1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm giải pháp cho thị trường chứng khoán hiện nay

42 605 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Giải Pháp Cho Thị Trường Chứng Khoán Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Bá Quyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Dũng
Trường học Trường đại học kinh tế
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2008 đến nay thì TTCK đã chứng kiến sự giảm tốcđáng sợ nhất trong lịch sử hoạt động của mình và nó chưa cho thấy có dấu hiệu dừng lại khikhông chỉ các n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾKHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

TỀN ĐỀ TÀI: TÌM GIẢI PHÁP CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HIỆN

NAY

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN BÁ QUYỀNLỚP: QH-2010-KTCT

Hà Nội, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾKHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

TỀN ĐỀ TÀI: TÌM GIẢI PHÁP CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HIỆN

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 MỞ ĐẦU 6

1.1 Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài) 6

1.2 Mục đích nghiên cứu 7

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 7

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7

1.5 Kết cấu nội dung đề tài nghiên cứu 7

Chương 2 Cơ sở lý luận về TTCK 9

Sơ lược về TTCK Việt Nam 9

2.1 Khái niệm 9

2.2 Chức năng cơ bản của TTCK 10

2.3 Các chủ thể tham gia TTCK 10

2.3.1 Tổ chức phát hành 11

2.3.2 Nhà đầu tư 11

2.3.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK 12

2.3.4 Các tổ chức có liên quan đến TTCK 12

2.4 Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK 13

2.5 Giá chứng khoán và các nhân tố hình thành, ảnh hưởng đến giá chứng khoán 13

2.5.1 Các nhân tố nội sinh: 14

2.5.2 Các nhân tố ngoại sinh: 15

2.5.3 Các nhân tố can thiệp: 15

2.6 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam 16

Chương 3 Thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam từ năm 2008 đến nay 17

3.1 Những thành tựu đạt được từ khi thành lập đến nay 17

Trang 4

3.2 Khái quát những biến động của thị trường chứng khoán qua chỉ số VN-Index từ năm 2008

đến năm 2011 19

3.2.1 Năm 2008 19

3.2.2 Năm 2009: 21

3.2.3 Năm 2010 23

3.2.4 Năm 2011 25

3.3 Toàn cảnh thị trường chứng khoán năm 2012 26

3.4 Phân tích những nguyên nhân gây biến động TTCK năm 2012 32

3.4.1 Hàng hóa trên TTCK 32

3.4.2 Quá nhiều công ty chứng khoán so với quy mô thị trường 33

3.4.3 Các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 33

3.4.4 Chính sách của cơ quan quản lý còn nhiều điểm bất cập 34

Chương 4 Một số giải pháp cho sự phát triển bền vững của Thị trường chứng khoán Việt Nam 35 4.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách 37

4.2 Tạo hàng hóa có chất lượng tốt cho TTCK 38

4.3 Tái cấu trúc các công ty chứng khoán 39

4.4 Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư 40

4.5 Tăng cường giám sát, quản lý thông tin 40

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVH: Tập đoàn Bảo Việt

Trang 5

KLGD: Khối lượng giao dịch.

MSN: Công ty Masan Consumer

VCSC: Công ty chứng khoán Bản Việt

VN-Index: Chỉ số chứng khoán Việt Nam

Trang 6

Chương 1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài).

Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh cung cấp vốn trung và dài hạn quan trọngcho nền kinh tế Nó cùng với hệ thống ngân hàng tạo nên một hệ thống tài chính cung cấpvốn đầu tư, phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Đối với Việt Nam, trong giai đoạn phát triển tiến tới CNH-HĐH thì việc duy trì mức tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế sang hướng phát triển hiệu quả, ổn định thì sẽ cầnmột nguồn vốn rất lớn Và TTCK càng đóng một vai trò quan trọng để thu hút nguồn vốn từdân cư hay các nhà đầu tư nước ngoài để phục vụ quá trình phát triển kinh tế của đất nước.Hơn thế nữa, trên phương diện chính trị và ngoại giao thì TTCK còn có tác động rất tíchcực tới quá trình hội nhập của nước ta vào kinh tế khu vực và thế giới

Từ khi thành lập đến nay, TTCK VN đã góp phần nhiều vào quá trình phát triển kinh tếthị trường của nước ta, trong đó có quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, tănghiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp này Trong vai trò là một kênh huy động vốn thìTTCK cũng là một kênh huy động vốn lớn của các doanh nghiệp và chính phủ trong nềnkinh tế, đặc biệt trong thời kỳ đỉnh cao của thị trường năm 2006-2007 Theo thống kê của

ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) huy động vốn của TTCK sau 12 năm hoạt động

là 700.000 tỷ đồng

Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2008 đến nay thì TTCK đã chứng kiến sự giảm tốcđáng sợ nhất trong lịch sử hoạt động của mình và nó chưa cho thấy có dấu hiệu dừng lại khikhông chỉ các nhà đầu tư rút khỏi sàn mà còn cả các công ty niêm yết cũng không còn mặn

mà với chứng khoán nữa, một số công ty đã chủ động hủy niêm yết như: C.ty cổ phần Hóa –Dược phẩm MEKOPHAR (MKP), C.ty cổ phần Gò Đàng – Godaco Seafood (AGD)…Vậyđâu là nguyên nhân của sự khủng hoảng này và giải pháp nào trong thời gian tới để cải thiệntình hình đầu tư trong thị trường chứng khoán giúp thị trường phát triển ổn định và phát huyvai trò là một kênh huy động vốn lớn của nền kinh tế

Trong bài viết này tác giả muốn tìm hiểu đâu là nguyên nhân thực sự gây nên sự khủnghoảng của thị trường và từ các nghiên cứu lý luận trước đó để TTCK có thể thoát khỏi đợtsuy thoái này và phát triển bền vững trong tương lai

Trang 7

1.2 Mục đích nghiên cứu.

để có thể mở rộng hiểu biết của mình về TTCK

gần đây (từ năm 2008 đến nay) trên các khía cạnh:

 Khả năng thu hút vốn của TT

 Mức độ hấp dẫn của thị trường với nhà đầu tư (thanh khoản)

 Chính sách, quản lý của nhà nước đối với TTCK VN

• Đề xuất một số kiến nghị giúp thị trường phát triển hơn trong thời gian tới

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, cần phải hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu sau:

• Nghiên cứu cơ sở lý luận về TTCK thế giới nói chung và TTCK VN nói riêng

đến nay

 Tìm hiểu chính sách quản lý của nhà nước đối với TTCK VN

 Phân tích tình hình hoạt động của công ty chứng khoán Kim Long (KLS)

 Phân tích tình hình hoạt động của một số công ty niêm yết và nhà đầu tưtrong, ngoài nước (quỹ đầu tư và nhà đầu tư cá nhân, tổ chức)

trường

 Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khôi phục và phát triển TTCK VNtrong tương lai

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.

Các chủ thể tham gia TTCK VN: ủy ban chứng khoán nhà nước, công ty chứng khoán,công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, nhà đầu tư

• Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 đến nay

• Phạm vi không gian nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu cổ phiếu trên sàn HOSE vàkhông nghiên cứu các loại trái phiếu, cổ phiếu giao dịch trên thị trường phi tậptrung (OTC)

1.5 Kết cấu nội dung đề tài nghiên cứu.

Trang 8

• Phần 1: Cơ sở lý luận về TTCK.

• Phần 3: Giải pháp cho TTCK VN phát triển bền vững trong tương lai

• Kết luận và khuyến nghị

Trang 9

Chương 2 Cơ sở lý luận về TTCK

Sơ lược về TTCK Việt Nam

2.1 Khái niệm

Thị trường chứng khoán (TTCK) trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quanniệm là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bán nàyđược tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ nhữngngười phát hành và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đãđược phát hành ở thị trường sơ cấp Như vậy xét về mặt hình thức TTCK chỉ là nơi diễn racác hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủthể nắm giữ chứng khoán

Theo khái niệm của Trường đại học Kinh tế quốc dân thì thị trường chứng khoán là nơidiễn ra hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán được tiến hành bởi những đốitượng khác nhau theo quy định của pháp luật

Đây là nơi chấp nối quan hệ cung-cầu vốn đầu tư trung, dài hạn của nền kinh tế quốc dân

và quốc tế; là nơi gặp gỡ, giao dịch giữa những người cần huy động vốn đầu tư (người pháthành chứng khoán) với người có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư (người mua chứng khoán) cũngnhư các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau

Thị trường chứng khoán là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện cùng với sự phát triển bềnvững của thị trường Cũng như các thị trường khác, thị trường chứng khoán cũng qua nhữngbước phát triển sơ khai ban đầu, sau đó ngày càng đa dạng, phức tạp dần theo sự phát triểncủa các quan hệ kinh tế-xã hội Đây là thị trường đặc biệt, lưu hành các loại các loại hànghóa đặc biệt là chứng khoán Sự khác biệt cơ bản đó làm cho nguyên tắc, tổ chức, quản lýthị trường chứng khoán cũng khác biệt so với các thị trường thông thường

Như vậy, ta có thể thấy TTCK cũng là một thị trường hàng hóa chịu ảnh hưởng của quan

hệ cung-cầu như trong nền kinh tế thị trường, chỉ khác là hàng hóa trong TTCK là những

Trang 10

giấy tờ có giá như: cổ phiếu, trái phiếu,…Sự trao đổi hàng hóa ở đây được thực hiện tậptrung tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và nhằm tạo ra nguồn vốn trung và dài hạncho nền kinh tế.

2.2 Chức năng cơ bản của TTCK

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, TTCK ngày càng đóng góp nhiều cho sự pháttriển của nền kinh tế Dưới đây là một vài chức năng cơ bản nhất của TTCK đóng góp chonền kinh tế

− Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

− Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

− Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế

− Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, TTCK đã phần nào cho thấy các chức năng cơ bảncủa nó đối với nền kinh tế, nhưng những chức năng này vẫn chưa phát huy hết được khảnăng của nó Có nhiều nguyên nhân làm kìm hãm sự phát triển của TTCK, và trong bàinghiên cứu này tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu kỹ những nguyên nhân đó

2.3 Các chủ thể tham gia TTCK

Cũng giống như các thị trường truyền thống, để hoạt động được thì TTCK cũng phải cócác chủ thể tham gia hoạt động mua bán của thị trường, điển hình nhất đó là người mua (nhàđầu tư) và người bán (công ty phát hành) Ngoài ra trên TTCK còn một số chủ thể tham giakhác tham gia góp phần làm thị trường hoạt động dễ dàng và ổn định hơn như: các tổ chứctrung gian, các công ty kinh doanh trên TTCK, những người điều hành, quản lý TTCK, Sau đây là một số chủ thể tham gia chủ yếu trên TTCK Việt Nam

Trang 11

Nhà đầu tư là những người thực sự mua bán chứng khoán trên TTCK Nhà đầu tư có thểchia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư là tổ chức.

− Nhà đầu tư cá nhân: là các cá nhân trong xã hội có nhu cầu đầu tư vào TTCK và cótiền để đầu tư

− Nhà đầu tư có tổ chức: là một nhóm gồm nhiều các nhà đầu tư góp vốn, các tổ chứcnày thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn và họ đầu tư dựa vàonhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu, phân tích thị trường và đưa ra cácquyết định đầu tư Các tổ chức đầu tư này có ưu điểm là danh mục đầu tư đa dạng vàđầu tư dựa trên những nghiên cứu thị trường của các chuyên gia Như vậy sẽ giảmthiểu rủi ro so với các nhà đầu tư cá nhân

Trang 12

2.3.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK

Để thị trường có thể hoạt động ổn định và dễ dàng, rất cần thiết có các tổ chức trung gianđứng ra để việc trao đổi các cổ phiếu, trái phiếu dễ dàng hơn Nhiệm vụ chính của các tổchức kinh doanh chứng khoán là bảo lãnh phát hành, môi giới, quản lý danh mục đầu tư và

tư vấn đầu tư chứng khoán Tại Việt Nam có thể kể đến hai tổ chức kinh doanh điển hình đólà: công ty chứng khoán và các trung gian tài chính

− Công ty chứng khoán: công ty này hoạt động với nhiệm vụ: môi giới, tư vấn đầu tưcho nhà đầu tư, tự doanh chứng khoán,…

− Các trung gian tài chính: tham gia đầu tư chứng khoán trong khả năng cho phép củanhà nước, chủ yếu là các NHTM, các quỹ đầu tư,

Hiện nay các tổ chức kinh doanh chứng khoán đang dư thừa so với thị trường, dẫn đếnnhững cạnh tranh không lành mạnh từ các tổ chức hoạt động không lành mạnh Thực trạngnày sẽ được diễn tả trong phần sau của đề tài

2.3.4 Các tổ chức có liên quan đến TTCK

Thị trường chứng khoán là một thị trường chịu sự quản lý của nhà nước, nên nó sẽ cónhững cơ quan quản lý của nhà tham gia vào việc điều hành thị trường, dưới đây là một sốcác tổ chức, cơ quan trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành cũng như tác động tới sự phát triểncủa thị trường

− Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán

− Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

− Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

− Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán

− Các tổ chức tài trợ chứng khoán

− Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm

Thị trường chứng khoán Việt Nam mới thành lập, thị trường còn non trẻ nên những quyđịnh của thị trường đang dần được xây dựng Để thị trường có thể phát triển hơn nữa thì rất

Trang 13

cần có các quy định phù hợp, khuyến khích thị trường phát triển trong thời gian tới nhiềuhơn nữa.

2.4 Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK

TTCK là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, tráiphiếu, các khoản vay ngân hàng…có kỳ hạn trên 1 năm) Cấu trúc của thị trường chứngkhoán có thể chia thành nhiều loại như: căn cứ vào phương thức hoạt động, căn cứ vào hànghóa trên thị trường và căn cứ vào sự luân chuyển dòng vốn Trong phạm vi bài nghiên cứunày, tác giả chỉ đưa ra cách phân loại TTCK dựa vào sự luân chuyển dòng vốn

Theo cách này TTCK sẽ được phân chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

− Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thịtrường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang tổ chức phát hành thông qua việcnhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

− Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thịtrường sơ cấp và là nơi đảm bảo thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.Hai thị trường này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát triển của thị trường nàycũng trực tiếp tác động đến sự phát triển của thị trường kia và ngược lại Nếu không có thịtrường sơ cấp thì cũng không có thị trường thứ cấp và nếu không có thị trường thứ cấp thìchứng khoán sẽ khó chuyển thành tiền, như vậy phạm vi nhà đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại Trênthực tế thì không có sự phân biệt giữa chứng khoán sơ cấp và chứng khoán thứ cấp, sự giaodịch giữa hai trường này hầu như là giống nhau Trong một thị trường chứng khoán vừa cóthể giao dịch chứng khoán sơ cấp và chứng khoán thứ cấp

2.5 Giá chứng khoán và các nhân tố hình thành, ảnh hưởng đến giá chứng khoán

Các nhân tố hình thành giá cả chứng khoán dưới góc độ lý thuyết.

Trang 14

Giá cả chứng khoán (không kể trái phiếu) là cái được phản ánh từ hàng hóa thực, từ xuthế hoạt động của công ty và tình hình kinh tế cơ bản của công ty, dưới sự tác động của cácnhân tố nội tại, nhân tố vi mô, vĩ mô liên quan đến hàng hóa chứng khoán.

Sự vận động của giá cả chứng khoán rất phức tạp, đầy biến động và rất khó nắm bắt Giá

cả chứng khoán là một chỉ tiêu rất nhạy cảm trong môi trường tổng thể của hệ thống kinh tế

xã hội, trước hết là độ an toàn của nền tài chính quốc gia có quan hệ mật thiết với giá cảchứng khoán lành mạnh Có rất nhiều nhân tố can dự vào sự hình thành giá cả chứng khoán:

những nhân tố nội sinh, nhân tố ngoại sinh, các yếu tố can thiệp… (Theo tác giả GS TS Lê Văn Tư – Thị trường chứng khoán – NXB Thống kê[T118- 119]).

2.5.1 Các nhân tố nội sinh:

Là các nhân tố làm tăng, giảm giá trị của cổ phiếu gắn với công ty cổ phần Các nhân tốquyết định sự tồn tại cảu hàng hóa chứng khoán là khả năng khai thác và sử dụng các nguồnlực của công ty, lợi thế kinh doanh và các nhân tố lợi thế vô hình khác mà công ty đã tạodựng được cho hàng hóa thực, kể cả phần tích tụ lợi nhuận không chia của công ty cổ phần

để tái đầu tư, tạo lợi thế so sánh cho hàng hóa như giá cả, chất lượng, hợp thị hiếu của ngườitiêu dùng,…

Vậy giá trị của hàng hóa chứng khoán phản ánh những giá trị hữu hình, vô hình của hànghóa thực và là những vấn đề cơ bản của công ty Giá cả chứng khoán luôn luôn thay đổi và

cổ phiếu sẽ luôn có giá trị mới do thị TTCK quy định Giá trị ban đầu thu được từ việc báncác cổ phần được các công ty dùng vào việc đầu tư dài hạn, tạo ra hàng hóa dịch vụ mới.Nếu công ty phát triển bình thường và nền kinh tế cũng phát triển ổn định thì giá cổ phiếu

có xu hướng tăng Vì vậy, xu thế tăng lên của các chỉ số giá cả chứng khoán là thước đo củamột nền kinh tế - tài chính phát triển lành mạnh Ngược lại xu thế đi xuống của các chỉ số

này thể hiện sự yếu kém của nền kinh tế - tài chính (Theo tác giả GS TS Lê Văn Tư – Thị trường chứng khoán – NXB Thống kê[T119-120]).

Trang 15

2.5.2 Các nhân tố ngoại sinh:

Thị trường chứng khoán là một bộ phận trong thị trường tài chính nên chịu sự chi phốitrực tiếp từ những biến cố phát triền lành mạnh hoặc những rủi ro có thể xảy ra trong thịtrường tài chính Ngược lại, thị trường chứng khoán có làm lành mạnh hoặc làm ô nhiễmthêm cho môi trường tài chính

Ngoài ra còn có các nhân tố vĩ mô khác ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán như chu kìphát triển kinh tế, lạm phát, giảm phát, những nhân tố phi kinh tế khác như thiên tai, chiến

tranh, hòa bình,… (Theo tác giả GS TS Lê Văn Tư – Thị trường chứng khoán – NXB Thống kê[T121]).

2.5.3 Các nhân tố can thiệp:

Đó là sự lệ thuộc vào những yếu tố đầu vào, đầu ra hoặc sự lệ thuộc về tài chính, tiền tệbởi một công ty khác hay một nền kinh tế khác Nếu các đối tác đó sụp đổ thì cũng kéo theocông ty sụp đổ Các nhân tố đầu cơ, móc ngoặc, lũng đoạn chứng khoán của cá nhân, các tổchức, các công ty trong hoặc ngoài nước tạo ra cung, cầu chứng khoán giả tạo, làm giá cảhàng hóa chứng khoán bị méo mó, các chính sách can thiệp của chính phủ…

Giá cả chứng khoán là hình ảnh phản chiếu những vấn đề cơ bản của kinh tế doanhnghiệp và nhữn ván đề cơ bản của nền kinh tế - xã hội vĩ mô Lý thuyết thị trường hiệu quảcho rằng giá cả thị trường chứng khoán nhạy cảm với các tin tức, những sự kiện kinh tế - xãhội Giá cổ phiếu biến động tương ứng với những sự kiện bất thường như những bước ngẫunhiên

Tuy nhiên, giá cả của một loại hàng hóa chứng khoán không thoát li hẳn với những yếu

tố kết tinh thành giá trị hàng hóa thực Khi công ty phá sản thì các tài sản sẽ được định giálại, phát mại rồi trả hết nợ kể cả những trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi Phần còn lại được chiađều cho các cổ phiếu thường Như vậy, giá cả cổ phiếu vẫn còn gắn với một phần giá trị củahàng hóa phát hành

Trang 16

Giá cả hàng hóa chứng khoán là một đại lượng ngẫu nhiên, không thể nhận dạng đượcmột cách chắc chắn nên nó vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư bởi nó tiềm ẩn khả năng được hưởng

mức lãi suất cao (Theo tác giả GS TS Lê Văn Tư – Thị trường chứng khoán – NXB Thống kê[T121-123]).

2.6 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngày 11-8-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán vàTTCK chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt nam ra đời

Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoánđặt tại TP HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCK Việt Nam thực ra đã do Ủy BanChứng khoán Việt Nam ra đời bằng nghị định 75/CP ngày 28-11-1996

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP HCM (TTGDCK TP HCM) được thành lập theoquyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiệnphiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000

Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đời ngày

8-3-2005 Khác với TTGDCK TP HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch của các công ty lớn),TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷđồng)

Chỉ số VN-Index:

VN-Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam VN-Index xây dựng căn cứ vàogiá thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết với hệ thống chỉ số này, nhà đầu tư cóthể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát

Chỉ số VN-Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở vào ngàygốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động

Chỉ số VNIndex cho thấy sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch của các loại chứngkhoán được niêm yết tại sàn chứng khoán TP Hồ Chí Minh

Trang 17

Chương 3 Thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam từ năm

2008 đến nay

3.1 Những thành tựu đạt được từ khi thành lập đến nay.

Sau 12 năm hoạt động, thị trường chứng khoán đã thực sự có sự trưởng thành sau khi nỗlực vượt qua nhiều gian khó, qua đó đạt được những thành tựu đáng khích lệ Đáng kể nhất

là đảm bảo cho thị trường phát triển an toàn, ổn định kể cả trong điều kiện kinh tế gặp nhiềukhó khăn, điều mà không phải thị trường non trẻ nào cũng làm được

Theo số liệu thống kê của Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) So với cách đây 12

năm, quy mô thị trường hiện tăng trên 50 lần, vốn hóa năm đầu tiên dưới 1% GDP, nhưngtính đến cuối năm 2011 đạt gần 27% Khối lượng giao dịch cũng tăng 30-40 lần so với nămđầu tiên giao dịch Công ty niêm yết trong năm đầu tiên thị trường hoạt động chỉ hơn 10doanh nghiệp, nay tăng lên gần 800 doanh nghiệp

Huy động vốn thực sự là điểm đáng chú ý hơn cả, với gần 700.000 tỷ đồng được huyđộng cho nền kinh tế qua 12 năm qua, đỉnh cao là năm 2007 đạt 127.000 tỷ đồng Luồngvốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có thời điểm cao nhất lên đến 12 tỷ USD, nay khoảng 6,7 tỷUSD, góp phần cân bằng cán cân thanh toán, cũng như gia tăng sức hấp dẫn cảu môi trườngđầu tư Việt Nam trong con mắt nhà đầu tư quốc tế

Các tổ chức kinh doanh chứng khoán đã có những bước phát triển về quy mô, mạng lướicông nghệ và trở thành một tổ chức trung gian phục vụ cho hoạt động tư vấn, cổ phần hóagóp phần kết nối cung cầu trên thị trường chứng khoán Cho đến nay TTCK đã có 105 công

ty chứng khoán với vốn chủ sở hữu đạt 38.000 tỷ đổng, có 47 công ty quản lý quỹ đang hoạtđộng với vốn chủ sở hữu đạt trên 2.600 tỷ đồng các công ty quản lý quỹ đã huy động vàquản lý quỹ đầu tư chứng khoán, các hợp đồng quản lý danh mục đầu tư với giá trị tài sảnlên tới 125.000 tỷ đồng các tổ chức kinh doanh chứng khoán đã thực sự trở thành trunggian tài chính giữa nhà đầu tư với thị trường

Về số lượng tài khoản nhà đầu tư cũng ngày một gia tăng, khi mới có thị trường chứngkhoán chỉ có khoảng 3.000 tài khoản, nhưng đến nay đã có 1,2 triệu tài khoản Qua đó cho

Trang 18

thấy TTCK đang trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong nước Lượngvốn huy động qua thị trường, đặc biệt là từ khối nhà đầu tư nước ngoài, đến nay danh mụccủa khối này khoảng 8 tỷ USD.

Các tổ chức thị trường như Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoáncũng ngày càng phát triển, công nghệ thông tin được cải thiện, nhiều dịch vụ, nghiệp vụ, sảnphẩm mới cũng đã được triển khai đảm bảo cho hoạt động thị trường được thông suốt,không để xảy ra đổ vỡ Khung pháp lý cho thị trường cũng ngày càng được hoàn thiện vàtừng bước tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế Sở GDCK Hà Nội, Sở GDCK TP Hồ Chí Minh

đã được thành lập trên cơ sở câu trúc lại các TTGDCK từ mô hình đơn vị sự nghiệp danghoạt dộng theo mô hình doanh nghiệp, hoạt động lưu ký, thanh toán bù trừ đã được tách rathành Trung tâm lưu kí chứng khoán độc lập theo thông lệ quốc tế

Khung pháp luật về TTCK ngày càng được hoàn thiện góp phần hoàn chỉnh thể chế kinh

tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Luật chứng khoán đã được ban hành năm 2006 vàđược bổ sung sửa đổi năm 2010, trên cơ sở đó Chính phủ, Bộ tài chính đã ban hành nhiềuvăn bản hướng dẫn Nghị định, thông tư, tạo ra hành lang pháp lý khá đầy đủ cho thị trườnghoạt động Cơ quan quản lý trực tiếp là UBCKNN đã được tăng cường để đảm nhiệm chứcnăng quản lý giám sát, thanh tra sử phạt, cưỡng chế thực thi, góp phần quan trọng làm chothị trường phát triển an toàn trong suốt nhiều năm qua

Như vậy hoạt động của thị trường chứng khoán trong thời gian qua đã có những bướcphát triển quan trọng, khẳng định vị trí và vai trò trong nền kinh tế và từng bước trở thànhkênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế pháttriển

Trang 19

3.2 Khái quát những biến động của thị trường chứng khoán qua chỉ số Index từ năm 2008 đến năm 2011.

VN-3.2.1 Năm 2008.

Năm 2008 là năm mà nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể

từ cuộc khủng hoảng 1929-1933, và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt Không tránhkhỏi tác động của cuộc khủng hoảng TTCK Việt Nam đã chứng kiến sự giảm điểm mạnhnhất từ khi thành lập đến nay VNIndex đóng cửa tại mức 315,62 điểm, mất 605,45 điểm,tương đương 65,33% so với phiên giao dịch đầu năm, đây là năm được coi là thê thảm nhấtđối với chứng khoán Việt Nam Từ thị trường có mức tăng trưởng ngoạn mục nhất trở thànhthị trường giảm điểm mạnh nhất chỉ sau một năm

Biểu đồ khối lượng giao dịch và VNIndex năm 2008

(nguồn: Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh)

Nhìn lại thị trường sau 1 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường: VNIndexgiảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh trong đó có nhiều mã đã rơi xuống dưới

Trang 20

mệnh giá, tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sự can thiệp của các cơ quanđiều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 31/12/2008, TTCK Việt Nam trải qua 3 giai đoạn chính.Giai đoạnh 1, thị trường giảm mạnh do ảnh hưởng của kinh té vĩ mô, kéo dài từ tháng 1 tớitháng 6 Giai đoạn 2, thị trường phục hồi diễn ra từ tháng 6 tới đầu tháng 9 Khoảng thờigian còn lại trong năm là giai đoạn giảm sâu của cả 2 chỉ số chứng khoán trong bối cảnhkhủng hoảng kinh tế toàn cẩu

Giai đoạn 1: Từ tháng 1 tới tháng 6 – thị trường giảm mạnh.

Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07 điểm VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị và trở thànhmột trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầu năm 2008.Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71 phiên VNIndex giảm điểm Đỉnhđiểm là chuỗi 34 phiên VNIndex giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 6/2008.Sau 103 phiên giao dịch VNIndex giảm mất 550,52 điểm, tương đương 59,77% Bình quântrong mỗi phiên giao dịch, toàn thị trường có 8,02 triệu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đượcchuyển nhượng, tương đương khoảng 482 tỷ đồng

Giai đoạn 2: Tháng 6 tới đầu tháng 9 – phục hồi trong ngắn hạn

Đây là giai đoạn thị trường hoạt động sôi nổi nhất trong năm Với sức cầu mạnh, kéotheo khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao VNIndex tăng được168,55 điểm, tương đương 45,52% Khối lượng giao dịch bình quân dạt 16,9 triệu cổ phiếu

và chứng chỉ quỹ, tương đương, 599,18 tỷ đồng/phiên

Giai đoạn 3: Từ tháng 9 đến tháng 12 – thị trường lại rơi vào xu thế giảm điểm do tác động của khủng hoảng kinh tế.

Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm điểm, thậm chí đã phá vỡ đáy thiết lậpđược trong giai đoạn đầu của năm 2008 Tổng kết giai đoạn này, VNIndex mất 223,48 điểm,tương đương 41,45% Khối lượng giao dịch trung bình đạt 15,82 triệu cổ phiếu và chứng chỉquỹ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên

Trang 21

Biểu đồ khối lượng giao dịch và VNIndex năm 2009

(nguồn: Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh)

Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2009 có thể chia làm 6 giai đoạn cơ bảnnhư sau:

Giai đoạn 1 (01/01 – 24/02): giảm từ 313 điểm xuống 235 điểm.

Ngày đăng: 06/03/2014, 19:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w