1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot

75 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội
Trường học Học Viện Chính Trị Kỹ Thuật Hàng Hải, [URL trang chủ của trường]
Chuyên ngành Quản lý thuế, Thuế giá trị gia tăng, Bưu chính viễn thông
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1997
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 682,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời nói đầu Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu hiện nay ở Việt Nam là một đòi hỏi cấp bách mang tính tất yếu khách quan, nhằm khắc phục các nhược điểm của luật t

Trang 2

Lời nói đầu

Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu hiện nay ở Việt Nam là một đòi hỏi cấp bách mang tính tất yếu khách quan, nhằm khắc phục các nhược điểm của luật thuế doanh thu, thúc đẩy phát triển sản xuất, lưu thông và xuất khẩu hàng hoá; phù hợp với xu hướng chung trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với sự với sự hoạt động, phát triển kinh

tế trong khu vực và quốc tế

Luật thuế giá trị gia tăng được quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kì họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/97 và bắt đầu được triển khai áp dụng từ ngày 1/1/1999

Với việc triển khai áp dụng luật thuế gia trị gia tăng, các cơ quan quản lí - nhất

là cơ quan thuế - đã chuẩn bị chu đáo kỹ càng và hoạch định bước đi thật cụ thể Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng luật thuế này trong công tác quản lí kinh doanh và hạch toán kế toán cụ thể của các doanh nghiệp bưu chính viễn thông còn mang nhiều nét đặc thù riêng

Trên cơ sở nhận thức như vậy, trong thời gian thực tập và nghiên cứu thực tế

tai Cục thuế Hà nội, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Tình hình triển khai áp

dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội ”

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

* Chương I: Thuế và sự cần thiết áp dụng thuế giá trị gia tăng

* Chương II: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội

* Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lí thu thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội

Trang 3

Chương I: thuế và sự cần thiết áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu

chính viễn thông

I Những vấn đề lí luận chung về thuế nhà nước

1 Sự ra đời và tồn tại của thuế trong nền kinh tế thị trường

Thuế tồn tại cùng với nhà nước Sự xuất hiện của nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình để ban hành những qui phạm pháp luật làm công cụ phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước Mà nguồn thu đó chỉ có thể có được từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tổ chức và các tầng lớp dân cư tạo ra dưới hình thức thuế Do đó, sự xuất hiện của thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu, đầu tiên là nhằm đảm bảo nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng trong việc củng cố bộ máy an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội hầu hết các nhà nước đều phải khai thác mọi nguồn thu dưới mọi hình thức như: vay mượn, bán tài nguyên, tài sản quốc gia Song hình thức động viên nguồn thu qua thuế, phí và lệ phí là phổ biến và chủ yếu nhất

Có thể nói thuế là hình thức động viên cổ xưa nhất của tài chính nhà nước Trải qua những giai đoạn lịch sử với sự ra tăng về quyền lực và nhiệm vụ của nhà nước, thuế cũng được hoàn thiện hơn về nội dung và hình thức

Thuế tồn tại cùng với sự xuất hiện của sản phẩm thặng dư Sự hình thành sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu tạo ra khả năng và các nguồn động viên

về thuế

Như vậy, thuế là một phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Nhà nước sử dụng thuế làm công cụ để thực hiện các chức năng của mình Mặt khác, mỗi Nhà nước

Trang 4

xã hội phong kiến sang xã hội tư bản, việc đóng thuế bằng tiền ngày càng trở thành hình thức chủ yếu, giai cấp tư sản còn có nhiều hình thức thu thuế thông qua công trái, phát hành thêm giấy bạc và hình thức thu thuế bằng tiền đã dược áp dụng cho đến ngày nay Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên đòi hỏi nguồn động viên qua thuế cũng ngày càng tăng Thuế không chỉ tạo ra nguồn thu cho NSNN mà còn là công cụ để quản lí và điều tiết vĩ

mô nền kinh tế Vì vậy, sự tồn tại của thuế trong nền kinh tế thị trường là tất yếu

Như vây, nhiệm vụ chính của mỗi Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới vai trò, nội dung và đặc điểm của thuế Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệ thống nói chung cũng như của từng sắc thuế nói riêng phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời, thích hợp với tình hình nhiệm vụ của từng giai đoạn Đồng thời phải giải quyết tổ chức phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiên các qui định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hành trong từng thời kì

Hệ thống thuế được coi là phù hợp không thể chỉ nhìn vào số lượng các sắc thuế ít hay nhiều, vào mục tiêu đơn thuần về động viên tài chính mà phải được phân tích một cách toàn diện mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế lành mạnh với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân Đặc biệt mức động viên đóng góp về thuế không vì mục tiêu phục vụ yêu cầu chi tiêu lãng phí, phô trương bất hợp lí, hoặc để đảm bảo sự hoạt động của một

bộ máy cồng kềnh, kém hiệu lực, quá sức chịu đựng của nhân dân

Trang 5

2 Khái niệm, đặc điểm của thuế:

2.1 Khái niệm thuế

Chúng ta đều biết, cùng với sự phát triển của nhà nước, thuế ngày càng hoàn thiện hơn về nội dung và hình thức Tuy vậy, xét trên góc độ khái niệm, nhìn nhận về thuế nhà nước chưa có một sự thống nhất tuyệt đối

Theo David Recardo: thuế được cấu thành từ phần của chính phủ lấy trong sản phẩm đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy vào tư bản hoặc thu nhập của người chịu thuế

Anghen quan niệm: Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế

Còn theo KarlMarc, thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn giản tiện do kho bạc thu được bằng tiền hoặc sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi chi tiêu của nhà nước

Một số nhà kinh tế Việt Nam lại lập luận, thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc mà mọi thành viên trong xã hội hoặc các tổ chức kinh tế phải nộp vào NSNN theo qui định của pháp luật

Một số nhà kinh tế nước ngoài thì cho rằng, thuế là hình thức đóng góp bắt buộc được xây dựng và thu bằng con đường quyền lực nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của nhà nước Trên phương diện kinh tế, thuế là một phương tiện làm thay đổi các cơ cấu tác động `đến tình hình kinh tế Về xã hội, thuế là phương tiện phân phối lại thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

Những khái niệm về thuế nói trên tuy được diễn đạt theo các cách khác nhau nhưng đều có chung một số đặc điểm chủ yếu, đó là: thừa nhận sự gắn bó trực tiếp không thể tách rời giữa thuế và nhà nước Chỉ có nhà nước là tổ chức duy nhất ban hành các sắc thuế và thuế là công cụ chủ yếu để tạo lập các nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình để đặt ra các loại thuế thông qua cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là Quốc hội Kết hợp tất cả những hạt nhân hợp lí của các quan điểm trên về thuế, có thể nhận thức về thuế một cách toàn diện như sau:

Trang 6

“ Thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của nhà nước đối với các thể nhân

và pháp nhân nhằm buộc các thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động, do đầu tư tài chính, do lưu giữ, chuyển dịch tài sản mang lại nộp cho NSNN “

Khái niệm trên cho thấy rõ tính chất của thuế Đồng thời phân biệt thuế với các nguồn khác, thấy rõ mục đích, đặc điểm nguồn động viên của thuế

Để thấy rõ hơn tính chất của thuế, chúng ta xét đặc điểm của thuế

2.2 Đặc điểm của thuế

Thuế là một biện pháp tài chính của nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lí cao

Đặc điểm này đã được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, ở mỗi quốc gia việc đóng thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được

cơ quan quyền lực tối cao là quốc hội qui định, và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định

Thuế là hình thức động viên tài chính gắn liền với diễn biến, tình hình kinh tế

xã hội của một quốc gia

Khi nhà nước xác lập một hệ thống thuế với các loại thuế suất khác nhau, trước hết bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu của nhà nước Song trong thực tế, mức động viên qua thuế bao giờ cũng chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế xã hội của một quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử

Yếu tố kinh tế ràng buộc đến chính sách thuế, hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia, đến cơ cấu kinh tế đó cũng như chính sách, cơ chế quản lí của nhà nước Cùng với yếu tố đó, còn phải kể đến phạm

vi, mức độ chi tiêu của nhà nước nhằm thể hiện các chức năng kinh tế của mình

Yếu tố xã hội ràng buộc đến chính sách thuế, hệ thống thuế chính là phong tục, tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai đoạn lịch sử

Trang 7

Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, ngoài những yếu tố kinh tế xã hội nội tại của đất nước cũng cần phải nhắc đến yếu tố mở cửa hội nhập với các quốc gia trên thế giới khi hoạch định chính sách, ban hành hệ thống thuế

Như vậy, có thể hình dung mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của nhà nước, các vấn đề kinh tế xã hội của một quốc gia

Thuế là khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp

Khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó như là khoản vay mượn Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của NSNN choviệc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng

Tóm lại, thuế là một biện pháp kinh tế của mọi nhà nước, song biện pháp đó chỉ xuất hiện và được thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập được tạo ra Thuế là công cụ để các chính phủ dùng để can thiệp vào kinh tế và là công cụ đắc lực để thực hiện chức năng quản lí kinh tế xã hội Thuế không chỉ tạo ra nguồn thu cho chính phủ hoạt động mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các biện pháp kinh tế vĩ mô của chính phủ

3 Vai trò của thuế

Nhà nước có vai trò quản lí rất quan trọng nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô, điều tiết thi trường, tạo môi trường và điều kiện cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm cho sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Nhà nước quản lí nền kinh tế bằng chiến lược và kế hoạch định hướng, chính sách và công cụ kinh tế như giá cả, tín dụng, lãi suất, thuế là chủ yếu chứ không thể là sự can thiệp tuỳ tiện bằng mệnh lệnh hành chính như trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây Trong những công cụ kinh tế được nhà nước sử dụng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh

tế, thuế là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt Một chính sách thuế được ban hành hợp lí, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, đáp ứng yêu cấu của thực tiễn thì

nó sẽ góp phần khắc phục sự trì trệ và lạc hậu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, ổn định lâu dài Ngược lại, một chính sách không phù hợp sẽ trở thành

Trang 8

một vật cản gây trở ngại cho sự lớn mạnh của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thậm chí có thể gây khủng hoảng về kinh tế, chính trị

Vai trò của thuế được thể hiện:

3.1 Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN

Xã hội càng phát triển thì chức năng của nhà nước càng nặng nề Vì vậy, cần phải có nguồn thu để thực hiện chức năng đó Nhà nước có thể tạo ra nguồn thu bằng nhiều cách như vay, bán tài nguyên, in tiền nhưng một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân

Trong hệ thống đòn bẩy của cơ chế mới, thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại trở thành mối quan hệ “ có vay có trả “ Trước mắt, hệ thống thuế phải là một công cụ quan trọng để góp phần tích cực vào yêu cầu giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự

xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài Vì vậy, thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của một nền tài chính quốc gia lành mạnh

Mặt khác, với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Do đó, thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng trong xã hội

Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN vì nguồn thu từ thuế mang tính ổn định, không phụ thuộc vào các yếu tố khác, thu thuế đơn giản hơn, ít có điều kiện ràng buộc với nhà nước, qua thu thuế nhà nước biết được những tín hiệu của nền kinh tế

để từ đó hoạch định chính sách phát triển nền kinh tế

3.2 Thuế là công cụ quan trọng trong quản lí vĩ mô nền kinh tế

- Thuế góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát

Giá cả trong nền kinh tế thị trường được qui định bởi cung - cầu hàng hoá Vì vậy, trong trường hợp lạm phát do cầu quá lớn, nhà nước dùng thuế tác động vào hàng hoá như đánh thuế cao lên làm nhu cầu tiêu thụ về hàng hoá giảm, để bán được hàng, người bán phải tìm cách giảm giá bán, làm cho giá cả giảm, lạm phát giảm

Trang 9

Trường hợp lạm phát do yếu tố đầu vào quá lớn (lạm phát do chi phí đẩy), nhà nước sẽ đánh thuế với thuế suất thấp các yếu tố đầu vào làm chi phí thấp hơn, do đó các nhà sản xuất sẽ bán với giá thấp hơn, lạm phát giảm

- Thuế là công cụ quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo ra công ăn việc làm cho người lao động

Thông qua việc xây dựng đúng đắn chính sách thuế, cơ cấu và mối quan hệ giữa các loại thuế, qua việc xác định hợp lí đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm thuế góp phần khuyến khích phát triển các hoạt động sản xuất cần thiết đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất và tiêu dùng theo hướng tiết kiệm

Trong điều kiện hiện nay, hệ thống thuế khuyến khích việc bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất bằng cách giảm thuế, như thông qua việc giảm thuế thu nhập công ty, giảm thuế tài sản góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người lao động

- Thuế là công cụ góp phần bảo hộ sản xuất trong nước, tận dụng mọi nguồn nhân lực, vật lực sẵn có vào phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh theo định hướng của Nhà nước, góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa các khu vực trên thế giới

Thông qua việc sử dụng các biện pháp thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch xuất nhập khẩu, quản lí ngoại hối, trợ giá hàng sản xuất trong nước, ưu đãi hoạt động tín dụng thuế góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện và bảo hộ nền sản xuất trong nước phát triển Đồng thời, thuế được xây dựng trên quan điểm mở rộng thị trường một cách lành mạnh, nên khuyến khích hợp tác, giao lưu hàng hoá giữa các nước trên thế giới

3.3 Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội

Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi hành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau và thu nhập giống nhau Đảm bảo sự bình đẳng và công bằng

Trang 10

về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền, đặc lợi bất hợp

lí cho đối tượng nào

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường việc phân phối của cải xã hội thường dựa trên cơ sở chuẩn mực các yếu tố đầu vào Mà không phải mọi thành viên trong

xã hội đều có năng lực các yếu tố đấu vào như nhau nên đòi hỏi phải có sự phân phối khác nhau Của cải tập trung phần lớn vào nhóm người có năng lực yếu tố đầu vào lớn nên tạo ra sự phân hoá giầu - nghèo, vì vậy làm giảm cầu của xã hội, không kích thích nền kinh tế phát triển Do đó, phải tiến hành phân phối lại thu nhập trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội

Như vậy, thuế có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Để bao quát hết các nguồn thu cho NSNN, người ta chia ra nhiều loại thuế khác nhau Trong

đó, thuế GTGT là một loại thuế mới, mang tính ưu việt hơn thay cho thuế doanh thu

II Thuế GTGT và sự cần thiết áp dụng thuế GTGT trong điều kiện hiện nay ở nước ta

Trên thực tế, thuế GTGT ra đời đầu tiên ở Pháp là do kết quả một quá trình lâu dài nhằm vào việc hoàn thiện hệ thống thuế khoá ở nước này mà trọng tâm của nó là

để tăng cường các loại thuế gián thu Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, tại Pháp đã hình thành một cách thức tiếp cận mang tính chất tổng thể và khoa học hơn về thuế khoá Vào năm 1917, Pháp đã bắt đầu áp dụng thuế doanh thu Thời kì sơ khai người

ta chỉ đánh thuế vào giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá (khâu bán

lẻ với thuế suất rất thấp 0,2%) Sau đó, tới năm 1920 người ta đưa ra loại thuế doanh thu đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất Trong thực tế, cách đánh thuế này đã

Trang 11

phát sinh ra điều bất lợi là nó có tính chất dồn thuế, tức là quá trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu thì càng phải chịu thuế cao vì thuế choòng lên thuế Để khắc phục nhược điểm trên, năm 1936 Pháp đã cải tổ và quyết định hình thức thuế doanh thu theo hình thức thuế đánh một lần vào công đoạn cuối cùng của qua trình sản xuất (tức là khi sản phẩm được lưu thông lần đầu) Như vậy, việc đánh thuế độc lập với độ dài của quá trình sản xuất, khắc phục được hiện tượng đánh trùng thuế trước đó Nhưng lúc này nảy sinh hiện tượng bất lợi mới là việc thu thuế của Nhà nước bị chậm trễ so với trước vì chỉ khi sản phẩm được đưa vào lưu thông lần đầu thì Nhà nước mới thu được thuế Năm 1948 thuế doanh thu lại tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở đánh thuế vào từng công đoạn của quá trình sản xuất và tính thuế phải nộp

ở giai đoạn sau được trừ thuế phải nộp ở giai đoạn trước Nhằm khắc phục tính chất dồn thuế, lúc đầu thuế này chỉ áp dụng đối với hoạt động sản xuất công nghiệp với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ cho khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên vật liệu Sau nhiều lần cải tổ, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, thuế GTGT được áp dụng đầu tiên vào ngày 1 tháng 7 năm 1954 trong một số ngành cá biệt và đến ngày 1 tháng 1 năm 1968 nó được áp dụng chính thức và có hiệu lưc cả trong lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và cung ứng dịch vụ

Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, thuê GTGT là một trong những đặc điểm riêng có của một nền kinh tế phát triển nhưng ở Pháp ngay từ buổi sơ khai thuế GTGT ra đời nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: đó là đảm bảo số thu kịp thời, thường xuyên cho NSNN và khắc phục tình trạng thuế đánh trùng lắp qua các khâu sản xuất kinh doanh của thuế doanh thu Năm 1986 thuế GTGT ở Pháp được áp dụng rộng rãi đối với các ngành nghề sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ với 4 mức thuế suất khác nhau

Khai sinh ở Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước Đến nay đã có trên 100 nước áp dụng thuế GTGT Nhìn chung các nước áp dụng thuế GTGT vì thấy rõ nhược điểm của hệ thống thuế đang tồn tại ở nước họ trên các mặt:

- Thuế doanh thu tính chồng chéo, không đáp ứng được yêu cầu của chính sách động viên hợp lí về thuế

Trang 12

- Thuế quan đối với hàng nhập có trường hợp phải miễn giảm để phục

vụ các quan hệ hợp tác trong khu vực hoặc trên thế giới, vừa gây thất thu cho NSNN, vừa không bảo vệ sản xuất nội địa

- Có nhiều sắc thuế làm cho hệ thống thuế trở nên nặng nề, cần được thay thế bằng thuế GTGT để có thể bao quát được các đối tượng đánh thuế, nhằm động viên đóng góp của người tiêu dùng

- Sự phát triển của hệ thống thuế không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế

- Khắc phục một phần tình trạng thất thu thuế cho NSNN

Tại Việt Nam, thực ra ngay từ trước giải phóng 1975, chính quyền Sài Gòn cũng đã ban hành sắc luật số 035 - TT/SLU ngày 21 tháng 12 năm 1972 thiết lập thuế GTGT đánh trên các hàng hoá, dịch vụ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1973, thay thế các sắc thuế sản xuất, thuế tiêu thụ nước đá, thuế xay lúa Nhưng đến ngày 1 tháng 1 năm 1999 luật thuế GTGT chính thức được đưa vào áp dụng ở nước ta

2 GTGT và thuế GTGT

2.1 Khái niệm về GTGT

Nhìn chung mỗi sản phẩm hàng hoá trước khi được phân phối đến tay người tiêu dùng thường phải trải qua nhiều công đoạn như sản xuất, bán buôn, bán lẻ Giá trị của hàng hoá đó ngày càng tăng lên qua mỗi công đoạn Thông thường, ở giai đoạn đầu tiên, cơ sở sản xuất phải dùng nguyên - nhiên - vật liệu là chủ yếu, còn đối với các giai đoạn sau, giá trị tăng thêm chủ yếu do công sức lao động và lợi nhuận tạo nên Do đó, GTGT là giá trị tăng thêm của sản phẩm hàng hoá hoặc hoạt động dịch vụ (được gọi chung là sản phẩm hàng hoá) do cơ sở sản xuất,chế biến, gia công dịch vụ, tác động vào nguyên nhiên vật liệu thô, bán thành phẩm hoặc sản phẩm hàng hoá mua vào làm cho giá trị của chúng tăng thêm Nói cách khác, GTGT là khoản chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào của một sản phẩm hàng hoá

GTGTđược tính theo hai phương pháp: phương pháp cộng và phương pháp trừ Theo phương pháp cộng, GTGT được hiểu là giá trị các yếu tố cấu thành nên giá

Trang 13

trị tăng thêm bao gồm giá trị lao động (thường được tính bằng chi phí lao động) và lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Như vậy,

GTGT = tiền công lao động + lợi nhuận

Theo phương pháp trừ, GTGT được hiểu là khoản chênh lệch giữa giá trị đầu

ra với giá trị của nguyên- nhiên - vật liệu, bán thành phẩm được sử dụng ở đầu vào để tạo ra sản phẩm hàng hoá Ta có thể biểu diễn qua đẳng thức sau:

GTGT = giá đầu ra - giá đầu vào

(Giá tính trên là giá chưa có thuế GTGT)

2.2 Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT

Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức là đánh vào sự chi tiêu, tiêu dùng hàng hoá dịch vụ Thuế này được thu trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và được nộp cho nhà nước trên cơ sở trị giá tăng thêm trong mỗi khâu, thuế do các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ nộp nhưng người tiêu dùng là đối tượng chịu thuế thông qua giá cả hàng hoá dịch vụ

Theo điều I, chương I, luật thuế GTGT của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch

vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông tới tiêu dùng ”

Thuế GTGT là loại thuế mới ra đời nhằm khắc phục việc đành thuế trùng lặp của thuế doanh thu Thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lưu thông, làm sao để tới cuối chu

kì sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ bằng số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Để hiểu về thuế GTGT, chúng ta xét ví dụ về thuế GTGT đánh vào sản phẩm

A Giả thiết với thuế suất 10 %, thuế tính trên giá bán chưa có thuế và sản phẩm trải qua 4 công đoạn sản xuất kinh doanh

* Người khai thác bán với giá: 100

* Người sản xuất bán với giá: 200

* Người bán buôn bán với giá: 250

* Người bán lẻ bán với giá: 300

Trang 14

GTGT Giá bán

chưa VAT

VAT đầu ra

VAT đầu vào

VAT phải nộp

Như vậy, thuế GTGT người tiêu dùng phải nộp là 30

Qua bảng tính thuế trên đây, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của thuế GTGT như sau:

- Trong mỗi khâu tiêu thụ hàng hoá, thuế GTGT đều được tính trên giá bán hàng hoá (giá bán chưa có thuế GTGT)

- Tính thuế GTGT phải nộp ở giai đoạn sau đều được khấu trừ thuế GTGT đã nộp ở giai đoạn trước nên không gây ra hiện tượng trùng lắp Cũng vì đặc trưng này, người ta gọi thuế GTGT là thuế doanh thu có khấu trừ Kết quả thu được ở mỗi khâu đều kiểm tra được việc tính thuế và thu thuế ở khâu trước

- Hiệu quả của thuế GTGT không phụ thuộc vào việc tổ chức và sự phân chia các chu trình kinh tế, cho dù sản phẩm trải qua nhiều hay ít công đoạn, tổng số thuế phải nộp cũng chỉ bằng giá mua chưa có thuế của người tiêu dùng cuối cùng nhân với thuế suất Đó chính là nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT, vì vậy, thuế GTGT không làm giá đột biến khi phải trải qua nhiều công đoạn sản

Trang 15

Nếu sản phẩm trên không tiêu thụ ở thị trường trong nước mà được xuất khẩu thì người xuất khẩu được hoàn lại số thuế đã nộp ở khâu bán hàng của người sản xuất, tức là 30

Tại từng công đoạn, người bán hàng phải:

+ Đưa hoá đơn cho khách hàng trong đó ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT phải nộp và toàn bộ số tiền mà khách hàng phải thanh toán

+ Tính số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước để được khấu trừ ở khâu này theo đúng qui định của luật thuế GTGT

+ Chỉ nộp vào kho bạc Nhà nước số chênh lệch giữa số thuế GTGT phải nộp

và số thuế GTGT được khấu trừ

Như vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm hàng hoá qua nhiều hay ít khâu trung gian từ sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế như nhau Sau khi chuyển nhượng lần đầu, những lần mua bán tiếp theo sản phẩm hàng hoá sẽ chỉ chịu thuế GTGT tính trên phần doanh thu tăng thêm

3 Nội dung cơ bản của thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam

3.1 Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế

Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam (tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt) không kể là hàng hoá dịch vụ được sản xuất cung ứng từ trong nước hay nhập khẩu, trừ 26 nhóm mặt hàng được qui định tại điều IV luật thuế GTGT và mục I - thông tư 175

Trang 16

Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu hàng hoá dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh) thuộc diện chịu thuế GTGT là đối tượng nộp thuế GTGT Cụ thể:

Các tổ chức kinh doanh không phân biệt thành phần kinh tế, doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, là doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp ngoài quốc doanh, là hợp tác xã hay bất kì một đơn vị kinh tế trực thuộc nào có hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT

Các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT

- Đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu (thường

là giá CIF) cộng với thuế nhập khẩu Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn hoặc giảm thuế thì giá tính thuế GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu được xác định theo mức đã được miễn giảm

- Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tượng tiêu dùng ở Việt Nam, là giá chưa có thuế GTGT ghi trong hợp đồng

- Đối với hàng hoá, dịch vụ sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu tặng, là giá bán chưa có thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động trao đổi, sử dụng nội bộ hoặc biếu tặng

- Đối với hoạt động cho thuê tài sản, là số tiền thuê thu từng kì

- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hoá tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kì, không bao gồm lãi trả góp

Trang 17

- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế GTGT, bao gồm: tiền công, tiền nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và các chi phí khác để gia công

- Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do chính phủ qui định

Giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ qui định ở trên bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng

Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh số mua bán bằng ngoại tệ thì phải qui đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế

* Thuế suất thuế GTGT

Theo qui định tại điều 8 luật thuế GTGT và điều 7 NĐ 28/1998/ NĐ- CP và điều 5 mục 2 TT 175/1998/ TT- BTC, thuế GTGT có 4 mức thuế suất: 0%, 5%, 10%, 20%

Nhóm thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu

Nhóm thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thiết yếu dùng cho sản xuất và tiêu dùng

Nhóm thuế suất 10% là thuế suất phổ thông

Nhóm thuế suất 20% áp dụng đối với các hàng hoá dịch vụ không thiết yếu cần điều tiết

Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều loại hàng hoá dịch vụ khác nhau thì phải

tổ chức hạch toán kế toán riêng doanh thu từng loại hàng hoá theo từng mức thuế suất qui định đối với hàng hoá dịch vụ Nếu không hạch toán được như vậy thì doanh nghiệp phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất cao nhất của hàng hoá dịch vụ mà cơ

sở có sản xuất, kinh doanh trên tổng doanh thu của tất cả các hàng hoá, dịch vụ bán

Trang 18

Phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng cho tất cả các CSSXKD đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ các qui định của chế độ hoá đơn, chứng từ

CSKD đăng kí nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ phải sử dụng hoá đơn GTGT - mẫu số 01/GTGT (trừ trưòng hợp được dùng chứng từ ghi giá thanh toán đã có thuế GTGT) Trên hoá đơn phải ghi rõ: giá bán chưa có thuế GTGT, các khoản phụ thu, thuế GTGT và tổng số tiền phải thanh toán

Thuế GTGT phải nộp là số chênh lệch giữa thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào Có thể biểu diễn qua công thức:

Thuế GTGT phải nộp = thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra

- thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào

Trong đó:

Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra là số thuế tính trên tổng giá bán (chưa bao gồm thuế GTGT) của hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kì Thuế GTGT đầu

ra được tính theo công thức:

Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra = Giá tính thuế hàng hoá dịch vụ chịu thuế bán ra  thuế suất tương ứng của từng loại hàng hoá dịch vụ

Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào là số thuế GTGT được ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng hoá, dịch vụ hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ nhập khẩu

Phương pháp trực tiếp trên GTGT

Theo phương pháp này thuế GTGT được tính trực tiếp trên giá tri gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế do cơ sở kinh doanh bán ra

Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là các cá nhân, tổ chức kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ

để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; các cơ sở sản xuất kinh doanh, mua bán vàng, bạc, đá quí, ngoại tệ

Trang 19

Thuế suất thuế GTGT tương ứng là mức qui định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ tương ứng với hàng hoá, dịch vụ bán ra

3.4 Miễn giảm thuế, hoàn thuế GTGT

- Về nguyên tắc không qui định miễn giảm thuế GTGT vì thuế GTGT là thuế gián thu do người tiêu dùng chịu, nhưng do trong thời gian chuyển từ thuế doanh thu với 11 mức thuế suất sang thuế GTGT chỉ còn 4 mức thuế suất nên có một số doanh nghiệp gặp phải khó khăn Do vậy, điều 28 luật thuế GTGT qui định:

Cơ sở sản xuất kinh doanh, xây dựng, vận tải hoạt động kinh doanh trong ba năm đầu (1999, 2000, 2001) nếu áp dụng thuế GTGT mà bị lỗ do số thuế GTGT phải nộp của các hoạt động này lớn hơn số thuế phải nộp tính theo mức thuế doanh thu trước đây thì được xét giảm thuế GTGT Thuế được xét giảm theo từng năm (tính theo năm dương lịch)

Trang 20

- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế hàng quí nếu số thuế đầu vào được khấu trừ của các tháng trong quí lớn hơn số thuế đầu ra hoặc được hoàn thuế đầu vào của tài sản cố định theo điểm c khoản I điều 10 của luật thuế GTGT

- Quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản có số thuế nộp thừa;

- Quyết định xử lí hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo qui định của pháp luật

4 Những ưu điểm, thách thức đặt ra và điều kiện áp dụng thuế GTGT

4.1 Ưu điểm

Là một loại thuế gián thu, thuế GTGT cũng như thuế doanh thu đảm bảo cho mọi người có thể tự do lựa chọn hàng hoá, quyết định tiêu dùng để chịu thuế cao hay thấp tuỳ thuộc vào khả năng chi trả, sở thích của mình Thuế GTGT tránh được mối quan hệ trực tiếp giữa người tiêu dùng - người chịu thuế, với cơ quan thuế nên có phần dễ thu hơn thuế trực thu Đồng thời việc điều chỉnh tăng mức thuế suất cũng dễ hơn do thuế nằm ẩn trong giá cả hàng hoá, dịch vụ Người chịu thuế thường ít cảm nhận ngay đầy đủ gánh nặng thuế Do vậy phản ứng của dân chúng về thuế gián thu càng ít gay gắt hơn thuế trực thu Về mặt quản lí, thuế GTGT và thuế doanh thu không quan tâm tới các khoản chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp nên chi phí sản xuất có phần thấp hơn thuế trực thu

Trang 21

Để minh hoạ ưu điểm này, ta trở lại ví dụ ban đầu về cơ chế vận hành của thuế GTGT với giả định thuế suất thuế doanh thu là 5% Số thuế qua mỗi công đoạn sẽ là:

Người khai thác phải nộp: 100  5% = 5

Người sản xuất phải nộp: 200  5% =10

Người bán buôn phải nộp: 250  5% = 12,5

Người bán lẻ phải nộp: 300  5% = 15

Như vậy, tổng số thuế doanh thu phải nộp là 42,5

Mục tiêu của thuế doanh thu là thu trên sản phẩm tiêu thụ nhưng với cách đánh như vậy đã tạo ra các khoản tính trùng lắp, vì thuế chồng lên thuế khiến cho tổng số thuế quá cao, thực chất là 14,17% (42,5/300) chứ không phải là 5% như qui định

Còn nếu đánh thuế theo phương pháp thuế GTGT thì người nộp thuế được khấu trừ các khoản thuế GTGT đã nộp trước đó nên tổng số thuế phải nộp chỉ là 30 Như vậy, thuế suất thuế GTGT tuy cao gấp 2 lần thuế suất thuế doanh thu nhưng mức thuế phải nộp lại thấp hơn và hợp lí hơn vì không bị đánh trùng thuế

* Về mặt kinh tế, thuế GTGT có những ưu điểm lớn là tác động đến sự phát triển kinh tế

Hạn chế lớn nhất của thuế doanh thu đối với việc khuyến khích phát triển sản xuất là kìm hãm chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, việc sản xuất một loại sản phẩm càng qua nhiều công đoạn do các doanh nghiệp độc lập thực hiện thì tổng số thuế doanh thu mà các chủ doanh nghiệp phải nộp càng lớn và lợi nhuận của họ càng giảm tương ứng Vì vậy, các doanh nghiệp có khuynh hướng đối phó với thuế doanh thu bằng cách hội nhập theo chiều ngang

Trang 22

Thuế GTGT với việc khấu trừ thuế đã nộp đầu vào, đã xoá bỏ được hạn chế nói trên và có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá sản xuất, chuyên môn hoá, đầu tư mới và hạ giá thành sản phẩm

Thuế GTGT thay cho thuế doanh thu đánh trùng có tác dụng khuyến khích xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất khẩu và thu ngoại tệ về cho nhà nước Bởi vì, thông thường hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% nên nó đảm bảo cho hàng hoá xuất khẩu được hoàn lại số thuế GTGT đã nộp trong thị trường nội địa, chi phí hàng xuất khẩu có điều kiện giảm xuống, tạo cơ hội thuận lợi cho việc cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Mặt khác đối với hàng nhập khẩu, ngoài việc nộp thuế nhập khẩu còn phải chịu thuế GTGT như các hàng hoá tương ứng được tiêu dùng trong nước Do đó có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước

Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốn nên góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nước ta trong thời gian tới

* Đối với NSNN, thuế GTGT có ưu điểm là trung lập về mặt kinh tế, đem lại

số thu tương đối lớn cho ngân sách bởi phạm vi điều tiết của thuế GTGT rất rộng: thu vào mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hoá dịch vụ Mặt khác,

nó là một loại thuế gián thu ứng vào giá bán nên dễ thu hơn các loại thuế trực thu khác

* Đối với cơ quan thuế, thuế GTGT cho phép chống trốn lậu thuế có hiệu quả tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau về thuế giữa các đơn vị có liên quan trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ Việc khấu trừ thuế được thực hiện dựa vào hoá đơn đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán đưa hoá đơn, ghi đúng, ghi đủ các chỉ tiêu, khắc phục tình trạng thông đồng giữa người bán và người mua vì quyền lợi của họ mâu thuẫn nhau Việc tính thuế ở giai đoạn sau có sự kiểm tra, giám sát việc nộp thuế ở giai đoạn trước tạo môi trường thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao, vì nếu giai đoạn trước không đóng thuế thì giai đoạn sau sẽ bị đánh nặng hơn và thuế GTGT sẽ cao hơn Chỉ có giai đoạn bán lẻ mới có điều kiện để trốn thuế nhưng giai đoạn này GTGT

Trang 23

không lớn nên nếu có trốn thuế thì số thuế cũng không nhiều Hoặc trường hợp cung ứng dịch vụ thuần tuý cũng có khả năng trốn thuế, nhưng với trường hợp này thì nhìn chung thuế doanh thu có khả năng trốn cao hơn vì thuế cao hơn

* Đối với người nộp thuế: thuế GTGT là một phương pháp thu tiên tiến, nâng cao được tinh thần tự giác và nghĩa vụ của người nộp thuế Việc giành quyền

tự kê khai cho người nộp thuế có ưu điểm về phương diện tâm lí và pháp lí, họ được tự do không bị ép buộc Ngược lại, cơ quan thuế cũng rất dễ dàng kiểm tra đối với những trường hợp kê khai không đúng Cách thu này buộc người mua, người bán, cơ quan thuế phải lưu giữ biên lai, chứng từ, hồ sơ thu thuế cẩn thận, làm cho người nộp thuế quen với cơ chế thuế dựa trên cơ sở hoá đơn Điều này rất có ý nghĩa đối với nước ta hiện nay

áp dụng thuế GTGT đồng thời với việc sử dụng một số sắc thuế gián thu khác (Thuế tiêu thụ ĐB, Thuế xuất nhập khẩu .) sẽ góp phần làm hệ thống thuế ở Việt nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với cơ chế thị trường, tương đồng với thông lệ Quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để Việt nam hội nhập với sự phát triển chung của khu vực và Thế giới Đặc biệt trong bối cảnh của nước ta hiện nay, đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN và AFTA

Tóm lại, trong các sắc thuế gián thu, thuế GTGT được đánh giá là loại thuế có nhiều tiến bộ, có thể đảm bảo mục tiêu của hệ thống thuế là tạo nguồn thu lớn cho NSNN, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và đảm bảo được tính trung lập cao của thuế, phù hợp với xu thế chung trên thế giới

độ hoá đơn, chứng từ đầy đủ, hạch toán kế toán rõ ràng Vì vậy, có thể xảy ra hiệu

Trang 24

ứng phụ khi áp dụng thuế GTGT như giá cả tăng, nguồn thu giảm Đối với các nước đang thực hiện thuế doanh thu một giai đoạn chuyển sang áp dụng thuế GTGT thì số người trả thuế tăng rất lớn Điều này làm cho việc quản lí thuế vừa tốn kêm, vừa bề bộn Để quản lí tốt thuế GTGT đòi hỏi việc ghi hoá đơn, sổ sách kế toán của người nộp thuế phải đầy đủ, rõ ràng Điều này khiến chi phí quản lí và thu thuế GTGT khá cao so với thuế doanh thu

- Việc quản lí thuế GTGT đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ nếu không xảy ra tình trạng số thuế hoàn trả cao hơn số thuế thu được Mặt khác, việc hoàn trả thuế tràn lan không kiểm soát được sẽ làm cho ngân sách bị động

- Thuế GTGT mang tính luỹ thoái cho nên thường thiếu công bằng Vì vậy, khi áp dụng thuế GTGT thường phải kết hợp với các loại thuế trực thu khác như thuế thu nhập luỹ tiến để điều tiết thu nhập của các đối tượng

- Thuế GTGT mang tính trung lập cao nên nó thiếu uyển chuyển, mềm dẻo như thuế doanh thu Do đó, việc qui định mức thuế suất và lựa chọn bao nhiêu thuế suất là vấn đề rất quan trọng để nó có thể phù hợp với các nước có nền kinh tế mới chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế như nước ta chẳng hạn

- Việc áp dụng thuế GTGT đòi hỏi yêu cầu cao đối với hệ thống văn bản pháp qui cũng như đối với bộ máy thu thuế và quản lí thuế

- Việc áp dụng thuế GTGT đòi hỏi yêu cầu cao về cơ sở số liệu, hạch toán kế toán, hoá đơn và luân chuyển hoá đơn, chứng từ cũng như trình độ nhận thức của mọi đối tượng liên quan từ nhà nước đến doanh nghiệp và nhân dân

- Giữa lí luận và thực tiễn thuế GTGT cũng có những điểm chưa được nhất quán Thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm nhưng đối với một số ngành dịch

vụ (phục vụ, sửa chữa, chuyển giao cônh nghệ, dịch vụ khoa học ), cách đánh thuế

và khấu trừ thuế GTGT như thế nào là hợp lí ? Đối với tài sản cố định, mức khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn đầu vào như thế nào là thoả đáng ? Những vấn đề này là nội dung tranh luận trong nhiều cuộc hội thảo trên thế giới, nhưng đến nay ở nhiều nước vẫn có quan điểm và cách xử lí rất khác nhau

Trang 25

4.3 Điều kiện áp dụng thuế GTGT ở nước ta

Để áp dụng thuế GTGT có hiệu quả, đòi hỏi phải thoả mãn một số điều kiện chủ yếu sau:

- Nền kinh tế phát triển và thực hiện cơ chế quản lí kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường

Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, thuế GTGT là một trong những đặc điểm riêng có của nền kinh tế thị trường phát triển vì trong hoàn cảnh đó giá cả hàng hoá thường ổn định Giá cả hàng hoá ở khâu sau thường cao hơn khâu trước, đảm bảo cho việc khấu trừ thuế trở thành phổ biến, trường hợp phải hoàn thuế do giá đầu ra thấp hơn đầu vào hầu như không xảy ra hoặc chỉ là cá biệt

Cơ chế thị trường với đặc trưng là cạnh tranh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao, tự nó sẽ điều chỉnh sự phát triển sản xuất kinh doanh, dẫn tới sự điều chỉnh vốn giữa các ngành nghề theo qui luật tỉ suất lợi nhuận bình quân Đây chính là cơ sở để

áp dụng thuế GTGT có tính trung lập cao với một hoặc ít mức thuế suất song vẫn đảm bảo sự tồn tại và tính cạnh tranh một cách bình đẳng giữa các doanh nghiệp Do

đó, thuế GTGT phù hợp với cơ chế thị trường hơn thuế doanh thu Trong nền kinh tế thị trường phát triển tốt, thuế GTGT mới phát huy được tác dụng khuyến khích tăng cường đầu tư để chuyên môn hoá sản xuất cao, phục vụ tốt yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH đất nước

- Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh ổn định và có hiệu quả Các doanh nghiệp và các hộ đều phải hạch toán được kết quả hoạt động kinh doanh của mình theo đúng chế độ kế toán hiện hành Phải có cơ chế

sử dụng hoá đơn, chứng từ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn và vừa phải được

Trang 26

- ý thức tự nguyện, tự giác chấp hành các nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp phải tốt và không ngừng nâng lên thêo phương châm “ đức trị ”, gắn với việc xử lí các vi phạm về thuế nghiêm minh theo phương châm “ pháp trị ”

- Cán bộ quản lí thu thuế phải tinh thông về nghiệp vụ thuế GTGT, đủ năng lực thực hiện các qui trình kỹ thuật quản lí và thu thuế theo đúng qqui định của Nhà nước

- Hệ thống pháp luật thuế phải ngày càng hoàn chỉnh, đưa dần việc thực hiện pháp luật vào nề nếp, kỉ cương trong cả nhận thức cũng như hành độnh thực tế

Ngoài 6 điều kiện trên, việc áp dụng thuế GTGT còn đòi hỏi phải:

+ Có hệ thống máy tính đủ mạnh để phục vụ cho công tác theo dõi, tổng hợp, kiểm tra đối chiếu số liệu, tài liệu có liên quan đến việc tính thuế được nhanh chóng và chính xác

+ Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức cơ bản về thuế GTGT của các doanh nghiệp và cho nhân dân phải được tiến hành tốt

+ Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ kiểm soát viên thuế

+ Về mặt pháp luật, phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, có bộ phận xử

lí những vấn đề nảy sinh trong công tác thực hiện luật thuế GTGT

Mỗi điều kiện trên đều có vai trò, vị trí quan trọng nhất định, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ Các điều kiện này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để việc triển khai luật thuế GTGT được đồng bộ và đạt hiệu quả cao

Trang 27

5 Sự cần thiết áp dụng thuế GTGT trong điều kiện hiện nay ở nước ta

Trước tình hình thực tế của nước ta hiện nay, qua phân tích lí luận về ưu, nhược điểm của nó đã khẳng định việc ban hành luật thuế GTGT thay thế thuế doanh thu là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan Sự cần thiết áp dụng thuế GTGT ở nước ta xuất phát từ các lí do sau:

- Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của thuế doanh thu đang có biểu hiện không còn phù hợp với cơ chế thị trường ở nước ta

- Xuất phát từ những ưu điểm của thuế GTGT như không trùng lắp, có tính trung lập cao, thu thuế sát với thực tế, thúc đẩy việc thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán nên việc áp dụng thuế GTGT là yếu tố quan trọng thúc đẩy tiết kiệm và tiêu dùng, thúc đẩy các doanh nghiệp bình đẳng trong cạnh tranh, chú ý tới hiệu quả sản xuất kinh doanh nhiều hơn

để tồn tại và phát triển

- Từ tình hình thực tế ở nước ta hiện nay một mặt đòi hỏi phải áp dụng thuế GTGT để khuyến khích sản xuất, xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, tăng thu cho NSNN thực hiện CNH - HĐH đất nước Mặt khác, chúng ta đã có những tiền

đề cần thiết cho phép có thể áp dụng thuế GTGT trong tình hình hiện nay

- Việc áp dụng thuế GTGT sẽ giúp cho việc thu thuế ngày càng sát với thực tế, chống thất thu thuế có hiệu quả, đảm bảo số thu cho NSNN, đồng thời tập trung được số thuế với số lượng lớn do thuế được thu ngay từ khâu đầu tiên của quá trình sản xuất

- Về mặt tâm lí, thuế GTGT sẽ xoá bỏ được những định kiến nặng nề về thuế doanh thu nói riêng và cả hệ thống thuế nói chung, vì nó xoá bỏ được nhược điểm thuế chồng lên thuế, tạo điều kiện chuyên môn hoá được tốt hơn

Trang 28

Chương II: Tình hình triển khai áp dụng thuế GTGT đối với hoạt động bưu chính

viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội

I Một vài nét về đặc điểm hoạt động nghành BCVT và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí thu thuế phòng thuế Giao thông - Bưu điện - Xây dựng

1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Hà nội

So với các tỉnh, thành phố khác, Hà nội có lợi thế là thủ đô của cả nước, được Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển thành trung tâm Kinh tế - Văn hoá - Xã hội của cả nước Bên cạnh đó, Hà nội có địa thế và vị trí rất thuận lợi để phát triển kinh

tế, Hà nội còn là đầu mối giao thông lớn nhất nước ta Vì vậy, từ khi tiến hành đổi mới, diện mạo của thành phố không ngừng thay đổi.Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm

1998 đạt khoảng 9% trong khi tốc độ tăng trưởng của cả nước chỉ là 5,8%

Mặc dù mức tăng trưởng có chậm lại so với năm 1997 (khoảng 10%), do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực bùng nổ từ năm

1997 nhưng các ngành công nghiệp, dịch vụ vẫn có tốc độ tăng trưởng cao Thu nhập bình quân đầu người ở Hà nội đạt 8.941.700 đồng \ người

Cùng với sự phát triển, tăng trưởng của nền kinh tế, hoạt động BCVT cũng chịu sự tác động không nhỏ Ngành BCVT trên địa bàn thành phố Hà nội chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế,chính trị tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho hoạt động BCVT

Trong những năm vừa qua, thực hiện chủ trương mở cửa của Nhà nước, Hà nội đã đi đầu trong việc thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước mà trong đó yêu cầu đặt ra đối với hoạt động BCVT là rất lớn, hoạt động BCVT phải góp phần tạo điều kiện cơ sở vật chất cho các ngành kinh tế phát triển

Hệ thống thông tin liên lạc phải không ngừng củng cố và phát triển phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới Vì vậy,thành tựu đạt được của tất cả các ngành, của nền kinh tế đều có sự tham gia đóng góp của ngành BCVT Nhờ vậy, mà

số thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà nội không ngừng tăng lên qua các năm

Trang 29

2 Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp BCVT trên địa bàn thành phố Hà nội

BCVT là ngành sản xuất vật chất thuộc kết cấu hạ tầng bao gồm cả bưu chính lẫn viễn thông, vừa phục vụ cho việc quản lí, điều hành của nhà nước, vừa trực tiếp tham gia vào sản xuất với tư cách là yếu tố đầu vào quan trọng tạo ra sản phẩm xã hội

Là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, hoạt động BCVT có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Trước hết, hoạt động BCVT cung cấp mọi thông tin cơ bản, cần thiết cho sản xuất, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động SXKD phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân

Trang 30

dân, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của đất nước Mặt khác, hoạt động BCVT còn là công cụ để nhà nước quản lí và điều hành mọi hoạt động của đất nước qua việc sử dụng hệ thống các phương tiện thông tin liên lạc Sự phát triển của hoạt động BCVT còn tạo ra những điều kiện để hợp tác quốc tế, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, thực hiện quá trình CNH-HĐH đất nước

2.1 Những thành tựu đạt được trong thời gian qua

Trong những năm vừa qua, hoạt động BCVT không ngừng tăng cả về số lượng và chất lượng phục vụ Sự phát triển của hoạt động BCVT đã góp phần làm thay đổi diện mạo của thành phố Hà nội nói riêng và của cả đất nước nói chung

Xét riêng trên lĩnh vực viễn thông, chúng ta đã có những bước tiến xa bắt kịp với nhịp độ phát triển của sự tiến bộ kỹ thuật viễn thông trên thế giới Mạng lưới viễn thông quốc tế được mở rộng, hiện nay chúng ta có hơn 5000 số kênh liên lạc quốc tế, tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư của nước ngoài Mạng lưới viễn thông trong nước cũng luôn được mở rộng, số điện thoại thuê bao thu cước cũng tăng mạnh tạo điều kiện tăng doanh thu cho hoạt động BCVT

Bảng 3: Số thuê bao điện thoại

Chỉ tiêu 1995 1996 1997 1998

1- Tổng máy điện thoại 746.467 1.164.547 1.839.000 2.670.000

2- Mật độ ĐT/100 dân 1,06 1,6 2,4 3,4

3- Số máy tại Hà nội 138.051 214.276 249.864 295.887

Các dịch vụ viễn thông ngày càng được phát triển với diện rộng Nhiều dịch

vụ mới được mở ra đưa vào hoạt động rất có hiệu quả như: dịch vụ thông tin di động, dịch vụ nhắn tin, điện thoại thẻ,108

Về lĩnh vực bưu chính và phát hành báo chí cũng có những bước tiến đáng kể Sản lượng bưu chính và phát hành báo chí tăng trưởng mạnh, mạng lưới phát hành

Trang 31

được mở rộng, nhiều loại hình mới ra đời và phát triển,chất lượng phục vụ được nâng cao và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của xã hội

Với những thành tựu đạt được như vậy, ngành BCVT có thể được coi là ngành

có số thu tăng trưởng nhanh và ổn định nhất trong nền kinh tế quốc dân

Bảng 4: Tình hình thực hiện doanh thu

tệ cũng tăng khá, đặc biệt là trong những năm gần đây Đây là kết quả rất đáng khích

lệ Ngành Bưu chính viễn thông đã đóng góp không nhỏ tỷ lệ động viên qua thuế và ngân sách nhà nước

Bảng 5: Tình hình nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp Bưu chính viễn thông

trên địa bàn thành phố Hà nội

Trang 32

- Các văn bản pháp qui thường ra đời châm hơn so với thực tế phát triển Một

số điều lệ qui định không còn phù hợp với điều kiện hiện nay, gây trở ngại cho hoạt động của toàn ngành

- Công tác quản lí chưa thực sự đi trước nhu cầu phát triển của toàn mạng Công tác báo cáo tổng hợp phục vụ quản lí còn chưa có sự thống nhất trong toàn ngành

- Cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị còn nhiều thiếu thốn Trình độ đội ngũ cán bộ, công nhân trong ngành còn nhiều hạn chế chưa bắt kịp với xu hướng phát triển của hoạt động BCVT thế giới

3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí thu thuế phòng thuế GT- BĐ- XD

Với tiềm năng to lớn của hoạt động BCVT, ngay từ đầu lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo cho cục thuế Hà nội và các cơ sở ban ngành có liên quan quản lí chặt chẽ hoạt động của khu vực này để phát huy hiệu quả kinh tế xã hội, phục vụ cho lợi ích của thành phố và đất nước

Như vậy, cục thuế Hà nội có chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng, là cơ quan trực tiếp thực hiện quản lí thu thuế đối với tất cả các tổ chức và cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà nội, là đơn vị thực hiện các chỉ tiêu

kế hoạch của nhà nước giao cho

Cục thuế Hà nội được thành lập từ năm 1990 trải qua một quá trình phát triển

và không ngừng hoàn thiện, hiện nay trong cơ cấu bộ máy tổ chức của cục bao gồm

17 phòng ban trong đó có 8 phòng quản lí thu thuế và 9 phòng ngiệp vụ Ngoài ra, còn có 12 chi cục thuế quận huyện trên khắp địa bàn thành phố Hà nội Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên chức của cục là khoảng hơn 1000 người

Trang 33

Cục đã chỉ đạo thành lập phòng thuế GT- BĐ- XD (gọi tắt là phòng giao thông) phụ trách thu mảng giao thông, bưu điện, xây dựng, vận tải của các đơn vị quốc doanh trung ương và địa phương Phòng được thành lập từ năm 1990 đến nay

và cùng với sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động sản xuất, phòng ngày càng được

mở rộng và phát triển

Hiện nay, phòng có 29 cán bộ quản lí hơn 400 đối tượng nộp thuế Mặc dù với

số lượng cán bộ ít như vậy nhưng phòng thuế GT- BĐ- XD luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế hoạch của cục thuế Hà nội giao cho Phòng liên tục nhiều năm liền được phần thưởng của uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội và của BTC, và cao nhất được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng 3

Cán bộ trong phòng thuế GT- BĐ- XD đều có trình độ từ đại học trở lên, trong

đó có những người có hai bằng đại học, có người đang học cao học Với sự cố gắng phấn đấu thi đua liên tục, phòng đã tăng cường bám sát nguồn thu, tích cực khai thác nguồn thu, chống thất thu thuế, nợ đọng thuế đảm bảo đưa số thu luôn tăng lên vượt kế hoạch

II Tình hình triển khai áp dụng thuế GTGT đối với hoạt động BCVT trên địa bàn thành phố Hà nội

1 Công tác chuẩn bị và cấp mã số đối tượng nộp thuế

1.1 Về phía ngành thuế

Để chuẩn bị cho việc đưa luật thuế GTGT đi vào thực hiện, ngay từ đầu năm

1998, ngành thuế đã mở nhiều lớp tập huấn về chính sách, chế độ nghiệp vụ quản lí cho cán bộ trong ngành và chuẩn bị các điều kiện thực hiện qui trình quản lí thuế mới

Tiếp đó, cán bộ phòng thuế GT- BĐ- XD đã kết hợp với chi hội kế toán, triển khai hướng dẫn thực hiện nội dung luật thuế GTGT và nghị định số 28 - NĐ/28/1998/NĐ-CP cho các doanh nghiệp BCVT Phòng thuế GT-BĐ-XD cũng đã trực tiếp cử người xuống một số đơn vị trọng điểm như: Tổng công ty BCVT, Bưu điện Hà nội hướng dẫn, giải thích chính sách, nghiệp vụ tính toán và kê khai thuế cũng như hướng dẫn việc sử dụng hoá đơn chứng từ của ngành BCVT

Trang 34

Bộ tài chính đã ra thông tư số 164 - TT164/1998/TT-BTC ngày 17 tháng 12 năm 1998 hướng dẫn thực hiện thuế GTGT đối với hoạt động dịch vụ BCVT Đồng thời, bổ sung vào hệ thống tài khoản kế toán hiện hành tài khoản 133 “thuế GTGT được khấu trừ” và đổi tên tài khoản 3331 thành tài khoản “thuế GTGT phải nộp”

Do các doanh nghiệp BCVT đều thực hiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nên đều áp dụng tài khoản 133 Tài khoản 133 có 2 tài khoản cấp hai:

- Tài khoản 1331: Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá, dịch vụ

- Tài khoản 1332: Thuế GTGT được khấu trừ của tài sản cố định

Bộ tài chính cũng có quyết định cho phép nghành Bưu chính viễn thông được

sử dụng hoá đơn tự in theo quyết định 885 của Bộ tài chính Đồng thời Bộ tài chính cũng ra quyết định số 3417 / QĐ-KTTKTC ngày 29 tháng 10 năm 1998 về việc quản

lí, sử dụng, hoá đơn chứng từ của ngành BCVT và yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện đúng đắn, đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ để làm cơ sở cho việc tính toán

số thuế phải nộp Theo quyết định số 3417, có các loại hoá đơn GTGT - BCVT như sau:

- Hoá đơn GTGT dịch vụ bưu chính: BC 01

- Hoá đơn GTGT dịch vụ viễn thông: VT 01

- Hoá đơn GTGT bưu chính viễn thông: BĐ 01

- Hoá đơn dùng cho công ty VMS: VMS

- Đối với các loại tem in sẵn giá thanh toán, ngành được phép tự in theo mẫu đã được duyệt của tổng cục thuế

Cục thuế Hà nội và phòng thuế GT-BĐ-XD đã thực hiện hướng dẫn cho các đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp BCVT đăng kí và nhận mã số mới

Trước đây, khi áp dụng thuế doanh thu, cơ quản lí các doanh nghiệp BCVT theo chế độ cán bộ chuyên quản Các cán bộ chuyên quản có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp BCVT kê khai nộp thuế và đôn đốc các đơn vị thu nộp thuế, làm quyết toán thuế, kiểm tra và tính thuế Nay chuyển sang việc áp dụng thuế GTGT theo phương thức doanh nghiệp tự kê khai, tự tính thuế, cơ quan thuế quản lí việc kê khai và tính thuế của các đối tượng nộp thuế qua mã số thuế

Trang 35

Như vậy, cục thuế Hà nội quản lí tất cả các doanh nghiệp BCVT hoạt động trên địa bàn thành phố Hà nội và đã gán mã số cho các doanh nghiệp BCVT được thành lập trước ngày 31/12/98 và thực hiện việc cấp mã số thuế cho các doanh nghiệp BCVT mới thành lập theo tờ khai đăng kí thuế của các đơn vị

Mã số thuế là một dãy số được qui định theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng đối tượng nộp thuế Mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp duy nhất một

mã số trong suốt quá trình hoạt động, từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt hoạt động Mã số thuế được cấp cho đối tượng nộp thuế sẽ không được sử dụng để cấp lại cho đối tượng nộp thuế khác

Do đó, mỗi doanh nghiệp BCVT chỉ được cấp một mã số duy nhất trong suốt quá trình hoạt động và không trùng lặp Mã số thuế của các doanh nghiệp BCVT có cấu trúc:

- Chữ số N14 là mã phương pháp tính thuế GTGT Do các doanh nghiệp BCVT đều nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế nên chỉ có mã số này là 0 và 1

+ 0 ứng với các doanh nghiệp BCVT không phải nộp thuế GTGT

+ 1 ứng với các doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế

Việc cấp mã số thuế cho các doanh nghiệp BCVT nói riêng và toàn bộ các đối tượng nộp thuế nói chung sẽ giúp cơ quan thuế nắm và khai thác mọi thông tin về từng đối tượng nộp thuế một cách nhanh chóng và chính xác, làm giảm chi phí quản

lí hành chính về thuế của cơ quan thuế

Trang 36

Đến ngày 1/1/1999, toàn bộ các doanh nghiệp BCVT trên địa bàn thành phố

Hà nội đều đã đăng kí và được cấp mã số thuế đầy đủ

Bảng 6: Mã số thuế của các doanh nghiệp BCVT

trên địa bàn thành phố Hà nội

Tên doanh nghiệp Mã số thuế

1- Tổng công ty BCVT Việt Nam 0100684378

2- Bưu điện Hà nội 0100686223

3- Công ty viễn thông quốc tế 0100692192

4- Nhà máy vật liệu bưu điện 0100682645

5- Nhà máy thiết bị bưu điện 0100686865

6- Công ty thiết bị điện thoại 0100686181

7- Nhà xuất bản bưu điện 0100682317-0

8-Trung tâm viễn thông khu vực I 0100686216-001

Bên cạnh đó, để chuẩn bị áp dụng luật thuế GTGT, ngành thuế và cục thuế Hà nội đã đưa công nghệ tin học vào ứng dụng trong công tác quản lí thu thuế, quản lí đối tượng nộp thuế qua mã số thuế

1.2 Về phía các doanh nghiệp BCVT

Để chuẩn bị cho việc áp dụng thuế GTGT, các doanh nghiệp BCVt đã tổ chức cho nhân viên của các bộ phận liên quan đến công tác thu mua hàng hoá, vật tư, bán hàng hoá, dịch vụ và các nhân viên kế toán học tập nội dung, yêu cầu của luật thuế GTGT Đặc biệt là chế độ ghi chép, tính thuế ngay trên hoá đơn, chứng từ

Đồng thời, các doanh nghiệp BCVT cũng tổ chức phân định lại qui trình quản

lí, luân chuyển, lưu giữ hoá đơn, chứng từ của hàng hoá, dịch vụ mua vào, để phục

vụ tốt cho công tác theo dõi, kế toán số thuế được khấu trừ

Trang 37

Tổ chức sắp xếp lại các khâu kế toán mua hàng, kế toán bán hàng, kế toán thanh toán, chỉnh lại phần mềm máy tính để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thuế GTGT

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp BCVT cũng tiến hành mở các sổ nghiệp vụ có liên quan trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT như sổ BĐ1, BK1, S/TK1-BĐ

Tổ chức lại công tác hạch toán và luân chuyển chứng từ, hoá đơn bán hàng, mua hàng ở các doanh nghiệp BCVT có xí nghiệp hạch toán phụ thuộc

2 Tình hình quản lí việc kê khai và tính thuế

Hàng tháng các doanh nghiệp BCVT tự kê khai và nộp tờ khai thuế GTGT tháng trước trong vòng 10 ngày đầu tháng lên bộ phận tiếp nhận tờ khai thuế của cục thuế Hà nội Nhưng do trong thời gian đầu mới áp dụng với cơ chế quản lí thu thuế mới nên cơ quan thuế thường có những biện pháp nhắc nhở giúp doanh nghiệp nộp tờ khai đúng hạn Sau khi được kiểm tra, đóng dấu kí nhận và ghi sổ theo dõi tờ khai, các tờ kê khai thuế này được chuyển về phòng thuế GT-BĐ-XD để kiểm tra và quản

lí, theo dõi tình hình kê khai Cán bộ phòng thuế GT-BĐ-XD trực tiếp kiểm tra các

tờ kê khai thuế của doanh nghiệp xem có lỗi hay không, nếu có thì mời doanh nghiệp lên sửa lại trước ngày 15 của tháng và theo dõi các đối tượng chưa nộp tờ kê khai thuế đầy đủ, đúng hạn để thực hiện việc ấn định thuế GTGT cho các đối tượng này Sau khi kiểm tra và sửa lỗi, phòng chuyển các tờ khai và danh sách ấn định thuế sang phòng KH-KT-TK(MT) trước ngày 15 để tính thuế và ra thông báo thuế

Bảng 7: Tình hình nộp tờ khai thuế GTGT của các doanh nghiệp BCVT quí I/99

Chỉ tiêu Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3

Tỉ lệ % nộp tờ khai 86 97 100

Như vậy, sau ba tháng áp dụng luật thuế GTGT, nhìn chung ý thức tự giác của các doanh nghiệp đã tăng lên Nếu như trong tháng đầu áp dụng thuế GTGT số doanh nghiệp nộp tờ khai đúng hạn chỉ là 86%, thì sang đến tháng 2, 97% doanh nghiệp kê

Ngày đăng: 06/03/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ chế vận hành của thuế GTGT - LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot
Bảng 1 Cơ chế vận hành của thuế GTGT (Trang 14)
Bảng 3: Số thuê bao điện thoại - LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot
Bảng 3 Số thuê bao điện thoại (Trang 30)
Bảng 4: Tình hình thực hiện doanh thu. - LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot
Bảng 4 Tình hình thực hiện doanh thu (Trang 31)
Bảng 5: Tình hình nộp ngân sách nhà nước   của các doanh nghiệp Bưu chính viễn thông - LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot
Bảng 5 Tình hình nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp Bưu chính viễn thông (Trang 31)
Bảng 6:  Mã số thuế của các doanh nghiệp BCVT - LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot
Bảng 6 Mã số thuế của các doanh nghiệp BCVT (Trang 36)
Bảng 9:  Tình hình kê khai thuế GTGT đầu vào của các - LUẬN VĂN: Tình hình triển khai áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hà nội pot
Bảng 9 Tình hình kê khai thuế GTGT đầu vào của các (Trang 43)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w