Thực tế trên thế giới hiện nay ngoài quan điểm truyền thống cho rằng quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh, tổ chức liên chính phủ, chủ thể đặc biệt khác là chủ thể của luật thì còn có qu
Trang 22
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ 7
1.1 Khái niệm 7
1.2 Đặc điểm 8
1.3 Quyền năng chủ thể 8
1.4 Phân loại 9
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ 10 2.1 Quan điểm truyền thống 10
2.1.1 Quốc gia 10
2.1.1.1 Các yếu tố cấu thành Quốc gia 10
2.1.1.2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của Quốc gia 11
2.1.2 Dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết 12
2.1.2.1 Khái niệm 12
2.1.2.2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết 13
2.1.3 Tổ chức quốc tế liên chính phủ 14
2.1.3.1 Khái niệm 14
2.1.3.2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ 15
2.1.4 Chủ thể đặc biệt 16
2.2 Quan điểm hiện đại 17
2.2.1 Cá nhân 18
2.2.1.1 Trách nhiệm pháp lý 19
Trang 33
2.2.1.2 Quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên toà án quốc tế 19
2.2.1.3 Vị thế pháp lý (status) của một số nhóm cá nhân trong luật quốc tế 20
2.2.2 pháp nhân - Công ty xuyên Quốc gia 21
2.2.2.1 Khái niệm 21
2.2.2.2 Vai trò chủ thể quan hệ quốc tế của Công ty xuyên quốc gia 21
2.2.3 Các tổ chức phi chính phủ 25
2.2.3.1 Khái niệm 25
2.2.3.2 Vai trò của tổ chức phi chính phủ trong quan hệ quốc tế 25
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ 27
3.1 Ưu và nhược điểm của quan điểm truyền thống 27
3.1.1 Ưu điểm 27
3.1.2 Nhược điểm 28
3.2 Ưu và nhược điểm của quan điểm hiện đại 29
3.2.1 Ưu điểm 29
3.2.1.1 Cá nhân Error! Bookmark not defined 3.2.1.2 Pháp nhân và các Tổ chức phi chính phủ Error! Bookmark not defined 3.2.2 Nhược điểm 29
3.2.2.1 Cá nhân Error! Bookmark not defined 3.2.2.2 Pháp nhân và các tổ chức phi chính phủ Error! Bookmark not defined 3.3 Đánh giá quan điểm cá nhân, pháp nhân là chủ thể của luật quốc tế…… 31
3.3.1 Về đối tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế 33
Trang 44
3.3.2 Về phương pháp điều chỉnh 34
3.3.3 Về biện pháp chế tài 34
3.3.4 Về chủ thể 34
3.3.5 Nguồn luật điều chỉnh 35
3.3.6 Quan điểm về chủ thể của luật quốc tế ở Việt Nam 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 55
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bất cứ quan hệ pháp luật nào thì chủ thể luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng và là một trong những dấu hiệu để xác định mối quan hệ nào đó thuộc sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nào Luật Quốc tế là hệ thống pháp luật được tập hợp từ nhiều văn bản từ nhiều nguồn khác nhau Việc nghiên cứu về chủ thể là rất cần thiết
vì giúp tìm ra đâu là nguồn của luật, quan hệ nào thuộc sự điều chỉnh của luật
Thực tế trên thế giới hiện nay ngoài quan điểm truyền thống cho rằng quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh, tổ chức liên chính phủ, chủ thể đặc biệt khác là chủ thể của luật thì còn có quan điểm (hiện đại) cho rằng cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ cũng nên được xem là chủ thể của luật Quốc Tế Đây là quan điểm mới và cũng được một số nước trên thế công nhận Hiện tại ở Việt Nam mặc dù cũng có nhiều ý kiến về vấn đề mới này nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về quan hiện đại Câu hỏi được đặt ra là: Chúng ta có suy nghĩ gì về vấn đề này? Có nên công nhận quan niệm hiện đại?
Đây là đề tài được xem là khá mới mẻ và còn nhiều vấn đề cần phải làm rõ nên chúng ta cần phải nghiên cứu sâu hơn để tìm ra lời giải đáp phù hợp với thực tiễn hiện nay
Đề tài áp dụng phương pháp thống kê để thu thập những bài viết có liên quan, đồng thời phân tích, so sánh, đối chiếu để làm rõ các vấn đề có liên quan đến chủ thể của Luật Tổng hợp những nhận định, ý kiến của nhiều người để từ đó đưa ra quan điểm chung về vấn đề này
Việc nghiên cứu sẽ giúp chúng ta nắm được những vấn đề cơ bản về chủ thể của luật Quốc Tế đồng thời giúp mọi người tìm ra được sự khác biệt giữa chủ thể của luật Quốc tế với các ngành Luật khác Giúp người đọc có cái nhìn rộng hơn về chủ
Trang 66
thể của Luật Quốc tế, tiếp xúc với nhiều quan điểm, ý kiến mới để từ đó có cái nhìn bao quát hơn Việc nên hay không nên công nhận thêm các chủ thể khác vào Luật Quốc tế hiện nay là chuyện rất dài và tốn nhiều thời gian
Đề tài này mong muốn giúp đọc giả có được nhiều cách nhìn nhận hơn về chủ thể của Luật Quốc Tế Nếu có sự thay đổi đáng kể về chủ thể của luật có thể sẽ có nhiều vấn đề được giải quyết hiệu quả hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện đề tài
Nhóm 6 lớp K09504
Trang 7 Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh
Có ý chí độc lập (không phụ thuộc vào chủ thể khác) trong sinh hoạt quốc tế
Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế
Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra
Cùng với quá trình phát triển khách quan của xã hội thì sự tồn tại và phát triển của Luật Quốc tế cũng đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, do đó trong từng giai đoạn lịch sử mà phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế có sự thay đổi dẫn tới chủ thể của Luật Quốc tế cũng có sự khác nhau nhất định Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia chủ nô, các liên đoàn chính trị tôn giáo của các quốc gia thành thị Trong thời kỳ phong kiến, chủ thể Luật Quốc tế là các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia có chủ quyền và các tổ chức quốc tế. 1
Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ
1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về Luật Quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia 1994, tr 30
Trang 8 Là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia quan hệ pháp Luật Quốc
tế
Độc lập về ý chí, không chịu sự tác động của các chủ thể khác
Được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế
Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể đó gây ra
Không có một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế
1.3 Quyền năng chủ thể
Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế là thuộc tính cơ bản, là khả năng pháp lý đặc biệt của những chủ thể được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý trong quan hệ pháp Luật Quốc tế Quyền năng chủ thể bao gồm hai phương diện và chỉ khi có đầy đủ hai phương diện này thì mới được coi là chủ thể của Luật Quốc tế
Năng lực pháp luật quốc tế: là khả năng chủ thể của Luật Quốc tế được mang
những quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, khả năng này được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật Quốc tế
Năng lực hành vi quốc tế: là khả năng chủ thể được thừa nhận trong Luật Quốc tế
bằng những hành vi pháp lý độc lập của mình tự tạo ra cho bản thân quyền năng chủ thể và có khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế do các hành vi của mình gây
ra
Trang 99
1.4 Phân loại
Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:
Quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế
Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật
Quốc tế
Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế,
được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng
Các chủ thể đặc biệt khác
Tuy nhiên trong trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, vai trò của các cá nhân, tập đoàn, công ty đa quốc gia, các hiệp hội phi chính phủ trong quan hệ quốc tế ngày càng tăng cho nên việc thừa nhận các chủ thể có sự tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế ở một số lĩnh vực nhất định, do đó có quan điểm cho rằng đây cũng
là chủ thể của Luật Quốc tế
Trang 1010
CHƯƠNG 2 : NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT
QUỐC TẾ
2.1 Quan điểm truyền thống
Theo quan điểm truyền thống thì luật quốc tế có 4 loại chủ thể sau đây:
Một là, các quốc gia có độc lập, chủ quyền – Chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật
2.1.1.1 Các yếu tố cấu thành Quốc gia
Quốc gia là một phần tạo nên cộng đồng quốc tế, hiện nay trong khoa học pháp
lý quốc tế chưa có một định nghĩa thống nhất được chấp nhận chung về thuật ngữ
"quốc gia" Tuy nhiên, tại điều 1 Tuyên bố Montevideo về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia được thông qua tại Hội nghị quốc tế các nước châu Mỹ ngày 27/12/1933 có đưa ra một vài yếu tố chính dẫn đến sự hình thành quốc gia, đó là:
Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành quốc gia
Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia Lãnh thổ quốc gia được xác định là một phần của trái đất và được coi là cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia Lãnh thổ quốc gia là ranh giới để xác định chủ quyền quốc gia đối với dân cư của mình Vấn đề kích thước lãnh thổ rộng hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều không có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại hay mất đi của danh nghĩa quốc gia
Trang 1111
Thứ hai, có cộng đồng dân cư ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cư của một quốc gia là
tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp luật của nhà nước đó Theo nghĩa hẹp, dân cư dùng để chỉ tất cả những người có quốc tịch của quốc gia đó Mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa nhà nước với cộng đồng dân
cư của quốc gia chủ yếu thông qua chế định quốc tịch
Thứ ba, có chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc
tế Chính phủ này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước trên phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối, khống chế bởi quốc gia khác
Thứ tư, có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế: "khả
năng" này có được xuất phát từ chủ quyền quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại của mình
2.1.1.2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của Quốc gia
Quyền năng chủ thể LQT của quốc gia là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mà quốc gia có được khi tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế Quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền năng đầy đủ khi tham gia quan hệ quốc tế, điều này thể hiện ở các quyền
và nghĩa vụ quốc tế cơ bản sau:
* Quyền quốc tế cơ bản:
Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi
Quyền được tự vệ cá nhân hoặc tự vệ tập thể
Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập
Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ
Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế
Quyền được trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế phổ biến
*Nghĩa vụ quốc tế cơ bản:
Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia
Trang 1212
Tôn trọng sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ của các quốc gia khác
Không áp dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực
Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Hợp tác hữu nghị với các quốc gia khác nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế
Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế
Tôn trọng những quy phạm Jus Cogens và những cam kết quốc tế
Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình
Ngoài các quyền và nghĩa vụ trên đây, các quốc gia khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế có thể tự hạn chế những quyền và nghĩa vụ của mình trong những lĩnh vực
và phạm vi nhất định, không trái với các quy ước quốc tế
VD: Thụy Sỹ tự hạn chế quyền và nghĩa vụ của mình khi tuyên bố theo đuổi con đường trung lập
Cũng có trường hợp quốc gia có thể gánh vác thêm những quyền và nghĩa vụ bổ sung nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
2.1.2 Dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết
2.1.2.1 Khái niệm
Từ “ dân tộc” ở đây được hiểu là bộ phận dân tộc đại diện cho một quốc gia chứ không phải dân tộc là chủng tộc hay một sắc tộc đơn lẻ Dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết là dân tộc mới có chủ quyền dân tộc chứ chưa có chủ quyền quốc gia Khi tham gia quan hệ quốc tế và thực hiện các chức năng chính trị của mình, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết được luật quốc tế hiện đại thừa nhận là những chủ thể đang trong giai đoạn quá độ để tiến lên thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, có chủ quyền Nói cách khác, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập là chủ thể quá độ lên chủ thể cơ bản của luật quốc tế hiện đại Tuy nhiên, với tính chất chủ thể như vậy, nên các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các quốc gia đều
Trang 1313
là những chủ thể chủ yếu của luật quốc tế hiện đại và là những chủ thể bình đẳng với nhau về mặt pháp lý
Các điều kiện để dân tộc được coi là chủ thể của Luật Quốc tế:
Dân tộc đó phải đang bị quốc gia, dân tộc khác áp bức, bóc lột Nghĩa là trên thực
tế dân tộc đó đang bị một dân tộc hay quốc gia khác đô hộ, chi phối, áp đặt mọi mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của dân tộc mình Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc này hoàn toàn bị lệ thuộc vào dân tộc, quốc gia đang nắm quyền cai trị, bóc lột họ Dân tộc bị bóc lột không có quyền và không thể thực hiện được ý chí của mình một cách độc lập với các dân tộc hay quốc gia đô hộ mình Ví dụ: dân tộc Việt Nam bị cai trị bởi quốc gia Pháp
Trên thực tế đang tồn tại một cuộc đấu tranh với mục đích giải phóng dân tộc, giành quyền tự quyết và thành lập một quốc gia độc lập
Đã thành lập được cơ quan lãnh đạo phong trào, đại diện cho dân tộc đó trên trường quốc tế Nghĩa là cuộc đấu tranh của dân tộc phải có tổ chức chặt chẽ, thống nhất thể hiện thông qua một cơ quan đại diện cho quyền lợi, ý chí của dân tộc đó trong các quan hệ quốc tế, độc lập với quốc gia, dân tộc đang đô hộ họ cơ quan lãnh đạo phong trào sẽ vạch ra đường lối, chủ trương kháng chiến giải phóng dân tộc, thành lập một quốc gia độc lập trong tương lai
2.1.2.2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết
Đặc trưng quyền năng chủ thể luật quốc tế của các dân tộc đang đấu tranh có những điểm riêng biệt so với các chủ thể khác của Luật Quốc tế Các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết phát sinh từ chủ quyền dân tộc, được dân tộc đó thực hiện và bảo vệ Xuất phát từ chủ quyền dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết, các dân tộc đang đấu tranh nhằm thành lập một quốc gia dân tộc độc lập có những quyền dân tộc cơ bản sau:
Trang 1414
Được thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình trong bất cứ hình thức nào, dưới bất
cứ dạng nào, kể cả việc áp dụng những biện pháp để chống lại nước đang cai trị mình;
Được pháp luật quốc tế bảo vệ và bảo đảm trong phạm vi và mức độ nhất định như việc Luật Quốc tế đang bảo vệ và bảo đảm cho quyền năng chủ thể như những quốc gia độc lập khác Được các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, các
tổ chức quốc tế giúp đỡ;
Quyền được thiết lập những quan hệ với các chủ thể khác của LQT hiện đại;
Được tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế và hội nghị quốc tế liên chính phủ;
Được tham gia vào quá trình xây dựng các quy phạm luật quốc tế và độc lập trong quá trình thực thi luật quốc tế
Cũng như các chủ thể khác của luật quốc tế hiện đại, đi đôi với các quyền quốc
tế cơ bản, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết cũng có những nghĩa vụ quốc tế cơ bản Đó là nghĩa vụ tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của các dân tộc khác, của các chủ thể khác của luật quốc tế hiện đại
2.1.3 Tổ chức quốc tế liên chính phủ
2.1.3.1 Khái niệm
Trong thời đại ngày nay, tổ chức quốc tế giữ vai trò rất quan trọng trong việc hợp tác quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế quan trọng, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
Tổ chức quốc tế là chủ thể của luật quốc tế được hiểu là tổ chức quốc tế liên chính
phủ-là tổ chức do các quốc gia thành lập lên trên cơ sở một điều ước quốc tế nhằm thực hiện các quyền năng nhất định theo tôn chỉ, mục đích thành lập tổ chức đó, phù hợp
với pháp luật quốc tế hiện đại
Trang 15Ví dụ: WTO không được tham gia ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề
an ninh, quốc phòng theo thỏa thuận của các thành viên, WTO chỉ tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực thương mại hành hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ
2.1.3.2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ
Các tổ chức quốc tế liên chính phủ có được quyền năng chủ thể Luật Quốc tế không phải căn cứ vào “những thuộc tính tự nhiên” vốn có như quốc gia mà do thỏa thuận của những quốc gia thành viên trao cho Các tổ chức quốc tế liên chính phủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XIX nhưng vấn đề quyền năng chủ thể luật quốc tế của thực thể này chỉ được đặt ra trong lý luận và thực tiễn sinh hoạt quốc tế từ nửa đầu thế
kỷ XX Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ dựa trên điều kiện (hiến chương, quy chế…) của mỗi tổ chức, trong đó quy định rõ phạm vi quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức này Như vậy, các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác nhau thì sẽ có những phạm vi quyền năng chủ thể Luật Quốc tế không giống
Trang 1616
nhau Nhìn chung các tổ chức quốc tế liên chính phủ có các quyền quốc tế cơ bản sau đây:
Quyền được ký kết các Điều ước quốc tế;
Quyền được tiếp nhận cơ quan đại diện của các quốc gia thành viên và nhận các quan sát viên thường trực của các quốc gia chưa là thành viên của tổ chức cử đến;
Quyền được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao;
Quyền được trao đổi đại diện tại các tổ chức của nhau;
Quyền được yêu cầu có các kết luận tư vấn của tòa án quốc tế của Liên hợp quốc;
Quyền được giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên với nhau và giữa thành viên với tổ chức quốc tế
Hưởng các quyền theo quy định của điều ước quốc tế mà tổ chức tham gia ký kết với các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế khác
Ngoài các quyền cơ bản nêu trên, tổ chức quốc tế liên chính phủ có nghĩa vụ tôn trọng các nguyên tắc của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của luật quốc tế; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của một chủ thể luật quốc
tế
2.1.4 Chủ thể đặc biệt
Ngoài các loại chủ thể trên thì Luật Quốc tế còn có 1 loại chủ thể đạc biệt khác, đó là các thực thể có quy chế pháp lý – chính trị đặc biệt khác (các vùng lãnh thổ) như Vatican, Đài Loan, Ma Cao, Hồng Kông
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm cho rằng Vatican là quốc gia nhỏ nhất thế giới Tuy nhiên, trên thực tế Vatican không phải là một quốc gia độc lập theo đúng nghĩa Nhìn dưới góc độ các yếu tố cấu thành ta thấy: Tòa thánh Vatican có lãnh thổ xác dịnh với diện tích rất nhỏ khoảng 0,4km2 và nằm trọn trong lãnh thổ của Italia, có dân cư sinh
Trang 1717
sống khoảng 1000 người, có bộ máy điều hành, có khả năng tham gia một cách độc lập vào các quan hệ pháp luật quốc tế nhất định (Tòa thánh Vatican đã tham gia một số công ước quốc tế như: Công ước Viên 1961 về thiết lập quan hệ ngoại giao, tòa thánh còn tham gia với tư cách quan sát viên của một số tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc ) Nhìn vào hình thức bên ngoài, Tòa thánh giống như một quốc gia tồn tại độc lập, nhưng nếu xem xét sâu xa các yếu tố này, Vatican lại không phải một quốc gia, vì:
Về lãnh thổ mà Vatican đặt trụ sở thực chất thuộc về Italia, Vatican có được lãnh thổ này là do một điều ước quốc tế được ký kết giữa Italia và Vatican
Về dân cư, thực chất những người dân sống tại Vatican đều là công dân của rất nhiều quốc gia khác nhau: Thụy Sỹ, Italia họ chỉ được coi là dân cư của Vatican khi họ phục vụ cho Giáo hoàng Yếu tố dân cư không mang tính ổn định, họ xuất hiện chủ phục vụ cho Giáo hoàng yếu mang tính thực hiện công
vụ với Vatican
Về Chính phủ: Giáo hoàng của Vatican không phải là một thiết chế quyền lực
và Vatican không có các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước Do đó, khi cần
để duy trì quyền lực nhà nước hay trật tự, Vatican cần phải có sự trợ giúp của Italia Chính Phủ này không giống Chính phủ khác trên thế giới
Từ những phân tích trên đây có thể thấy, Vatican chỉ là một thiết chế mang tính tôn giáo Sở dĩ nó đựợc cho là chủ thể của Luật Quốc tế vì trong các giai đoạn lịch sử phát triển của Luật Quốc tế, Vatican đóng vai trò quan trọng khi trở thành trung gian hòa giải một số tranh chấp, bất hoà trong quan hệ quốc tế Do đó, họ được phép tham gia vào một số điều ước quốc tế nhất định
2.2 Quan điểm hiện đại
Theo quan điểm hiện đại, chủ thể của luật quốc tế ngoài 4 loại trên còn có thêm 3 loại nữa là cá nhân, pháp nhân (các công ty xuyên quốc gia), tổ chức phi chính phủ
Trang 18như chủ thể của luật quốc tế; mặt khác theo ý kiến của Brownlee thì “thật là vô ích nếu
như xếp cá nhân vào “hàng ngũ” những chủ thể của luật quốc tế, bởi vì làm như vậy là
vô hình chung công nhận một số quyền của cá nhân mà trên thực tế không có, phủ nhận tính tất yếu của sự khác biệt giữa cá nhân và các chủ thể khác trong luật quốc tế”
L.Oppenhame từ năm 1947 đã để ý rằng: “Mặc dù chủ thể chính của luật quốc tế là
quốc gia nhưng nhà nước có thể xem cá nhân như một chủ thể của các quyền và nghĩa
vụ quốc tế và trong khuôn khổ đó công nhận cá nhân là một chủ thể của luật quốc tế”
Tiếp đó ông đã làm rõ ý kiến của mình bằng ví dụ: Những cá nhân làm nghề cướp biển trước hết chịu trách nhiệm pháp lý theo những qui tắc của luật quốc tế, chứ không phải nội luật của nhiều quốc gia khác nhau
Quan điểm mới cho rằng cá nhân có thể là chủ thể của Luật Quốc tế vì các nguyên nhân sau:
Trang 1919
2.2.1.1 Trách nhiệm pháp lý
Điều lệ của Toà án binh quốc tế 1945 khẳng định cá nhân là chủ thể của trách nhiệm pháp lý quốc tế Theo Điều 6 thì kẻ lãnh đạo, chủ mưu, tòng phạm, tham gia vào việc soạn thảo hay trực tiếp thực hiện kế hoạch, âm mưu chống hoà bình, chống loại người, tội phạm chiến tranh phải chịu trách nhiệm về những hành động đó Các công chức cao cấp thậm chí là người đứng đầu các nhà nước cũng không thể được miễn truy tố trách nhiệm pháp lý hay được giảm nhẹ mức độ hình phạt (Điều 8) Kẻ bị xét xử nếu hành động theo lệnh của cấp trên hay của Chính phủ cũng không được miễn trách nhiệm pháp lý
Theo Công ước quốc tế 1968 về việc không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người, trong trường hợp các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người, không phụ thuộc vào việc các tội phạm đó diễn ra vào thời bình hay thời chiến, không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm
Theo Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948, những cá nhân gây nên nạn diệt chủng, đồng phạm diệt chủng, âm mưu, kích động và những ý định thực hiện việc diệt chủng sẽ bị trừng phạt mà không phụ thuộc vào việc kẻ đó là lãnh đạo một quốc gia hay tư nhân Tội phạm diệt chủng bị xử bởi toà án quốc gia bị diệt chủng hoặc Toà án hình sự quốc tế Toà do các nước thành viên tham gia Công ước hoặc Liên hợp quốc lập ra
2.2.1.2 Quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên toà án quốc tế
Theo Điều 25 của Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người 1950 bất kỳ cá nhân nào đều có quyền gửi đơn thỉnh cầu đến Hội đồng Châu Âu về quyền con người Đơn cần phải đưa ra những dẫn chứng cụ thể, thuyết phục về việc vi phạm nhân quyền đối với người làm đơn do Nhà nước tham gia Công ước gây ra Đơn được lưu trữ tại Ban thư ký của Hội đồng Châu Âu và được xem xét chỉ sau khi mọi biện pháp, phương