh thần Tuy nhiên, tác giả cũng cho thấy rằng, với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, con người ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với các dạng văn hóa tinh thần đã được vật chất hóa, hữu hình hóa và sự tác động của chúng tới đời sống xã hội là rất lớn Tiếc rằng, trong hầu hết các nghiên cứu xã hội học, bộ phận văn hóa tinh thần này vẫn chưa được đánh giá một cách đầy đủ - nó vẫn bị xem như là những biến số ngoại lai
Từ những cách định nghĩa như trên cho thấy, mỗi nhà khoa học đều
có những định nghĩa khác nhau về đời sống văn hóa tinh thần trên cơ sở xác định các hợp phần, các thành tố, các lĩnh vực của đời sống văn hóa tinh thần Trên cơ sở đó, trong nghiên cứu này của chúng tôi, đời sống tinh thần được xem xét trên ba nhóm hoạt động chính: những hoạt động sinh hoạt tinh thần thường ngày (vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, xem tivi, đọc sách báo ); những hoạt động văn hóa theo kỳ dịp như lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, lễ tết, giáng sinh, văn hóa cồng chiêng, ; các nghi lễ theo vòng đời như cưới xin, ma chay, Và với kỳ vọng rằng, nghiên cứu này
Trang 40của chúng tôi sẽ có được những đánh giá bước đầu, cụ thể trong lĩnh vực đời sống tinh thần, mở đầu cho những đánh giá đầy đủ về bộ phận văn hóa tinh thần trong thời đại toàn cầu hóa với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, góp một phần công sức nhỏ để khắc phục được quan điểm biến số ngoại lai khi xem xét về bộ phận văn hóa tinh thần như tác giả Mai Văn Hai - Mai Kiệm đã nêu ở trên.
2.1.2 Quá trình đô thị hóa
Là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân
cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ… thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư
ở các đô thị tăng nhanh Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác; phát triển văn hóa và sự phân công lao động theo lãnh thổ, tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân, kỹ thuật viên Đô thị hóa hình thành và phát triển có ý nghĩa trực tiếp trong việc nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của các cộng đồng dân cư, đặc biệt là đối với khu vực nông thôn (Từ điển Bách Khoa Việt Nam, 1995: 836-837)
Theo G.Endruweit và G Trommsdorff, khái niệm đô thị hóa được dùng theo ba nghĩa khác nhau là (1) cho sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân sống ở đô thị so với toàn bộ dân cư ở một nước hay một lục địa; (2) cho sự tăng trưởng về dân cư/hoặc diện tích của từng thành phố riêng; (3) cho sự mở rộng văn hóa và lối sống thành thị (G.Endruweit và G.Trommsdorff, 2002: 151)
Trong nghiên cứu của Đặng Quang Thành thì chúng ta cũng có thể hiểu đô thị hóa theo nghĩa thông thường, là quá trình phát triển kinh tế
và xã hội hướng vào các chuẩn giá trị chung của đô thị; nơi diễn ra quá trình toàn cầu hóa rõ nhất về kinh tế, nổi bật sự giao thoa về văn hóa và
là nơi diễn ra sự biến đổi về lối sống của cá nhân và cộng đồng gắn với điều kiện kinh tế - xã hội hay chế độ chính trị xã hội (Đặng Quang Thành, 2008: 126)