Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ với mục tiêu giúp các bạn hiểu được những kiến thức cơ bản về tài chính, tiền tệ, tín dụng trong nền kinh tế thị trường để làm nền tảng ứng dụng và nghiên cứu các môn nghiệp vụ ứng dụng và nghiên cứu các môn nghiệp vụ thuộc chuyên ngành quản trị kinh doanh, kế toán, tài chính;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
(Ban hành theo quyết định số :……/QĐ-CĐN ngày …… tháng …… năm 20…
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề An Giang)
Nguyễn Minh Trí
Năm 2018
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình này cung cấp những kiến thức cơ bản và khái quát về lĩnh vực tài chính và tiền tệ, làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học chuyên môn của nghề Kế toán doanh nghiệp Ngoài ra, Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệgiúp sinh viên tham gia công việc ở các doanh nghiệp và nhất là đối với những doanh
nghiệp liên quan đến hoạt động tài chính và ngân hàng
An Giang, ngày 2 tháng 3 năm 2018
Tham gia biên soạn:
1 Nguyễn Minh Trí
2 Nguyễn Thị Khanh
Trang 3II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG – BẢO HIỂM 17
Trang 4Chương 5: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 45 TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Trang 51 Vị trí: Tài chính tiền tệ là một bộ phận cấu thành của hệ thống môn học chuyên
môn nghề, được học sau các môn học cơ sở của ngành
2 Tính chất: Môn Tài chính tiền tệ cung cấp những kiến thức cơ bản và khái quát
về Tài chính Tiền tệ làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học chuyên môn của nghề
II MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC
1 Về kiến thức:
- Hiểu được những kiến thức cơ bản về tài chính, tiền tệ, tín dụng trong nền kinh tế thị trường để làm nền tảng ứng dụng và nghiên cứu các môn nghiệp vụ ứng dụng và nghiên cứu các môn nghiệp vụ thuộc chuyên ngành quản trị kinh doanh,
kế toán, tài chính
- Biết được những kiến thức cơ bản nhất về mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể tài chính phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính
- Nhận biết khái quát về tài chính nhà nước (ngân sách nhà nước), tài chính doanh nghiệp, về bảo hiểm, nguồn gốc, chức năng và vai trò tín dụng, thị trường tài chính, tài chính quốc tế
- Hiểu được hệ thống ngân hàng và sự hoạt động của ngân hàng
- Hiểu được thị trường tiền tệ và các phương thức thanh toán trong nền kinh tế thị trường
2 Về kỹ năng:
- Kiểm tra đánh giá được công tác tài chính trong doanh nghiệp
- Nghiên cứu những mô hình lý thuyết, lý giải các sự kiện tiền tệ - tài chính trong mối tương tác với các vấn đề kinh tế của thế giới hiện thực
- Thực hành được các chức năng tài chính
3 Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
- Có ý thức tích cực, chủ động sáng tạo và tác phong công nghiệp
- Tuân thủ các chế độ tài chính do Nhà nước ban hành
Trang 6Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
Mục tiêu:
- Trình bày được những vấn đề cơ bản của tài chính- tiền tệ
- Mô tả được hệ thống tài chính của Việt Nam
- Phân tích được chức năng và bản chất của tài chính
- Phân tích được mối quan hệ giữa các khâu trong hệ thống tài chính
- Vận dụng kiến thức vào học các môn chuyên môn nghề
- Nghiêm túc khi nghiên cứu
I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ
1 Nguồn gốc bản chất và chức năng của tiền tệ:
1.1 Nguồn gốc ra đời của tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Trong giai đoạn xã hội công xã nguyên thủy thì trao đổi mang tính
ngẫu nhiên và được thực hiện bằng các trao đổi sản phẩm trực tiếp H - H'
(giai đọan bán) (giai đọan mua)
Sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đọan mở đầu cho sự xuất hiện của tiền tệ đồng thời là bước chuyển hóa từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh
1.3 Chức năng của tiền tệ
1.3.1 Chức năng thước đo giá trị
Thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ thể hiện và đo lường giá trị
của tất cả các loại hàng hóa khác
Để thực hiện chức năng này tiền tệ phải có những điều kiện sau:
- Tiền phải có đầy đủ giá trị: tất cả hàng hóa đều có giá trị nội tại
- Tiền tệ phải có tiêu chuẩn giá cả: Tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền
tệ của một quốc gia, được pháp luật quy định
1.3.2 Chức năng phương tiện lưu thông
Thực hiện chức năng này khi tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao đổi hàng hóa, nó vận động đồng thời và ngược chiều với sự vận động của hàng hóa, có thể diễn đạt bằng công thức sau: H – T – H’
Trang 7Hình thức trao đổi mới này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng, buôn bán được dễ dàng, sản xuất cũng thuận lợi, tránh được sự ách tắc
Muốn tiền tệ thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi:
- Phải sử dụng bằng tiền mặt (tiền thực hoặc tiền dấu hiệu), hoặc có thể sử dụng dấu hiệu giá trị như: Séc, Ủy Nhiệm Chi, Ủy Nhiệm Thu, …
- Hệ thống tiền tệ của mỗi quốc gia phải có sức mua ổn định
- Số lượng tiền tệ phải đủ điều lượng để đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt động kinh tế
- Đồng thời hệ thống tiền tệ phải bao gồm nhiều loại tiền, đủ cỡ để đáp ứng
nhanh nhạy nhu cầu giao dịch của dân chúng
1.3.3 Chức năng phương tiện cất trữ giá trị
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện cất trữ giá trị khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông và trở về trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai
Không phải chỉ có tích luỹ bằng tiền mà còn các dạng bất động sản, vật trang sức, chứng khoán,…
Điều kiện để tiền thực hiện chức năng này:
- Hệ thống tiền tệ quốc gia phải được ổn định sức mua
- Giá trị cất trữ phải có thời hạn
1.3.4 Chức năng phương tiện thanh toán
Quá trình lưu thông hàng hoá phát triển, ngoài quan hệ hàng hoá – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khoá, nộp địa tô, … bằng tiền Trong những trường hợp trên, tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện thanh toán
Như vậy, khi làm chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hoá, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là, tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hoá, hoặc tiền tệ vận động độc lập với tư cách là sự vận động độc lập của giá trị
Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối, vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau
Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, thì:
- Tiền tệ phải có sức mua ổn định tương đối bền vững theo thời gian
- Thanh toán bằng tiền dấu hiệu hoặc chuyển khoản
2 Các hình thái của tiền tệ:
2.1 Hóa tệ
Trong thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy với công cụ thô sơ người
ta tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi thu về sau một ngày săn bắn, hái lượm Khi đời sống cộng đồng phát triển ý thức phân công lao động được hình thành và với sản phẩm dư thừa đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc Trong giai đoạn nầy trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được thực hiện bằng các trao đổi sản phẩm trực tiếp H - H'
Ở hình thức trao đổi này vì hai giai đoạn mua và bán phải có nhu cầu phù hợp
về hàng hóa như: người có thóc muốn đổi lấy vải song ngược lại giữa người có vải cũng đang cần thóc Ngoài ra, trong hình thức trao đổi nầy người ta còn phải thoả
Trang 8thuận về tỉ lệ giá trị của hàng hóa, về số lượng hàng hóa,…với những bất tiện của trao đổi hiện vật như nêu trên, chỉ phù hợp trong giai đoạn nền SX còn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng
Vì vậy, tiền tệ bằng hàng hóa có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục vụ trao đổi như không được mọi người, mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng nhất… do đó dẫn đến việc sử dụng hóa tệ bằng kim loại
2.2 Tín tệ
Tín tệ được hiểu như tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của mọi người mà nó được lưu dụng Tín tệ có thể baoo gồm bằng kim loại và tiền giấy
- Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ, khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái hóa tệ Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh nghĩa
- Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán
- Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc
kí thác ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán
đó đổi lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó
- Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể đem tiền tiền giấy này đến ngân hàng để lấy vàng hay bạc
2.3.Bút tệ
Bút tệ là một hình thái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế toán của Ngân hàng Bút tệ xất hiện lần đầu tại nước Anh vào giữa thế kỉ XIX Để tránh những quy định chặt chẽ trong việc phát hành giấy bạc, các nhà ngân hàng Anh đã sáng chế ra hệ thống thanh toán qua sổ sách ngân hàng
Bút tệ ngày càng có vai trò quan trọng, ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển và hệ thống ngân hàng phát triển, người dân có thói quen sử dụng bút tệ
2.4 Tiền điện tử
Có nhiều tên gọi cho tiền điện tử: tiền nhựa, tiền thông minh, … Đây có phải
là một hình thái tiền tệ hay không là vấn đề chưa được thống nhất Một số quan điểm cho rằng đây chỉ là “phương tiện chi trả mới”, hay “sự chuyển dịch vốn bằng tiền điện tử”
3 Khối tiền tệ
Khối lượng tiền trong lưu thông là tất cả các phương tiện được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi hàng hóa và dịch vụ tại một thi trường nhất định và trong một thời gian nhất định
- Khối tiền giao dịch M1 là những phương tiện có tính lỏng cao nhất bao gồm: + Tiền mặt (tiền giấy)
+ Các loại séc
+ Tiền gởi không kỳ hạn
- Khối tiền mở rộng M2 bao gồm: Khối M1 và khối tiền có tính lỏng tương đối cao như:
+ Tài khoản tiết kiệm
+ Tiền gởi có kỳ hạn ngắn
Trang 9- Khối tiền tài sản M3, bao gồm khối tiền M2 và những tài sản có tính lỏng thấp như:
+ Thương phiếu
+ Tín phiếu kho bạc
+ Cổ phiếu và các loại trái khoán khác
- Nếu tổng khối lượng tiền trong lưu thông được ký hiệu là MS thì:
MS = M3 + các phương tiện trao đổi khác
4 Cung – Cầu tiền tệ:
4.1 Một số học thuyết về Cầu tiền tệ
a Lý thuyết của K.Marx: Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông nhiều hay ít
là do số lượng hàng hoá đang lưu thông (Q) nhiều hay ít, mức giá cả hàng hóa (P) cao hay thấp và tốc độ lưu thông tiền tệ (V ) nhanh hay chậm Hai nhân tố số lượng hàng hóa và mức giá cả gộp lại thành khái niệm tổng giá cả hàng hóa (H), nhân tố này có quan hệ tỷ lệ thuận với số lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn), nhân tố
tốc độ lưu thông tiền tệ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng tiền cần thiết cho
lưu thông
Từ phân tích trên K.Marx đưa ra: số lượng các phương tiện lưu thông là do tổng số giá trị của hàng hóa lưu thông và do tốc độ trung bình của lưu thông tiền tệ quyết định:
Mn = H/ V Với : Mn: Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: Tổng giá cả hàng hóa
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
Nếu gọi Mr là lượng tiền thực có trong lưu thông là lượng tiền mà ta chủ
động cung ứng vào lưu thông thì yêu cầu của quy luật là phải đảm bảo quan hệ
cân đối giữa K t và K c, những trường hợp vi phạm yêu cầu của quy luật như:
+ Mr> Mn dẫn tới thừa tiền
+ Mr< MD dẫn tới thiếu tiền, đều có ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế xã hội
Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định dựa vào 2 nhân tố:
- Tổng giá cả hàng hóa đưa ra lưu thông
- Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ Số lần thực hiện trao đổi giữa tiền tệ
và hàng hóa trong một đơn vị thời gian gọi là tốc độ lưu thông tiền tệ Tốc độ lưu thông tiền tệ là một đại lượng chỉ rõ trong một thời gian nhất định một đơn vị tiền
tệ thực hiện được bao nhiêu lần chức năng phương tiện lưu thông
Nội dung quy luật lưu thông tiền tệ đựoc trình bày như sau:
Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tỷ lệ
thuận với tổng số giá cả hàng hóa trong lưu thông và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ trong thời kỳ đó Đựoc biểu diễn bằng công thức sau:
Q x
P
Trang 10Trong đó:
Mn: Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: Tổng giá cả hàng hóa trong lưu thông
Q: Khối lượng hàng hóa trong lưu thông
P: Giá cả bình quân hàng hóa trong lưu thông
V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ
b Lý thuyết của Keynes về sự ưa thích tiền mặt:Trong khi I Fisher phát triển
quan điểm học thuyết số lượng của mình về Md thì một nhóm các nhà kinh tế ở Cambridge cũng đang nghiên cứu về những vấn đề đó và cũng đưa ra kết luận Md
= k x PY Nhưng khác với Fisher, họ nhấn mạnh sự lựa chọn của cá nhân trong việc giữ tiền và không bác bỏ sự ảnh hưởng của lãi suất đến Md
Trên cơ sở quan điểm này, Keynes xây dựng lí thuyết về cầu tiền tệ được gọi
là lí thuyết về sự ưa thích tiền mặt Lí thuyết này được trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Học thuyết chung về công ăn việc làm, lãi suất và tiền tệ” Trong học thuyết của mình, Keynes đã nêu ra 3 động cơ chính của việc giữ tiền mặt:
- Giao dịch
- Dự phòng
- Đầu cơ
c Học thuyết của Friedman: Friedman cho rằng cầu tiền tệ phải bị ảnh hưởng
bởi các nhân tố ảnh hưởng đến cầu của bất kỳ tài sản nào Vì vậy cầu tiền tệ phải là một hàm số của những tài nguyên được sẵn sàng sử dụng cho các cá nhân
Phương trình cầu tiền của Friedman:
Trong đó:
MD / P: Cầu về số dư tiền mặt
Yp : thu nhập thường xuyên
- Khối lượng tiền trong nền kinh tế được cung ứng từ các tác nhân sau đây:
Ngân hàng Trung ương:
Phát hành tiền thông qua các nghiệp vụ như:
- Tái chiết khấu, tái cầm cố các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gởi và các chứng từ có giá khác của các tổ chức tín dụng
- Mua chứng khoán chính phủ trong nghiệp vụ thị trường mở
- Mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
MD = f (Yp, rb – r m, re – r m , Пe – r m )
P
Trang 11Các tổ chức tín dụng:
Những tổ chức này không được cung ứng trực tiếp tiền mặt mà chỉ tạo tiền bút tệ, thông qua các nghiệp vụ:
- Cho khách hàng vay quá nguồn vốn của mình
- Cho khách hàng thấu chi, là sự dàn xếp của ngân hàng để khách hàng được phép chi vượt quá số dư tiền gởi của khách hàng theo thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng
Các tổ chức phi ngân hàng: cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua những
phương tiện chuyển tải giá trị như: thương phiếu, trái phiếu công ty,…
* Các nhân tố ảnh hưởng đến cung tiền tệ
Cung tiền tệ trong nền kinh tế do ngân hàng Trung ương quyết định thông qua chính sách tiền tệ Khi ngân hàng Trung ương thực thi chình sách tiền tệ thắt chặt thì mức cung tiền tệ sẽ giảm, ngược lại, khi ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ mở rộng thì mức cung tiền tệ sẽ tăng Các nhân tố làm cơ sở để ngân hàng TW quyết định đến chính sách tiền tệ của mình là:
Chỉ số trượt giá và tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ
Mức độ thâm hụt ngân sách Nhà nước, thu không đủ chi
Thâm hụt cán cân thanh toán
5.Tác động của tiền tệ đối với nền kinh tế
Theo mô hình tổng cung- cầu thì sự thay đổi của tổng cầu dẫn đến sự thay đổi cảu sản lượng và giá cả
Theo Keynes:
Trong đó:
AD: tổng cầu
C: chi tiêu tiêu dùng
I: chi tiêu đầu tư có kế hoạch
G: chi tiêu của chính phủ
NX: xuất nhập khẩu ròng
Như vậy, sự thay đổi của mức cung tiền có tác động tới các hoạt động kinh tế thong qua các tác động tới những bộ phận tổng cầu như chi tiêu đầu tư, chi tiêu tiêu dung, xuất khẩu ròng Tuy nhiên, sự tác động này mạnh hay yếu còn tùy thuộc vào sự phản ứng của nền kinh tế
Trang 12- Siêu lạm phát:Xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa lạm phát phi mã Lúc này tiền không còn thực hiện được chức năng thước đo giá trị
c Nguyên nhân và hậu quả của lạm phát
Những nguyên nhân liên quan đến chính sách của Nhà nước như:
Nhà nước phát hành tiền để bù đắp thiếu hut NSNN
Chính sách thuế không hợp lý chưa khai thác hết các nguồn thu, nội dung còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế gây thất thu cho ngân sách
Chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý nên khuyến khích các ngành kinh tế
có chi phí cao, kém hiệu quả
Những nguyên nhân liên quan đến nền kinh tế:Nền kinh tế trong nước kém
phát triển; sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, chi phí cao
Những nguyên nhân liên quan đến các điều kiện quốc gia như: khủng hoảng
tài chính tiền tệ khu vực và thế giới, chiến tranh xảy ra…
Những nguyên nhân liên quan đến điều kiện tự nhiên như: thiên tai, động
đất,…
Những nguyên nhân liên quan đến tình hình kinh tế chính trị: do khủng hoảng
hệ thống chính trị làm cho việc điều hành sản xuất không được quan tâm và điều cốt lõi là dân chúng không tín nhiệm đồng tiền pháp định của nhà nước
Tùy theo các điều kiện cụ thể mà lạm phát nảy sinh bắt nguồn từ một hoặc nhiều nguyên nhân và do đó tỷ lê lạm phát cũng ở những mức độ khác nhau
Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế:
Tiền tệ-ngân hàng:
Lạm phát làm cho tiền tệ không còn giữ được chức năng thước đo giá trị, không tình toán được các chỉ tiêu hiệu quả của nền kinh tế
Tín dụng bị thu hẹp, hoạt động bình thường của ngân hàng bị phá vỡ, làm cho
hệ thống tiền tệ bị rối loạn và không kiểm soát được
Người ta chuyển sang tích luỹ vàng, tích trữ hàng hoá điều này làm cho lưu thông tiền tệ bị rối loạn
Thất nghiệp sẽ tăng cao và dẫn đến các vấn đề xã hội càng phức tạp
Lạm phát xảy ra còn là môi trường tốt để những hiện tượng tiêu cực trong đời sống phát sinh như đầu cơ, tích trữ gây cung - cầu hàng hoá giả tạo
Đại bộ phận tầng lớp dân cư sẽ rất khó khăn và vật chất do phải chịu áp lực từ
sự gia tăng của giá cả
d Biện pháp ổn định tiền tệ chống lạm phát
Trang 13Biện pháp cấp bách:
Biện pháp này được áp dụng với mục đích giảm tức thời cơn sốt lạm phát
Khi xảy ra lạm phát phi mã hoặc siêu lạm phát thì biện pháp tình thế được áp dụng là:
- Chính sách tiền tệ quốc gia:
+ Ngừng phát hành tiền vào lưu thông
+ Tăng lãi suất tiền gởi
+ Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm hạn chế vốn tín dụng của ngân hàng thương mại
+ Ấn định hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại
+ Ngân hàng trung ương bán các loại trái phiếu ngân hàng ra thị trường tiền tệ
- Chính sách tài chính quốc gia:
+ Cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết, nhằm làm giảm bớt tình trạng lạm phát
+ Khuyến khích nhập khẩu hàng hóa để đưa vào thị trường trong nước các mặt hàng đang thiếu hoặc lên giá
+ Bán ngoại tệ, vàng ra thị trường
+ Phát hành trái phiếu chính phủ
Biện pháp ổn định tiền tệ cơ bản lâu dài
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch tổng thể để phát triển sản xuất hàng hóa trong
nước một cách hợp lý Đây chính là biện pháp cơ bản mang tính chiến lược tạo cơ
sở vững chắc để ổn định tiền tệ
Thứ hai, tạo ngành sản xuất mũi nhọn cho xuất khẩu
Thứ ba, cắt giảm biên chế, áp dụng cơ chế mới hợp lý
Thứ tư, nghiên cứu sửa đổi bổ sung chính sách thuế hợp lý
Thứ năm, dùng lạm phát để chóng lạm phát
II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH
1 Sự ra đời và phát triển của tài chính:
1.1 Tiền đề nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ
Lịch sử xã hội loài người cho thấy rằng, khi phân công lao động xã hội phát triển gắn liền với chế độ tư hữu đã thúc đẩy nền kinh tế - xã hội chuyển hóa từ nền sản xuất tự cấp tự túc sang nền sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, tiền tệ không xuất hiện ngay khi sản xuất hàng hóa mới ra đời và giá trị sản phẩm hàng hóa đã biểu hiện trải qua dưới nhiều hình thái quá độ như:
- Hình thái giá trị giản đơn: H – H1
- Hình thái giá trị chung: H – Vật trung gian – H1
Khối lượng sản phẩm hàng hóa sản xuất và lưu thông ngày càng phát triển, phong phú đòi hỏi quá trình trao đổi phải chi ly, chính xác và thuận tiện hơn đã thúc đẩy hình thái tiền tệ ra đời Từ đó, vàng đã trở thành hàng hóa - tiền tệ (vật ngang giá chung cho tất cả sản phẩm hàng hóa khác)
Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, cung cầu luôn tác động đến giá cả hàng hóa trao đổi trên thị trường, giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm hàng hóa Vì vậy, khi thực hiện giá trị sản phẩm hàng hóa thì tiền tệ sẽ vận động từ
Trang 14người tiêu dùng đến người bán hàng hóa, đồng thời phát sinh 1 khoản thu nhập cho người sản xuất hàng hóa
Các khoản thu nhập này là nguồn hình thành những quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế Sự liên tục của quá trình sản xuất hành hóa luôn luôn đòi hỏi các quỹ tiền tệ phải được tạo lập, phân phối và sử dụng Đây chính là điểm xuất phát làm nẩy sinh các quan hệ tài chính
1.2 Tiền đề Nhà nước
Khi nhà nước đầu tiên của xã hội loài người xuất hiện (Nhà nước chiếm hữu
nô lệ) Để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước đã dùng quyền lực chính trị buộc các tổ chức và các cá nhântrong xã hội phải đóng góp 1 phần thu nhập, của cải cho nhà nước nhằm tạo lập quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu chi tiêu quốc gia
Như vậy, sự ra đời của nhà nước đã làm nẩy sinh các quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ riêng có của mình phục vụ cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước, hình thành lĩnh vực hoạt động tài chính nhà nước
2 Bản chất và chức năng và vai trò của tài chính:
2.1 Bản chất của tài chính
Tài chính là sự vận động của các nguồn lực tài chính (Dạng tiền tệ hoặc của cải vật chất) theo một quá trình phân phối, tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình tái sản xuất
Các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế:
- Quỹ tiền tệ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
- Quỹ tiền tệ của các tổ chức tài chính trung gian
- Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình và dân cư
- Quỹ tiền tệ của nhà nước – NSNN
Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng quỹ tiền
tệ cho tích lũy và tiêu dùng làm phát sinh hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị như:
- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các doanh nghiệp:
+ Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào NSNN
+ Nhà nước cấp phát, tài trợ vốn, chợ giá cho các doanh nghiệp
- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội:
+ Cấp phát lương, kinh phí, cho các cơ quan
+ Quyết toán kinh phí, thu thuế,
- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và dân cư:
+ Chi ngân sách xây dựng các công trình phúc lợi công cộng
+ Dân cư nộp các loại thuế vào NSNN
- Quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp với thị trường
+ Cung cấp sản phẩm hàng hóa cho thị trường
+ Thị trường cung cấp các yếu tố sản xuất cho các doanh nghiệp
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ các doanh nghiệp:
+ Doanh nghiệp cấp phát lương, thưởng, cho người lao động
+ Người lao động nộp phạt, bồi thường, cho doanh nghiệp
Trang 15+ Quan hệ điều hòa, cân đối vốn giữa các đơn vị thực hiện hạch toán độc lập cho doanh nghiệp
Tổng thể các quan hệ kinh tế nêu trên đã tạo nên bản chất kinh tế của tài chính
và có thể được khái quát như sau: “Tài chính phản ánh hệ thống các quan hệ kinh
tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu tích lũy hoặc tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội”
2.2 Chức năng của tài chính
a Chức năng phân phối
Phân phối của tài chính là sự phân chia các nguồn tài chính mà chủ yếu là tổng sản phẩm quốc dân theo những tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tích luỹ và tiêu dùng trong quản lý nhà nước, khu vực kinh doanh và dân cư
Phân phối của tài chính bao gồm quá trình phân phối lần đầu và quá trình phân phối lạitrong đó phân phối lại là chủ yếu; phân phối lần đầu nguồn tài chính được tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và hình thành những bộ phận các quỹ tiền tệ sau đây:
+ Quỹ bù đắpvốn lưu động đã ứng ra trong quá trình sản xuất kinh doanh + Quỹ khấu hao tài sản cố định
+ Quỹ tiền lương
+ Góp phần hình thành các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại + Thu nhập (thuần tuý) của các chủ sở hữu về vốn hay nguồn tài nguyên Như vậy, phân phối lần đầu các nguồn tài chính xã hội chỉ mới hình thành Các quỹ tiền tệ và khoản thu nhập cơ bản của các chủ thể Nếu dừng ở đây thì các quỹ này trở thành vô nghĩa vì nó không đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của toàn
xã hội Do đó, cần thiết phải tiến hành tái phân phối
Phân phối lại là tiếp tục phân phối các quỹ tiền tệ và những phần thu nhập
cơ bản được hình thành trong phân phối lần đầu vừa nêu trên ra phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội Phân phối lại được thực hiện bằng các phương pháp sau:
+ Sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội
+ Huy động một bộ phận thu nhập của các tổ chức và dân cư bằng các hình thức như: thuế, tín dụng ngân hàng, cổ phiếu, trái phiếu, các loại giấy tờ có giá,
b Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc của tài chính bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan phải theo dõi, kiểm soát tiến trình thực hiện các quan hệ tài chính trong phân phối các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân Giám đốc của tài chính là một loại giám đốc bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài chính, các chỉ tiêu về tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ Mục đích của giám đốc tài chính là nhằm thúc đẩy phân phối các nguồn tài chính xã hội cân đối và hợp lý, phù hợp với các quy luật kinh tế và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội
Chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động khác nhau của tài chính và thể hiện 2 khía cạnh:
+ Khía cạnh 1: Tiến hành phân tích và thẩm tra các hoạt động tài chính: Nắm được
Trang 16kết quả tổng quát thực tế của hoạt động tài chính và những nhân tố tác động ảnh hưỡng trong một thời gian nhất định
+ Khía cạnh 2: Đề ra những biện pháp cải tiến các hoạt động tài chính nhằm tạo tiền đề cho quá trình phân phối sau diễn ra tốt hơn
2.3 Vai trò của tài chính trong nền kinh tế thị trường
a Tài chính – công cụ phân phối tổng sản phẩm quốc dân
Vai trò này của tài chính bắt nguồn từ bản chất chức năng của phạm trù tài chính và được con người vận dụng vào thực hiện các quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân
Tài chính là công cụ phân phối, tài chính thực hiện phân bổ các nguồn vốn đầu tư vào các lĩnh vực mà nhà nước khuyến khích, các ngành kinh tế trọng điểm hoặc xây dựng các cơ sở kinh tế hạ tầng nhằm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi
để kích thích và thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế
Công cụ tài chính góp phần xác lập, hình thành và giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ cân đối giữa tích luỹ đầu tư và tiêu dùng, cân đối giữa các ngành trong nền kinh tế (Công nghiệp, Nông nghiệp,…)
Đối với khu vực doanh nghiệp, thông qua cơ chế phân phối nguồn tài chính
do doanh nghiệp tạo ra, tài chính là công cụ kích thích tiết kiệm, đầu tư, tái đầu tư nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trong lĩnh vực ổn dịnh đời sống dân cư, thông qua các quan hệ phân phối, tài chính được sử dụng như một công cụ quan trọng để điều tiết thu nhập của các chủ thể kinh tế và các tầng lớp dân cư theo chính sách, pháp luật nhà nước nhằm thực hiện ổn định và cải thiện từng bước đời sống dân cư
b Tài chính – công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua hệ thống pháp luật tài chính, chính sách tài chính và các công cụ tài chính để quản lý, điều tiết nền kinh tế vĩ mô Vai trò này, được thể hiện trong việc định hướng, khuyến khích và điều tiết các quan hệ kinh tế phát triển theo đường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước theo hướng có lợi cho nền kinh tế quốc dân
- Hệ thống luật tài chính và các luật kinh tế có liên quan:
Luật NSNN
Các sắc luật về thuế
Các pháp lệnh về hoạt động của hệ thống ngân hàng
Luật công ty, luật doanh nghiệp nhà nước
Hệ thống luật nêu trên là cơ sở khoa học có tác dụng quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế trong lĩnh vực tài chính có hiệu quả
- Chính sách tài chính quốc gia:
Trong cơ chế kinh tế thị trường đòi hỏi nhà nước phải có một chính sách tài chính quốc gia phù hợp để định hướng điều chỉnh các hoạt động tài chính như: Sử dụng các công cụ tài chính vào việc khai thác vốn, kích thích sử dụng có hiệu quả,… nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội phát triển, bao gồm:
Trang 17- Các công cụ tài chính: Vận dụng các công cụ tài chính trong hoạt động NSNN, các khâu tài chính trung gian, công cụ thị trườngmở để quản lý điều tiết vĩ
mô nền kinh tế như:
Thuế, các khoản chi của NSNN
Cơ chế tài trợ vốn, trợ giá từ NSNN
Lãi suất
Công trái phiếu, tín phiếu,…
Tỷ giá hối đoái,…
Tóm lại,sự tác động của tài chính và phát huy vai trò của tài chính trong quản
lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đòi hỏi phải xác lập một cơ chế quản lý tài chính thích hợp, trong đó vận dụng sự đan xen giữa các yếu tố như: Pháp luật, chính sách
và các công cụ tài chính
Trang 18Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG – BẢO HIỂM
Mục tiêu:
- Trình bày được những vấn đề cơ bản của tín dụng
- Giải thích được các bản chất của tín dụng
- Phân biệt được các loại hình tín dụng
- Phân tích được ưu điểm và hạn chế của các hình thức tín dụng
- Tính được lãi đơn - lãi kép
- Phân biệt được các hình thức bảo hiểm
- Trình bày được nội dung về bảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội
- Trình bày được khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động chung và vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế thị trường
- Vận dụng kiến thức vào học các môn chuyên môn nghề
- Nghiêm túc khi nghiên cứu
1.2 Khái niệm tín dụng
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là một sự vay mượn trong đó hai chủ thể người đi vay và người cho vay sẽ thoả thuận một thời hạn nợ và mức lãi cụ thể Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tín dụng là sự vận động của các nguồn vốn
kinh tế khác
2.2 Chức năng của tín dụng
a.Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng Ở đây tín dụng được xem như chiếc cầu nối giữa các
nguồn cung và cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế
Việc phân phối vốn tín dụng được thực hiện dưới hai hình thức: phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp:
Phân phối trưc tiếp là việc phân phối từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử
dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng số vốn đó
Trang 19Phân phối gián tiếp là việc phân phối được thực hiện thông qua các trung
gian tài chính như: ngân hàng, các tổ chức tín dụng, công ty tài chính,…
b Kiểm soát các hoạt động kinh tế
Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản ánh được mức độ phát triển nền kinh tế về các mặt như khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, nhu cầu vốn trong từng thời kỳ…
Đặc biệt trong hoạt động cho vay của NH để góp phần bảo đảm an toàn về nguồn vốn, NH luôn tăng cường công tác kiểm tra tài chính của đơn vị nhằm phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nước
Công tác thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho NH tăng cường vai trò kiểm soát bằng đồng tiền các đơn vị kinh tế, từ đó NH có cái nhìn tương đối tổng quát vào cấu trúc của các đơn vị
Với chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế sẽ góp phần giải quyết tình trạng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế với những giải pháp khắc phục kịp thời từ đó phát huy vai trò quản lý của nhà nước
3 Các hình thức tín dụng:
3.1 Tín dụng thương mại
Khái niệm: Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh được
thực hiện dưới hình thức mua - bán chịu hàng hoá
Đặc điểm: Tín dụng thương mại mang 3 đặc điểm
- Cho vay dưới dạng hàng hoá
- Các chủ thể trong quan hệ tín dụng đều là các doanh nghiệp trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh(các lĩnh vực có liên quan lẫn nhau)
- Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại phù hợp với quá trình phát triển SX và lưu thông hàng hoá
3.2 Tín dụng ngân hàng
Khái niệm:Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ
chức tín dụng với nhà nước, doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư… trong nền kinh tế
Đặc điểm:Tín dụng NH có 3 đặc điểm
- Cho vay dưới dạng tiền tệ
- Trong quan hệ tín dụng NH người đi vay là các nhà doanh nghiệp, các cá nhân, người cho vay là các NH (trong khâu cho vay vốn) và ngược lại (trong khâu huy động vốn)
- Qúa trình vận động và phát triển của hình thức tín dụng NH không hoàn toàn phù hợp với qui mô phát triển của SX và lưu thông hàng hoá
3.3 Tín dụng nhà nước
Khái niệm:Đây là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các doanh nghiệp, các
tầng lớp dân cư ở trong nước và với chính phủ, các tổ chức và cá nhân nước ngoài được thực hiện dưới hình thức nhà nước phát hành công trái và các hiệp định vay
nợ quốc tế để huy động vốn cho ngân sách nhà nước
Đặc điểm:
- Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng này là Nhà nước và các pháp nhân, thể nhân trong nước hoặc nước ngoài
Trang 20- Hình thức huy động vốn tín dụng NN rất đa dạng phong phú có thể huy động bằng tiền, vàng, ngoại tệ dưới hình thức phát hành các chứng khoán: tín phiếu, trái phiếu…
- Tín dụng NN chủ yếu là loại hình tín dụng trực tiếp, huy động vốn trên thị trường vốn không thông qua một tổ chức trung gian nào
3.4 Tín dụng tiêu dùng
Khái niệm:Tín dụng tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa dân cư với các doanh
nghiệp, ngân hàng, các công ty cho thuê tài chính
Đặc điểm:
- Tín dụng được thực hiện dưới hình thức hàng hóa hoặc tiền tệ
- Trong quan hệ tín dụng này thì tầng lớp dân cư là người đi vay, các doanh nghiệp, ngân hàng, các công ty cho thuê tài chính là người cho vay
- Đây là loại tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư
trong xã hội như mua sắm phương tiện sinh hoạt, xây dựng nhà ở,…
4 Lãi suất tín dụng:
4.1 Khái niệm:
Người đi vay sử dụng vốn vay vào mục đích sản xuất kinh doanh theo các điều kiện của người cho vay Lợi nhuận tạo ra trong quá trình này tất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thỏa đáng giữa người cho vay và người đi vay, tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh Nếu vay tiêu dùng, người đi vay cũng phải trích ra một phần thu nhập có được sau khi vay để trả cho người cho vay Phần lợi nhuận hoặc phần thu nhập trả cho người cho vay gọi là lợi tức
Lợi tức là khoản tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay ngoài phần vốn gốc vay ban đầu, sau một thời gian sử dụng tiền vay
Nếu vốn được coi là một hàng hóa mua bán trên thị trường vốn thì lợi tức chính là “giá cả” được hình thành trong quá trình mua bán vốn Giá cả này cũng lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn Nhưng khác với các loại giá cả của hàng hóa thông thường là phản ánh và xoay quanh giá trị của chúng Còn giá cả của vốn, hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn Nó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá trị của vốn Chính vì thế, giá cả của vốn được coi là một loại giá đặc biệt,
“giá cả không hợp lý”
Trên thực tế, nếu chỉ xem xét về số lượng thì lợi tức chưa phản ánh được hiệu quả của vốn cho vay Vì vậy, trong kinh doanh tiền tệ, lợi tức luôn luôn được so sánh với vốn cho vay, để xác định khả năng sinh lời của từng loại vốn cho vay trên thị trường Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả này chính là lãi suất tín dụng
Lãi suất tín dụng là tỉ lệ phần trăm giữa lợi tức thu được và tổng số tiền cho vay trong một khoảng thời gian nhất định
Công thức xác định:
Lãi suất tín dụng = lợi tức thu được x100%
trong kỳ tổng số tiền cho vay
Ví dụ: Một NHTM cho một doanh nghiệp vay 100.000.000 đồng Lãi trả sau, thu hồi vốn gốc và lãi một lần Hết một năm lợi tức thu được là 9.600.000đ
Vậy lãi suất năm là:
9.600.000đ x 100%
100.000.000đ
Trang 21Trên cơ sở lãi suất đã xác định, có thể tính giá trị thu được của vốn cho vay sau một thời hạn nhất định
Giá trị thu hồi được = Vốn + Lợi tức
II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM
1 Những vấn đề chung về bảo hiểm
1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của bảo hiểm
- Nhu cầu bảo hiểm thời cổ đại: Ở thời cổ đại, con người đã biết tập hợp nhau
để giúp cho một số người gặp hoạn nạn, khó khăn Ví dụ:
+ Ở Ai Cập, khoảng 2500 năm trước công nguyên, các công nhân xây dựng Kim tự tháp đã lập ra các quỹ chung để trợ giúp nhau khi có tai nạn trên công trường
+ Ở Hy Lạp, Hoa Kỳ cùng thời, cộng đồng các nhà buôn lập ra quỹ chung để
bù đắp khi có rủi ro vận chuyển hàng hóa bị tổn thất Sau đó, một hệ thống pha trộn giữa cho vay và bảo hiểm đối với thương nhân để mua và vận chuyển hàng hóa cũng ra đời, được hoạt động theo phương thức:
Nếu hàng hóa không đến nơi quy định người vay không phải trả số tiền vay
Nếu ngược lại, người vay phải trả số tiền vay cộng với lãi suất có thể lên đến 40%
+ Ở Italia vào thế kỷ 14: Hình thức pha trộn (Vay - Bảo hiểm) trên thường bị chỉ trích là lãi suất cao, nên làm nẩy sinhloại hình bảo hiểm tài sản ra đời Ngân hàng đứng ra chấp nhận đảm bảo rủi ro về hàng hóa, tài sản nếu thương nhân tự nguyện đóng trước một số tiền Từ đó nghiệp vụ bảo hiểm tách rời nghiệp vụ cho vay
+ Đến thế kỷ 18 hoạt động bảo hiểm con người ra đời, nhưng mãi đến đầu thế kỷ 19 thì bảo hiểm con người và nhiều loại hình bảo hiểm khác cũng ra đời và phát triển mạnh mẽ, nên được xem là kỷ nguyên của bảo hiểm
- Nhu cầu bảo hiểm ngày nay:
+ Bảo hiểm đã đáp ứng được nhu cầu cần thiết của mọi cá nhân, tổ chức nhằm phòng tránh các biến cố xảy ra gây thiệt hại về người và tài sản Từ đó, hoạt động bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi hoạt động của con người và có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
+ Nhu cầu đảm bảo cuộc sống dân cư, ổn định và phát triển sản xuất mọi thành phần kinh tế là nguồn gốc khách quan để xuất hiện và phát triển bảo hiểm
1.2 Các loại quỹ bảo hiểm trong nền kinh tế
- Quỹ dự trữ không tập trung: Quy mô thường nhỏ, không có khả năng bù đắp
tổn thất lớn xảy ra, bao gồm:
+ Quỹ dự trữ của các doanh nghiệp: trích từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh để khắc phục rủi ro như: thiếu kiến thức quản lý, lạm phát, hỏa hoạn,
hư hỏng vật tư, máy móc thiết bị, rủi ro xuất nhập khẩu,
+ Quỹ dự trữ các hộ gia đình: trích từ thu nhập gia đình để đề phòng bệnh tật, tai nạn, hỏa hoạn, trộm cấp,
- Quỹ dự trữ tập trung:
+ Quỹ dự trữ nhà nước: do nhà nước xây dựng, được trích theo một tỷ lệ trong tổng số chi của NSNN để hình thành quỹ với mục đích sử dụng nhằm bù đắp
Trang 22những thiệt hại lớn của nền kinh tế như: thiên tai, dịch bệnh, lạm phát, mất cân đối trong xuất nhập khẩu, thay đổi tỷ giá ngoại tệ, để ổn định đời sống xã hội và duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế Quy mô quỹ này tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi nước
+ Quỹ bảo hiểm của các công ty kinh doanh bảo hiểm:
Quỹ hình thành từ một phần vốn tự có của các doanh nghiệp bảo hiểm, phần còn lại chủ yếu là phí bảo hiểm do số đông người tham gia bảo hiểm đóng góp Cho phép mỗi người chỉ bỏ ra một số tiền nhỏ để nhận được một khoản đền bù lớn khi có tổn thất, nên quỹ này thể hiện được ưu thế hơn hẳn so với các quỹ bảo hiểm trên
2 Các hình thức bảo hiểm
2.1 Bảo hiểm thương mại
Khái niệm: Bảo hiểm thương mại là một hoạt động kinh doanh thông qua hợp
đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm thực hiện một đảm bảo cho người tham gia bảo hiểm về những rủi ro thuộc trách nhiệm của bảo hiểm, trên cơ sở người tham gia phải trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm
Hoạt động bảo hiểm thương mại dựa trên tính chất tương hỗ, nên cho phép người tham gia có thể nhận được số tiền bồi thường tương xứng với tổn thất nhưng chỉ trả một khoản phí nhỏ
+ Rủi ro: là tình trạng có thể đưa đến tổn thất hoặc không tổn thất Các loại rủi ro có thể do: hạn hán, lũ lụt, giông bão, động đất, núi lửa, cháy nổ, tai nạn giao thông, trộm cấp, thất nghiệp, đình công, chiến tranh,
+ Giá trị bảo hiểm: là giá trị của đối tượng bảo hiểm
+ Số tiền bảo hiểm: là số tiền đền bù cho đối tượng tham gia bảo hiểm phải nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm
+ Phí bảo hiểm: là số tiền mà người tham gia phải trả cho người bảo hiểm
- Các loại bảo hiểm thương mại:
+ Nếu đối tượng bảo hiểm là tài sản thì bảo hiểm thương mại bao gồm:
Bảo hiểm tai nạn xe cơ giới, máy bay, ghe tàu,
Bảo hiểm thiên tai, hỏa hoạn,…
Bảo hiểm trộm cắp tài sản, vật trang sức,
Bảo hiểm sản xuất nông nghiệp, xuất nhập khẩu,
+ Nếu đối tượng bảo hiểm là con người thì bảo hiểm thương mại bao gồm: Bảo hiểm tai nạn con người, tai nạn học sinh,…
Bảo hiểm nhân thọ, chi phí chăm sóc điều trị,…
Bảo hiểm hành khách, du lịch,…
Trang 23+ Nếu đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự thì bảo hiểm thương mại bao gồm:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho người lái xe cơ giới, ghe tàu,…
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chủ xe, chủ tàu, chủ xí nghiệp
trong việc sử dụng lao động,
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho cha mẹ về con cái
2.2 Bảo hiểm xã hội
Khái niệm: Bảo hiểm xã hội được xem là một chế độ đảm bảo của nhà nước
đối với người lao động và gia đình của họ được nhận khoản trợ cấp trong từng trường hợp rủi ro, trên cơ sở thực hiện sự đóng góp phí bảo hiểm của người lao
Trợ cấp tử tuất và tiền mai táng
Chế độ chăm sóc y tế (theo điều lệ bảo hiểm y tế)
- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội:
+ Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Bao gồm những người lao động trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp nhà nước,hoặc người lao động trong các doanh nghiệp thành phần kinh tế khác kể cả doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam sử dụng trên 10 lao động + Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Người lao động trong nông nghiệp cá thể, buôn bán nhỏ, thợ thủ công cá thể,
2.3 Bảo hiểm y tế
Khái niệm: Bảo hiểm y tế là hoạt động nhằm bảo đảm thỏa mãn các nhu cầu
khám bệnh, chữa bệnh góp phần ổn định cuộc sống cho những người tham gia bảo hiểm y tế khi gặp rủi ro
- Nguyên tắc hoạt động:
Đảm bảo quyền lợi, lợi ích cho người tham gia bảo hiểm
Chỉ bảo hiểm những rủi ro không lường trước
Trang 24Chương 3: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Mục tiệu:
- Trình bày chính xác các vấn đề chung về ngân sách nhà nước
- Nhận biết được nội dung công tác tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
- Chứng minh được vai trò của ngân sách nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia
- Phân tích được nội dung hoạt động chủ yếu của thu và chi ngân sách nhà nước
- Liên hệ nội dung thu, chi ngân sách ở Việt Nam
- Vận dụng kiến thức về ngân sách nhà nước vào học các môn chuyên môn nghề
- Nghiêm túc khi nghiên cứu
- Nhận thức được tầm quan trọng của ngân sách nhà nước, từ đó thấy rõ trách nhiệm của mình và của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách
I Bản chất và vai trò của ngân sách nhà nước
1 Bản chất, chức năng của NSNN:
Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội, NSNN huy động và
sử dụng 1 bộ phận thu nhập của xã hội để thực hiện các chức năng của nhà nước Hoạt động của NSNN biểu hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội Các khoản thu mang tính chất bắt buộc và các khoản chi chủ yếu của ngân sách mang tính chất cấp phát hướng vào đầu tư và tiêu dùng xã hội, được thể chế hóa bằng
luật pháp
Như vậy, về mặt hình thức biểu hiện có thể hiểu NSNN là toàn bộ các khoản
thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
Trong quá trình hoạt động phân phối các nguồn tài chính của xã hội để hình thành và sử dụng quỹ NSNN, đã nẩy sinh hàng loạt các quan hệ tài chính giữa 1 bên là nhà nước và 1 bên là các chủ thể trong xã hội Hệ thống các quan hệ tài chính bao gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính
2 Vai trò của NSNN
2.1 Huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính tri, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế
Để phát huy vai trò của NSNN trong quá trình phân phối, huy động 1 bộ phận các nguồn tài chính vào NSNN cần thiết phải xác định:
Trang 25- Mức động viên vào NSNN đối với các đơn vị cơ sở trong xã hội qua thuế và khoản thu khác phải hợp lý
- Tỷ lệ động viên vào NSNN đối với tổng sản phẩm quốc nội được xác định căn cứ vào chủ trương phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước
- Sử dụng đồng bộ các công cụ tài chính trong việc thực hiện chi tiêu NSNN, đảm bảo chi tiêu theo dự toán và thực hiện nguyên tắc chi tiết kiệmvà có hiệu quả
2.2 Quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của NSNN
Theo 3 nội dung cơ bản sau:
- Kích thích sự tăng trưởng kinh tế:
Để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước đã sử dụng các công cụ bộ phận của NSNN là thuế và chi đầu tư
để hướng dẫn, kích thích và tạo sức ép đối với các chủ thể trong hoạt động kinh tế
- Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát:
Hai yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối mạnh sự hoạt động của thị trường
Để cân đối cung cầu, ổn định giá cả, nhà nước can thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa, dự trữ tài chính (ví dụ: Trợ giá điện, xăng dầu, truyền hình, )
Mặt khác, NSNN còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn để thực hiện kiểm soát lạm phát như biện pháp phát hành trái phiếu, mua bán chứng khoán nhằm khai thác thu hút điều tiết các nguồn vốn trong và ngoài nước
- Điều tiết thu nhập dân cư, thu nhập xã hội:
Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết những đối tượng có thu nhập cao để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp
.Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đồng thời cũng là phương pháp điều tiết lại thu nhập
.Các loại chi khác nhằm phân phối lại thu nhập, giảm bớt về khoản cách chênh lệch thu nhập giữa các bộ phận dân cư như chi phúc lợi công cộng, trợ cấp chính sách,
II Thu- Chi ngân sách nhà nước
1 Thu NSNN:
Bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho yêu cầu chi tiêu xác định của nhà nước Thu NSNN gắn liền với các hoạt động kinh tế xã hội Mức độ phát triển kinh tế và GDP hàng năm là cơ sở để hình thành và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN
Các khoản thu ngân sách bao gồm:
1.1 Thu thuế
1.1.1 Định nghĩa: Thuế là 1 khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật định
đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Trang 26Nhà nước sử dụng thuế thông qua hệ thống thuế 1 mặt để huy động nguồn thu không hoàn lại cho NSNN, mặt khác coi thuế là công cụ phân phối quan trọng tác động vào quá trình quản lý và điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân
1.1.2 Phân loại thuế:
* Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế:
- Thuế trực thu: thu trực tiếp vào các thể nhân và pháp nhân khi có thu nhập hoặc tài sản được quy định nộp thuế (là hình thức đánh thuế theo địa chỉ), cần xác định mức thu hợp lý để tránh gây tâm lý bất bình trong xã hội
- Thuế gián thu: thuế đánh vào việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
và được ấn định trong giá cả hành hóa hoặc cước phí dịch vụ (động viên 1 phần thu nhập của người tiêu dùng) thể hiện mối quan hệ gián tiếp giữa nhà nước và người nộp thuế (mua hàng hoá)
* Phân loại theo đối tượng đánh thuế:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thuế đánh vào hàng hóa
- Thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tài sản
1.1.3 Các yếu tố cơ bản cấu thành luật thuế:
- Tên gọi của thuế: cần ngắn gon và dễ hiểu
- Người nộp thuế: là pháp nhân, thể nhân
- Đối tượng của thuế: là nguồn vật chất (tài sản, thu nhập) để tính toán số tiền phải nộp
- Đơn vị tính thuế: là đơn vị đo lường đối tượng chịu thuế
- Biểu thuế – thuế suất: mức thuế cho từng biểu thuế quy định ngành nghề thuộc diện chịu thuế, các loại hàng hoá, tài sản, thuộc diện chịu thuế
- Thuế suất có 3 loại: thuế suất cố định tuyệt đối, thuế suất tỷ lệ cố định (%), thuế suất lũy tiến (thuế suất tăng dần lên theo mức tăng lên của đối tượng tính thuế)
Thuế suất là yếu tố cơ bản nhất trong 1 luật thuế, nếu xác định khoa học, hợp
lý mới đảm bảo nhà nước có nguồn thu ổn định và khuyến khích sản xuất phát triển, đảm bảo phân phối công bằng
- Giá tính thuế: là giá cả hàng hóa, tài sản làm căn cứ tính thuế
- Chế độ ưu đãi về thuế: giảm thuế, miễn thuế để khuyến khích đầu tư, ổn định sản xuất,
1.1.4 Hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam:
- Thuế GTGT: cấu thành trong giá cả hàng hóa tiêu thụ do người tiêu dùng phải trả thông qua doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh (người bán hàng hóa) Luật thuế giá trị gia tăng thi hành ngày 1/1/1999 gồm 4 mức thuế suất: 0%, 5%, 10%, 20%
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: được tính vào giá bán của các loại hàng hóa đặc biệt (trong danh mục chịu thuế) như: thuốc hút, rượu, bia, xăng, pháo, ô tô nhập khẩu,
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: thu vào các mặt hàng mậu dịch, phi mậu dịch và hàng hóa từ khu chế xuất được phép xuất nhập khẩu qua biên giới Việt Nam
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: có 2 mức thuế suất25% và 32% trực thu vào lợi tức đạt được của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: thuế trực thu
Trang 27- Một số loại thuế khác: Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất
1.2 Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước
- Thu lợi tức do liên doanh kinh tế, lợi tức cổ phần theo mức góp vốn của nhà nước
- Thu từ bán tài sản nhà nước do quá trình cổ phần hóa
- Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên
- Thu từ bán lại các cơ sở kinh tế nhà nước cho các thành phần kinh tế
1.3 Thu lệ phí và phí
Chiếm tỷ trọng nhỏ trong NSNN gồm các khoản thu như: lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng, Còn phí là khoản thu mang tính bù đắp 1 phần chi phí thường xuyên và bất thường về các dịch vụ công cộng đã phục vụ cho người nộp phí
1.4 Vay nợ và viện trợ của chính phủ:
1.4.1.Vay nợ chính phủ: Phản ánh bằng việc vận dụng tín dụng nhà nước để huy
động vốn gồm 2 loại:
- Vốn ngắn hạn: thời hạn vay thường dưới 1 năm
- Vốn trung hạn và dài hạn: 1 tới 10 năm và 10 tới 20 năm
* Vay nợ trong nước: Phát hành công trái dưới nhiều tên gọi khác nhau như công trái phiếu quốc gia, trái phiếu nhà nước, chứng chỉ đầu tư là chứng chỉ nhận
nợ của nhà nước, chính phủ ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu chính phủ dưới 3 hình thức:
- Tín phiếu kho bạc: thời hạn dưới 1 năm nhằm giải quyết mất cân đối ngân sách tạm thời
- Trái phiếu kho bạc: trung và dài hạn (trên 1 năm) nhằm giải quyết bội chi ngân sách do yêu cầu đầu tư
- Trái phiếu công trình: trung và dài hạn huy động vốn cho công trình đầu tư
* Vay nợ nước ngoài:
Cùng với việc huy động nguồn vốn trong nước, việc vay nợ nước ngoài là 1 biện pháp quan trọng của tín dụng nhà nước Vay nợ nước ngoài của chính phủ biểu hiện dưới 3 hình thức:
- Hiệp ước hoặc hiệp định vay nợ (viện trợ có hoàn lại) giữa 2 chính phủ
- Hiệp định vay mượn giữa chính phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới
- Phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài
1.4.2.Viện trợ quốc tế không hoàn lại:Là 1 hình thức đầu tư quốc tế gián tiếp,có
thể là viện trợ song phương (diễn ra giữa 2 chính phủ) hoặc là viện trợ đa phương: thông thường trong ODA có 1 phần là viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% tổng số vốn ODA (viện trợ phát triển chính thức) do các tổ chức quốc tế lớn như UNDP, UNICEF, UNFPA, FAO, UNIDO, là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho ngân sách
2 Chi NSNN:
Chi NSNN là sự kết hợp giữa 2 quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh
tế xã hội
Trang 28Trong đó: phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ (quỹ xây dựng, quỹ tiêu dùng, ) trước khi đưa vào sử dụng
Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản chi chia thành:
2.1 Chi thường xuyên
Là khoản chi cho tiêu dùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước như chi để đáp ứng các nhu cầu của dân cư trong lĩnh vực phát triển văn hóa, xã hội làm nâng cao mức sống dân cư và chi cho nhu cầu quản lý kinh tế
xã hội chung của nhà nước (bộ máy quản lý nhà nước tiêu dùng)
* Chi sự nghiệp:
Bao gồm các khoản: Chi sự nghiệp kinh tế, nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, sự nghiệp y tế, văn hóa nghệ thuật, thể thao và sự nghiệp xã hội nhằm đảm bảo các hoạt động sự nghiệp và có tính trợ cấp các đối tượng xã hội
* Chi quản lý nhà nước:
Nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng sau:
- Chi về lương và phụ cấp lương
- Chi về nghiệp vụ, về văn phòng phí
- Chi về quản trị nội bộ và các khoản khác
* Chi về quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội:
Bảo vệ phòng thủ xâm lược và an ninh dân cư nhằm đảm bảo sự tồn tại của nhà nước
2.2 Chi đầu tư phát triển
Chủ yếu từ ngân sách trung ương và 1 bộ phận đáng kể từ ngân sách địa phương nhằm tích lũy và tăng trưởng nền kinh tế
* Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội:
Bao gồm: chi đầu tư cho cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thủy lợi, năng lượng, vận tải, viễn thông, Tạo tiền đề kích thích quá trình vận động vốn của các doanh nghiệp trong và ngoài nước
* Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước:
Nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế như chi đầu tư vào các ngành then chốt, bao gồm: khai thác tài nguyên, năng lượng, các ngành công nghiệp cơ bản,
* Chi góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp:
Được biểu hiện bằng sự góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh của nhà nước theo 1 tỷ lệ nhất định vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước nhằm kiểm soát và hướng dẫn sự phát triển có lợi cho nền kinh tế quốc dân
* Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia:
Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia vốn điều lệ khi thành lập quỹ là 1.100 tỷ đồng trong đó vốn do ngân sách cấp là 50 % tổng số vốn điều lệ Nhằm huy động các nguồn vốn để cho vay đối với các dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi, gặp khó khăn
* Chi dự trữ nhà nước: nhằm:
- Điều hòa cung cầu về tiền, ngoại tệ và 1 số hàng hóa thiết yếu
- Giải quyết những hậu quả rủi ro bất ngờ xảy ra ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống xã hội
Trang 292.3 Chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay
- Trả nợ trong nước: các khoản nợ do phát hành các loại chứng khoán của nhà nước
- Trả nợ nước ngoài: vay của chính phủ các nước, các tổ chức tài chính, tiền
Tổ chức HĐND, UBND các cấp thì các bộ có chức năng quản lý nhà nước về ngành, chính quyền nhà nước các cấp có nhiệm vụ quản lý các mặt kinh tế – xã hội trên địa bàn của mình
Vì vậy, các cấp chính quyền đều có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo luật định và phù hợp với khả năng quản lý của các cấp chính quyền
Cơ cấu hệ thống NSNN được mô tả theo sơ đồ sau:
Hệ thống NSNN Việt Nam, theo luật NSNN hiện nay gồm có 4 cấp:
- Ngân sách trung ương
- Ngân sách tỉnh và cấp tương đương
- Ngân sách huyện và cấp tương đương
- Ngân sách xã và cấp tương đương
Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc:
- Ngân sách trung ương gồm: NS của của các cơ quan nhà nước, Đảng, các tổ chức chính trị xã hội ở cấp trung ương tập trung các nguồn thu chủ yếu để thực hiện các khoản chi quan trọng của cả nước
- Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm: NS của cơ quan nhà nước, Đảng, tổ chức chính trị xã hội ở cấp tỉnh, huyện, xã thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội được giao
- Ngân sách mỗi cấp được phân định nhiệm vụ chi và nguồn thu cụ thể
- Thực hiện cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo tính công bằng và yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương
Số bổ sung này được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới
Hệ thống NSNN
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương Ngân sách tỉnh, TP trực thuộc TW Ngân sách huyện, TX,
TP thuộc tỉnh Ngân sách xã, phường,
thị trấn
Trang 30- Chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới trong trường hợp ủy quyền cho cơ quan cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình
- Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho các nhiệm vụ của cấp khác
3.2 Nguyên tắc quản lý hệ thống NSNN
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, có phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp
Ngân sách nhà nước là 1 thể thống nhất bao gồm các khoản thu, các khoản chi của nhà nước trong năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước Trong đó:
- Các khoản thu chủ yếu gồm: Thuế, phí, lệ phí do hệ thống thu của nhà nước thu và tập trung qua kho bạc nhà nước, cộng với 1 phần thu hút từ ngoài nước
- Các khoản chi chủ yếu bao gồm: Các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư cho phát triển kinh tế đảm bảo công nghiệp hóa đất nước theo nguyên tắc, chế độ thống nhất trong cả nước
Cần khẳng định ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương nằm trong NSNN thống nhất Mỗi cấp chính quyền nhà nước bao gồm các
cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc đều có ngân sách để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi trách nhiệm được phân công 1 cách chủ động
Hệ thống tổ chức và quản lý NSNN là thống nhất từ trung ương đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của quốc hội và chính phủ NSNN vừa đảm bảo dân chủ công khai nhưng vừa phải được kiểm tra, kiểm soát theo 1 cơ chế được tổ chức chặt chẽ, thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính Các cơ chế, chính sách thu chi và phương thức quản
lý NSNN phải được thực hiện thốngnhất do quốc hội, chính phủ quy định
3.3 Nguyên tắc cân đối NSNN
* Ngân sách nhà nước phải được cân đối theo nguyên tắc: tổng thu về thuế và phí phải lớn hơn tổng chi thường xuyên và dành 1 phần tích lũy cho đầu tư phát triển ngày càng cao
Trường hợp, nếu có bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển Vay bù đắp bội chi phải đảm bảo nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng khoản vay cho mục đích đầu tư phát triển Các cấp ngân sách phải có kế hoạch thu hồi vốn vay (để đầu tư) và chủ động trả hết nợ khi đến hạn (phát hành trái phiếu chính phủ)
* Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc: tổng số chi không vượt qua tổng số thu, nếu tỉnh hoặc thành phố có nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh mà vượt khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh thì được phép huy động vốn đầu tư trong nước theo quy định của thủ tướng chính phủ theo từng công trình như phát hành trái phiếu công trình huy động sự đóng góp
tự nguyện của các tổ chức, cá nhân,
2 Phân cấp quản lí ngân sách
2.1 Phân cấp quản lý NSNN
Trang 31Chế định pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách bao gồm các quy phạm pháp luật xác định quyền hạn, nhiệm vụ của các cấp chính quyền nhà nước trong việc quản lý và điều hành hoạt động của NSNN đã khẳng định sự tồn tại của hệ thống NSNN gồm 4 cấp ngân sách:
- Ngân sách trung ương
- Phân cấp về mặt chính sách, chế độ thu chi, tiêu chuẩn định mức tài chính (cấp nào ban hành, tránh tư tưởng cục bộ)
- Phân cấp về vật chất (xác định các khoản thu chi cho các cấp ngân sách trên
cơ sở thực hiện nhiệm vụ kinh tế chính trị của mỗi cấp)
- Phân cấp về chu trình ngân sách (quan hệ về quản lý trong chu trình vận động của NSNN) quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp chính quyền trong việc lâp, chấp hành và quyết toán ngân sách sao cho vừa nâng cao vai trò trách nhiệm của chính quyền trung ương, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của chính quyền cơ sở
Với những nội dung phân cấp ngân sách nêu trên thì phân cấp về vật chất là giải quyết những quan hệ phức tạp và khó khăn giữa các cấp chính quyền trong việc phân chia nhiệm vụ chi và thu ngân sách Do đó phải xác định rõ nhiệm vụ kinh tế chính trị của mỗi cấp chính quyền, khả năng tạo ra nguồn thu trên địa bàn
mà chính quyền đó quản lý Phân cấp nhiệm vụ chi, nguồn thu cho từng cấp ngân sách luôn phải ổn định và đảm bảo cho ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thu lớn để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên phạm
vi cả nước Đồng thời ngân sách địa phương thực hiện những nhiệm vụ ổn định mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộng phân cấp cho chính quyền địa phương
2.2 Các khoản thu chi được xác định cho các cấp ngân sách
a Thu của các cấp ngân sách
- Các khoản thu 100%: là các khoản thu về thuế, phí, lệ phí, các khoản viện trợ và vay nợ xác định Ngân sách trung ương và các cấp ngân sách địa phương đều có các khoản thu được hưởng trọn 100%
Ví dụ:
+ Các khoản thuế, phí và lệ phí NSĐP giữ 100%:
Thuế nhà, đất
Thuế tài nguyên (không kể dầu khí)
Thuế môn bài
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Lệ phí trước bạ
Trang 32Các khoản phí, lê phí khác
+ Các khoản thuế, phí và lệ phí nộp 100% vào NSTƯ:
Thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu
Thuế thu nhập doanh nghiệp (các đơn vị hạch toán toàn ngành như
điện lực, viễn thông, )
Các khoản thuế và thu khác từ dầu, khí
Các khoản phí và lệ phí nộp vào NSTƯ
- Các khoản thu về thuế, phí và lệ phíđược phân chiatheo tỷ lệ % giữa ngân sách các cấp với thời gian ổn định từ 3 đến 5 năm
Ví dụ: Các khoản thuế, phí và lệ phí NSTƯ phân chia với NSĐP như:
Thuế GTGT (không kể hàng nhập khẩu)
Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể các đơn vị hạch toán toàn
ngành)
Thuếthu nhập thể nhân
Thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước
Phí xăng, dầu
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (không kể lĩnh vực dầu khí)
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên trực tiếp:
Tùy tình hình kinh tế xã hội và nhiệm vụ chi trên từng địa bàn mà ngân sách các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, ) còn có 1 phần được bổ sung (hỗ trợ) từ ngân sách cấp trên trực tiếp do quốc hội quyết định Hỗ trợ cho các cấp ngân sách địa phương có 2 loại:
+ Hỗ trợ để địa phương đảm bảo thực hiện các chế độ chi tiêu theo quy định thống nhất của nhà nước nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách của địa phương trong điều kiện đời sống kinh tế xã hội ở địa phương còn nhiều khó khăn
Các căn cứ để xác định mức hỗ trợ là dân số, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng (vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, ) số bổ sung này ổn định từ 3 tới 5 năm
+ Hỗ trợ theo các mục tiêu cụ thể:
Vốn hỗ trợ được đầu tư xây dựng các công trình thuộc cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội ở địa phương hoặc các cộng trình mục tiêu quốc gia
Tóm lại, phân phối nguồn thu cho ngân sách các cấp dựa trên cơ sở nhiệm vụ chi và có chú ý đến tính chất của 1 số khoản thu Theo luật NSNN, các khoản thu của các cấp ngân sách được xác định và ổn định trong 1 khoảng thời gian nhất định
b Chi của các cấp ngân sách
- Chi đầu tư phát triển: xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được phân cấp, đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh, chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và quỹ hỗ trợ phát triển đối với các dự án phát triển kinh tế, chi dự trữ nhà nước
- Chi thường xuyên
- Chi trả nợ gốc tiền vay
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
Trang 33- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới
3 Chu trình ngân sách
Chu trình quản lý NSNN là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi để chỉ toàn bộ hoạt động của 1 ngân sách từ khi bắt đầu hình thành cho đến khi kết thúc và chuyển sang ngân sách mới Bao gồm:
3.1 Hình thành ngân sách
Là quá trình gồm: lập ngân sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo ngân sách Lập ngân sách là quá trình dự toán các khoản thu chi của ngân sách trong 1 năm ngân sách
Trình tự lập dự toán NSNN được chia thành các bước sau:
- Bước 1: lập dự toán ngân sách xã
Ban tài chính xã lập dự toán thu chi ngân sách trình UBND xã để báo chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân xã xem xét, sau đó báo cáo UBND huyện, đồng gửi phòng tài chính huyện
- Bước 2: lập dự toán ngân sách huyện
Phòng tài chính xem xét dự toán ngân sách của các đơn vị thuộc huyện, dự toán thu do cơ quan thuế lập, dự toán thu chi ngân sách của các xã nhằm lập dự toán thu NSNN trên địa bàn và dự toán thu, chi ngân sách huyện dự toán các khoản kinh phí ủy quyền nhằm trình UBND huyện để báo cáo thường trực HĐND huyện xem xét và báo cáo UBND tỉnh, đồng gửi sở tài chính – vật giá
- Bước 3: lập dự toán ngân sách tỉnh
Sở Tài chính xem xét dự toán ngân sách của các đơn vị thuộc tỉnh, dự toán thu do cơ quan thuế, cơ quan hải quan lập, dự toán thu chi ngân sách của các huyện Tiến hành lập dự toán thu NSNN trên địa bàn, dự toán thu chi ngân sách tỉnh, dự toán các khoản chi kinh phí uỷ quyền (nếu có), trình UBND tỉnh để báo cáo thường trực HĐND tỉnh xem xét, sau đó báo cáo Chính phủ đồng kính gửi Bộ tài chính, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ quản lý ngành, các cơ quan trung ương quản lý chương trình quốc gia chậm nhất vào ngày 15/8 năm trước
- Bước 4: Lập dự toán NSNN và ngân sách trung ương
Bộ tài chính chủ trì phối hợp Bộ kế hoạch đầu tư và các bộ Căn cứ vào dự toán thu chi ngân sách của các Bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh lập, nhu cầu trả
nợ chi chương trình quốc gia, Tiến hành lập dự toán thu chi ngân sách trung ương, tổng hợp và lập dự toán thu chi NSNN trình Chính phủ để trình Quốc hội quyết định
- Tổ chức chấp hành dự toán thu: Bồi dưỡng và phát triển nguồn thu, bảo đảm
tỷ lệ động viên khai thác nguồn thu hợp lý
- Tổ chức chấp hành dự toán chi: Đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân sách cho hoạt động bộ máy nhà nước và nền kinh tế xã hội
- Xây dựng dự toán thu – chi quý tháng: Thực chất là lên kế hoạch tiến độ thực hiện nhiệm vụ của dự toán thu – chi năm
Trang 34- Mục lục NSNN: Là bảng phân loại thu chi ngân sách theo những tiêu thức khoa học nhằm phục vụ cho công tác quản lý kinh tế tài chính và lập quyết toán ngân sách sau này
4.3 Quyết toán NSNN
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý NSNN, phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và kịp thời
Báo cáo quyết toán hàng năm lên cấp trên phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Số liệu trong báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực với báo cáo trong sổ kế toán
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán và của ngân sách các cấp chính quyền không được quyết toán chi lớn hơn thu
- Ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí ủy quyền vào báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình
- Báo cáo quyết toán năm gửi cho cơ quan có thẩm quyền phải kèm theo báo cáo phân tích quyết toán, bảng cân đối tài khoản kế toán và có xác nhận của cơ quan nhà nước nơi đơn vị giao dịch
Trang 35Chương 4: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm, đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
- Liệt kê được những nguyên tắc tổ chức tài chính doanh nghiệp
- Chứng minh được vai trò quan trọng của tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
- Phân tích được các nội dung chủ yếu của hoạt động tài chính doanh nghiệp
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bảo toàn phát triển vốn, tăng doanh thu, lợi nhuận và giảm chi phí sản xuất
-Vận dụng kiến thức tài chính doanh nghiệp vào học các môn chuyên môn nghề
- Nghiêm túc khi nghiên cứu
- Xử lý các quan hệ tài chính doanh nghiệp một cách tốt nhất phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ và lợi ích của doanh nghiệp ở vị trí công tác của mình sau khi tốt nghiệp
I Những vấn đề chung về tài chính doanh nghiệp
1 Khái niệm
* Theo luật định, một đơn vị gọi là doanh nghiệp khi đáp ứng được 2 yêu cầu
cơ bản sau:
- Được luật pháp nhà nước thừa nhận về tư cách pháp nhân
- Được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh
* Trong nền kinh tế thị trường, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú Căn cứ vào phương thức tạo thu nhập, ta có thể phân chia các doanh nghiệp thành 2 loại:
- Doanh nghiệp tài chính: là các đơn vị chuyên kinh doanh tiền tệ – tín dụng như: các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, quĩ đầu tư,
- Doanh nghiệp phi tài chính: bao gồm các đơn vị lấy sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ làm hoạt động chính
Trong phạm vi bài 4: “Tài Chính doanh nghiệp” chỉ đề cập đến hoạt động của những doanh nghiệp phi tài chính, gắn liền với khối lượng vốn tiền tệ nhất định được tạo lập bởi nhiều nguồn tài chính khác nhau và luôn vận động không ngừng,
đa dạng: Diễn ra trong cùng phạm vi của 1 doanh nghiệp hoặc ra ngoài phạm vi
của 1 doanh nghiệp, hoặc thay đổi hình thái biểu hiện giá trị của 1 quá trình kinh doanh
2 Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
* Sơ đồ vận động vốn tiền tệ:
- Đối với doanh nghiệpsản xuất và dịch vụ:
T L S
X S L
H’
– T’
Trang 36- Đối với doanh nghiệp thương mại:T - H - T’
Sự vận động của vốn tiền tệ trong quá trình kinh doanh đã làm nẩy sinh hàng loạt quan hệ kinh tế, dưới hình thức giá trị và chúng đã cấu thành nên bản chất của phạm trù tài chính doanh nghiệp
* Các quan hệ kinh tế nẩy sinh do sự vận động của vốn tiền tệ gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với NSNN thể hiện:
Các doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật định và ngược lại nhà nước có chính sách tài trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp phát triển theo kế hoạch kinh tế vĩmô của mình
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường:
Doanh nghiệpvà thị trường là một thể thống nhất không thề tách rời nhau đươc: doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tố sản xuất và kinh doanh, vừa là người bán sản phẩm hàng hóa dịch vụ của mình Ngược lại, thị trường cần tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và cung cấp các yếu tố sản xuất cho nhà kinh doanh
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp bao gồm:
Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hòa vốn giữa các đơn vị trực thuộc trong nội bộ doanh nghiệp.Quan hệ về chi trả lương, tiền thưởng, tiền phạt, bồi thường, giữa doanh nghiệp với người lao động
Tóm lại, từ những phân tích trên ta có thể hiểu tài chính doanh nghiệp trên các khía cạnh sau:
- Về mặt hiện tượng: Tài chính doanh nghiệp biểu hiện sự vận động, chuyển dịch các luồng giá trị phục vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Về bản chất: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nẩy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp
2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
2.1 Huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sữ dụng vốn có hiệu quả
Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, phạm vi họat động giữa tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp đã được phân biệt rỏ ràng Tài chính nhà nước không còn là kênh cấp phát và bao cấp tòan bộ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng
Vì vậy, vai trò của đảm bảo nguồn vốn hoạt động kinh doanh của tài chính doanh nghiệp ngày càng đặt ra có tính cấp bách Các doanh nghiệp phải biết chủ động khai thác, thu hút có hiệu quả các nguồn tài chính trên thị trường vốn để phục
vụ kịp thời và đầy đủ cho yêu cầu kinh doanh Trên cơ sở xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần huy động, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa chọn các phương thức và đòn bẩy kinh tế để huy động vốn
Sau đó, doanh nghiệp còn có vai trò tổ chức sử dụng vốn để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất, quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh theo cơ chế thị trường Tính hiệu quả của việc sử dụng vốn thể hiện:
Trang 37- Về mặt kinh tế: vốn phải được bảo toàn và phát triển
- Về mặt xã hội: nâng cao mức thu nhập của người lao động và nộp thuế đầy
đủ cho nhà nước
Để đạt được điều đó doanh nghiệp phải tổ chức bố trí sử dụng vốn theo phương châm: tiết kiệm, nâng cao vòng quay và khả năng sinh lời của đồng vốn
2.2 Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh
Lợi ích là điểm xuất phát cho mọi hoạt động kinh tế, việc sử dụng chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp có tác dụng to lớn đến giải quyết các vấn đề lợi ích trong hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp
Nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp như: phân phối thu nhập, các quỹ chuyên dùng, xây dựng giá, thu hút vốn, sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế thúc đẩy tăng năng suất lao động, tích tụ và thu hút vốn, tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội,
2.3 Vai trò công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền thông qua việc tiến hành phân tích các chỉ tiêu tài chính như chỉ tiêu về kết cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả năng về sinh lời, chỉ tiêu về sử dụng các nguồn lực tài chính, hiệu quả khi sử dụng vốn,
Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính trên, cho phép các doanh nghiệp đề
ra kịp thời các giải pháp tối ưu điều chỉnh, kiểm soát quá trình phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định
Để phát huy vai trò này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, xây dựng các chỉ tiêu tài chính thích hợp, duy trì nề nếp chế độ phân tích kinh tế của doanh nghiệp
II Tổ chức và hoạt động tài chính doanh nghiệp
1 Tổ chức tài chính doanh nghiệp
1.1 Vốn kinh doanh và đặc trưng của vốn kinh doanh
Vốn là tiền đề của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ Khi bước vào hoạt động kinh doanh nhất thiết doanh nghiệp phải có 1 lượng vốn kinh doanh nhất định
Vốn kinh doanh là 1 quỹ tiền tệ đặc biệt có các đặc trưng cơ bản sau:
- Vốn kinh doanh là lượng tiền (giá trị) cần thiết để mua sắm những yếu tố cần thiết cho hoạt động kinh doanh, được các chủ đầu tư tích tụ và tập trung 1 số lượng vốn tối thiểu ít nhất bằng vốn pháp định trước khi được phép hoạt động sản xuất kinh doanh
- Vốn kinh doanh không ngừng được bảo toàn, bổ sung và phát triển sau mỗi chu kỳ kinh doanh Đây là điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp thực hiện được quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Trang 38Như vậy, tiền được coi là vốn khi nó động thời thỏa mãn 2 điều kiện sau:
- Tiền phải được tích tụ và tập trung đến đến 1 lượng nhất định đủ sức để đầu
tư vào 1 dự án kinh doanh nhất định
- Khi tiền đủ lượng phải được vận động thông qua các phương thức đầu tư như sản xuất kinh doanh, thương mại, mua cổ phiếu, nhằm mục đích kiếm lời
1.2 Nguồn hình thành vốn kinh doanh và đầu tư vốn kinh doanh
* Tùy theo loại hình doanh nghiệp mà vốn kinh doanh có thể được huy động nhiều nguồn khác nhau:
- Nguồn vốn ban đầu:
Đối với doanh nghiệp nhà nước do NSNN cấp Đối với HTX, doanh nghiệp
cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, vốn do xã viên, cổ đông đóng góp hoặc hoặc do chủ doanh nghiệp bỏ ra ban đầu
* Thông thường các doanh nghiệp sản xuất có 2 hướng đầu tư chủ yếu là:
- Đầu tư bên trong: là những khoảng đầu tư vốn để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất khi khởi nghiệp hoặc đầu tư đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình công nghệ
- Đầu tư vốn ra bên ngoài: được tiến hành dưới các hình thức góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếunhằm tìm kiếm lợi nhuận và phân tán rủi ro
1.3 Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Dựa vào công dụng kinh tế và đặc điểm luân chuyển giá trị, vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính
a Vốn cố định
* Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn cố định
+ Khái niệm và đặc điểm vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về toàn bộ TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp các tài sản được gọi là TSCĐ khi tài sản đó hội đủ 2 điều kiện:
- Có thời gian sử dụng dài: trên 1 năm
- Có giá trị lớn: 10.000.000 đồng Việt Nam trở lên từ 1997
Do có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài khi tham gia vào quá trình kinh doanh TSCĐ có hai đặc điểm cơ bản sau:
- Tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh, nhưng không thay đổi hình thái biểu hiện
- Về giá trị luân chuyển dần dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mỗi chu kỳ kinh doanh, cho đến khi nào TSCĐ hết thời gian sử dụng thì vốn cố định mới chấm dứt 1 vòng tuần hoàn lưu chuyển giá trị
+ Phân loại TSCĐ:
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện có thể chia TSCĐ thành: