Phân tích tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng bảo hiểm khu vực 7 – công ty cổ phần Petrolimex giai đoạn 2003 – 2007
Trang 1MSSV Họ và tên Lớp Tên đề tài Giáo viên
hướng dẫn
CQ462501 Vũ Thị Thảo Bảo Hiểm46B Phân tích tình hình khai thác
bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng Bảo hiểm khu vực VII - Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex
ThS Tôn Thị Thanh Huyền
Trang 2Mục lục
Các từ viết tắt 4
Danh mục sơ đồ, bảng biểu 5
Lời mở đầu 6
Chương I Lý thuyết về khai thác bảo hiểm vật 8
chất xe cơ giới 8
I Nội dung lý thuyết cơ bản về bảo hiểm vật chất xe cơ giới 8
1.Tai nạn giao thông đường bộ và ý nghĩa của bảo hiểm vât chất xe cơ giới 8
1.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ 8
1.2 Ý nghĩa của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 10
2 Đối tượng, phạm vi của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 12
2.1 Đối tượng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 12
2.2 Phạm vi bảo hiểm 14
3 Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, Phí bảo hiểm 16
3.1 Giá trị bảo hiểm 16
3.2 Số tiền bảo hiểm 17
3.3 Phí bảo hiểm 17
II Hoặt động khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới 22
1 Vai trò của hoặt động khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới 22
2 Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới 24
2.1 Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới 24
2.2 Nhiệm vụ của khai thac viên bảo hiểm 29
3.Chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới 29
Trang 33.2 Hiệu quả khai thác 31
Chương II Phân tích tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7 – công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2003-2007 32
I Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) 32
1 Giới thiệu về PJICO 32
1.1 Quá trình thành lập và phát triển 32
1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex ( PJICO) 33
1.3 Tình hình hoặt động kinh doanh của PJICO giai đoạn 2005-2007 34
2 Giới thiệu về văn phòng bảo hiểm 7 – công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) 38
2.1 Quá trình thành lập, phát triển và có cấu tổ chức của văn phòng 7 38
2.2 Tình hình kinh doanh của văn phòng BH khu vực 7 – PJICO giai đoạn 2005 – 2007 39
II Thực trạng khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng BH khu vực 7 – công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2003 – 2007. .42
1 Vài nét về tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại PJICO giai đoạn 2003 – 2007 42
2 Thực trạng hoạt động khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7 – PJICO giai đoạn 2003 – 2007 44
2.1 Thực hiện quy trình khai thác 44
2.2 Kênh khai thác tại văn phòng BH 7 53
2.3 Thực hiện kế hoạch khai thác 56
2.4 Kết quả và hiệu quả khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7 – PJICO giai đoạn 2003 – 2007 58
Trang 42.4.1 Kết quả khai thác 582.4.2 Hiệu quả khai thác 632.5 Đánh giá chung 66
Chương III Giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm vật chất xe
cơ giới tại văn phòng BH khu vực 7 – PJICO 71
I Phương hướng và mục tiêu hoặt động trong những năm tới của văn phòng 7 71
II Một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả hoặt động của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới 72
1 Giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác BH vật chất xe cơ giới tại văn phòng bảo hiểm khu vực 7 – PJICO 72
1.1 Đối với khai thác viên: 723.2 Đối với dịch vụ khách hàng: 76
2 Giải pháp đối với công ty cổ phần bảo hiểm Ptrolimex về việc khai thác
BH vật chất xe cơ giới 78
Kết luận 83 Danh mục tài liệu tham khảo 84
Trang 5Các từ viết tắt
BH : Bảo hiểm
DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm
KDBH : Kinh doanh bảo hiểm
HĐBH : Hợp đồng bảo hiểm
SPBH : Sản phẩm bảo hiểm
KTX : Khai thác viên
ĐLBH : Đại lý bảo hiểm
GYCBH : Giấy yêu cầu bảo hiểm
GCNBH : Giấy chứng nhận bảo hiểm
DTBQ : Doanh thu bình quân
HQKT : Hiệu quả khai thác
STBH : Số tiền bảo hiểm
GTBH : Giá trị bảo hiểm
Trang 6Danh mục sơ đồ, bảng biểu
2 Hình 2: Quy trình khai thác BH vật chất xe cơ giới 24
4 Hình 4: Quy trình khai thác BH vật chất xe cơ giới tại PJICO 45
5 Hình 5: Tỷ trọng doanh thu phí BH vật chất xe cơ giới trong tổng
doanh thu phí tại văn phòng 7 – PJICO giai đoạn 2003 - 2007
11 Bảng 6: Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác BH vật chất xe cơ
giớ tại văn phòng 7 – PJICO giai đoạn 2003 – 2007
56
12 Bảng 7: Kết quả khai thác BH vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7 –
PJICO giai đoạn 2003 – 2007
58
13 Bảng 8: Tỷ lệ doanh thu phí BH vật chất xe cơ giới so với tổng
doanh thu phí tại văn phòng 7 – PJICO giai đoạn 2003 – 2007
61
14 Bảng 9: Hiệu quả khai thác BH vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7
– PJICO giai đoạn 2003 – 2007
64
Lời mở đầu
Trang 7Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều thay đổi lớn về mọi mặtkinh tế - chính trị - văn hoá và xã hội Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tếngày càng được nâng cao Nhằm phục vụ cho hoạt động buôn bán, giao lưu, củamọi người trong nước và nươc ngoài - một nhu cầu bức thiết của xã hội là phảiphát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là sơ sở hạ tầng về giao thông Vì thế mà hệthống đường xá, cầu cống đã không ngừng được mở rộng nhiều hơn, nâng cấphơn, và đạt chất lượng cao hơn Nhưng do sự tăng lên quá nhanh của các phươngtiện giao thồng đặc biệt là xe cơ giới nên mặc dù sơ sở hạ tầng giao thông đã có
sự phát triển hơn nhưng tình hình tai nạn giao thông vẫn là bài toán khó cho toàn
xã hội Tai nạn xảy ra kéo theo nhiều tổn thất về người và của, điều đó chẳngnhững gây thiệt hại về tinh thần mà còn làm thiệt hại về kinh tế cho gia đình và
xã hội Chính vì vậy mà bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời để giúp đỡ phần nào
về mặt tài chính cho các chủ xe mỗi khi phương tiện của họ không may gặp rủi
ro, sự cố; đồng thời cũng góp phần bảo vệ sự an toàn chung cho toàn xã hội
Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là số lượng xe tham gia bảo hiểm vật chất
xe cơ giới còn tương đối thấp so với tổng số lượng xe cơ giới hiện đang lưu hànhtrên thị trường Điều này có thể là do nhiều nguyên nhân như: Các sản phẩm còn
xa lạ với người dân, hay là do vấn đề thu nhập, hoặc do các sản phẩm này chưathực sự hấp dẫn người tiêu dùng, hoặc do hoạt động khai thác của công ty bảohiểm chưa đáp ứng được mong muốn của khách hàng, gây mất lòng tin chokhách hàng… Vì vậy, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khai thác được
tối đa nghiệp vụ BH hiểm này Chính vì thế mà em quyết định chọn đề tài: “
Phân tích tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng bảo hiểm khu vực 7 – công ty cổ phần Petrolimex giai đoạn 2003 – 2007”,
Bài viêt của em gồm 3 chương:
Trang 8Chương I Lý thuyết về khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Chương II Phân tích tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7 – công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2003-2007.
Chương III Giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm vật chất
xe cơ giới tại văn phòng 7 – PJICO.
Em xin chân thành cảm ơn cô Ths Tôn Thị Thanh Huyền, giáo viên
hướng dẫn em đã giúp đỡ em, truyền đạt cho em những kiến thức và kinhnghiệm quý báu giúp em hoàn thiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn quý anh, chị ở văn phòng Bảo hiểm khu vực 7– PJICO đã giúp đỡ em rất nhiều để em có thể hoàn thiện được chuyên để thựctập tốt nghiệp của mình
Trong quá trình thực hiện em đã cố gắng tham khảo tài liệu tại trường, thưviện cũng như tại đơn vị thực tập , tuy nhiên do vốn kiến thức và thời gian cóhạn nên bài viết của em vẫn còn nhiều thiếu sót rất mong quý thầy, cô; các anhchị trong văn phòng BH 7 chỉ bảo để em có thể nâng cao vốn hiểu biết của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Chương I Lý thuyết về khai thác bảo hiểm vật
chất xe cơ giới.
Trang 9I Nội dung lý thuyết cơ bản về bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
1.Tai nạn giao thông đường bộ và ý nghĩa của bảo hiểm vât chất xe cơ
giới.
1.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ
Trong những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ 20 có một chiếc xe gắnmáy là niềm mơ ước của nhiều gia đình Việt nam Khi đó tai nạn giao thôngđường bộ không phải là một vấn nạn Khi nền kinh tế mở cửa, cơn lốc hàng hoátiêu dùng ập vào Việt nam, người dân có quyền lựa chọn nhiều mặt hàng màmình yêu thích Nền kinh tế Việt nam bắt đầu phát triển, đời sống người dânđược nâng cao, việc mua một chiếc xe máy không phải là một điều quá khókhăn Sự tăng nhanh không kiểm soát về số lượng của những chiếc xe gắn máy,cộng với ý thức không tốt của người tham gia giao thông cùng với cơ sở hạ tầnggiao thông đô thị yếu kém… là những nguyên nhân chính khiến tai nạn giaothông tăng nhanh
Tai nạn giao thông hiện nay đã trở thành vấn đề nhức nhối không chỉđối với đời sống dân sinh đô thị nói riêng mà nó còn ảnh hưởng tới toàn bộngười dân Việt nam Điều đó được thể hiện ở số vụ tai nạn giao thông mỗi ngàyđược tăng thêm và số người chết, người bị thương ngày càng nhiều Thực sựngười dân Việt nam đang phải đối mặt với cuộc chiến tranh dân sự - một cuộcchiến về “ giao thông”
Mỗi năm trung bình tại Việt nam, tai nạn giao thông khiến 12.000người chêt và gần 30.000 người bị chấn thương sọ não với nhiều di chứng để lại.Theo số liệu của Uỷ Ban An Toàn Giao Thông quốc gia cho biết Việt nam có tỉ
lệ các vụ tử vong vì tai nạn giao thông cao nhất thế giới với 33 trường hợp tửvong mỗi ngày, ước tính hàng năm Việt nam thiệt hại khoảng 850 triệu đô la vì
Trang 10các vụ tai nạn giao thông và đặc biệt với một quốc gia nghèo như chúng ta thì đó
là một con số khổng lồ Đáng chú ý nhất là các vụ tai nạn giao thông tại các đôthị ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanhchónh tại các đô thị
Để hiểu rõ hơn về tình hình tai nạn giao thông, số người chết và số người
bị thương tai hãy xem biểu đồ sau
2003 2004 2005 2006 2007
( nguồn số liệu uỷ ban an toàn giao thông quốc gia)
Qua biểu đồ trên ta có thể thấy rằng, năm 2007 tai nạn giao thông diễn rarất phức tạp; trong 10 tháng đầu năm 2007, tai nạn giao thông có phần ngày càngtrầm trọng hơn Trong 3 năm 2003-2005, số người chết trong các vụ tai nạn giaothông đã giảm, sau đó lại tiếp tục tăng trong năm 2006 và cao nhất là năm 2007.Trong vòng 5 năm từ 2003-2007, số các vụ tai nạn giao thông có phần giảmnhưng số người thiệt mạng đặc biệt là năm 2007 từ các vụ tai nạn giao thông vẫnkhông giảm, thậm chí có phần tăng, điều này cho thấy các vụ tai nạn giao thôngnghiêm trọng diễn ra ngày càng tăng và chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ
Trang 11Số liệu thống kê cho thấy cứ 10.000 phương tiện giao thông vận tải đường bộ có3,47 vụ tai nạn giao thông; 3,16 người chết và 2,7 người bị thương Vậy phải đòihỏi một chính sách cứng rắn hơn đối với vấn đề giao thông đô thị nói riêng vàgiao thông cả nước nói chung.
Quả thật tình hình giao thông vận tải hiện nay đang là nỗi nhức nhối đốivới nhân loại và đang rất cần một lời giải cho bài toán khó này Tai nạn giaothông vận tải đang ngày càng cướp dần đi sinh mạng của nhiều người, ngoài ra
nó còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt hơn có những vụ tai nạn giaothông mà gây ảnh hưởng đến nhiều bên:
+, Bên chủ phương tiện: tai nạn giao thông có thể làm cho xe của mình bị
hư hỏng mất rất nhiều thời gian, tiền bạc, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, thậmchí còn phải ngừng sản xuất kinh doanh,…
+, Đối với người thứ ba: tai nạn giao thông cũng gây thiệt hại cho ngườithứ ba (người có liên quan), nếu không được đền bù thoả đáng thì thậm chí còngây tranh cãi, kiện tụng,
+, Đối với xã hội: ngày càng căng thẳng hơn, ngày càng mất sự yên ổnhơn, ngày càng phải chứng kiến nhiều vụ thương tâm,…
Đối với các chủ phương tiện thì lúc đó rất cần có biện pháp để khắc phục,rất cần được ổn định sản xuất kinh doanh như ban đầu Và bảo hiểm vật chất xe
cơ giới là một trong những biện pháp hiệu quả giúp cho chủ xe cớ giới thoát khỏitình cảnh đó
1.2 Ý nghĩa của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Cũng như các ngành kinh doanh khác thì bảo hiểm nói chung và bảo hiểmvật chất xe cơ giới nói riêng cũng đều đem lại những ý nghĩa thiết thực cho nềnkinh tế xã hội Cụ thể bảo hiểm vật chất xe cơ giới có những ý nghĩa sau:
Trang 12Thứ nhất, bảo vệ lợi ích của chủ phương tiên: Khi rủi ro xảy ra,tuỳ vàomức độ nặng nhẹ mà xe sẽ bị tổn thất nhiều hay ít Nhưng dù nhiều hay ít thìcũng điều gây nhứng thiệt hại đáng kể cho chủ xe như: phải mất thời gian sửachữa thay thế các phu tùng hư hỏng cho phương tiện, mấy thời gian và tiền bạc,ảnh hưởng tới đời sống, công việc, đặc biệt là những xe dùng cho mục đích kinhdoanh, thậm chí có những thiệt hại lớn làm cho chủ xe phải ngừng sản xuất kinhdoanh Như đã phân tích ở trên, với việc tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giớithì khi gặp rủi ro chủ xe sẽ được các doanh nghiệp bảo hiểm nhanh chóng tiếnhành xử lý bồi thường thiệt hại, đảm bảo quyền lợi chính đáng và hợp pháp vềnhững thiệt hại về tài sản, giúp chủ xe khắc phục hậu quả tài chính, góp phầnphục hồi sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tế xã hội.
Thứ hai, đẩy mạnh hoặt động đề phòng và hạn chế tổn thất, góp phầnlàm giảm bớt tai nạn giao thông và giảm thiểu tổn thất Bởi vì, khi chủ phươngtiện tham gia bảo hiểm vật chất xe tại các công ty bảo hiểm thì khi đó chủ xe sẽđược các công ty bảo hiểm hướng dẫn thực hiện công tác đề phòng và hạn chếtổn thất, ngoài ra còn có tác dụng giúp các doanh nghiệp bảo hiểm và các kháchhàng phối hợp với ngành công an, các cơ quan có liên quan tuyên truyền về antoàn giao thông, thành lập ban chỉ đạo an toàn giao thông, phát động phong tràolái xe an toàn,…Từ đó tạo cho xã hội ngày một an toàn hơn, văn minh hơn, tốtđẹp hơn,…
Thứ ba, gớp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước từ đó tạo điều kiệnnâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông, tạo công ăn việc làm chongười lao động Vì khi các công ty bảo hiểm hoặt động, hàng năm có doanh thu
và lợi nhuận, điều đó cũng đồng nghĩa với việc các công ty bảo hiểm phải hoànthành nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, điều này góp phần tạo nguồn thu cho
Trang 13ngân sách nhà nước ngày một tăng thêm Chính từ đó mà nhà nước có thêm mộtnguồn thu và cũng chính từ đó mà các công trình hạ tầng, các công trình giaothông có cơ hội được tu sửa, xây dựng mới,… Và điều nay giúp cho việc giaothông đi lai được thuận tiện hơn, dễ dàng hơn, giảm bớt sự ùn tắc giao thôngcũng như tai nạn giao thông.
Thứ tư, có lợi cho sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp, đơn
vị hành chính sự nghiệp và các cá nhân: Khi ngành bảo hiểm phát triển điều đócũng đồng nghĩa với nhiều công ty bảo hiểm cũng được ra đời thêm từ đó giúpcho ngành bảo hiểm có vị trí vững chắc so với các ngành kinh tế khác, giúp chocác công ty bảo hiểm có sự cạnh tranh lành mạnh Ngành bảo hiểm ra đời tạođiều kiện cho sự phối hợp chặt chẽ giưa công ty bảo hiểm và các phòng ban cóliên quan như công an, toà án, bệnh viện… từ đó tạo ra sự hài hoà giữa các bên
Sự ra đời của nhiêu công ty bảo hiểm còn giúp tạo thêm nhiều công ăn việc làmcho người lao động, giúp cho thu nhập của người lao động được tăng lên và ngàycàng được cải thiện hơn
2 Đối tượng, phạm vi của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
2.1 Đối tượng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Trước hết, xe cơ giới có thể hiểu là tất cả các loại xe tham gia giao thôngtrên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, bao gồm ô tô, mô tô, xe máy.Khác với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành kháchtrên xe và đối với người thứ ba được áp dụng bắt buộc bằng pháp luật đối với cácchủ xe Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản và nó đượcthực hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện
Đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còngiá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia Đối với xe mô tô, xe máy
Trang 14thường các chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe Đối với xe ô tô,các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc cũng có thể từng bộ phận của xe ( tổngthành xe) Xe ô tô thường có các tổng thành: Thân vỏ, động cơ, hộp số,…
Về cách thức tham gia của loại hình bảo hiểm này gồm có: bảo hiểm giátrị thực tế của xe ( bảo hiểm ngang giá trị); bảo hiểm dưới giá trị; ngoài ra còn cócác điều khoản mở rộng áp dụng cho từng đối tượng cụ thể như điều khoản bảohiểm bồi thường theo giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, điềukhoản bảo hiểm không trừ khấu hao thay thế mới vật tư, điều khoản bảo hiểm có
Xe vừa chở người vừa trở hàng
Đầu kéo các loại
Xe có thiết bị đặc biệt chuyên dùng như thiết bị nâng bốc hàng, làm vệsinh,…
2.2 Phạm vi bảo hiểm
Trang 15Trong hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới, các rủi ro được bảo hiểmthông thường bao gồm: Tai nạn do đâm va lật đổ; cháy, nổ, bão lụt, sét đánh,động đất, mưa đá; mất cắp toàn bộ xe và các tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gâynên.
Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra chochiếc xe được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm cònthanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý như:Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất; chi phí giám địnhtổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm; ngoài ra còn có các chi phí nhằmngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi rođược bảo hiểm
Bên cạnh các rủi ro được bảo hiểm trên thì công ty bảo hiểm sẽ khôngchịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:
Hư hỏng do khuyết tật, mất giá trị, giảm dần chất lượng cho dù cóGiất chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường Tổn thất đốivới xăm lốp, đề can, chụp đầu chục bánh xe, chắn bùn, chữ nhãn hiệu, biểutượng nhà sản xuất trừ trường hợp tổn thất này xảy ra do cùng một nguyên nhân
và đồng thời với các bộ phận khác của xe trong cùng một vụ tai nạn Hoặc cácthiết bị lắp thêm trên xe ngoài các thiết bị của nhà sản xuất đã lắp ráp hoặc trừkhi có thoả thuận bổ sung bảo hiểm phần giá trị thiết bị lắp ráp thêm
Ngoài ra, trường hợp tổn thất xảy ra khi xe bị ngập nước và động cơ
đã ngừng hoạt động, lái xe không thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất như:kéo, đẩy xe ra khỏi vùng ngập nước hoặc không gọi xe cứu hộ… mà khởi độnglại động cơ gây nên hiện tượng thuỷ kích phá hỏng động cơ xe ( trừ khi có thoảthuận khác) Mất cắp bộ phận của xe; thiệt hại mang tính chất hậu quả gián tiếp
Trang 16như: Giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh; thiệt hại dochiến tranh, khủng bố và các nguyên nhân tương tự như chiến tranh như: nộichiến, bạo động, đình công; hay tai nạn xảy ra ngoải lãnh thổ nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam (trừ khi có thoả thuận khác) cũng đều không được bảohiểm.
Bên cạnh đó để tránh nguy cơ đạo đức, lợi dụng bảo hiểm nhữngthiệt hại, tổn thất xảy ra trong những trường hợp sau cũng se không được bồithường: như hành đọng cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe; Xe không đủ điềukiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo quy định của Luật an toàn giaothông đường bộ; Lái xe không có Giấy phép lái xe (đối với loại xe cơ giới bắtbuộc phải có giấy phép lái xe) hoặc có nhưng không hợp lệ Ngoải ra, còn tai nạnxảy ra do Lái xe có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá quy định của pháp luật hiệnhành, khi có kết luận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cóchất ma tuy và các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng Bên cạnh đó,
xe vận chuyển hàng trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vậnchuyển, xếp dỡ hàng theo quy định của pháp luật; xe sử dụng đua thể thao, đua
xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa (trừ khi có thoả thuận khác); hoặc xe đivào đường cấm, khu vực cấm, vườt đèn đỏ hoặc không chấp hành theo hiệu lệnhcủa người điều khiển giao thông, xe đi đêm không có đèn chiếu sáng theo quyđịnh
Trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm vật chất xe cơ giới nói riêng thìcần lưu ý một số điểm cụ thể sau: trong mọi trường hợp mà đối tường được bảohiểm gặp một trong các rủi ro trên thì tổng số tiền bồi thường của công ty bảohiểm là không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhậnbảo hiểm Ngoài ra trong thời hạn bảo hiểm, nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu xe
Trang 17cho chủ xe khác thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực đối với chủ xe mới; tuynhiên, nếu chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới thì công
ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí cho họ và làm thủ tục bảo hiểm cho chủ xe mới nếu
họ có yêu cầu
3 Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, Phí bảo hiểm
3.1 Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường của
xe tại thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm Việc xác định đúng giátrị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường Việcxác định giá trị xe trên thị trường gặp rất nhiều khó khăn vì giá xe trên thị trườngluôn có những biến động và có thêm nhiều chủng loại xe mới tham gia giaothông Chính vì thế mà các công ty bảo hiểm thường dựa trên các nhân tố sau đểxác định giá trị xe:
- Loại xe
- Năm sản xuất
- Mức độ mới, cũ của xe
- Thể tích làm việc của xi lanh…
Một phương pháp xác định giá trị bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay
áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao Cụ thể:
Giá trị bảo hiểm = Giá trị ban đầu - Khấu hao ( nếu có)
Ví dụ: Một chiếc xe ô tô mua ngày 01/01/2000 với 800 triệu đồng, mua
bảo hiểm vật chất xe vào ngày 15/03/2002 Công ty bảo hiểm đánh giá tỉ lệ khấuhao là 12%/năm, mức khấu hao được tính cho từng tháng,niếu mua bảo hiểmtrước ngày 16 trở đi thì tháng đó không phải tính khấu hao, còn nếu mua từ ngày
16 trở đi thì tháng đó phải tính khấu hao
Trang 18Trong trường hợp này, giá trị bảo hiểm sẽ được tính như sau:
Khấu hao năn 2000: 0,12800.000.000 = 96.000.000 đ
Khấu hao năm 2001: 0,12 800.000.000 = 96.000.00 đ
Khấu hao năm 2002: (0,012)800.000.000 =16.000.000 đ Tổng khấu hao : 208.000.000 đ
Giá trị ban đầu : 800.000.000 đ
Như vậy giá trị bảo hiểm sẽ là: 800.000.000 – 208.000.000 =592.000.000 đ
3.2 Số tiền bảo hiểm
Trên cơ sở của giá trị bảo hiểm đã được xác định ở trên, chủ xe cóthể tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm nhỏ hơn, hoặc bằng, hoặc lớn hơngiá trị thực tế của xe Việc quyết định tham gia bảo hiểm với số tiền là bao nhiêu
là tuỳ thuộc vào chủ của phường tiện và cũng là cơ sở để xác định Số tiền bồithường khi có tổn thất xảy ra
3.3 Phí bảo hiểm
Việc xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm
cụ thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ và những nhân tố sau:
Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức
độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại
xe Thông thường các công ty bảo hiểm đưa ra các biểu phí bảo hiểm được xácđịnh phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thànhcác nhóm Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc,chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng xe Đốivới các xe hoặt động không thông dụng như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng
do có mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thường được cộng thêm một tỉ lệ nhấtđịnh dựa trên mức phí cơ bản
Trang 19Giống như cách tính phí bảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:
P = f + d
Trong đó: P – Phí thu mỗi đầu xe
d - Phụ phí
f – Phí thuầnTheo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào các nhân
1
1
( Với i =1,2,…,n)
Trong đó: Si : Số vụ tai nạn xảy ra trong năm thứ I,
Ti : Thiệt hại bình quân một vụ trong năm thứ i,
Ci : Số xe hoặt động thực tế trong năm thứ i
Các chi phí khác, hay còn gọi là phần phụ phí (d), bao gồm các chi phínhư chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý…
Khu vực giữ xe và để xe: Khu vực giữ xe và để xe có ảnh hưởng tới xácsuất xảy ra rủi ro Nơi giữ xe hay để xe an toàn hơn như nhà riêng, các điểmtrong giữ xe, thì xác suất rủi ro xảy ra se thấp hơn khu để xe không an toàn như
Trang 20ngoài đường phố,… Trong thực tế không phải công ty bảo hiểm nào cũng quantâm đến nhân tố này Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảohiểm dựa theo khu vực giữ xe, để xe rất chặt chẽ.
Mục đích sử dụng xe: Có thể nói đây là một nhân tố rất quan trọng khixác định phí bảo hiểm Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thểxảy ra Xe lăn bánh trên đường càng nhiều, rủi ro tai nạn xảy ra càng lớn Chẳnghạn, một chiếc xe do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuầnchắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với chiếc xe do một người lái củamột hãng kinh doanh taxi hay xe do một thương gia sử dụng để đi lại trongnhững khu vực rộng lớn
Một số công ty bảo hiểm sử dụng những nhóm truyền thống sau:
Sử dụng xe loại A: dành cho mục đích xã hội, nội bộ và giải trí và dođích thân người chủ phương tiện được bảo hiểm sử dụng có liên quan tới nghềnghiệp của người đó ngoại trừ sử dụng với mục đích cho thuê, vận chuyển chomục đích thương mại, hay bất cứ một mục đích nào có liên quan đến kinh doanh
xe cơ giới, và sử dụng xe để đua xe, thi tài hoặc thử xe
Một số công ty bảo hiểm đồng ý giảm phí bảo hiểm nếu phạm
vi bảo hiểm chỉ giành cho mục đích xã hội và nôi bộ Định nghĩa này vẫn chophép người sở hữu đơn bảo hiểm dùng xe đi lại nơi làm việc của mình bởi vì nógộp cả vào cụm từ “ xã hôi, nội bộ và giải trí”
Nội dung đạt tiêu chuẩn loại A yêu cầu người chủ của phương tiện được bảo hiểm phải ở trong xe khi xe được sử dụng cho mục đích công việc cho dù người đó không lái xe Công việc nói trên phải là công việc của người chủ phương tiện được bảo hiểm
Trang 21Sử dụng xe loại B1 dành cho “ mục đích xã hội, nội bộ và giải trí và sửdụng cho công việc của người chủ phương tiện được bảo hiểm, và chủ lao độngcủa người đó hay các cộng sự ngoại trừ sử dụng cho thuê, vận chuyển cho mụcđích thương mại hay bất cứ một mục đích nào có liên quan tới kinh doanh xe cơgiới, đua xe, thi tài hoặc thử xe” Đây là loại sử dụng hoàn toàn cho công việcngoại trừ vận chuyển cho mục đích thương mại
Sử dụng xe loại B2 tương tự như B1 tuy nhiên phần loại trừ có khácbiệt “ loại trừ sử dụng để vận chuyển hành khách, sử dụng cho thuê, hay để đua
xe, thi tài hoặc thử xe” Không loại trừ vận chuyển cho mục đích thương mại Việc chia loại A thành hai loại như trên có nghĩa là có bốn loại mụcđích sử dụng xe Đây cũng là một căn cứ để xác định phí bảo hiểm được chínhxác hơn
Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi Trong thực tế các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi do kinh nghiệm cho thấy số người này gặp ít tai nạn hơn so với các lái xe trẻ tuổi Tuy nhiên với những lái xe quá lớn tuổi ( thường từ 65 tuổi trở lên) thường phải xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm Ngoài ra để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty bảo hiểm thường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra với xe ( hay còn gọi là mức miễn thường) Đối với những lái
xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn so với nhứng lái xe lớn tuổi hơn
Trang 22Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả, thu hút ngày càngnhiều hơn khách hàng đến tham gia bảo hiểm thì các công ty bảo hiểm cần phảixem xét những vấn đề liên quan khi tính phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới Cụ thểnhư sau:
Giảm phí bảo hiểm:Để khuyến khích các chủ xe có số lượng thamgia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảmphí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm Ngoài ra, hầu hếtcác công ty bảo hiểm còn áp dụng giảm giá cho những người tham gia bảo hiểmkhông có khiếu nại, hoặc không bị tổn thất trong nhiều năm liên tiếp
Đối với những xe hoặt động theo tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoặtđộng một số ngày trong năm, để hài hoà lợi ích của các bên tham gia bảo hiểmthì các chủ xe chỉ phải đóng phí cho những ngày hoặt động đó theo công thứcsau:
Phí bảo hiểm = Mức phí cả năm * ( Số tháng xe đã hoặt động trong năm / 12)
Biểu phí đặc biệt Trong những trường hợp đặc biệt khi khách hàng có
số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, để tranh thủ sự ủng hộ, các công ty bảohiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó Việc tính toán biểu phíriêng này cũng tương tự như cách tính phí được đề cập ở trên, chỉ khác là chỉ dựatrên số liệu về bản thân khách hàng này, cụ thể: Số lượng xe của công ty thamgia bảo hiểm; Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho kháchhàng ở những năm trước đó; Tỉ lệ phụ phí theo quy định của công ty Trườnghợp mà mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung của công ty bảo hiểmcung cấp thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí đặc biệt Còn nếu mức phí đặcbiệt tính được là cao hơn ( hoặc bằng) mức phí chung, tức là tình hình tổn thấtcủa khách hàng là cao hơn hoặc bằng mức tổn thất bình quân chung, thì công ty
Trang 23bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung Cần lưu ý rằng để áp dụng biểu phí riêngthì khách hàng này phải có số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, số liệu tính phíđặc biệt này phải đủ lớn đủ các căn cứ phù hợp để việc tính phí đặc biệt chínhxác, đúng đắn hơn.
Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảohiểm cả năm, nhưng trong năm xe không hoặt động một thời gian vì một lý donào đó Trong trường hợp này thông thường công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phíbảo hiểm của những tháng ngừng hoặt động đó cho chủ xe Các công ty bảohiểm thường quy định tỷ lệ hoàn phí bảo hiểm này là 80%, và số phí hoàn lạiđược tính như sau:
Phí hoàn lại = Phí cả năm * Số tháng không hoặt động /12* Tỷ lệ hoàn lại phí
Ngoài ra, trong trường hợp mà chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảohiểm khi chưa hết thời hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũnghoàn lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng vớiđiều kiện là chủ xe chưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm
II Hoặt động khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1 Vai trò của hoặt động khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm: Hoằt động chủ yếu của doanh nghiệp bảohiểm là tổ chức kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm nhằm đạt được các mục tiêu
đã đề ra Để đạt được hiệu quả trong kinh doanh thì mỗi một nghiệp vụ bảo hiểmthường được doanh nghiệp bảo hiêm triển khai theo một quy trình thống nhấtbao gồm 3 khâu cơ bản: Khai thác bảo hiểm; Đề phòng và hạn chế tổn thất vàgiám định và bồi thường tổn thất khi co rủi ro xảy ra đối với đối tượng được bảohiểm
Trang 24Ba khâu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau mỗi khâu đóng một vai tròquan trọng trong toàn bộ quy trình triển khai bảo hiểm và cả ba khâu đều có ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh của doanh nghiệp bảo hiểm.
Có thể khẳng định rằng khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của quy trìnhtriển khai bảo hiểm Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệpbảo hiểm nói chung và của từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng, đặc biệt là nhữngnghiệp vụ bảo hiểm mới triển khai, những sản phẩm mới tung ra thị trường Xuất
phát từ nguyên tắc chung của hoặt động kinh doanh bảo hiểm là “lấy số đông bù
số ít” nhằm tạo lập nguồn quỹ bảo hiểm đủ lớn để dễ dàng san sẻ rủi ro; đặc bịêt
với đặc thù của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dịch vụ - một loại sản phẩm vôhình người mua không thể có cảm nhận được sản phẩm bảo hiểm thông qua cácgiác quan của mình Vì thế để giúp khách hàng hiểu được tính ưu việt của sảnphẩm cũng như để bán được sản phẩm này đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm cầnphải tổ chức tốt khâu khai thác ( tức là khâu bán hàng); Kết quả của khâu này thểhiện chủ yếu ở các chỉ tiêu: Số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm ( số hợpđồng bảo hiểm đã được ký kết, số giấy chứng nhận bảo hiểm, số đơn bảo hiểm
đã cấp), số phí bảo hiểm đã thu được,… Bước này mà thực hiện tốt sẽ tạo nhiềuthuận lợi cho các bước tiếp theo
Đối với khách hàng: Khách hàng được biết và tiêu dùng thêm một sảnphẩm nữa trong dỏ hàng hoá sản phẩm của mình Nhờ có hoạt động khai thác màkhi khách hàng đến với công ty bảo hiểm thì họ sẽ được công ty bảo hiểm giớithiệu các sản phẩm bảo hiểm từ đó họ có thể tự do lựa chọn được sản phẩm màmình ưa thích
Trang 25Đối với xã hội: Khâu khai thác bảo hiểm cũng tạo thêm nhiều công ăn việclàm hơn cho người lao động đem lại thu nhập đáng kể cho người lao động, giúpcho tỷ lệ thất nghiệp ngày càng giảm đi, xã hội ngày càng hoàn thiệt hơn.
2 Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
2.1 Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Bảo hiểm vật chất xe cơ giơi cũng là một nghiệp vụ bảo hiểm vì thế cũng được các công ty bảo hiểm triển khai theo một quy trình thống nhất bao gồm 3 khâu cơ bản: Khai thac; đề phòng và hạn chế tổn thât; và khâu giám định
và bồi thường Khai thác bảo hiểm là một khâu trong quy trình thống nhất đó và
để khai thác đạt được hiệu quả cao thì khâu này cũng phải có quy trình thống nhất; mục đích tránh các trường hợp thiếu sót, sai lệch tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu tiếp theo
Hình 2 Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Nhận thông tin từ khách hàng, phân tích, tìm hiểu, đánh giá rủi ro.
Xem xét đề nghị bảo hiểm
Đàm phán, chào phí
Tiếp thị, tìm kiếm thị trường và xử
lý thông tin từ khách hàng.
Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và thu phí bảo hiểm.
Trang 26Bước 1 Tiếp thị, tìm kiếm thị trường và xử lý thông tin từ khách hàng:
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm mà từ đó các khai thác viên có thể tìmkiếm được thị trường khai thác, thị trường khai thác là thị trường mà ở đó cónhiều tiềm năng, cơ hội phát triển đối với nghiệp vụ Đây là bước đầu tiên củaquy trình khai thác vì thế đòi hỏi khai thác viên phải thật sự khéo léo, lúc đó khaithác viên có trách nhiệm cung cấp thông tin cho khách hàng vừa đảm bảo tínhđầy đủ, chính xác vừa phải làm cho khách hàng dễ hiểu Nếu khách hàng đồng ýthì khai thác viên phải tiếp nhận thông tin từ khách hàng và phải xử lý thông tin
đó, tất cả những chi tiết trên đều phải cập nhật và Sổ ghi thông tin khách hàngtheo mẫu của mỗi công ty
Khi nhận thông tin từ khách hàng, khai thác viên cần yêu cầu khách hàngnêu rõ: Ngành nghề của người yêu cầu bảo hiểm; thành phần kinh tế mà ngườiyêu cầu bảo hiểm tham gia: Nước ngoài, Liên doanh, Nhà nước hay tư nhân; đôitượng cần được bảo hiểm: bao gồm loại xe, thời gian sử dung, tình trạng kỹthuât,… Số tiền bảo hiểm yêu cầu; tình hình tổn thất trong các năm trước đócông ty bảo hiểm khác hiện đang tham gia (nếu có) Các thông tin có ý nghĩaquan trọng trong việc đánh giá ban đầu các rủi ro có thể xảy ra cho đối tượng bảohiểm
Ngoài ra, khai thác viên cần phải cung cấp Giấy yêu cầu bảo hiểm theomẫu của từng công ty và các tài liệu khác theo yêu cầu của khách hàng như: Quytắc bảo hiểm, Điều khoản bổ sung,
Bước 2 Phân tích, tìm hiểu và đánh giá rủi ro
Khai thác viên, đại lý đánh giá rủi ro trên cơ sở trực tiếp tiếp xúc với đốitượng được bảo hiểm đặc biệt là vật chất xe Lúc này đòi hỏi khai thác viên phải
có hiểu biết về kỹ thuật xe cơ giới và kỹ thuật nghiệp vụ từ đó có thể đánh giá
Trang 27phân tích đối tượng một cách chính xác Đối với trường hợp khách hàng yêu cầubảo hiểm theo những điều kiện bổ sung hoặc trong một số trường hợp đặc biệtcác khai thác viên, đại lý khai thác cũng cần phải chú ý hơn đến việc đánh giá rủi
ro trước khi chấp nhận bảo hiểm
Khi đã có số liệu từ khách hàng như số khung, số máy, số năm đã sửdụng, loại xe, tình hình tổn thất của các năm trươc đó,… thì lúc đó KTV phảitrực tiếp kiểm tra lại các thông tin đó (nếu có), đặc biệt KTV phải có các số liệuliên quan đến các rủi ro yêu cầu bảo hiểm để từ đó cũng có thể vạch ra công tácquản lý rủi ro ban đầu
Điều cần lưu ý đối với khai thác viên bảo hiểm ở bước này là Giấy yêucầu bảo hiểm là căn cứ thông tin ban đầu rất quan trọng trong công tác khai thácbảo hiểm vật chất xe cơ giới Lúc này đỏi hỏi khai thác viên phải hiểu rõ các nộidung có trong giấy yêu cầu bảo hiểm để hướng dẫn khách hàng ghi chép đầy đủ,chính xác các thông tin trong Giấy yêu cầu bảo hiểm, làm cơ sở cho việc đánhgiá rủi ro và qua đó có thể đưa ra mức chào phí bảo hiểm phù hợp cho kháchhàng
Trong bước này khai thác viên cũng có thể từ chối chào phí đối với kháchhàng: Thứ nhất, khách hàng không có quyền lợi có thể được bảo hiểm Thứ hai,khi khách hàng kê khai không trung thực các thông tin về rủi ro yêu cầu bảohiểm khi đối chiếu với các thông tin thu được trong quá trình kiểm tra xe trựctiếp
Tất cả các thông tin của khai thác viên khi đánh giá rủi ro đều được điềnvào mấu Giấy yêu cầu bảo hiểm của từng công ty Các thông tin đó yêu cầu phảighi một cách cẩn thận, chi tiết tạo thuận lợi cho các bước sau
Bước 3 Xem xét đề nghị bảo hiểm
Trang 28Khi mà khai thác viên thu thập được đầy đủ các thông tin cân thiết từkhách hàng kết hợp với báo cáo đánh giá rủi ro, các số liệu thống kê,… từ đókhai thác viên có thể tiến hành cung cấp mức phí hợp lý cho khách hàng Trườnghợp có những dịch vụ đặc biệt lớn, tính chất phức tạp khi đó các khai thác viên
phải đề xuất với lãnh đạo phòng, hoặc chi nhánh, hoặc công ty (nếu có) để có các
phương án giải quyết tốt nhất và hiệu quả nhất
Bước 4 Đàm phán chào phí
Tiếp theo các bước trên thì khai thác viên tiến hành chào phí bảo theomẫu chào phí bảo hiểm của công ty Trong bước này sẽ gặp 3 trường hợp có thểxay ra:
Thứ nhất, nếu sau khi khách hàng chấp nhận bản chào phí bảo hiểmthì sẽ thực hiện tiếp tục bước tiếp theo
Thứ hai, nếu khách hàng không chấp nhận bản chào phí bảo hiểmthì khai thác viên và lãnh đạo (nếu có) sẽ tiến hành thảo luận và đàm phán vớikhách hàng để sửa đổi bổ sung bản chào phí sao cho phù hợp nhất, sau đó nếukhách hàng đồng ý lại tiếp tục đi bước tiếp theo
Thứ ba, nếu trường hợp mà sau khi đã đàm phán với khách hàng màkhách hàng vẫn không thoả mãn được khách hàng thì khai thác viên có thể thôngbáo bằng văn bản từ chối nhận bảo hiểm
Bước 5 Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và thu phí bảo hiểm
Ở bước này khai thác viên sẽ cung cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm(GCNBH), và sau khi các bên đã thống nhất các nội dung trong Giấy chứng nhậnbảo hiểm (hợp đồng bảo hiểm), khai thác viên hướng dẫn khách hàng các thủ tụccần thiết để cấp GCNBH
Trang 29Căn cư vào nội dung ghi trên Giấy yêu cầu bảo hiểm để viết GCNBH Vìvậy Giấy yêu cầu bảo hiểm có một vai trò rất là quan trọng trong khai thác bảohiểm; do đó khi khai thác viên nhận được Giấy yêu cầu bảo hiểm của chủ xe,khai thác viên, đại lý phải kiểm tra các điều kiện, điều khoản trong Giấy yêu cầubảo hiểm đã được ghi đầy đủ và hợp lệ chưa Giấy yêu cầu bảo hiểm được coi làhợp lệ thì đòi hỏi phải có đầy đủ các nội dung sau:
- Tên chủ phương tiện cần được bảo hiểm;
- Biển kiểm soát, số máy, số khung,
- Chức năng sử dụng xe
- Tuổi thọ của xe,
- Giá trị xe tham gia bảo hiểm
- Điều kiện tham gia bảo hiểm, điều kiện mở rộng, phụ phí , mứcmiễn thường,…
Một điều lưu ý đối với khai thác viên khi cấp giấy chứng nhận bảo hiểm:Đối với các trường hợp người yêu cầu bảo hiểm tham gia các điều khoản bổsung thì yêu cầu khai thác viên bảo hiểm phải ghi rõ trong mục điều khoản bảohiểm bổ sung của Giấy chứng nhận bảo hiểm Ngoài ra, khai thác viên cũng cầnphải khuyến cáo cho khách hàng về việc hợp đồng bảo hiểm / giấy chứng nhậnbảo hiểm sẽ không có giá trị trong trường hợp khách hàng cung cấp hoặc kê khaisai hoặc không khai báo các chi tiết quan trọng có liên quan đến rủi ro yâu cầubảo hiểm
Thông báo thu phí: yêu cầu ghi rõ tên chủ xe biển kiểm soát, số phí, diễngiải cách tính phí cho khách hàng bao gôm: Phí gốc từng mục, thuế giá trị giatăng, giảm phí theo quy định Sau khi phát thông báo thu phí cho khách hàng,khai thác viên và cán bộ thống kê phối hợp cùng với kế toán viên theo dõi đôn
Trang 30đốc nộp phí bảo hiểm của chủ xe, phí bảo hiểm phải thu đầy đủ ngay khi cấpĐơn bảo hiểm.
2.2 Nhiệm vụ của khai thac viên bảo hiểm
Từ quy trình khai thác bảo hiểm đã được phân tích ở trên, ta thấy khai thácviên bảo hiểm có một vị trí quan trọng và họ là nhứng người đóng góp rất lớnvào kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm Vì vậy, nhiệm vụ củakhai thác viên bảo hiểm là:
Giải thích cho khách hàng hiểu rõ hơn các nội dung, thông tin cầnthiết trong các bước của quy trình khai thác BH vật chất xe cơ giới Đánh giámỗi rủi ro mà mọi người đưa tới, cụ thể là đánh giá xem rủi ro này có thuộcphạm vi bảo hiểm hay không, mức độ xảy ra rủi ro này như thế nào,…
Quyết định chấp nhận hay không chấp nhận rủi ro và chấp nhận rủi
ro đến mức nào; xác định điều khoản, điều kiện và phạm vi bảo hiểm, ngoài racòn phải tính toán mức phí hợp lý Cuối cùng nhiệm vụ của khai thác viên làcùng khách hàng ký kết hợp đồng bảo hiểm, tiến hành thu phí bảo hiểm và chămsóc các khách hàng đó để có thể tái tục hợp đồng trong các năm tiếp theo
3.Chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
3.1 Kết quả khai thác
Kết quả kinh doanh của một nghiệp vụ bảo hiểm, một loại hình bảohiểm và của cả một doanh nghiệp bảo hiểm được thể hiện ở hai chỉ tiêu chủ yếulà: Doanh thu và lợi nhuận Có thể thấy khâu khai thác là khâu đầu tiên khi kinhdoanh một nghiệp vụ BH nói chung và BH vật chất xe cơ giới nói riêng, vì thếkết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới được thể hiện bởi chỉ
Trang 31tiêu: doanh thu phí bảo hiểm, hoặc cũng có thể là số hợp đồng, số đơn BH cấptrong kỳ,…
Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về kết quả khai thác BH trong kỳ còn có thể sửdụng thêm một số chỉ tiêu đánh giá các mặt liên quan đến khâu khai thác như:
Chỉ số hoàn thành kế hoạch (iHK): là quan hệ tỷ lệ giữa mức
độ thực tế đã đạt được trong kỳ kế hoạch với mức độ kế hoạch đã đề ra về mộtchỉ tiêu kinh tế nào đó
iHK = y1 / ykChỉ số nhiệm vụ kế hoạch (iNK): là quan hệ tỷ lệ giữa mức độ
kỳ kế hoạch với mức độ thực tế của chỉ tiêu này đạt được ở trước kỳ kế hoạch
iNK = yk / y0Chỉ số thực hiện (i): là quan hệ tỷ lệ giữa mức độ thực tế đãđạt được trong kỳ kế hoạch với mức độ thực tế của chỉ tiêu này đạt được ở trước
kỳ kế hoạch
i = y1 / y0
và i = iNK yHK Bên cạnh các chỉ tiêu trên còn sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá chất lượngcủa khâu khai thác như: Tỷ lệ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe sovới tổng số xe tham gia BH vật chất hay tỷ lệ giữa Số tiền BH so với Giá trị BH,nếu tỷ lệ này càng lớn thì chứng tỏ chất lượng khai thác càng cao vì các chủ xe
có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ hoặc cũng có thể tham gia BH từng bộ phậncủa xe và tỷ lệ đó cao càng chứng tỏ xe tham gia BH toàn bộ chiếm nhiều hơn sovới xe tham gia BH từng bộ phận Hoặc các chỉ tiêu đánh giá năng suất khai tháccủa các khai thác viên như: Số hợp đồng bảo hiểm trung bình mà một khai thácviên có thể ký được trong kỳ; hoặc doanh thu phí bảo hiểm bình quân cho một
Trang 32hợp đồng cấp được trong kỳ, tốc độ tăng doanh thu, tốc độ tăng số đơn bảo hiểmđược cấp, tốc độ tăng lợi nhuận,…
3.2 Hiệu quả khai thác
Trước hết ta thấy, đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm thì hiệu quảkinh doanh là thước đo sự phát triển của bản thân doanh nghiệp bảo hiểm vàphản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh doanhnhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Các chỉ tiêu hiệu quả kinhdoanh được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với các chi phí đã
bỏ ra để đạt được kết quả đó Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí đã bỏ ra thì ta được một chỉ tiêu hiệu quảkinh doanh
Với mỗi nghiệp vụ bảo hiểm khi triển khai thường phải qua một sốkhâu công việc cụ thể: Khâu khai thác, khâu giám định và bồi thường, khâu đềphòng và hạn chế tổn thất…Để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ, đòi hỏi phảinâng cao hiệu quả từng khâu công việc Điều đó có nghĩa là phải xác định hiệuquả của từng khâu công việc, từ đó xem xét đánh giá xem khâu nào chưa manglại hiệu quả để tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục hiệu quả Để đánh giáhiệu quả khai thác bảo hiểm ( HQKTBH), phải xác định chỉ tiêu:
HQKT= Kết quả khai thác trong kỳ/ chi phí khai thác trong kỳ.
Trong đó: Kết quả khai thác trong kỳ có thể là doanh thu phí bảo hiểm,hoặc cũng có thể là số lượng hợp đồng, số đơn bảo hiểm cấp trong kỳ…
Chi khai thác có thể là tổng chi phí trong khâu khai thác hoặccũng có thể là số đại lý khai thác trong kỳ
Trang 33Chương II Phân tích tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại văn phòng 7 – công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai
đoạn 2003-2007.
I Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO).
1 Giới thiệu về PJICO.
1.1 Quá trình thành lập và phát triển
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex ( PJICO) là doanh nghiệp cổ phầnđược thành lập theo giấy phép số 1873/GP-UB ngày 08 tháng 06 năm 1995 dochủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp với thời gian hoặt động là 25năm Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 55 tỷ đồng Ngày 15 tháng 04 năm
2004, PJICO nhận giấy phép điều chỉnh số 06/GPĐC12/KDBH của Bộ TàiChính cho phép công ty bổ sung vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng Ngày 26 tháng 04năm 2007, PJICO nhận giấy phép điều chỉnh số 06/GPĐC19/KDBH của Bộ TàiChính cho phép công ty bổ sung vốn điều lệ lên 140 tỷ đồng
Là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên được thành lập tại Việt Nam năm
1995 theo chính sách đổi mới phát triển kinh tế của Nhà nước, là sự tập hợp sứcmạnh kinh tế và uy tín của các công ty lớn của Nhà nước trong đó cổ đông sánglập chi phối là Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, và các cổ đông sáng lập khác làTổng công ty thép Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam,… Công tybảo hiểm PJICO đã phát triển nhanh chóng về mọi mặt và được đánh giá là mộttrong những công ty bảo hiểm có chất lượng dịch vụ hàng đầu trên thị trườngbảo hiểm Việt Nam
PJICO hoạt động theo Luật kinh doanh bảo hiểm và Điều lệ hoặt động đãđược Đại hội cổ đông thông qua Lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của
Trang 34Sau 12 năm hoạt động, với phương châm phục vụ tận nơi, đáp ứng nhucầu bảo hiểm ngay tại chỗ, Công ty đã xây dựng được một đội ngũ trên 1.000cán bộ nhân viên năng động, được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn tốtlàm việc tại Hà Nội và 48 chi nhánh, văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành từbắc chí nam và hơn 4.500 đại lý, cộng tác viên bảo hiểm trong toàn quốc Công
ty PJICO đã nhanh chóng triển khai rộng rãi gần 70 loại hình bảo hiểm trong cáclĩnh vực xây dựng, lắp đặt, tài sản hoả hoạn, hàng hải, con người, xe cơ giới,trách nhiệm dân sự tới hàng vạn đối tượng khách hàng trong nước và nướcngoài
1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex ( PJICO)
Hình 3: Cơ cấu tổ chức của công ty
Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của PJICO Đại
hội cổ đông có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của Hội đồng quản trị; Thông
Đai hội Đồng Cổ Đông Hội Đồng Quản Trị Tổng Giám đốc
Các chi nhánh Văn phòng đại diện Đại lý
Ban Kiểm soát
Phó Tổng Giám đốc
Trang 35hướng phát triển trung và dài hạn; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội đồng quảntrị, Ban kiểm soát và quyết định bộ máy tổ chức của công ty.
Hội đồng quản trị Là cơ quan quản lý cao nhất của công ty, có toàn
quyền nhân danh PJICO để quyết định mọi vấn đề quan trọng liên quan đến mụcđích, quyền lợi của PJICO, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổđông Hội đồng quản trị PJICO gồm 9 thành viên: 3 thành viên đại diện cổ đôngPetrolimex, 5 thành viên đại diện cho 5 cổ đông lớn (Vietcombank, Vinare,VSC, Matexim, Hanel), 1 thành viên đại diện cho các cổ đông thể nhân
Ban kiểm soát Ban kiểm soát của PJICO do Đại hội cổ đông bầu ra có
chức năng kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của Hội đồngquản trị, hoạt động điều hành kinh doanh của Tổng giám đốc; Kiểm soát, giámsát việc chấp hành điều lệ và nghị quyết Đại hội cổ đông Ban kiểm soát PJICOgồm 5 thành viên
Ban Tổng Giám đốc Tổng giám đốc PJICO do Hội đồng quản trị bổ
nhiệm, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông về điềuhành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Ban Tổng Giám đốcđiều hành PJICO gồm 4 thành viên: trong đó có 1 Tổng giám đốc, và 3 Phó Tổnggiám đốc
1.3 Tình hình hoặt động kinh doanh của PJICO giai đoạn 2005-2007
Sau 10 năm hình thành phát triển và đi vào hoạt động, PJICO đã có cácbước phát triển đáng kể, thành công cũng có nhiều , kinh nghiệm rút ra từ cácthất bại thực tiễn cũng đáng kể Chính vì thế, PJICO đã ngày càng lớn mạnh trởthành một tập đoàn tài chính có uy lực và có một vị thế ngày càng vững chăctrên thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng Để hểu
Trang 36rõ hơn về tình hình hoặt động kinh doanh trong các năm gần đây của công ty, ta
đi tìm hiểu bảng số liệu sau:
Bảng 1: Kết quả hoặt động kinh doanh của PJICO giai đoạn 2005-2007
trong đó phí BH gốc
840,29
726
20.7 20,4
831,37
670
(-1,06) (-7,7)
1.040
880
25 31
Tổng chi kinh doanh
trong đó chi bồi thường gốc
805,3
376,4
26 33
800,47
323,6
(-0,6) (-14,02)
910
352
13 9
Lợi nhuận trước thuế 12,5 (-64,3) 30.9 147,2 50 62
Tổng dự phòng nghiệp vụ 294 32,7 353 20,1 450 27,5
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của PJICO 2005-2007) Nhìn váo bảng số liệu ta thấy tình hình hoặt động kinh doanh của PJICO giai
đoạn 2005-2007 có nhiều biến động Cụ thể:
Đối với năm 2005: mặc dù vẫn đạt tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểmgốc, tổng doanh thu phí ở mức khoảng 20%, cao hơn mức tăng trưởng chung của
toàn thị trường (16,5%) nhưng hiệu quả kinh doanh và chất lượng tăng trưởng
trong năm lại không tốt, cụ thể chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế - có thể nói đây làchỉ tiêu quan trọng lại có sự tăng trưởng âm so với năm 2004, điều này đòi hỏicông ty phải có các chiến lược cụ thể để nâng cao hiệu quả trong kinh doanhhơn
Năm 2006: Các chỉ tiêu tổng thu, tổng chi kinh doanh, thu từ phí bảohiểm, chi bồi thường bảo hiểm gốc luôn có sự thay đổi qua các năm Nhìn trênbảng số liệu ta thấy năm 2006 các chỉ tiêu trên đều giảm mạnh, tuy nhiên phí thu
từ bảo hiểm gốc giảm ít hơn so với chi bồi thường bảo hiểm gốc điều này giúp
Trang 37cho lợi nhuận của công ty năm 2006 tăng trưởng mạnh so với năm 2005
(147,2%), cùng với sự tăng lên của lợi nhuận thì dự phòng nghiệp vụ cũng tăng
lên so với năm 2005 điều này cũng là động lực giúp cho công ty có thể nâng caohiệu quả kinh doanh trong năm 2007
Năm 2007: Có thể nói đây là một năm kinh doanh có hiệu quả đối với công ty Nhìn vào bảng số liệu có thể nói các chỉ tiêu đã được khắc phục đáng
kể, với tổng thu kinh doanh và thu từ phí bảo hiểm gốc tăng lên mạnh, tổng chi kinh doanh và chi bồi thường bảo hiểm gốc cũng tăng lên nhưng với mức độ tăng chậm hơn so với mức độ tăng trưởng của tổng thu và doanh thu từ phí Đây
là một dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ công ty ngày càng kinh doanh có hiệu quả hơn, tính chính xác, chuyên nghiệp hơn Điều này giúp cho lợi nhuận trước thuế cũng như dự phòng nghiệp vụ năm 2007 tăng lên mạnh, càng thể hiện sự vững mạnh cũng như vị thế của công ty trên thị trường
Ngay từ khi thành lập, PJICO đã triển khai và cung cấp trên 50 sản phẩmbảo hiểm trên toàn quốc, trong đó các sản phẩm bảo hiểm đóng góp chủ yếutrong tổng phí bảo hiểm gốc của PJICO bao gồm: Bảo hiểm xe cơ giới; Bảohiểm con người; Bảo hiểm hàng hải (bao gồm tàu thuyền và hàng hoá vậnchuyển); Bảo hiểm xây dựng lắp đặt công trình và bảo hiểm tài sản hoả hoạn Cóthể thấy, đây là những sản phẩm có tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm gốc caotrong tổng doanh thu toàn Công ty và cũng là các nghiệp vụ bảo hiểm có tốc độtăng trưởng cao trong những năm gần đây Vậy trong các sản phẩm bảo hiểm đãnói trên thì nghiệp vụ nào đang giữ vai trò chủ đạo đối với công ty, đê hiểu rõhơn tình hình hoặt động kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm đó ta đi tìm hiểu vàphân tích bảng số liệu sau:
Bảng 2: Cơ cấu doanh thu bảo hiểm gốc của PJICO qua các năm 2005 -2007.
Trang 38Nghiệp vụ 2005 2006 2007
Giá trị (tỷ đồng)
( Nguồn: Báo cáo tài chính PJICO 2005-2007)
Qua bảng tình hình kinh doanh các nghiệp vụ BH của công ty giai đoạn2005-2007, ta thấy nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới luôn giữ vị trí quan trọngtrong công ty, qua 3 năm ta thấy nghiệp vụ BH này luôn giữ trên 40% doanh thutoàn công ty, đặc biệt năm 2007 nghiệp vụ này chiêm tới 463 tỷ đồng, tươngđương 52,6% doanh thu của công ty Qua đây có thể khẳng định nghiệp vụ BH
xe cơ giới là nghiệp vụ mũi nhọn của công ty về mặt doanh số, đây cũng lànghiệp vụ giúp PJICO giữ vững thị thị phần ngay cả trong sức ép hội nhập và lànghiệp vụ tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động và đại lý Chính vì thế cầnphải có những chính sách, biện pháp phù hợp để ngày càng nâng cao hiệu quảnghiệp vụ nay trong các năm tiếp theo
Tuy nhiên các nghiệp vụ bảo hiểm khác cũng đóng góp vai trò khôngkém phần quan trọng vào doanh thu chung của toàn PJICO (chiếm khoảng 1/2doanh thu), vì thế bên cạnh nghiệp vụ BH xe cơ giới thì cũng cần phải có nhữngchiến lược kinh doanh cụ thể giúp cho các nghiệp vụ còn lại kinh doanh ngàycàng có hiệu quả hơn
Trang 39
2 Giới thiệu về văn phòng bảo hiểm 7 – công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO).
2.1 Quá trình thành lập, phát triển và có cấu tổ chức của văn phòng 7.
Để thực hiện mục tiêu chiến lược phát tiển của công ty là ngày càng mởrộng địa bàn hoạt động kinh doanh nhằm khai thác tối đa tiềm năng của thịtrường, tăng vị thế và thị phần của công ty cũng như để thuận lợi cho vấn đềtriển khai bảo hiểm như khai thác, giám định bồi thường,… thì PJICO đã quyết
định mở thêm các chi nhánh khắp Hà Nội (trong đó có văn phòng 7)
Văn phòng 7 được thành lập năm 2003 Văn phòng có vị trí địa lý kháthuận lợi trong hoặt động kinh doanh của mình Khi mới thành lập văn phòng chỉ
có 7 nhân viên, hiện tại văn phòng đã có 11 nhân viên và hầu hết các nhân viênnày đều tốt nghiệp chuyên ngành bảo hiểm của các trường đại học Trong 11người này thì có một trưởng phòng – là một người quản lý có kinh nghiêm,gương mẫu, và đặc biệt rất hiểu và tâm lý đối với nhân viên của mình, còn lại là
10 người khai thác viên Trong 10 người khai thác viên này thì có 6 người làkhai thác chuyên nghiệp, còn lại 4 người cụ thể có một phó phòng, một kế toán,một thống kê, một giám định viên, 4 người này bên cạnh làm các công việcchính trên họ còn kiêm cả khai thác
Bên cạnh các cán bộ văn phòng thì văn phòng cũng có khoảng 14 Đại lýbảo hiểm trong đó có 6 Đai lý chuyên nghiệp và 8 Đại lý đang học việc Tuy mớithành lập được hơn 5 năm nhưng tình hình kinh doanh của văn phòng 7 đã ngàycàng phát triển và đi vào ổn định, tính chất nghiệp vụ ngày càng được nâng caocho nên việc kinh doanh ngày càng hiệu quả vì thế văn phòng đã đóng góp mộtphần đáng kể vào thành công chung của toàn PJICO
Trang 402.2 Tình hình kinh doanh của văn phòng BH khu vực 7 – PJICO giai đoạn
2005 – 2007
Sau 5 năm thành lập và đi vào hoạt động, tình hình kinh doanh của vănphòng 7 đã có nhiều thay đổi, cụ thể có nhiều bước phát triển mới về mọi mặt
Để hiểu rõ hơn về điều này ta đi phân tích bảng số liệu sau:
Bảng3 Kết quả hoặt động kinh doanh của văn phòng 7 – PJICO giai đoạn
trong đó chi bồi thường gốc
6481 4684
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh – văn phòng BH 7)
KQKD : Kết quả kinh doanh
Trong giai đoạn 2005 – 2007 ta thấy:
Năm 2005 là năm có doanh thu phí bảo hiểm cao nhất đối với toàn vănphòng 7 với doanh thu đạt 7122 triệu đồng tăng 3022 Tr đồng, tương đươngtăng 73,7% so với năm 2004 Tuy nhiên năm 2005 cũng là năm có tổng chi phícao nhất với 6481 triệu đồng tăng 41,8% so với năm 2004, tổng chi tăng cao bởi