1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Ngân hàng Thương mại và hoạt động huy động vốn của Ngân hàng pot

58 472 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân Hàng Thương Mại Và Hoạt Động Huy Động Vốn Của Ngân Hàng Pot
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học Tài Chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 601,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở Việt Nam, khái niệm về Ngân hàng Thương mại đã được ghi rõ trong "Pháp lệnh Ngân hàng về NHTM, HTX tín dụng và Công ty tài chính" ban hành tháng 5 năm 1990 như sau: "Ngân hàng Thương m

Trang 1

LUẬN VĂN:

Ngân hàng Thương mại và hoạt

động huy động vốn của Ngân hàng

Trang 2

Chương I Những vấn đề mang tính lí luận về Ngân hàng Thương mại và hoạt động huy

"cung cấp" đồng thời cũng là nguồn "tiêu thụ" đồng vốn của khách hàng Tất cả những hoạt động mua "bán này" thường thông qua một số công cụ, nghiệp vụ Ngân hàng Là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn Ngân hàng Thương mại luôn tìm cách tối đa hoá lợi nhuận Ngân hàng kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay để cho vay

Để thu hút tiền vào Ngân hàng đưa ra những điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền

ở Việt Nam, khái niệm về Ngân hàng Thương mại đã được ghi rõ trong

"Pháp lệnh Ngân hàng về NHTM, HTX tín dụng và Công ty tài chính" ban hành tháng 5 năm 1990 như sau:

"Ngân hàng Thương mại là tổ chức tín dụng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ

mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Thương mại có vai trò hết sức quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế đó là:

- Đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục

- Là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư

- Là nơi tích tụ và tập trung vốn

- NHTM làm kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá

- NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô kinh tế

Trang 3

1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại

Tầm quan trọng của Ngân hàng được thể hiện thông qua các chức năng của

nó, chức năng của Ngân hàng Thương mại có thể được đưa ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung được nhiều nhà kinh tế chấp nhận ở các chức năng sau:

1.2.1 Trung gian tài chính:

Đây là chức năng cơ bản nhất, đặc trưng nhất của NHTM Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những nơi nhàn rỗi sang những nơi có thể sinh lợi hay nói cách khác NHTM đã thiết lập

mối quan hệ tín dụng giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng sang chủ thể cần tiêu để phục vụ kinh doanh

Thực hiện chức năng này một mặt NHTM đi huy động và tập trung các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế hình thành nguồn vốn cho vay Mặt khác trên doanh số vốn đã huy động được Ngân hàng cho vay để đáp ứng các nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng… của các chủ thể kinh tế Góp phần đảm bảo cho sự vận động liên tục của bộ máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay hay nói cách khác hoạt động tín dụng Ngân hàng là đi vay để cho vay

Trang 4

Ngày nay quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn, sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện những khía cạnh khác của chức năng này Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa các Công ty (khi phát hành cổ phiếu ) với những nhà đầu tư, chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán, đảm nhận việc mua bán trái phiếu Công ty… theo cách này Ngân hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường

Như vậy thông qua chức năng này NHTM đang thực hiện chức năng xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cải thiện đời sống nhân dân

1.2.2 Trung gian thanh toán

Ngân hàng là thủ quỹ của các doanh nghiệp, tức là Ngân hàng tiến hành thu thập tiền vào tài khoản hay chi trả theo lệnh của chủ tài khoản Một trong những hoạt động của Ngân hàng có nguồn gốc xa xưa đó là hoạt động thanh toán hộ cho khách hàng của mình Hoạt động này làm cơ sở cho hoạt động tín dụng ngày nay Khi một khách hàng thiếu tiền để thanh toán Ngân hàng sẽ trả hộ và khoản trả đó sẽ trở thành khoản vay của khách hàng Chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với trung gian tín dụng, Ngân hàng dùng số tiền gửi của người này để cho người khác vay Xuất phát từ chức năng là thủ quỹ của nền kinh tế xã hội có được điều kiện thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của khách hàng Khi các khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng họ sẽ được bảo đảm an toàn trong việc cất giữ, thực hiện thu chi nhanh chóng thuận lợi, nhất là đối với khoản thanh toán có giá trị lớn ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn, không an toàn…

Hiện nay séc và thẻ tín dụng đang dần dần được sử dụng rộng rãi ở nước ta Điều này được gọi là thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện bởi các NHTM Việc phát hành séc để rút tiền chuyển khoản trong cùng một Ngân hàng chỉ đơn thuần là sự chuyển vốn từ tài khoản này sang tài khoản khác Nếu chỉ hai Ngân hàng trong cùng một thành phố thì tiến hành trao đổi séc trực tiếp, nhưng nếu nhiều Ngân hàng trong cùng một thành phố thì sự trao đổi sẽ được tiến hành thông qua các phiên giao dịch tiến hành thanh toán bù trừ do Ngân hàng Nhà nước chủ trì

Trang 5

Quá trình trở nên phức tạp mất thời gian và tốn kém khi việc thanh toán bù trừ diễn

ra giữa các Ngân hàng khác nhau của cùng đất nước, công việc thanh toán sẽ được tiến hành thường xuyên thông qua hệ thống liên Ngân hàng, các Ngân hàng có thể kết hợp hai hình thức thanh toán: liên hàng trước, bù trừ sau hoặc bù trừ trước, liên hàng sau, Như vậy các NHTM đã tạo ra sự vận động linh hoạt của đồng vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội

1.2.3 Tạo tiền

Một trong những khả năng chủ yếu của NHTM là khả năng tạo tiền Chức năng này được thể hiện thông qua hoạt động tín dụng và đầu tư của các NHTM trong mối quan hệ với tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN Sức mạnh của hệ thống NHTM nhằm tạo bút tệ mang ý nghĩa kinh tế to lớn Hệ thống tín dụng năng động

là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chắc Nền tín dụng Ngân hàng không tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và những hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp sản xuất không thực hiện được và nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận và từ những nguốn khác sẽ bị hạn chế, hơn nữa các đơn vị có thể phải gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn luân chuyển vốn không được sử dụng trong quá trình sản xuất nhưng trong các thời kì cao điểm mang tính thời vụ các hoạt động doanh nghiệp lại không đủ vốn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh nên thực tế cần một số cung tiền tệ vừa đủ và không được phép vượt nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh, tất yếu lạm phát sẽ xuất hiện kèm theo là những hậu quả kinh tế, xã hội mà quốc gia đó sẽ phải gánh chịu

* Hệ số tạo tiền của NHTM:

m= 1/ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc + tỷ lệ dự trữ tiền thừa + tỷ lệ thanh toán tiền mặt)

- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHNN ấn định để phục vụ cho chính sách quản lí vĩ mô của mình

- Tỷ lệ tiền thừa = ( tỷ lệ tiền mặt trong két/ huy động vốn) *100%

- Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt: phản ánh lượng tiền ra khỏi Ngân hàng

Như vậy với chức năng này NHTM đóng vai trò như một kênh dẫn quan trọng để chính phủ thực hiện mục tiêu chính sách tài chính và tiền tệ

Trang 6

1.2.4 Dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác

Ngoài các chức năng trên Ngân hàng còn có chức năng dich vụ tài chính khác như dịch vụ uỷ thác, dịch vụ kinh kỷ

2 Hoạt động huy động vốn của NHTM

2.1 Cơ cấu nguồn vốn của NHTM

Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt động được trước hết phải có vốn Nhưng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặc biệt "kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ" cho nên nhu cầu về vốn của NHTM là rất lớn Chính vì vậy cấu trúc nguồn vốn của các NHTM khá phong phú bao gồm các loại vốn sau đây:

2.1.1 Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng ( vốn tự có )

Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được, thuộc

sở hữu của Ngân hàng Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi mới bắt đầu thành lập một Ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, Ngân hàng có thể chủ động sử dụng vào các mục đích khác nhau như: trang bị cơ sở vật chất, tạo tài sản

cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, đặc biệt là tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp nhiều thua lỗ Nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến quy mô

và khối lượng huy động vốn của Ngân hàng Theo luật các tổ chức tín dụng vốn tự

có là yếu tố cơ bản để xác định các chỉ tiêu an toàn của một NHTM Như vậy quy

mô và sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và sự phát triển của NHTM

Vốn tự có của NHTM bao gồm hai loại:

- Vốn điều lệ:

Là nguồn vốn ban đầu khi Ngân hàng thành lập do Nhà nước cấp nếu là NHTM quốc doanh, do đóng góp của cổ đông nếu là NHTM cổ phần hoặc do phần

Trang 7

đóng góp của các bên nếu là Ngân hàng liên doanh với mức độ tuỳ theo quy mô của NHTM đó được pháp lệnh Ngân hàng quy định cụ thể Vốn điều lệ có thể cao hay thấp nhưng mức tối thiểu phải bằng mức quy định của pháp luật

+ Ngoài ra vốn tự có bổ sung vốn điều lệ còn bao gồm lợi nhuận chưa phân

bổ hoặc các quỹ lợi nhuận khác như quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng…

+ Tiền gửi của khách hàng

+ Vốn đi vay

Trang 8

- Các loại nguồn vốn khác: được hình thành trong quá trình hoạt động của nghiệp vụ và được sử dụng theo quy định của Nhà nước

2.2 Vai trò của nguồn huy động trong hoạt động, kinh doanh của NHTM

Nguồn vốn huy động giúp Ngân hàng tự chủ trong kinh doanh

Một Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ của nó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu

tư, vay để thanh toán Ngược lại một Ngân hàng với nguồn vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn tự quyết trong hoạt động kinh doanh của mình, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Nguồn vốn huy động dồi dào cũng làm tăng khả năng của Ngân hàng chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro thu được lợi nhuận cao nhất, đạt mục tiêu cuối cùng là an toàn sinh lời

Nguồn vốn huy động ảnh hưởng quy mô tín dụng và các hoạt động khác

Vốn huy động có ảnh hưởng to lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng cũng như các hoạt động khác Thông thường so với các Ngân hàng nhỏ, các Ngân hàng lớn có khoản mục đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các Ngân hàng này cũng lớn hơn Trong khi các Ngân hàng lớn cho vay ở thị trường trong nước thậm chí quốc tế thì các Ngân hàng nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong cộng đồng Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các Ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động của lãi suất, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế Nếu khả năng vốn của Ngân hàng đó dồi dào thì chắc chắn

Trang 9

Thật vậy trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy

mô hoạt động đòi hỏi Ngân hàng phải coi uy tín trên thị trường là điều quan trọng

Uy tín đó trước hết phải thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng Mà khả năng thanh toán của Ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của Ngân hàng càng lớn Với tiềm năng vốn lớn, nguồn huy động dồi dào, Ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của Ngân hàng trên thị trường

Quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng:

Thực tế đã chứng minh: quy mô trình độ nghề nghiệp, phương tiện kĩ thuật hiện đại của Ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian gia hạn cho vay thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng, điều này sẽ thu hút ngày cành nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng tăng lên nhanh chóng và Ngân hàng có điều kiện thuận lợi hơn trong kinh doanh

Hơn nữa vốn của Ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng tài chính, kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn

mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua… Và chính những hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm nguồn vốn cho Ngân hàng, đặc biệt là tăng sức cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường

2.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM Việt Nam

Để hiểu rõ hơn về hoạt động huy động vốn của NHTM ta có thể phân loại nghiệp vụ huy động vốn theo sơ đồ sau:

Trang 10

2.3.1 Huy động thông qua tài khoản tiền gửi

Tiền gửi tại NHTM bao gồm tiền gửi không kì hạn và có kì hạn

* Tiền gửi không kì hạn:

Là khoản tiền gửi mà người sử dụng có thể rút ra sử dụng bất kì lúc nào và Ngân hàng phải thoả mãn yêu caàu đó của khách hàng Tiền gửi không kì hạn có mức lãi suất thấp hoặc không được trả lãi tuỳ theo chính sách quản lý lãi suất của NHTW mỗi nước hoặc trình độ cạnh tranh của mỗi Ngân hàng và bao gồm hai loại sau đây:

+ Tiền gửi thanh toán: Đó là các khoản tiền gửi không kì hạn trước hết được

sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các

Các nguồn huy động của

NHTM

Tiền gửi của khách hàng

hành các chứng từ có

Tiền gửi tiết kiệm

Vay ngâ

n hàn

g

Vay các TCTD

Phá

t hàn

h

kỳ phi

Phá

t hàn

h trá

g k/hạ

n

Khôn

g kì hạn

kỳ hạn

Các loạ

i khá

c

Trang 11

khoản chi phí khác phát sinh trong kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại Ngân hàng trên hai loại tài khoản: Tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản tiền gửi vãng lai Đối với các khoản tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc hay chuyển khoản Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đích đảm bảo khả năng thanh toán và sử dụng thuận tiện dễ dàng đồng vốn khi cần Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư nợ, có lúc dư có Với tài khoản này khách hàng còn có thể được Ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong những khoảng thời gian nhất định Đứng trên góc độ Ngân hàng, tiền gửi không kì hạn là khoản nợ mà Ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào Tuy nhiên xét tại một thời điểm nhất định nào đó, do có sự không khớp nhau giữa xuất và nhập trên mỗi khoản tiền gửi thanh toán tạo nên những tồn khoản và Ngân hàng được phép sử dụng vào kinh doanh

+ Tiền gửi không kì hạn thuần tuý:

Là khoản tiền kí gửi với mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục

vụ thanh toán, khi cần khách hàng có thể đến Ngân hàng rút ra để chi tiêu Khác với tiền gửi thanh toán ở trên với loại tiền gửi này khách hàng không được sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt

* Tiền gửi có kì hạn:

Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng về thời gian rút tiền Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được gửi với mục đích hưởng lãi Đây là nguồn tiền gửi tương đối

ổn định, Ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa loại tiền giửi này bằng cách áp dụng nhiều kì hạn khác nhau vơí các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng

ở các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp hoá phát triển tiền tiết kiệm là loại tiền có số lượng lớn thứ hai trong số các loại tiền gửi vào Ngân hàng.Đặc điểm của loại tiền này là người gửi tiền được giao cầm sổ tiết kiệm, sổ này được coi là giấy chứng nhận việc gửi tiền vào Ngân hàng của khách hàng Xét

về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho

Trang 12

để chi trả cho người khác

* Tiết kiệm có kì hạn: Đây là loại tiền được gửi vào Ngân hàng trên cơ sở có

sự thoả thuận về thời hạn, lãi suất giữa khách hàng và Ngân hàng Như vậy theo nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn Tuy nhiên để khuyến khích người dân gửi tiền, Ngân hàng vẫn cho phép khách hàng được rút tiền trước kì hạn Khi đó khách hàng thường phải chịu một mức lãi suất thấp hơn

Với loại tiết kiệm này, mục đích của người gửi là sinh lợi cho nên vấn đề lãi suất là rất quan trọng Còn đối với Ngân hàng thì đây là nguồn vốn khá ổn định Nhằm mục đích sử dụng cho các nhu cầu khác nhau của khách hàng cũng như nhu cầu về vốn của Ngân hàng, các Ngân hàng thường áp dụng các loại tiết kiệm với kì hạn 3,6,9 tháng, 1 năm, 2 năm… Với mỗi thời hạn, áp dụng các mức lãi suất thích hợp với từng thời kì theo ngyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao

* Các loại tiết kiệm khác nhau như tiết kiệm xây dựng nhà ở: Tiết kiệm xây dựng nhà ở là một hình thức tiết kiệm của các tầng lớp dân cư do Nhà nước áp dụng nhằm hỗ trợ cho người dân sớm có nhà ở, rút ngắn thời gian chờ đểi đủ vốn góp phần vào việc thực hiện chính sách nhà ở của Đảng và Nhà nước Đối với Ngân hàng loại tiết kiệm này tạo nguồn vốn ổn định, có thể phát triển thành những khoản cho vay, đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình phát triển nhà ở đô thị hay nông thôn theo hướng quy hoạch của Nhà nước Ngoài ra qua sản phẩm này Ngân hàng còn phát triển hàng loạt hoạt động nghiệp vụ như tín dụng thuê, mua, tư vấn

về kinh doanh, đầu tư bất động sản… Cùng với hình thức này, Nhà nước cũng sẽ khuyến khích được quá trình hình thành các quỹ nhà ở trong xã hội giải quyết phần nào sức ép phát sinh từ vấn đề phát triển đô thị hiện nay với nguồn tài lực huy động

từ dân cư là chính, dành được vốn ngân sách và vốn vay nước ngoài cho việc đầu tư các công trình trọng điểm thuộc chiến lược phát triển quốc gia

Trang 13

Theo hình thức này mọi công dân có nhu cầu mua sắm, cải tạo nâng cấp nhà cửa đều có thể gửi tiền tiết kiệm có thời hạn ít nhất một năm trở lên và được Ngân hàng cho vay vốn để cùng với số tiền tiết kiệm tạo được để làm nhà ở Tiền gửi tiết kiệm được Ngân hàng trả lãi Lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay dựa trên nguyên tắc bình đẳng đảm bảo cho lợi ích của người gửi và chi phí của Ngân hàng Người gửi tiền và Ngân hàng kí hợp đồng gửi tiền tiết kiệm và vay vốn xã hộ xây dựng nhà

ở để thực hiện việc gửi vốn, rút vốn, vay vốn Người gửi tiết kiệm có thể vay vốn với mức vốn tối đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm tại thời điểm xin vay

2.3.2 Huy động thông qua các thị trường

Vốn đi vay và quan hệ vay mượn giữa NHTM và NHTW, hoặc giữa các NHTM với nhau hay các tổ chức tín dụng khác Các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi mà Ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng

mà vẫn không đủ vốn hoạt động Trong trường hợp Ngân hàng đã vay trên thị trường tiền tệ liên hàng của các NHTM hay các tổ chức tín dụng mà vẫn không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của mình thì Ngân hàng sẽ đi vay của NHNN Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay của NHNN sẽ được chia thành các loại: Vốn vay để thanh toán và vay tái cấp vốn

* Vốn vay để thanh toán: các NHTM vay NHNN để bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán ( thời hạn vay thường ngắn hạn )

* Vay tái cấp vốn: NHNN cho NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá Các chứng từ này phải đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp, đảm bảo an toàn Tái cấp vốn gồm hai hình thức:

+ Tái chiết khấu: NHNN nhận các chứng từ có giá mà các NHTM đã chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như các NHTM đã làm Tuy nhiên việc tái chiết khấu đối với các NHTM đã được giới hạn trong mức cho phép ( hạn mức tái chiết khấu ) để thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN

+ Cho vay có đảm bảo: Là hình thức các NHTM đem các giấy tờ có giá đến các NHNN để làm vật bảo đảm xin vay vốn Că cứ trên tổng mệnh giá các chứng từ

có giá làm vật đảm bảo, NHNN sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo việc điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước trong từng thời kì

Trang 14

2.3.3 Huy động thông qua phát hành những chứng từ có giá

Vốn phát hành của Nhà nước thuộc loại " chủ đọng thu gom " Thực chất cuả hình thức chủ động huy động vốn này là Ngân hàng huy động vốn tiền tệ băng việc phát hành những chứng từ có giá Trong đó kì phiếu là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn Hai loại phiếu nợ trên được Ngân hàng phát hành từng đểt, tuỳ theo mục đích với sự chấp thuận của NHNN hoặc hội đồng chứng khoán Quốc gia

Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ trang trải Như vậy khi huy động vốn dưới hình thức này, các Ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động Khối lượng vốn này chỉ được huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động được đủ khối lượng theo dự kiến các Ngân hàng sẽ ngừng việc huy động

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của NHTM

3.1 Kinh tế và chính trị

Hoạt động của một Ngân hàng nói chung và hoạt động nguồn vốn nói riêng không thể thoát ly khỏi môi trường kinh doanh, đặc biệt là môi trường kinh tế và chính trị

ổn định kinh tế là một nhân tố ảnh hưởng lớn tới khả năng khai thác các nguồn vốn của NHTM Nếu nền kinh tế không ổn định, thường xuyên có lạm phát cao, dân chúng sẽ tìm cách đầu tư vào bất động sản, vàng và ngoại tệ mạnh Trong những trường hợp đó nếu các NHTM muốn huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí lớn Nếu nền kinh tế thường xuyên ổn định sẽ khuyến khích mọi người dân yên tâm và tạo điều kiện cho mọi nguồn vốn

có thể sử dụng vào đầu tư sinh lời

ổn định chính trị trong nước sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, tăng thêm thu nhập cho người lao động và có cơ hội cho mọi khoản vốn nhàn rỗi được

Trang 15

sung dụng vào đầu tư phát triển kinh tế Đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước trong từng thời kì là một nhân tố tác động đến khả năng khai thác vốn của các NHTM Trong điều kiện nước ta hiện nay, mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế là " dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" Đường lối và chủ trương thực hiện đường lối đúng đắn sẽ tăng thêm khả năng đầu tư cho nền kinh tế

3.2 Yếu tố niềm tin

Trong điều kiện kinh tế thị trường, một điều quan trọng là các tổ chức kinh tế phải tạo lập được uy tín trên thương trường Uy tín đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố song đối với một NHTM, thì tăng trưởng đều trong nhiều năm, phục vụ khách hàng tận tình và đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của khách hàng sẽ lấy được lòng tin và tạo điều kiện cho khả năng khai thác các nguồn vốn của Ngân hàng

3.3 Yếu tố tiết kiệm trong nền kinh tế

Như ta đã biết, vốn huy động của một NHTM chủ yếu được hình thành từ nguồn huy động trong dân cư Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có được chủ yếu

là do tiết kiệm Chính vì lẽ đó, công tác huy động vốn của một Ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tiết kiệm Nếu không có tiết kiệm sẽ không có vốn đầu tư sản xuất do không huy động và tập trung được vốn Ngược lại nếu tỉ lệ tiết kiệm trong nước cao sẽ làm tăng khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội qua đó có thể làm tăng quy mô và chất lượng công tác huy động vốn của NHTM Tuy nhiên, bản thân yếu tố tiết kiệm này lại chịu sự chi phối tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau như:

+ Thu nhập của dân cư: dân cư có thu nhập cao thì khối lượng tiền dành cho tiết kiệm có thể cũng càng nhiều, bởi vì với mức thu nhập lớn thì khả năng thoả mãn các nhu cầu thiết yếu sẽ cao hơn và do đó sẽ có nhiều khoản tiết kiệm hơn

+ Tâm lý tiêu dùng của dân cư: tâm lý tiêu dùng của dân cư rất khác nhau giữa các vùng, các địa phương và các quốc gia Có thể nói cùng một mức thu nhập, cùng một mức giá sinh hoạt nhưng ở nơi này lượng tiền bỏ vào tiết kiệm rất lớn nhưng ở nơi khác lại rất nhỏ do tâm lý thích tiêu dùng của dân cư ở đây Chính vì vậy thu nhập cao chưa hẳn tiết kiệm đã cao

Trang 16

3.4 Tính đa dạng và tiện ích của các hình thức huy động vốn

Hình thức huy động mà Ngân hàng đưa ra càng phong phú đa dạng, linh hoạt

và thuận tiện thì khả năng thu hút vốn từ trong nền kinh tế càng lớn Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu cũng như tâm lý của dân cư, chính sự đa dạng hoá các hình thức huy động của Ngân hàng sẽ giúp thoả mãn được hầu hết các nhu cầu mong muốn đa dạng của dân cư vì mỗi người đều tìm được cho họ những hình thức tiết kiệm mà họ ưa thích nhất Tuy vậy mức độ đa dạng của mỗi hình thức huy động mà Ngân hàng đưa ra còn phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm kinh tế của khu vực

và khả năng của Ngân hàng

3.5 Các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp:

Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu được phục vụ của người dân càng cao, người ta sẵn sàng bỏ ra một lượng tiền lớn hơn cần thiết để mua một sản phẩm

có dịch vụ đi kèm theo vì những dịch vụ kèm theo sản phẩm đó đem lại cho người

ta sự thuận lợi và thoải mái Bản thân các hoạt động của Ngân hàng cũng là dịch vụ,

vì thế cho nên Ngân hàng nào tổ chức tốt công tác dịch vụ thì sẽ có khả năng thu hút được nhiều khách hàng hơn và việc tổ chức tốt công tác dịch vụ kèm theo trong công tác huy động vốn nói riêng và trong các hoạt động khác của Ngân hàng nói chung được xem như là một trong những biện pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng

3.6 Chính sách lãi suất:

Đây là một trong những yếu tố qua trọng hàng đầu tác động trực tiếp đến tâm

lý của người gửi tiền, tuy nhiên không phải Ngân hàng cứ đưa ra lãi suất cao là có thể thu hút được nhiều vốn nhàn rỗi trong dân cư mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi suất cụ thể mà Ngân hàng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiêng mức lợi nhuận là bao nhiêu Điều đó có nghĩa là mức lãi suất mà Ngân hàng đưa ra phải phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn và cần lớn hơn tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, mức lãi suất này cũng không được quá cao, vì nếu quá cao sữ đẩy giá đầu ra lên cao hạn chế việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của công tác tín dụng Chính vì thế, khi đưa ra mức lãi suất huy động cụ thể, Ngân hàng phải căn cứ vào tình hình nền kinh tế, vào quan hệ

Trang 17

* Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác huy động vốn: Đây là một trong các nguồn lực quan trọng để Ngân hàng hoạt động hiệu quả Đó là mạng lưới các chi nhánh, các quầy giao dịch đặt ở vị trí có thuận lợi cho việc giao dịch không, phương tiện làm việc của Ngân hàng hiện đại hay chậm chạp thô sơ…

* Tài sản vô hình của Ngân hàng: Nói đến tài sản vô hình trước hết phải kể đến uy tín, sự nổi tiếng của Ngân hàng, uy tín của các thành viên trong hội đồng quản trị, trong ban giám đốc Đây là tài sản vô cùng quý giá trong hoạt động huy động vốn Thuộc loại tài sản vô hình còn có mối quan hệ mà Ngân hàng đã tạo lập được với các khách hàng hiện có và những khách hàng tiềm năng

Ngoài những yếu tố trên, công tác huy động vốn còn chịu ảnh hưởng bởi chính sách của mỗi một Ngân hàng như: Chính sách khách hàng, chính sách sản phẩm mới, chiến lược marketing…

4 Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn của NHTM

NHTM hoạt động theo nguyên tắc " đi vay để cho vay" do đó giữa hoạt động huy động và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau Để có vốn cho vay, Ngân hàng phải thực hiện công tác huy động Tuy nhiên, số lượng vốn huy động, cơ cấu, loại hình, thời hạn huy động phụ thuộc vào phương hướng kinh doanh tức là vào chiến lược tín dụng của Ngân hàng Trong trường hợp Ngân hàng không muốn tăng doanh số cho vay mà vẫn muốn thay đổi tốc độ lợi nhuận thì lúc này Ngân hàng phải có sự thay đổi trong cơ cấu huy động vốn, giảm bớt loại vốn huy động có lãi suất cao, tăng cường huy động vốn có lãi suất thấp hơn, còn trong trường hợp Ngân hàng muốn thu hẹp hoạt động tín dụng thì bắt buộc phải có sự thay đổi tương ứng trong hoạt động huy động vốn nhằm giảm bớt một cách tương ứng lượng tiền không cần thiết, nhờ đó tránh được những chi phí mà Ngân hàng có

Trang 18

thể phải gánh chịu nếu không có sự đồng bộ giữa huy động vốn và sử dụng vốn Ngược lại, hoạt động huy động vốn cũng có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng trong trường hợp khi mà Ngân hàng áp dụng đầy đủ các biện pháp như thay đổi lãi suất, cải thiện công tác dịch vụ… nhưng cũng thể tăng được khối lượng vốn huy động dẫn đến việc phải thực hiện chính sách tín dụng có lựa chọn, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách hàng

Tóm lại: giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, để thực hiện tốt công tác này phải thực hiện tốt công tác kia, không được xem nhẹ bất kỳ công tác nào, phải luôn hiểu rằng sự hoạt động nhịp nhàng của hai hoạt động này là cở sở để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Kết luận:

Trên đây là những vấn đề mang tính lý luận chung về Ngân hàng và hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế Chương nay nhằm cung cấp các lý luận cơ bản về hoạt động nguồn vốn của Ngân hàng, nó trả lời cho các câu hỏi: Ngân hàng Thương mại là gì? Chức năng vai trò của nó đối với nền kinh tế? Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng là gì?…Từ cơ sở lý luận trên

em xin đi sâu vào nghiên cứu cụ thể tình hình huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Đống Đa trong những năm qua và đặc biệt là trong năm 2000 Trên cơ sở thực tế đó đánh giá kết quả đạt được những mặt tồn tại và nguyên nhân của tồn tại

ấy, từ đó sẽ cho em các cơ số để đưa ra các giải pháp chủ quan của mình

Trang 19

Chương II Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

1 Tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn và ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của Ngân hàng Công thương Đống Đa

1.1 Khái quát quá trình phát triển kinh tế quận Đống Đa trong những năm gần đây

Quận Đống Đa là một quận nội thành của thành phố Hà Nội, với tổng số

26 phường Nói đến quận Đống Đa là nghĩ tới một địa bàn tập trung nhiều công ty (bưu điện, điện lực, cung cấp nước ) doanh nghiệp, các công ty tư nhân các địa điểm trên tạo cho quận Đống Đa các tiềm năng về phát triển kinh tế – xã hội

Với lợi thế đó, trong năm qua, quận Đống Đa đã đạt được sự phát triển đáng kể, các công ty tư nhân ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thành phần kinh tế tập trung tại các khu Kim Liên, Đường Tây Sơn, Nguyễn Lương Bằng, các họ tư thương này hoạt động khá hiệu quả Bên cạnh đó quận Đống Đa còn có trung tâm Thương mại Quốc tế là nơi trưng bày, quảng cáo, buôn bán các sản phẩm danh tiếng Các loại hình dịch vụ của quận càng phát triển các nhà nghỉ khách sạn vẫn thu hút được rất nhiều khách, các trung tam giải trí, thể thao như Starbowl cũng đóng góp cho ngân sách Nhà nước một phần không nhỏ, mặt khác thu nhập của dân cư trên địa bàn ngày càng tăng, tình trạng thiếu công ăn việc làm tại đây rất ít

Sự phát triển của quận Đống Đa đã tác động trực tiếp lên hoạt động của Ngân hàng Công thương Đống Đa Sự đa dạng hoá của các thành phần kinh tế, sự phát triển của các thành phần kinh tế trên địa bàn là tiền đề để Ngân hàng Công thương Đống Đa mở rộng phạm vi tín dụng, mở rộng khả năng nâng cao tiền gửi của tổ chức kinh tế Thu nhập của dân cư nâng lên làm cho lượng tiền dành cho tiết kiệm cũng tăng

Trang 20

Qua tổng quát tình hình phát triển của quận Đống Đa ta thấy Ngân hàng Công thương Đống Đa đang có nhiều thuận lợi trong hoạt động cũng như công tác tín dụng huy động vốn

1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Đống

Đống Đa là một quận có địa bàn rộng, với tổng số 26 phường là nơi tập trung nhiều công ty, doanh nghiệp, tổ hợp sản xuất và các hộ tư thương Do đó Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa có một lượng khách hành lớn, đa dạng, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng mở rộng quy mô, khối lượng hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng

Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa đã không ngừng đổi mới các hoạt động kinh doanh, dịch vụ để thích ứng với nền kinh tế tế thị trường Tuy nhiên có nhiều thuận lợi song Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa cũng gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình, một địa bàn mang tính nội địa dễn đến sự kém phát triển của các nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế

Mặc dù vậy, Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa vẫn phát triển ổn định trong nhiều năm qua Từ chỗ cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu đến nay Ngân

Trang 21

1.2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

a) Cơ cấu tổ chức:

Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Công thương Đống Đa được bố trí thành

10 phòng ban:

Trang 22

b) Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:

- Giám đốc và ban điều hành bao quát điều hành và ra các quyết định đối với mọi hoạt động của Ngân hàng Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, có trách nhiệm chi tiết hoá các văn bản chính sách tiền tệ của Đảng và Nhà nước, thực hiện các văn bản đó phù hợp với thực thế

- Phòng kinh doanh trực tiếp cho các tổ chức kinh tế trong và ngoài quốc doanh vay tiền làm nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cân đối về nguồn sử dụng vốn, thực hiện chế độ thông tin báo cáo tổng hợp, phân tích lỗ lãi của Ngân hàng

- Phòng kinh doanh đối ngoại: Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, dịch

vụ quốc tế, mua bán ngoại tệ

- Phòng kế toán: Quản lý tài sản, tiền gửi, tiền vay của các đơn vị tổ chức kinh doanh, thực hiện hạch toán không dùng tiền mặt trong hệ thống Ngân hàng công thương trên địa bàn Hà Nội và trong phạm vi cả nước Thực hiện cơ chế tài chính của ngành theo văn bản chế độ hiện hành ( thanh toán giao dịch với khách hàng khi khách hàng đến mở tài khoản, kế toán cho vay, kế toán thanh toán, kế toán

Ban giám đốc

Phòng thông tin điện

Phòng kiểm soát

Phòng tiền

tệ kho

Phòng nguồn vốn

Phòng giao dịch

Phòng

KD đối ngoại

Quỹ tiết kiệm

Quỹ tiết kiệm

Quỹ tiết kiệm

Phòng tài chính

kế

Trang 23

- Phòng tiền tệ – kho quỹ: thực hiện thu chi tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ của các đơn vị, tổ chức kinh doanh và khách hành qua ngân hàng nhanh chóng kịp thời chính xác, đầy đủ

- Phòng thông tin điện toán: Tập hợp những số liệu phát sinh trong và ngoài mạng, xử lý và lập báo cáo hạch toán

- Phòng tổ chức – hành chính: quản lý nhân sự, lao động tiền lương, quản

lý về hành chính, quản trị, đào tạo

- Phòng nguồn vốn: thực hiện huy động vốn cả nội và ngoại tệ với hình thức chủ yếu là gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh doanh, huy động qua bán các giấy nợ như kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng

- Phòng kiểm soát: kiểm tra, kiểm soát mọi nghiệp vụ Ngân hàng theo văn bản hiện hành (kiểm soát mọi thủ tục về kinh doanh , kế toán, ngân quỹ, thanh toán trong Ngân hàng )

Ngoài chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình , giữa các phòng ban đều có mối quan hệ hợp tác, bổ sung cho nhau Điển hình là phòng kinh doanh và phòng kế toán, những thông tin về khách hành đòi hỏi phải có sự liên hệ chặt chẽ và thông báo cho nhau kịp thời

1.2.2 Tình hình hoạt động của Ngân hàng trong năm 2000

1.2.2.1 Công tác duy động vốn:

Tính đến 31/12/2000 tổng nguồn vốn huy động (bao gồm cả VND và ngoại tệ) đạt 1.850 tỷ đồng, tăng so với 31/12/1999 là 332 tỷ, tốc độ tăng 10,8% trong đó:

Trang 24

-Tiền gửi VND đạt 1380 tỷ bằng 114% so với cuối năm 1999 tăng 168 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 75% tổng nguồn vốn

- Tiền gửi ngoại tệ ( quy đổi) đạt 470 tỷ đồng, bằng 152% so với cuối năm

1999, chiếm tỷ trọng 25% tổng nguồn vốn , tăng 160 tỷ đồng

- Tiền gửi doanh nghiệp đạt 650 tỷ đồng, bằng 104% so với cuối năm

1999, tăng 22 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35% tổng nguồn vốn

- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư đạt 1200tỷ, bằng 104% so với cuối năm

1999, tăng 47 tỷ, chiếm tỷ trọng 65% tổng nguồn vốn

Đạt được kết quả trên đây là do:

- Mạng lưới huy động tiền gửi tiết kiệm của dân cư được mở rộng, có 14 quỹ tiết kiệm trên địa bàn đông dân cư, có nhiều quỹ đạt số dư từ 100 tỷ đén 150 tỷ, mặc dù lưu lượng khách rất đông nhưng các quỹ tiết kiệm vẫn đảm bảo thu chi kịp thời, chính xác

- Tổ chức thu lưu động ở các đơn vị có tiền mặt lớn như: thường xuyên có một tổ thu tiền mặt tại Xí nghiệp bán lẻ xăng dầu, tổ chức thu nhận tiền mặt vào ngày nghỉ thứ 7 cho các đơn vị có nguồn tiền mặt lớn, tạo được tâm lý yên tâm và tin tưởng gửi tiền vào Ngân hàng đáp ứng nhu cầu mở tài khoản của khách hàng được giải quyết nhanh chóng kịp thời

Năm 2000 nguồn vốn của chi nhánh không ngừng tăng trưởng đáng kể là tiền gửi của một số doanh nghiệp mới mở tài khoản có hoạt độnghoạt động lớn Tiền gửi doanh nghiệp tăng 14% so với năm trước, chiếm tỷ trọng 35% tỏng nguồn vốn (năm 1999 tỷ lệ này là 22%).Do vậy đã có sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn có lợi thế cho hoạt động kinh doanh Trong khi đó, tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm dân cư năm 1999 là 75%, năm nay chỉ còn 65%, giảm 10% Nguồn vốn và sử dụng vón tăng lên đáng kể Nhưng nguồn vốn mới sử dụng hết 55% tổng số vốn, trừ tỷ lệ ký quỹ còn lại được chuyển về Ngân hàng Công thương Việt Nam để điều hoà trong hệ thống, nhưng do lãi suất điều hoà vốn giảm thấp, mặt khác tiền gửi tiết kiệm phần lớn là tiền gửi có kỳ hạn, lãi suất cao nên bất lợi cho kinh doanh tiền tệ cho Chi nhánh, nhất là trong điều kiện cạnh tranh và phát triển

Trang 25

1.2.2.2 Đầu tư vốn tín dụng:

Doanh số cho vay cả năm 2000 đạt 1.410 tỷ, doanh số thu nợ đạt 1060 tỷ đồng Tính đến 31/12/2000 số khách hàng có quan hệ tín dụng là 167 khách hàng, trong đó có 89 đơn vị quốc doanh Dư nợ đến 31/12/2000 đạt 950tỷ, bằng 135,7%

so với 31/12/1999 tăng 250 tỷ đồng, so với kế hoạch Ngân hàng công thương Việt Nam giao vượt 19%, trong đó:

- Dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 550 tỷ đồng, bằng 95,8% so với cuối năm

1999, chiếm tỷ trọng 58% tổng số dư nợ

- Dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 400 tỷ đạt 317,4% so với cuối năm

1999, tăng 274 tỷ, chiếm tỷ trọng 42% tổng dư nợ

Sử dụng vốn Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000

Trang 26

Ngoài ra các chi nhánh còn cho vay có hiệu quả các chương trình Việt _ Đức, chương trình Đài Loan, cho vay xuất, nhập khẩu, cho vay theo chương trình chỉ định của Chính phủ với tổng dư nợ 12tỷ Bảo lãnh trong nước 310 tỷ, bảo lãnh nước ngoài cho Tổng công ty Xi măng trên 3 triệu USD Ngoài ra còn cho sinh viên vay tại 5 trường đại học trên địa bàn với số sinh viên là 377 sinh viên và dư nợ là

222 triệu đồng

Trong năm đã thu hút thêm được 22 khách hàng mới có quan hệ tín dụng với dư nợ tăng thêm 290 tỷ, trong đó hai phòng giao dịch đã làm tốt công tác tiếp thị góp phần tăng thêm số lượng khách hàng mới

* Tín dụng ngắn hạn:

Tỷ trọng cho vay ngắn hạn chiếm 58% trong tổng dư nợ Chi nhánh đã đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho các doanh nghiệp nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động và kinh doanh hiệu quả như : Công ty Sơn tổng hợp, Công ty Cơ điện Trần Phú, Công ty Cao su Sao Vàng, Công

Đầu tư cho Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 và các đơn vị thành viên như Công ty xây dựng công trình giao thông 875, Công ty xây dựng

Trang 27

công trình 889, Công ty xây dựng Việt Lào để thi công các công trình thắng thầu như: đường xuyên á, đường Hà Nội – Lạnh Sơn, đường 18, cảng Dung Quất - Quy Nhơn, sông Cầu, đường Ninh Bình, dư nợ khối giao thông là 172 tỷ

Đầu tư cho Công trình đường thuỷ để thi công các cầu cảng như cầu Hải Phòng trị giá 15 tỷ, cảng Dung Quất giá trị hợp đồng là 34 tỷ, kè Bãi Cháy 5 tỷ, ụ tầu 51: 24 tỷ

* Tín dụng trung dài hạn:

Tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm 42% trong tổng dư nợ Trong năm chi nhánh đầu tư mới được 17 dự án Số tiền 270 tỷ, giải ngân tiếp 7 dự án của hợp đồng tín dụng ký năm trước cho vay đồng tài trợ với Công ty Tài chính Bưu điện đã giải ngân 60 tỷ, một số dự án như: đầu tư cho Công ty hàng Hải Việt Nam mua 2 con tầu chuyên dụng chở container số tiền 10.800.000 USD

Đầu tư cho Công ty vận tải trung ương mua téc chở khí Amoniac hoá lỏng

số tiền vay 2,082 tỷ đồng và dự án mua tầi chở container loại 240 đến 300 TEU, khai thác thuyến Bắc-Nam số tiền vay 2.700.000 USD

- Đầu tư cho Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông 2 dự án: dự án dây chuyền sản xuất phích nước các loại và dự án dây chuyền sản xuất đèn huỳnh quang

số 2 công suất 1.400 – 1.600 chiếc/giờ, đạt 5 triệu sản phẩm/năm tổng số tiền đầu

tư cho 2 dự án là 38 tỷ đồng

- Đầu tư cho Tổng công ty xây dựng giao thông 8 số tiền là 11,690 tỷ đồng

đề mua bộ máy khoan công trình kèm theo các phụ kiện và một số máy khoan thuỷ lực

- Cho HTX lao động vay bằng nguồn vốn chỉ định của Chính phủ, dự án xưởng sản xuất bìa carton và thú nhồi bông số tiền 2,7 tỷ tạo việc làm cho con em thương binh và gia đình chính sách

* Hoạt động bảo lãnh:

Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh, chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa đã thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh như: Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng Các doanh nghiệp được chi nhánh bảo lãnh

Trang 28

trúng thầu đều vay vốn Ngân hàng để thực hiện hợp đồng Tổng dư nợ bảo lãnh đến 31/12/2000 là 310 tỷ, trong đó bảo lãnh trung và dài hạn là 290 tỷ và bảo lãnh ngắn hạn là 20 tỷ

1.2.2.3 Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh đối ngoại:

Hoạt động kinh doanh đối ngoại đã khắc phục khó khăn, trong năm đã có nhiều cố gắng khai thác nguồn ngoại tệ có giá cả hợp lý, bảo đảm nhu cầu thanh toán của khách hàng và góp phần vào kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh, lợi nhuận do kinh doanh ngoại tệ đem lại chiếm 3% tổng lợi nhuận của chi nhánh

* Về thành thanh toán quốc tế:

- L/C nhập khẩu 286 món, giá trị: 22.000.000USD

- L/C xuất khẩu 20 món, giá trị 313.000USD

Số chênh lệch thiếu ngoại tệ của chi nhánh đã phải mua của Ngân hàng công thương Việt Nam và các tổ chức khác để đảm bảo nhu cầu thanh toán và nhập khẩu cho các đơn vị sản xuất và kinh doanh

* Nghiệp vụ chi trả kiều hối:

- Doanh số nhận kiều hối và chi trả kiều hối trong năm là: 270.000USD và 430.000DM Đã phục vụ khách hàng lĩnh tiền và mua bán ngoại tệ thuận lợi, sau khi làm thủ tục được lĩnh tiền ngay tại quầy không phải qua phòng Tiền tệ kho quỹ như trước đây

- Đảm bảo nhu cầu thanh toán: nhờ thu đến trị giá 1,8 tỷ USD, nhờ thu đi trị giá 56.000USD

- Thu phí từ hợp đồng kinh doanh trị giá 2 tỷ đồng

- Thanh toán chuyển tiền bằng ngoại tệ 311 món, trị giá 19 triệu USD

Nhìn chung, công tác kinh doanh ngoại tệ trong năm qua đã có nhiều cố gắng, tạo niềm tin cho khách hàng và ngày càng có nhiều khách hàng tới mở tài khoản thanh toán và giao dịch ngoại tệ

1.2.2.4 Công tác tiền tệ kho quỹ

Trang 29

Công tác chi tiêu tiền mặt nội tệ, ngoại tệ, ngân phiếu của dân cư và tổ chức y tế qua quỹ ngân hàng năm 2000 tăng lên đáng kể, có ngày lên tới trên 20 tỷ đồng

Phòng tiền tệ – kho quỹ đảm bảo thu chi kịp thời, không để tồn đọng, không để khách hàng phải chờ đợi Đảm bảo việc kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền và các chứng từ có giá, không để xảy ra mất mát, đảm bảo an toàn kho quỹ

Số liệu thu chi tiền mặt năm 2000:

- Tổng số thu tiền mặt đạt 2.230 tỷ đồng bằng 110% năm 1999

- Tổng số chi tiền mặt là 2160 tỷ bằng 150% năm 1999

- Bội thu tiền mặt là 70 tỷ bằng 130% năm 1999

- Điều chuyển về NHCT thành phố 500 tỷ bằng 62% so với năm 1999

- Nhận tiền mặt từ NHCT thành phố 300 tỷ bằng 320% so với năm 1999 1.2.2.5 Công tác kế toán – tài chính:

Bảng phân tích tình hình thu nhập của Ngân hàng trong năm 2000:

Năm

Chỉ tiêu

97 98 99 200

Tổng thu nhập cả năm đạt 105 tỷ đồng bằng 123% so với năm 1999 Trong đó lãi tiền gửi đạt 42 tỷ đồng Tổng thu nhập tăng 5,3% so với năm 1999 (giá trị tuyệt đối 19,9tỷ)

Ngày đăng: 07/03/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân tích tình hình chi phí của ngân hàng: - LUẬN VĂN: Ngân hàng Thương mại và hoạt động huy động vốn của Ngân hàng pot
Bảng ph ân tích tình hình chi phí của ngân hàng: (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w