Tiếp phần Tài chính doanh nghiệp 1, nội dung giáo trình tài chính doanh nghiệp 2 gồm 3 chương, cụ thể như sau: Tác động đòn bẩy lên rủi ro và tỷ suất sinh lợi; Hoạch định- thẩm định – chi phí sử dụng vốn ngân sách vốn đầu tư; Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp. Mời các bạn cùng tham khảo!
Một số khái niệm cơ bản
Đòn bẩy
các chi phí tài chính cố định của một doanh nghiệp.
Rủi ro kinh doanh
Đòn bẩy kinh doanh phát sinh từ việc sử dụng chi phí hoạt động cố định trong cơ cấu chi phí của doanh nghiệp Khi tỷ lệ chi phí hoạt động cố định cao, những biến động nhỏ trong doanh thu được bẩy thành các biến động lớn trong EBIT Do đó, đòn bẩy kinh doanh cao là đặc trưng của các ngành có chi phí cố định lớn, chẳng hạn như ô tô và hàng không.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh của một doanh nghiệp (giữ nguyên tác động của tất cả yếu tố quan trọng khác), bao gồm biến động thị trường và cạnh tranh, biến động kinh tế vĩ mô, lãi suất và tỷ giá, khả năng huy động và thanh khoản vốn, chuỗi cung ứng và chu kỳ sản xuất, yếu tố pháp lý và sự thay đổi chính sách, công nghệ và mức độ số hóa, quản trị rủi ro nội bộ và chất lượng nguồn nhân lực, cũng như rủi ro liên quan đến uy tín, an toàn dữ liệu và môi trường vận hành Những yếu tố này tác động lẫn nhau và cần được đánh giá định kỳ để điều chỉnh chiến lược kinh doanh, tối ưu hóa chi phí, tăng cường khả năng thích ứng và cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Biến động doanh thu theo chu kỳ kinh doanh là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ rủi ro kinh doanh của một doanh nghiệp Những doanh nghiệp có doanh thu dao động lớn theo chu kỳ thường đối mặt với rủi ro tài chính cao hơn so với các doanh nghiệp có doanh thu tương đối ổn định theo thời gian, vì biến động này tác động tới dòng tiền, lợi nhuận và kế hoạch đầu tư Do đó, việc quản trị biến động doanh thu và duy trì nguồn lực vừa phải trong mọi chu kỳ thị trường là cần thiết để bảo đảm sự ổn định và tăng trưởng bền vững.
Biến động giá bán phụ thuộc vào từng ngành công nghiệp: ở một số ngành, giá cả có xu hướng ổn định từ năm này sang năm khác, hoặc doanh nghiệp có thể tăng giá theo thời gian một cách đều đặn Ngược lại, ở các ngành khác, sự ổn định của giá cả ít được đảm bảo và khả năng tăng giá cũng không chắc chắn, đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi thị trường và điều chỉnh chiến lược giá phù hợp.
Biến động chi phí là thước đo mức độ thay đổi của chi phí đầu vào dùng để sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Khi biến động chi phí đầu vào càng lớn, chi phí sản xuất biến động và rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên Vì vậy, quản trị chi phí và chuỗi cung ứng hiệu quả giúp giảm thiểu biến động và tăng tính ổn định cho hoạt động sản xuất và lợi nhuận.
Sức mạnh thị trường tồn tại khi một doanh nghiệp có quy mô lớn hoặc nhờ cấu trúc của ngành công nghiệp mà họ đang hoạt động, giúp họ kiểm soát chi phí và định giá sản phẩm so với các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh Vì vậy, sức mạnh thị trường càng lớn thì rủi ro kinh doanh càng nhỏ đối với doanh nghiệp đó Khi đánh giá sức mạnh thị trường, cần xem xét không chỉ cạnh tranh hiện tại mà còn tiềm năng cạnh tranh trong tương lai, đặc biệt là các thách thức từ cạnh tranh nước ngoài có thể nảy sinh.
Phạm vi đa dạng hóa sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của EBIT Giữ nguyên các yếu tố khác, khi doanh nghiệp càng đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm, EBIT sẽ biến động ít hơn, giúp giảm rủi ro tài chính và tăng tính bền vững cho hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường gặp sự biến động của EBIT do nhiều yếu tố phát sinh khi mở rộng quy mô Tăng trưởng nhanh tạo căng thẳng vận hành khi phải xây dựng thêm cơ sở mới, chi phí hoạt động thường mang tính không chắc chắn và cần mở rộng, cập nhật hệ thống kiểm soát nội bộ Đồng thời, doanh nghiệp phải tăng cường khung quản lý tài sản và đầu tư cho sản phẩm mới, trong đó chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) thường rất tốn kém Tất cả những yếu tố này kết hợp tạo ra tính biến thiên cao của EBIT.
Rủi ro tài chính
Việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí tài chính cố định tạo ra rủi ro tài chính gồm hai thành phần: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Đòn bẩy tài chính có thể làm gia tăng tỷ suất sinh lợi mong đợi của vốn cổ phần, nhưng đồng thời nó cũng đưa cổ đông tới mức rủi ro cao hơn: mức sinh lời kỳ vọng có thể tăng lên và rủi ro đi kèm cũng tăng theo.
7 nhƣng nếu tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tƣ thấp thì tỷ suất sinh lợi mong đợi trên vốn cổ phần thậm chí còn thấp hơn.
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL)
Thay đổi 1% trong doanh thu dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong EBIT Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh tiến tới cực đại khi doanh nghiệp vận hành ở mức sản lượng hòa vốn Khi các yếu tố khác bằng nhau, độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh càng cao thì rủi ro kinh doanh càng lớn Rủi ro kinh doanh và mức độ biến động của EBIT còn chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của doanh thu và chi phí hoạt động theo thời gian.
Độ nghiêng đòn bẩy tài chính (DFL)
Rủi ro tài chính thể hiện sự biến động tăng lên của EPS của một doanh nghiệp do sử dụng đòn bẩy tài chính Rủi ro này có thể được đo lường bằng nhiều tỷ số tài chính khác nhau, như tỷ lệ nợ trên tổng tài sản và tỷ số khả năng thanh toán lãi vay Việc nhận diện và quản trị các yếu tố đòn bẩy tài chính giúp kiểm soát biến động EPS và đánh giá khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp.
Phân tích hòa vốn
Phân tích theo biểu đồ
Phân tích hòa vốn có thể được triển khai bằng đồ thị, bằng phép tính đại số hay là kết hợp của cả hai Hình 7.1 là một ví dụ của biểu đồ phân tích hòa vốn tuyến tính Các chi phí và doanh thu (bằng đô la) được chấm trên trục tung và sản lượng (bằng đơn vị sản phẩm) trên trục hoành Hàm tổng doanh thu S biểu thị tổng doanh thu doanh nghiệp sẽ thực hiện ở mỗi mức sản lượng, với giả định giá bán đơn vị không đổi là P Tương tự, hàm tổng chi phí TC biểu thị tổng chi phí doanh nghiệp gánh chịu ở mỗi mức sản lượng Tổng chi phí được tính bằng tổng của định phí F, độc lập với mức sản lượng, và biến phí gia tăng theo một tỷ lệ không đổi V mỗi đơn vị sản phẩm, nên TC = F + VQ.
Giả thiết giá bán đơn vị không đổi P và chi phí biến đổi mỗi đơn vị V cho ta các mối liên hệ tuyến tính giữa hàm tổng doanh thu và hàm tổng chi phí Tuy nhiên, các mối quan hệ này chỉ có hiệu lực tương ứng với phạm vi giá trị đúng của sản lượng, từ Q1 đến Q2 trong hình 6.1.
Hình 6.1 cho thấy điểm hòa vốn tại Q0, nơi đường tổng doanh thu và đường tổng chi phí gặp nhau Nếu sản lượng của doanh nghiệp thấp hơn điểm hòa vốn, tức S < TC, doanh nghiệp chịu lỗ và EBIT âm Ngược lại, nếu sản lượng cao hơn điểm hòa vốn, tức S > TC, doanh nghiệp đạt được EBIT dương.
Việc xác định điểm hòa vốn của doanh nghiệp trên đồ thị bao gồm ba bước:
- Vẽ một đường thẳng qua gốc O với một hệ số góc P để biểu diễn hàm số
- Vẽ một đường thẳng cắt trục tung ở F và có hệ số góc V để biểu diễn hàm số TC
- Xác định điểm mà hai đường S và TC cắt nhau, từ đó vẽ một đường thẳng góc xuống trục hoành và ghi kết quả giá trị Q 0
Phân tích theo phép tính đại số
Điểm hòa vốn theo phương pháp đại số được xác định bằng cách thiết lập hai hàm tổng: tổng doanh thu và tổng chi phí hoạt động, sau đó cho bằng nhau và giải phương trình T_doanh thu = T_chi phí để tìm sản lượng hòa vốn Trong quá trình này, ta dựa vào giá bán, chi phí cố định và chi phí biến đổi để xây dựng các hàm tổng doanh thu và tổng chi phí, từ đó xác định sản lượng cần đạt để không lỗ Kết quả là sản lượng hòa vốn giúp đánh giá lợi nhuận tiềm năng và hỗ trợ lập kế hoạch kinh doanh dựa trên dữ liệu thực tế.
Tổng doanh thu bằng với giá bán mỗi đơn vị nhân với sản lƣợng:
EBIT dương miền giá trị đúng
0 Q 1 Q 0 Q 2 sản lương Q (Sản phẩm) doanh thu, chi phí ($)
Tổng chi phí (hoạt động) bằng định phí cộng biến phí, với biến phí là tích số của biến phí mỗi đơn vị với sản lƣợng:
Cho tổng doanh thu và tổng chi phí bằng nhau (tức là cho EBIT=S–TC = 0) và thay thế sản lƣợng hòa vốn Q 0 cho Q, ta có:
Giải phương trình trên để tìm điểm hòa vốn Q 0 , ta có:
Chênh lệch giữa giá bán mỗi đơn vị và biến phí mỗi đơn vị (P − V) được gọi là lãi gộp trên mỗi đơn vị Lãi gộp này đo lường mức đóng góp của mỗi đơn vị sản phẩm để bù đắp cho các định phí chi ra Vì vậy, sản lượng hòa vốn được tính bằng cách lấy định phí chia cho lãi gộp trên mỗi đơn vị.
Bạn cũng có thể phân tích điểm hòa vốn theo doanh số bằng tiền S0 thay cho phân tích theo đơn vị sản lượng Định điểm hòa vốn theo doanh số S0 cho phép xác định mức doanh thu cần đạt để hòa vốn dựa trên chi phí cố định, chi phí biến đổi và giá bán, thay vì chỉ dựa vào số lượng sản phẩm bán ra Bạn có thể áp dụng điều này bằng công thức dưới đây để tính điểm hòa vốn theo doanh số S0.
S 0 Đôi khi các giám đốc tài chính quan tâm đến việc hoạch định mức sản lƣợng mà ở mức này doanh nghiệp sẽ đạt đƣợc lợi nhuận mục tiêu
Sản lƣợng mục tiêu Các ví dụ của phân tích hòa vốn Định phí
Tổng biến phí trong kì Tổng doanh số trong kì
1 - Định phí + lợi nhuận mục tiêu
Công ty Allegen Manufacturing chỉ sản xuất một sản phẩm với giá bán đơn vị 250$ Sản lượng hiện tại Q = 20.000 đơn vị/năm được tính bằng tổng doanh thu 5 triệu chia cho giá bán đơn vị 250$ Tổng chi phí biến là 3 triệu, nên chi phí biến trên mỗi đơn vị V = 150$/đơn vị Định phí F của doanh nghiệp này là 1 triệu đô la Thay các con số này vào phương trình hòa vốn (phương trình 7.4) ta có (P - V) Q = F, với biên lợi nhuận đóng góp trên mỗi đơn vị là P - V = 100$ Sản lượng hòa vốn BEQ = F / (P - V) = 1.000.000 / 100 = 10.000 đơn vị Với sản lượng hiện tại 20.000 đơn vị, lợi nhuận hàng năm là (P - V) Q - F = 100 × 20.000 − 1.000.000 = 1.000.000 đô la Tóm lại, điểm hòa vốn ở 10.000 đơn vị và công ty đang có lợi nhuận 1 triệu đô la mỗi năm ở mức sản lượng 20.000 đơn vị.
Cũng có thể xác định sản lƣợng hòa vốn của Allegan bằng đồ thị, nhƣ hình 7.2 Hình này cũng cho ta thấy mức doanh thu hòa vốn bằng 2.500.000$
Hình 6.2 Biểu đồ phân tích hòa vốn tuyến tính cho Allegan Manufacturing
D oa nh t hu , c hi ph í ($ )
S hệ số góc = P = 250$/đơn vị TC hệ số góc = V
Sản lượng hòa vốn phụ thuộc vào hai biến số chính: giá bán mỗi đơn vị và biến phí hoạt động trên mỗi đơn vị Các giám đốc tài chính có thể phân tích tác động của bất kỳ sự thay đổi nào đối với hai biến số này để đánh giá mức sản lượng hòa vốn Ví dụ, họ có thể xem xét: (1) sự thay đổi giá bán và (2) chuyển từ chi phí cố định sang chi phí biến đổi.
Giả dụ Allegan tăng giá bán mối đơn vị 250$, thành P’ bằng 275$ Tính toán tương tự ta có:
Hoặc, thay vì xác định giá bán mỗi đơn vị, ban điều hành của Allegan có thể quyết định thay thế định phí bằng biến phí ở một vài khâu hoạt động của công ty Ví dụ, khi mức sản xuất và hoạt động thay đổi, chi phí sẽ gắn với mức hoạt động thực tế thay vì cố định, giúp Allegan tăng tính linh hoạt, giảm rủi ro trước biến động doanh thu và tối ưu hóa biên lợi nhuận Việc chuyển đổi từ định phí sang biến phí cũng ảnh hưởng đến điểm hòa vốn và chiến lược quản lý chi phí, từ đó nâng cao khả năng thích ứng với nhu cầu thị trường và tối ưu hóa giá trị cho cổ đông.
Do lương công nhân tăng theo thời gian, nhiều doanh nghiệp tìm cách giảm chi phí hoạt động bằng tự động hóa, thay thế biến phí cho lao động bằng chi phí cố định từ thiết bị vốn; giả sử Allegan cho rằng có thể giảm chi phí lao động xuống 25$/đơn vị bằng cách mua thêm thiết bị trị giá 1 triệu đô la Thiết bị mới được khấu hao 10 năm theo phương pháp khấu hao đường thẳng, nên khấu hao hàng năm sẽ là 100.000$, và mức định phí mới F’ của công ty sẽ bằng 1.100.000$ (1.000.000$ + 100.000$) Biến phí mỗi đơn vị V’ sẽ bằng 150$ - 25$ = 125$ Thay thế P = 250$/đơn vị và F’ = 1.100.000$ và tính tương tự, ta có một sản lượng hòa vốn mới: Q* = F’ / (P - V’) = 1.100.000 / (250 - 125) = 8.800 đơn vị.
Phân tích hòa vốn và đánh giá rủi ro
Thông qua phân tích hòa vốn (CVP), ta có thể đánh giá rủi ro kinh doanh mà doanh nghiệp có thể gặp dựa trên các thông tin về điểm hòa vốn Với chi phí cố định 1 triệu USD, giá bán đơn vị 250 USD và biến phí mỗi đơn vị 150 USD, điểm hòa vốn được tính là 10.000 đơn vị, tức doanh thu tại mức sản lượng này cân bằng chi phí Khi bổ sung cho phân tích này kỳ vọng doanh số cho một kỳ trong tương lai và có độ lệch chuẩn của phân phối doanh số, với giả định doanh số thực tế được phân phối xấp xỉ chuẩn, ta có thể tính xác suất doanh nghiệp sẽ lỗ hoạt động (doanh số thấp hơn mức hòa vốn) và xác suất đạt EBIT khi doanh số vượt mức hòa vốn Việc ước lượng các xác suất này giúp đánh giá rủi ro tài chính và rủi ro vận hành cho doanh nghiệp dựa trên phân phối doanh số dự kiến.
Sau nhiều lần thảo luận, bạn đã xác định doanh số mong đợi cho Allegan là 15.000 đơn vị và độ lệch chuẩn là 4.000 đơn vị Trên đường cong phân phối chuẩn, giá trị trung bình 15.000 tương ứng với xác suất tích lũy 50% và z-score bằng 0, được tính bằng công thức z = (X − μ)/σ với μ = 15.000 và σ = 4.000.
Trong phân tích này, mức doanh số ở 10.000 đơn vị đồng nghĩa với một độ lệch chuẩn là -1,25 so với mức doanh số mong đợi Từ phụ lục ở phía sau, xác suất liên quan tới độ lệch chuẩn -1,25 được ghi nhận là 10,56% Do đó, doanh nghiệp có 10,56% cơ hội chịu lỗ từ các hoạt động kinh doanh và 89,44% (100% - 10,56%) cơ hội đạt EBIT, tức là bán được nhiều hơn mức sản lượng hòa vốn. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình cho SEO? Hãy thử [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/gcZ8ll52?user_id=229098989), công cụ có thể giúp bạn tự động hóa quảng cáo Facebook/Meta và tối ưu hóa hiệu suất Ví dụ, trong đoạn văn bạn cung cấp, các câu quan trọng có thể được viết lại như sau: "Doanh số 10.000 đơn vị thấp hơn 1,25 độ lệch chuẩn so với kỳ vọng, tương ứng với xác suất 10,56% doanh nghiệp chịu lỗ." Điều này có nghĩa là có 89,44% cơ hội doanh nghiệp sẽ vượt qua điểm hòa vốn và có EBIT dương Soku AI có thể giúp bạn đạt được ROAS trung bình 2.79x nhờ AI được đào tạo bởi các chuyên gia quảng cáo hàng đầu.
Một vài hạn chế của phân tích hòa vốn
Phân tích hòa vốn trình bày ở trên có một vài hạn chế Các hạn chế này bắt nguồn từ các giả định đƣợc lập trong khi xây dựng mô hình và triển khai các dữ kiện có liên quan Ứng dụng phân tích hòa vốn chỉ có giá trị khi nào cá giả định này có hiệu lực
Giá bán và biến phí một đơn vị không đổi, nên trong mô hình phân tích hòa vốn bằng đồ thị ta có các liên hệ tuyến tính giữa tổng doanh thu và tổng chi phí khi giả định giá bán và biến phí cố định Tuy nhiên, thực tế các hàm này thường là phi tuyến, do đó để tăng sản lượng tiêu thụ một doanh nghiệp thường phải giảm giá bán đơn vị Kết quả, đường biểu diễn của hàm tổng doanh thu là một đường uốn lượn, như trong hình 6.2, thay vì là một đường thẳng.
Trong phân tích chi phí sản xuất, hàm tổng chi phí của doanh nghiệp có thể là phi tuyến tính do biến phí trên mỗi đơn vị ban đầu giảm rồi tăng khi sản lượng tăng Hình 6.2 cho thấy sự biến động của biến phí mỗi đơn vị theo mức sản xuất Biến phí trên mỗi đơn vị có thể giảm nhờ quá trình chuyên môn hóa lao động tăng năng suất theo giờ làm việc Ngược lại, biến phí mỗi đơn vị có thể tăng khi doanh nghiệp phải trả chi phí làm thêm giờ phụ trội rất cao khi sản lượng gần bằng công suất tối đa.
Các hàm số tổng chi phí (TC) và doanh thu (S) phi tuyến tính có thể tạo ra một tình huống doanh nghiệp có nhiều điểm hòa vốn về sản lượng Theo hình 6.2, tồn tại hai điểm hòa vốn tại Q01 và Q02 Điều này cho thấy doanh nghiệp có thể gánh lỗ hoạt động ở các mức sản lượng nằm ngoài khoảng giữa hai điểm hòa vốn, do sự phi tuyến của TC và S có thể dẫn tới biên lợi nhuận âm ở những mức sản lượng này.
Q = kết quả điểm hòa vốn thấp hơn
= kết quả điểm hòa vốn cao hơn
= kết quả EBIT tối đa
Trong phạm vi sản lượng từ Q01 đến Q02, tổng EBIT của doanh nghiệp được tối đa hóa Điểm tối ưu này nằm tại vị trí mà khoảng cách thẳng đứng giữa đường cong S và đường cong TC lớn nhất, tức là tại mức sản lượng Q.
Nói ngắn gọn, giả định giá bán và biến phí cho mỗi đơn vị không đổi có thể đúng trong một phạm vi hợp lý của mức sản lượng, cho phép phân tích hòa vốn và dự báo lợi nhuận Tuy nhiên, khi xem xét các mức sản lượng nằm ngoài phạm vi này, cần điều chỉnh biểu đồ hòa vốn bằng cách tính toán một đường cong tổng doanh thu mới phản ánh mức doanh thu mong đợi tương ứng với mỗi mức giá bán mới.
Trong phân tích hòa vốn, chi phí hoạt động được xem xét có thể phân loại thành cố định và biến đổi, tùy thuộc vào giai đoạn thời gian liên quan và phạm vi sản lượng được xét; về dài hạn, mọi chi phí đều được coi là biến phí, đồng thời có một số chi phí vừa cố định vừa biến đổi hoặc tăng từng bước khi sản lượng tăng (chi phí bán biến đổi theo bậc) và chỉ保持 nguyên trong một phạm vi sản lượng nhất định; mô hình hòa vốn cũng giả định doanh nghiệp sản xuất và bán ra một sản phẩm duy nhất hoặc một hỗn hợp sản phẩm có tỉ lệ tương đối cố định, nhưng thực tế hỗn hợp sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian, dẫn đến các vấn đề về định phí và cách phân bổ định phí giữa các sản phẩm khác nhau.
Phân tích hòa vốn chịu ảnh hưởng của tính không chắc chắn Một giả định khác của phân tích hòa vốn là ta biết giá bán và biến phí trên mỗi đơn vị, cũng như chi phí cố định ở mỗi mức sản lượng Tuy nhiên, thực tế cho thấy các tham số này phụ thuộc vào độ không chắc chắn, khiến kết quả phân tích hòa vốn phụ thuộc vào mức độ chính xác của việc ước lượng các tham số đó Do đó, tính hữu ích của các kết quả phân tích hòa vốn phụ thuộc vào độ chính xác của các ước lượng này và cần xem xét rủi ro biến động giá bán, biến phí và chi phí cố định khi ra quyết định.
Phân tích hòa vốn thường được thực hiện cho một kỳ kế hoạch ngắn hạn, thường là một năm hoặc ít hơn Tuy nhiên, lợi ích của một số chi phí có thể chỉ được nhận ra ở các kỳ sau; ví dụ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) được chi ra trong một kỳ có thể phải mất nhiều năm để đưa ra các sản phẩm mới Để phân tích hòa vốn trở thành một công cụ quyết định đáng tin cậy, các chi phí hoạt động của doanh nghiệp phải tương ứng với doanh thu mà chúng tạo ra cho thời kỳ kế hoạch đang xem xét.
Một vấn đề liên quan đến trục thời gian trong phân tích là chi phí và cấu trúc chi phí của doanh nghiệp thay đổi gần như liên tục Khi xảy ra biến động lớn về chi phí hoặc cơ cấu chi phí, ta phải tính lại điểm hòa vốn để phản ánh điều kiện kinh doanh mới Do đó, phân tích hòa vốn sẽ có giá trị hơn trong các ngành có đặc trưng là sự ổn định của chi phí và giá cả Đòn bẩy và báo cáo thu nhập là những yếu tố quan trọng liên quan, giúp đo lường tác động của chi phí và cấu trúc chi phí lên lợi nhuận và hiệu suất tài chính của doanh nghiệp.
Bảng báo cáo thu nhập truyền thống và điều chỉnh công ty Allegan, năm kết thúc ngày 31-12-201X
Báo cáo thu nhập – hình thức truyền thống
Doanh số Trừ giá vốn hàng bán Các chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí sản xuất chung
Tổng chi phí Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT) Trừ chi phí tài chính cố định (lãi vay) Lãi trước thuế (EBT)
Trừ thuế thu nhập doanh nghiệp Lãi sau thuế (EAT)
Lãi ròng phân phối cho cổ phần thường Thu nhập mỗi cổ phần (EPS) (60.000 cổ phần)
Báo cáo thu nhập – hình thức điều chỉnh
Doanh số Trừ chi phí hoạt động biến đổi Chi phí hoạt động cố định Tổng chi phí
Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT) Trừ chi phí tài chính cố định (lãi vay)
Lãi trước thuế (EBT) Trừ thuế thu nhập doanh nghiệp Lãi sau thuế (EAT)
Lãi ròng phân phối cho cổ phần thường Thu nhập mỗi cổ phần (EPS) (60.000 cổ phần)
Đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính
Tầm quan trọng của đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính
Trong tài chính, đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính là công cụ thiết yếu hỗ trợ phân tích, hoạch định và kiểm soát tài chính doanh nghiệp Đòn bẩy được định nghĩa là việc doanh nghiệp sử dụng tài sản và nguồn vốn có chi phí hoạt động cố định cùng chi phí tài chính cố định nhằm gia tăng lợi nhuận tiềm năng cho cổ đông Cụ thể, đòn bẩy kinh doanh liên quan đến việc khai thác tài sản có chi phí cố định, trong khi đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng nợ và cổ phiếu ưu đãi có chi phí tài chính cố định.
Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính với hy vọng đạt được lợi nhuận cao hơn các định phí của tài sản và nợ (và cổ phần ưu đãi), từ đó gia tăng lợi nhuận cho cổ đông Tuy nhiên đòn bẩy là con dao hai lưỡi vì nó làm tăng tính biến động và rủi ro trong lợi nhuận của cổ đông Ví dụ, nếu EBIT ít hơn định phí của tài sản và nợ thì việc sử dụng đòn bẩy thực sự có thể làm giảm lợi nhuận cho các cổ đông Nhờ vậy đòn bẩy phóng đại cả lỗ tiềm năng và lãi tiềm năng của các cổ đông Đối với các giám đốc tài chính, các khái niệm đòn bẩy làm sáng tỏ các đánh đổi rủi ro – lợi nhuận của nhiều loại quyết định tài chính khác nhau.
Khi một doanh nghiệp gánh chịu chi phí hoạt động cố định hoặc chi phí tài chính cố định, nó được xem là đang sử dụng đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính cho phép phóng đại các biến động nhỏ thành biến động lớn hơn, tương tự như khi ta tác động một lực nhỏ lên một đầu của một thanh đòn bẩy khiến đầu kia nâng lên Nhờ cơ chế này, doanh nghiệp có thể tạo ra lợi nhuận tiềm năng cao hơn, nhưng đồng thời tăng rủi ro tài chính khi biến động của doanh thu và chi phí cố định lớn lên.
Đòn bẩy kinh doanh dùng chi phí cố định làm điểm tựa Khi một doanh nghiệp sử dụng chi phí hoạt động cố định, một sự thay đổi trong doanh thu sẽ được phóng đại thành một sự thay đổi tương đối lớn hơn trong lãi trước thuế và lãi vay (EBIT) Tác động số nhân này của việc sử dụng chi phí hoạt động cố định được gọi là độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh Đòn bẩy tài chính dùng chi phí tài chính cố định làm điểm tựa Khi một doanh nghiệp sử dụng chi phí tài chính cố định, một sự thay đổi trong EBIT sẽ được phóng đại thành một sự thay đổi tương đối lớn hơn trong thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Tác động số nhân này của việc sử dụng chi phí tài chính cố định được gọi là độ nghiêng đòn bẩy tài chính.
HOẠCH ĐỊNH NGÂN SÁCH VỐN ĐẦU TƯ I Một số vấn đề cơ bản trong hoạch định ngân sách vốn
Một số khái niệm
Trước khi hoạch định dòng tiền cho dự án đầu tư, nhằm giúp các bạn dễ nắm bắt nội dung chính của chương này, chúng ta sẽ phác thảo các vấn đề chủ yếu sau đây: mục tiêu và phạm vi của dòng tiền dự án, phương pháp lập dự toán dòng tiền theo thời gian, các yếu tố tác động đến thanh khoản và rủi ro tài chính, cũng như cách đánh giá hiệu quả đầu tư, các chỉ tiêu lợi nhuận và chi phí vốn, và các bước triển khai kế hoạch tài chính nhằm tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo sự bền vững tài chính.
Hoạch định ngân sách vốn (capital budgeting) là quá trình lập kế hoạch cho các dự án đầu tư có dòng tiền phát sinh kéo dài trên một năm Chi tiêu vốn (capital expenditure) là chi phí tiền mặt được dự báo tạo ra các lợi ích tiền mặt trong tương lai và có thời hạn vượt quá một năm Cần phân biệt chi tiêu vốn với chi tiêu hoạt động bình thường, tức là các chi phí dự kiến tạo ra lợi ích tiền mặt trong thời gian một năm tới, với một khung thời hạn một năm được chọn tùy ý trừ những trường hợp đặc biệt Các chi tiêu vốn rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì chúng đòi hỏi nguồn vốn lớn và có tác động dài hạn đối với kết quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp.
Chi phí sử dụng vốn (cost of capital) là chi phí doanh nghiệp phải trả để huy động và sử dụng các nguồn vốn của mình, đại diện cho tỷ suất lợi nhuận mong đợi mà doanh nghiệp cần đạt được từ các khoản đầu tư Vì vậy, chi phí sử dụng vốn là một nội dung quan trọng trong quá trình hoạch định ngân sách vốn và đánh giá tính khả thi của các dự án đầu tư.
Quá trình hoạch định ngân sách vốn bao gồm một chuỗi bước trọng yếu: (1) các đề xuất về dự án đầu tư; (2) dự đoán dòng tiền từ các dự án để đánh giá khả năng sinh lợi và tính khả thi tài chính; (3) thẩm định các khả năng lựa chọn, xác định mức chi phí sử dụng vốn để chiết khấu dòng tiền và chọn các dự án sẽ được thực hiện; (4) các bước bổ sung nhằm hoàn thiện quyết định đầu tư và phê duyệt dự án.
Xem xét thành quả của một dự án sau khi được thực hiện là bước không thể thiếu để hiểu rõ hiệu quả và tác động của dự án Việc đánh giá, phân tích kết quả sau khi dự án được thực hiện sẽ giúp xác định mức độ đạt mục tiêu, đo lường các chỉ tiêu hiệu suất và rút ra bài học kinh nghiệm cho các dự án tương lai.
Phân loại các dự án đầu tư gồm các nhóm: dự án đầu tư mở rộng, dự án thay thế và dự án phát sinh nhằm đáp ứng các yêu cầu pháp lý và tuân thủ các tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn; việc xác định đúng loại dự án giúp tối ưu hoá nguồn lực, quản trị rủi ro và đảm bảo tính hợp pháp của toàn bộ quá trình đầu tư.
Trong quản trị đầu tư, có ba loại dự án: độc lập về mặt kinh tế, phụ thuộc lẫn nhau và loại trừ lẫn nhau Dự án độc lập được xem là độc lập khi việc chấp nhận hoặc loại bỏ nó không ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận hay loại bỏ các dự án khác hay dòng tiền của các dự án khác Dự án phụ thuộc lẫn nhau là khi dòng tiền của một dự án bị ảnh hưởng bởi quyết định chấp nhận hay từ bỏ một dự án khác Dự án loại trừ lẫn nhau xảy ra khi thu nhập từ một dự án đầu tư sẽ biến mất hoàn toàn khi dự án khác được chấp nhận.
Đầu tư thuần là chi phí ban đầu để thực hiện một dự án, gồm giá trị tài sản sau khi lắp đặt và nhu cầu vốn lưu động ban đầu; trừ đi các dòng tiền thu được từ việc bán các tài sản thay thế và cộng thêm hoặc trừ đi các khoản thuế liên quan đến việc bán tài sản hiện có hoặc mua tài sản mới.
Dòng tiền thuần từ hoạt động của một dự án được xác định bằng sự thay đổi thu nhập hoạt động sau thuế cộng với sự thay đổi khấu hao, trừ đi sự biến động của nhu cầu vốn lưu động gắn với việc chấp nhận dự án Trong năm cuối vòng đời dự án, dòng tiền thuần có thể được điều chỉnh để phản ánh việc thu hồi vốn lưu động tích lũy và giá trị thanh lý sau thuế nhận được.
Khả năng tài chính của một doanh nghiệp xác định khả năng đầu tư vào các dự án Khi doanh nghiệp có đủ vốn để đầu tư vào tất cả các dự án đủ tiêu chuẩn, được xem là hoạt động với vốn không bị hạn chế Tuy nhiên, tổng chi phí đầu tư ban đầu của các dự án có thể chấp nhận được trong trường hợp không có hạn chế vốn thường lớn hơn tổng nguồn vốn sẵn có của doanh nghiệp để đầu tư vào các dự án Điều này cho thấy chưa đến mức cần thiết phải hoạch định ngân sách vốn trong điều kiện nguồn vốn bị hạn chế, hay ấn định giới hạn cho chi tiêu vốn.
Các nguyên lý cơ bản cho việc hoạch định ngân sách vốn
Theo lý thuyết kinh tế, doanh nghiệp nên hoạt động tại điểm mà chi phí biên của mỗi đơn vị sản phẩm tăng thêm bằng với lợi nhuận biên thu được từ sản phẩm đó, đây là nguyên tắc tối ưu hóa lợi nhuận và có thể được áp dụng cho các quyết định dự thầu ngân sách vốn Trong ý nghĩa này, thu nhập biên tế của doanh nghiệp là tỷ suất sinh lợi từ các khoản đầu tư kế tiếp, còn chi phí biên tế được định nghĩa là chi phí sử dụng vốn biên tế (WMCC) của doanh nghiệp, tức là chi phí tăng thêm của vốn khi đầu tư tiếp.
Các bước hoạch định ngân sách vốn
1 Đƣa ra các đề xuất dự án đầu tƣ vốn:
Các ý tưởng về vốn mới có thể đến từ nhiều nguồn, cả nội bộ lẫn bên ngoài doanh nghiệp, và các vấn đề có thể xuất phát từ nhiều cấp độ của tổ chức Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ phân bổ trách nhiệm nhận diện và phân tích chi tiêu vốn cho các nhóm tham mưu cụ thể, gồm nhóm kế toán chi phí, kỹ sư công nghệ và nghiên cứu môi trường Đa số doanh nghiệp thiết lập các thủ tục có hệ thống nhằm hỗ trợ các bước tìm kiếm và phân tích chi tiêu vốn một cách hiệu quả.
Trong quá trình đề xuất các dự án đầu tư, ngoài việc xếp loại dự án ảnh hưởng đến quy trình ra quyết định đầu tư, cần xem xét thêm các yếu tố khác, đặc biệt là quy mô vốn cần thiết để thực hiện dự án, nhằm đảm bảo tính khả thi và tối ưu nguồn lực.
2.1 Các nguyên tắc hoạch định dòng tiền:
Đánh giá dòng tiền cho một dự án nên dựa trên cơ sở tăng thêm (dòng tiền marginal), tức là xem xét tác động của dự án lên toàn bộ dòng tiền của doanh nghiệp Nói cách khác, cần phân tích dòng tiền cho dự án cụ thể ở góc độ toàn bộ dòng tiền của doanh nghiệp sẽ bị tác động như thế nào khi dự án được chấp nhận so với tác động khi dự án không được chấp nhận.
Dòng tiền nên được tính toán trên cơ sở sau thuế Vì đầu tư ban đầu cho một dự án đòi hỏi chi phí tiền mặt sau thuế, nên thu nhập từ dự án cũng phải được tính cùng đơn vị, tức là dòng tiền sau thuế Việc sử dụng dòng tiền sau thuế giúp đánh giá hiệu quả đầu tư, phản ánh đầy đủ tác động của thuế đến lợi nhuận ròng và cho phép so sánh các phương án dự án một cách chính xác.
- Tất cả tác động gián tiếp của một dự án phải đƣợc xem xét khi đánh giá dòng tiền
Các chi phí thiệt hại không được tính vào dòng tiền của dự án, vì chúng là những chi phí đã chi ra và không thể thu hồi Vì tính chất không thể hoàn trả của chi phí thiệt hại, chúng không nên được xem xét trong quyết định chấp nhận hay từ chối một dự án.
Giá trị của các tài sản được đưa vào một dự án nên được ước tính dựa trên chi phí cơ hội của chúng Chi phí cơ hội của một tài sản là dòng tiền mà tài sản đó có thể tạo ra nếu không được sử dụng cho dự án đang xem xét.
Các bước tính đầu tư thuần của dự án
Bước 1 Chi phí dự án mới cộng với chi phí chuyên chở và lắp đặt đi kèm với việc mua tài sản và đƣa tài sản vào sử dụng
Bước 2 Gia tăng trong vốn luân chuyển ban đầu do đầu tư mới đòi hỏi
Bước 3 Thu nhập từ việc bán các tài sản hiện có (nếu đầu tư là một quyết định thay thế.)
CÔNG VỚI HAY TRỪ ĐI
Bước 4 Thuế phát sinh do việc bán các tài sản hiện có hoặc mua tài sản mới BẰNG Đầu tƣ thuần
Đây là cách tính đầu tư thuần cho hai dự án mẫu và phần tiếp theo trình bày ảnh hưởng của thuế đối với đầu tư thuần của một dự án Bài viết hướng dẫn chi tiết các bước tính lợi nhuận sau thuế, so sánh hai dự án mẫu về hiệu quả đầu tư, và giải thích tác động của thuế lên giá trị hiện tại ròng và quyết định đầu tư Qua đó người đọc nắm được cách phân tích tài chính dự án, nhận diện ảnh hưởng của thuế tới lợi nhuận ròng, từ đó tối ưu hóa dòng tiền và tối đa hóa giá trị hiện tại thuần của dự án.
Khi một dự án mang lại doanh thu tăng thêm và doanh nghiệp dự định tăng tín dụng dành cho khách hàng, khoản phải thu sẽ tăng lên Nếu cần tăng thêm hàng tồn kho để thúc đẩy doanh thu, cũng cần tăng đầu tư ban đầu cho vốn lưu động liên quan đến hàng tồn kho này Khoản tăng vốn lưu động ban đầu được tính như sự tăng tiền mặt, phải thu và hàng tồn kho sau khi trừ đi bất kỳ sự gia tăng nợ ngắn hạn nào, như phải trả, lương và thuế phải nộp phát sinh từ dự án Quy tắc chung cho các dự án đầu tư cho thấy các dự án thay thế thường đòi hỏi ít hoặc không tăng vốn lưu động, trong khi các dự án mở rộng thường đòi hỏi đầu tư thêm vào vốn lưu động.
Một dự án đòi hỏi các chi tiêu diễn ra trong thời gian trước khi phát sinh các dòng tiền thu vào dương; trong các trường hợp này, đầu tư thuần cho dự án bằng hiện giá (vào thời điểm 0) của toàn bộ chuỗi chi tiêu đó, với lãi suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn Ví dụ, đầu tư thuần của một dự án có chi tiêu 100.000$ tại thời điểm 0, 30.000$ vào năm 1 và 20.000$ vào năm 2, với chi phí sử dụng vốn là 10%, hiện giá của đầu tư thuần sẽ xấp xỉ 143.800$, được tính bằng PV = 100.000 + 30.000/1.1 + 20.000/1.1^2.
Năm Chi tiêu tiền mặt PVFF (r,n) Hiện giá của đầu tƣ thuần
2.3 Dòng tiền hoạt động thuần
Các dự án đầu tư vốn sẽ phát sinh dòng tiền sau thuế sau khi đầu tư thuần ban đầu được thực hiện Quá trình đánh giá dòng tiền tăng thêm của một dự án là phần quan trọng của quá trình hoạch định ngân sách vốn, giúp doanh nghiệp xác định lợi ích tài chính và mức độ hấp dẫn của dự án đầu tư.
Dự thảo ngân sách vốn chủ yếu liên quan đến các dòng tiền hoạt động thuần sau thuế (NCF) của một dự án, tức là các dòng tiền mặt thu vào trừ đi các dòng tiền mặt chi ra Trong suốt vòng đời của dự án, các dòng tiền này được định nghĩa là sự thay đổi trong thu nhập hoạt động sau thuế - ΔOEAT, cộng với sự thay đổi trong khấu hao - ΔDep, trừ đi sự thay đổi trong vốn luân chuyển (ΔNWC) cần thiết để hỗ trợ cho dự án.
Khấu hao là phân bổ có hệ thống giá trị của một tài sản có đời sống kinh tế dài hơn một năm, làm giảm thu nhập báo cáo và đồng thời làm giảm thuế doanh nghiệp phải trả Nếu trong một năm cụ thể khấu hao tăng do chấp nhận một dự án có dòng tiền thuần sau thuế (NCF) tăng, khi tất cả các yếu tố khác giữ nguyên Ngoài ra, dòng tiền thuần sau thuế cũng phản ánh mọi thay đổi trong vốn luân chuyển của doanh nghiệp Ví dụ, nếu một doanh nghiệp gia tăng các khoản phải thu trong một năm cụ thể mà không tăng nợ ngắn hạn khi thực hiện dự án, NCF sẽ giảm, và ngược lại khi các yếu tố khác không đổi.
32 trong đầu tƣ của doanh nghiệp vào vốn luân chuyển trong một năm đƣa đến một gia tăng trong dòng tiền thuần của doanh nghiệp trong năm đó
OEBT đƣợc định nghĩa bằng thay đổi trong doanh thu R trừ đi các thay đổi trong các chi phí hoạt động O và khấu hao Dep
Từ đó ta suy ra:
Thay thế phương trình trên vào phương trình tính dòng tiền thuần, ta có:
Phương trình này có thể được mở rộng thành một định nghĩa theo hoạt động của NCF bằng cách xác định R = R 2 – R 1 , O = O 2 – O 1 và Dep = Dep 2 – Dep 1 , với ý nghĩa:
R 1 : doanh thu của doanh nghiệp khi không có dự án
R 2 : doanh thu của doanh nghiệp khi có dự án
O 1 : các chi phí hoạt động của doanh nghiệp khi không có dự án
O 2 : các chi phí hoạt động của doanh nghiệp khi có dự án
Dep 1 : các chi phí khấu hao của doanh nghiệp khi không có dự án
Dep 2 : các chi phí khấu hao của doanh nghiệp khi có dự án
Có thể viết lại định nghĩa dòng tiền hoạt đông thuần nhƣ sau:
NCF = [(R 2 –R 1 )–(O 2 –O 1 )–(Dep 2 –Dep 1 )](1–T)+(Dep 2 –Dep 1 ) - NWC
Trong năm cuối của đời sống kinh tế của một dự án, phương trình 9.6 được điều chỉnh để phản ánh việc thu hồi giá trị tăng thêm còn lại sau thuế của các tài sản Việc điều chỉnh này là cần thiết để đảm bảo phân tích tài chính cuối kỳ phản ánh đúng giá trị thu hồi từ tài sản và tác động của nó đến lợi ích ròng của dự án Qua đó, quản trị dự án có cái nhìn đầy đủ về lưu chuyển tiền tệ, khả năng hoàn vốn và hiệu quả đầu tư khi kết thúc vòng đời kinh tế.
Thu hồi tài sản còn lại sau thuế
Bất cứ khi nào một tài sản đã khấu hao được bán, các kết quả thuế có thể tác động đến thu nhập ròng sau thuế từ việc bán tài sản này; những kết quả thuế này rất quan trọng để ước tính giá trị còn lại sau thuế nhận được vào cuối đời sống kinh tế của dự án Như đã trình bày ở phần trước, tác động của thuế đối với hoạt động bán lại tài sản rất quan trọng khi tính toán vốn đầu tư thuần cần thiết cho loại dự án đầu tư thay thế; do đó có bốn trường hợp cần xem xét.
Trường hợp 1 cho biết khi doanh nghiệp thanh lý một tài sản với giá bằng đúng giá trị sổ sách tính thuế của tài sản đó sẽ không phát sinh lãi hoặc lỗ vốn và cũng không bị ảnh hưởng bởi thuế Ví dụ, công ty A bán tài sản với giá 50.000$, giá trị trong sổ sách tính thuế của tài sản đó là 50.000$, nên sẽ không có khoản thuế nào phát sinh từ giao dịch thanh lý này Nói chung, giá trị sổ sách tính thuế của một tài sản được xác định bằng nguyên giá ban đầu trừ đi số khấu hao tích lũy.